Thiền Quán - Những Giây Phút Cuối Cùng Của Thế Tôn - Kinh Đại Bát Niết Bàn
Nikāya Thiền Quán
Những Giây Phút Cuối Cùng Của Thế Tôn
Kinh Đại Bát Niết Bàn
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiền quán PAGEREF _Toc204010132 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc204010133 \h 18
I. Thiền quán
Sư Phụ: Bằng tất cả tấm lòng thành kính con xin đảnh lễ Đức Thế Tôn, chánh pháp chánh, chúng Tăng và thánh giới. Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí nay chúng ta học tinh hoa Nikāya, lớp học của quý thầy, quý cô đã kết thúc, để không gián đoạn bộ sách này chúng ta sẽ học tiếp theo và cái bộ này chúng ta học ít nhất cũng phải hai năm mới hết. Nhắc lại một chút để chúng ta biết đầu đuôi nhân duyên hình thành kinh Nikāya, lúc đó Đức Thế Tôn nhập diệt thì Đức Thế Tôn mới vừa nhắm mắt các vị Tỳ-kheo chưa có giải thoát khỏi tham ái, có vị thì khóc than, có những cánh tay duỗi cao lên, giơ cao lên, có vị khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn qua lộn lại tức là những vị chưa có chứng thánh quả A-la-hán, các ngài đau xót, đau đớn quằn quại. Có người thì giơ hai cánh tay, có người thì thóc than và có vị thì nằm lăn dưới đất lúc Đức Phật nhập Niết-bàn.
Chúng ta dùng cái tưởng của mình để thấy được hình ảnh lúc đó, các vị ràng rũa nước mắt, ngẩng mặt lên trời giơ tay cao lên, có những vị thì nằm vật vã dưới đất.
"- Này Ananda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than, với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: 'Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm'.
Này Ananda, có hạng Thiên thần ở trên đất với tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: 'Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm'." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Sao Thế Tôn nhập diệt quá sớm vậy? Sao bậc Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, ra đi quá sớm như vậy? Sao đấng pháp nhãn, con mắt của người trời nhắm lại sớm như vậy? Các vị Tỳ-kheo ràng rụa nước mắt, đau xót, xót xa, đau đớn, ngẩng mặt lên trời, giơ tay cao lên, gục đầu xuống rơi lệ, những vị nằm vật vã lăn lộn, sao bậc pháp nhãn ra đi sớm như vậy, sao bậc đại đạo sư tịch diệt sớm như vậy, sao Đức Thế Tôn vào Niết-bàn quá sớm như vậy. Chúng con chưa có diệt tận hết những tham, sân, si mà ngài đã đi sớm như vậy.
Lúc đó là nhân thiên chấn động, địa cầu rung chuyển và tiếng khóc than vang vọng cả một vùng, bao nhiêu cây số là người đầy ấp, trên hư không gần hai mươi cây số không có một cái chỗ nào trống nhỏ bằng lỗ kim mà không có các vị thánh đệ tử thiên, các chư thiên đầy ấp, đầy ngập, chật kính cả một vùng trời. Hoa sala trái mùa trổ ra, rơi xuống cúng dường kim thân của Đức Phật, hương trời, hương chiên đàn, tất cả các loại thiên hương, chư thiên tung vãi trong hư không rơi xuống kim thân của ngài. Tiếng khóc, tiếng than, tiếng tiếc thương và những mùi hương và các loài hoa, thiên hoa tràn ngập cùng khắp, lúc đó không phải là mùa hoa nở nhưng các cây sala trái mùa trổ hoa.
Từng làng gió thổi qua và những cánh hoa rơi chầm chậm trên gương mặt của đấng từ tôn, rơi trên vai, rơi xuống hông, rơi trước mặt, rơi xuống bàn chân của ngài và kim thân của Thế Tôn nằm bất động. Chư thánh chúng nhìn ngài không có chớp mắt, Thế Tôn bây giờ đã tám mươi tuổi, tóc bạc như sương, trán nhăn nheo, má hớp lại, da trổ đồi mồi, bàn chân là gân guốc xương da gầy guộc, trên mình là một tấm y cũ kỹ và vươn vãi dưới tà y là đất bùng nhơ nhớp. Một ông lão tám mươi tuổi nằm yên bất động, lúc này thân của Thế Tôn bừng sáng chói sáng và chiếu sáng lên ánh sáng của hoàng kim, sáng hơn cả mặt trời, mặt trăng trong giây phút cuối cùng trước khi nhập diệt.
Ngài nhập sơ thiền, xả sơ thiền vào nhị thiền, xả nhị thiền vào tam thiền, xả tam thiền lên tứ thiền rồi bắt đầu nhập vào không vô biên xứ, xả không vô biên xứ nhập vào thức vô biên xứ, xả thức vô biên xứ định, vô sở hữu xứ, xả vô sở hữu xứ định nhập vào phi tưởng phi phi tưởng xứ, xả phi tưởng phi phi tưởng xứ lần lượt rất nhiều chục lần, nhiều trăm lần. Tức là tâm tự tại, rong chơi các thánh chánh định nhiều chục lần, nhiều trăm lần và cuối cùng Thế Tôn thu thần thị tịch. Trước khi ra đi Thế Tôn nhắn nhủ lời cuối:
"Và Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: 'Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật'.
Ðó là lời cuối cùng Như Lai." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Mọi sự vật, hiện tượng sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là sự vận hành, sự biến đổi, sự dịch chuyển, sự thiên lưu, là sự bại hoại của vô thường. Hãy mạnh mẽ lên, hãy nỗ lực, hãy tinh tấn, hãy dấn thân để tự mình thoát ra những dục, tham ái, sân si, vô minh, bản ngã đó. Ngũ uẩn là kẻ giết người này, bất hạnh này, hãy nỗ lực để tự mình thoát ra.
"Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Ngài đã tám mươi tuổi rồi, đã lên tới tuổi của bậc trưởng thượng, đã suy lão, sức tàn lực kiệt, sự sống còn lại chẳng là bao. Ta từ bị các thầy cô ta đi một mình. Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni ta xin từ biệt ta đi một mình.
Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
"Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Hãy tự mình làm chỗ dựa cho chính mình, hãy quay về hải đảo của tự thân bằng sự luôn luôn ghi nhớ thân xác này, cảm giác này, nội tâm này và những thứ cấu nhiễm bên trong. Hãy tinh tấn, chánh niệm, chùi rửa những thứ uế nhiễm trong tâm, hãy giữ giới luật, hãy thu nhiếp, hãy thâu thúc ý chí của mình trong sự tu học, hành trì, bảo hộ tâm mình. Ai tinh tấn trong pháp và luật này sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
Nay ta khuyên dạy các vị mọi sự vật, hiện tượng, các pháp hữu vi này là biến đổi, là tan hoại, là tan nát, huỷ hoại, hoại diệt. Hãy tinh tấn lên, chớ có buông lung phóng dật, đó là lời cuối cùng của Như Lai. Thế Tôn nói dứt lời ngài liền nhập diệt vào đại Niết-bàn tịch diệt, xuất ly khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, an trú vào tâm bất động giải thoát, bất tử.
Nhân duyên đây chúng ta nghe lại một đoạn kinh trong đại bác Niết-bàn tường thuật lại cái cảnh giây phút cuối cùng Đức Phật nhập diệt.
"Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: 'Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỳ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống'. Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy trì mạng căn. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Trong kinh Nikāya nói sự thật ngài rất đau đớn gần như muốn chết nhưng ngài chánh niệm tỉnh giác chịu đựng cơn đau đó, không có một chút gì than thở, đây là sự thật. Đức Phật bằng xương, bằng da, bằng thịt, một con người có sanh, có già, có bệnh, có chết, Thế Tôn tự nghĩ thật là không hợp lẽ, không có hợp lý nếu ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận ta, không từ biệt chúng Tỳ-kheo. Ngài dùng cái đạo lực của ngài, cái định lực của ngài, cái tuệ lực của ngài nhiếp phục, chế ngự cái cảm thọ đó.
"Rồi Thế Tôn lành bệnh. Sau khi lành bệnh không bao lâu, đức Phật rời khỏi tịnh xá và ngồi trên ghế đã soạn sẵn, trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc bấy giờ tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch Thế Tôn, thấy Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch Thế Tôn, con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỳ-kheo." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Ngài A-nan mừng vì thấy Thế Tôn bây giờ khỏe hơn lúc bị bệnh, thấy thế tôn chịu đựng cái sự đau đớn đó, cái căn bệnh đó thì thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, đứng không vững nữa khi nhìn thấy Thế Tôn phải chịu đựng như vậy đau đớn như vậy. Ngài A-nan đứng không nổi nữa, đứng không vững nữa, gió thổi nghiêng qua nghiêng lại, mắt con mờ mịt không thấy rõ, phương hướng nữa, ngài bàng hoàng, ngài xót xa, ngài đau xót, ngài đau đớn, ngài đau lòng. Con có được một chút an ủi như vậy dầu cho con biết rằng ngài sẽ còn để nói lời sau cùng nhưng mà con vẫn bàng hoàng, mù mịt hết, đứng không vững nữa.
"Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ananda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ananda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy)." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Ta không phân biệt đây là đệ tử của ta và kia là đệ tử của người khác, bằng tất cả tấm lòng, bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng sự thương tưởng đến tất cả hữu tình, tất cả chúng sanh, bằng sự thấu triệt đại khổ uẩn đối với muôn loài này, ta đã để lại một đạo lộ minh minh, bạch bạch, tỏ tỏ, tường tường, trong trong, sáng sáng, rành rẽ, rõ ràng, sáng suốt, thứ tự, tuần tự. Chư Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi ta? Đối với các pháp Như Lai không bao giờ là vị đạo sư còn nắm tay đối với tất cả các pháp mà ta chứng ngộ, ta không bao giờ còn giấu giếm, cất lại, dành riêng cho ta một chút nào cả, ta đã trao hết cho tất cả các ông. Trao hết tất cả một cách hoàn toàn, truyền lại đầy đủ viên mãn, thanh tịnh, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ, viên mãn, thanh tịnh phạm hạnh, có nghĩa có văn, không còn sót bất cứ cái gì nữa. Như vậy thì các vị còn mong mỏi gì lời di giáo nữa, còn có cái gì mới nữa, còn có cái gì khác nữa, còn có cái gì lạ nữa đâu.
"Này Ananda, những ai nghĩ rằng: 'Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo'; hay 'chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai' thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: 'Ta là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo; hay 'chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta' thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo?" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Nếu như người thầy nào nghĩ rằng mình là thầy, mình là bậc lãnh đạo, các đệ tử là trò, là người chịu sự dạy dỗ, giáo dục của mình thì người đó mới có lời di giáo. Như Lai không có nghĩ rằng ta lãnh đạo chúng Tỳ-kheo, ta không có nghĩ rằng chúng Tỳ-kheo là chịu sự giáo hấn của ta thì làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Chúng ta nghe cái câu này chúng ta hiểu cái gì? Đây là thánh trí vô ngã đại viên mãn trong giây phút cuối cùng, ta không có nghĩ ta là thầy, ta không có nghĩ các Tỳ-kheo là học trò vì không có ai ở đây cả. Thân trống rỗng không ai trong đó.
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
Bản chất tứ đại là không có ta, bản tánh của ngũ uẩn là vô ngã, ai là thầy, ai là đệ tử. Câu nói này đánh sập hết toàn bộ bốn mươi chín năm thuyết pháp, phủi một cái rớt hết tất cả, đây là đại thánh trí vô ngã viên mãn của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Ta không có nghĩ ta là người lãnh đạo chúng Tỳ-kheo tức là trong hành uẩn đã diệt tận cái bản ngã, đã bứng hoàn toàn gốc rễ của một cái ta, đã tận diệt cái tôi và đương nhiên sắc; thọ; tưởng; thức cũng như vậy. Ta không có nghĩ ta là sư phụ, ta không có nghĩ ta là đạo sư, ta không có nghĩ ta là người cầm đầu, ta chưa từng nghĩ ta là thầy của các Tỳ-kheo. Vì từ tâm, vì tình thương, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho các ngũ uẩn, ta đã đem tất cả trí tuệ chia sẻ cho mọi người.
"Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Ngài dùng định lực để cái thân không bị thọ thân tác động, ngài dùng định của tâm không cho thọ thân lấp áp vô, còn mình không có thiền định nào hết, không có chút định lực nào hết thì lúc đó như thế nào.
"Vậy nên, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Cái thân bệnh hoạn như vậy thì nương tựa cái gì nếu ko có chánh pháp? Ngài đem cái thân ngài ra để thuyết pháp, ngài đem cái đạo ra để ngài chứng minh, ngài đem cái bệnh của ngài ra để hiển thị thánh trí, thánh pháp, chánh pháp.
"Này Ananda, thế nào là vị Tỳ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?
Này Ananda, ở đời, vị Tỳ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Quán xét tự thân của mình bằng trí tuệ đã được học, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời, nhiếp phục, chế ngự mọi ham muốn và nỗ lực, dõng mãnh và hãy tỉnh táo, tinh anh, quán sát, nhiếp phục, chế ngự, ngăn chặn mọi sự ham muốn và yêu thích ở trên đời này. Nhiếp phục, chế ngự những buồn bực, những sân hận, bản ngã trên cuộc đời này, cũng vậy đối với cảm thọ, đối với nội tâm, đối với những thứ cấu nhiễm, những ác bất thiện pháp, hay là những thiện pháp phải nỗ lực, tinh tấn, tỉnh giác chánh niệm, diệt ác sanh thiện, gắng công làm nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời này.
"Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Khi Thế Tôn quyết định sau ba tháng nhập Niết-bàn thì địa cầu chấn động, cả trái đất rung chuyển nhưng mà rung chuyển như vậy mà không có làm hư đổ bất cứ một cái gì hết. Đại địa rung động như vậy, đại địa chấn động như vậy, ghê rợn, lông tóc dựng ngược và sấm trời vang động.
"Rồi tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?
- Này Ananda, có tám nhân, có tám duyên khiến đại địa chấn động.
Lại nữa này Ananda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được chế ngự, hay hàng chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này quán địa tánh có hạn, quán thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động mạnh.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, khi ấy quả đất rung động, chuyển động, chấn động mạnh.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai, chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ, không duy trì mạng sống, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai nhập vô dư y Niết Bàn, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
"Thế Tôn đi đến điện thờ Càpàla, khi đến Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Ananda đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:
- Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sàttambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada, khả ái thay điện thờ Càpàla.
Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.
Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn; tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người'. Vì tâm tôn giả bị Ma vương ám ảnh." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Đức Phật đã nói mấy lần như vậy nhưng vì tâm ý của ngài A-nan lúc đó mờ mịt, hồi nãy chúng ta đã nghe như lau sậy đứng không vững, mất hết các phương hướng, tâm ngài đang buồn đau, khổ sầu, cộng với ác ma che tâm nên ngài không có thỉnh Đức Phật.
"- Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi, đã không nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người'. Này Ananda, nếu Ngươi thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Quả chăng cũng là nhân duyên và nghiệp báo của chúng sanh trong thế giới này.
"Này Ananda, phải chăng ngay từ ban đầu Ta đã từng tuyên bố rằng mọi vật ưu ái, thân hình đều phải bị thay đổi, trở về hư không, biến dịch? Này Ananda, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh khởi, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến diệt? Thật không có sự trạng ấy." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Làm sao những thứ vô thường, bại hoại, hoại diệt mà lại không biến đổi? Làm sao có sự kiện ấy?
"Này Ananda, những gì Như Lai đã từ bỏ, dứt khoát, xả ly, phóng xả, khước từ, chính là thọ, hành. Như Lai đã nói và nói một cách dứt khoát: 'Không lâu, Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ'. Nói rằng Như Lai vì muốn sống mà phản lại lời tuyên bố trên thời thật không có sự trạng ấy." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Bây giờ ta đã tuyên bố rõ ràng cho chư thiên và loài người là ba tháng sau ta nhập Niết-bàn, chẳng lẽ bây giờ ta lại vì sự sống mà ta phản lại lời tuyên bố trên? Ta đã dứt khoát một cách dứt khoát, ta đã từ bỏ, dứt bỏ, xả ly, buông bỏ, khước từ, chính là thọ, hành. Bài kinh này rất xúc động, chúng ta cũng chưa có cơ hội để học hết bài đại bát Niết-bàn này.
"Rồi Thế Tôn cùng tôn giả Ananda đi đến giảng đường Kùtagàra vườn Ðại Lâm, khi đi đến, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy đi mời tất cả Tỳ-kheo sống ở gần Vesàli tụ họp tại giảng đường này.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, đi mời tất cả vị Tỳ-kheo sống ở gần Vesàli tụ họp tại giảng đường, rồi đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, chúng Tỳ-kheo đã tụ họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.
Thế Tôn liền đi đến giảng đường và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các vị Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỳ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli, ăn xong và trên đường khất thực trở về, Thế Tôn nhìn Vesàli với cái nhìn của con voi chúa rồi nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, lần này là lần cuối cùng, Như Lai nhìn Vesàli. Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Bhandagàma.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Ngài ngoảnh mặt trở lại một cách chầm chậm nhìn cái ánh nhìn điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm hùng, uy nghiêm, uy dũng, Việc xoay mặt trở lại nhìn chậm chậm, từ từ như vậy gọi là cái nhìn của con voi chúa, trầm hùng, trầm tĩnh, điềm tĩnh, thanh tịnh, uy nghiêm, uy dũng.
"Và Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát, cùng với chúng Tỳ-kheo đến nhà thợ sắt Cunda, khi đến xong liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi. Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda:
- Này Cunda, loại mộc nhĩ đã soạn sẵn, hãy dọn cho ta. Còn các món ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy dọn cho chúng Tỳ-kheo.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Thợ sắt Cunda vâng lời Thế Tôn, dọn cho Thế Tôn các món mộc nhĩ đã soạn sẵn, và dọn cho chúng Tỳ-kheo các món ăn khác, loại cứng và loại mềm.
Rồi Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda:
- Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.
Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.
Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kusinàra.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Kusinàra chính là nơi mà Đức Phật nhập Niết-bàn mà chúng ta đã đi qua Ấn Độ.
"Tôi nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda.
Cơn bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi.
Sau khi cùng món ăn loại mộc nhĩ.
Kịch bệnh khởi lên nơi bậc Ðạo Sư.
Ðiều phục bệnh hoạn, Thế Tôn dạy rằng:
'Ta đi đến thành Kusinàra'.
Rồi Thế Tôn bước xuống đường, đến một gốc cây và nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn ngồi nghỉ, này Ananda.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn và xếp tư áo Sanghàti lại.
Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy đem nước cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
Lần thứ hai tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục, khi tôn giả Ananda đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng, không vẩn đục.
Tôn giả Ananda tự nghĩ: 'Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay thần túc và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi ta đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục'." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Giờ này bậc đạo sư cũng đang giống như vậy.
"Sau khi dùng bát lấy nước, tôn giả Ananda đến chỗ Thế Tôn và bạch với Ngài:
- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu. Bạch Thế Tôn, con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi con đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước. Xin thỉnh Thiện Thệ dùng nước!
Và Thế Tôn uống nước.
Lúc bấy giờ, Pukkusa, dòng họ Mallà, đệ tử của ngài Alàra Kàlàma đang đi trên con đường từ Kusinàra đến Pàvà.
Pukkusa, dòng họ Mallà thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Pukkusa, dòng họ Mallà, bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, trạng thái trầm tĩnh của một vị xuất gia!
Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà nói với một người khác: 'Này bạn, hãy đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc'. - "Tôn giả, xin vâng'. Người ấy vâng lời Pukkusa, dòng họ Mallà và đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc.
Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà đem dâng một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc ấy cho Thế Tôn và nói:
- Bạch Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc. Mong Thế Tôn vì thương xót con mà thâu nhận cho.
- Này Pukkusa, hãy đắp cho Ta một áo và đắp cho Ananda một áo.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
ukkusa, dòng họ Mallà vân lời Thế Tôn, đắp một áo cho Ngài và đắp một áo cho tôn giả Ananda.
Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho Pukkusa, người dòng họ Mallà, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Và Pukkusa, người dòng họ Mallà, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỉ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn và từ biệt.
Khi Pukkusa, dòng họ Mallà đi chưa được bao lâu, tôn giả Ananda đem cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc này đặt trên thân Thế Tôn, và khi cặp áo này được đặt trên thân Thế Tôn, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi. Và Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, sự thanh tịnh và sáng chói màu da của Như Lai! Bạch Thế Tôn, khi con đặt trên thân Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc vàng chói và sẵn sàng để mặc này, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Tức là da của Đức Phật còn chiếu sáng hơn cái y kim tuyến đó nữa.
"- Thật vậy, này Ananda. Này Ananda, có hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói. Thế nào là hai? Này Ananda, trong đêm Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Giác và trong đêm Như Lai sắp diệt độ, nhập Niết-bàn giới, không còn dư y sanh tử nữa. Này Ananda, đó là hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói". (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Đêm nay chính là đêm Như Lai diệt độ, nhập Niết-bàn giới, tận cùng của sự sanh tử sống chết, không còn tái sanh nữa và da dẻ của Đức Phật chiếu sáng như là vàng rồng rực rỡ, chói lòa màu huỳnh kim cho đến chiếc y bằng kim tuyến đều phải bị làm cho nhòe, mờ đi.
"Này Ananda, hôm nay khi canh cuối cùng đã mãn, tại Upavattana ở Kusinàrà, trong rừng Sàla của dòng họ Mallà, giữa hai cây sàla song thọ, Như Lai sẽ diệt độ. Này Ananda, chúng ta hãy đi đến sông Kakutthà.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến con sông Kakutthà, xuống sông tắm và uống nước rồi lội qua bờ bên kia, đi đến rừng xoài và tại đây, nói với đại đức Cundaka:
- Này Cundaka, hãy xếp áo Sanghàti làm bốn cho Ta. Này Cundaka, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Ðại đức Cundaka vâng lời Thế Tôn và xếp áo Sanghàti làm bốn.
Rồi Thế Tôn nằm xuống phía hông bên mặt như dáng điệu con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm, tỉnh giác, suy tư, với ý niệm ngồi dậy lại khi phải thời. Và đại đức Cundaka ngồi phía trước Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, rất có thể có người làm cho thợ sắt Cunda hối hận: 'Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho Ngươi, thật là tai hại cho Ngươi, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ Ngươi cúng dường, và nhập diệt'." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Thế Tôn dặn ngài Ananda, dặn với Thuần Đà đừng có hối hận.
"Này Ananda, cần phải làm tiêu tan sự hối hận ấy của thợ sắt Cunda: 'Này Hiền giả, thật là công đức cho bạn, vì được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt. Này Hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ lời nói này của Thế Tôn: "Có hai sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác? Thế nào là hai?
Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết-bàn giới, không còn di hưởng sanh tử.
Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng tuổi thọ; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng an lạc; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng danh tiếng; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ đợưc hưởng cõi trời, nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng uy quyền'.
Này Ananda, cần phải làm cho thợ sắt Cunda tiêu tan hối hận.
Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, chúng ta hãy đi qua bờ bên kia sông Hirannavati, đến ở Kusinàrà - Upavatama - rừng Sàlà của dòng họ Màllà.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến bên kia sông Hirannavati, tại Kusinàrà Upavattana, rừng Sàlà của dòng họ Mallà, khi đi đến nơi liền nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ: này Ananda, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ. Và Thế Tôn nằm xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, hai chân để lên nhau chánh niệm và giác tỉnh.
Lúc bấy giờ, cây sàlà song thọ trổ hoa trái mùa, tràn đầy cành lá. Những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Những thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài, nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
Rồi Như Lai nói với tôn giả Ananda:
-- Này Ananada, các cây sàlà song thọ tự nhiên trổ hoa trái mùa tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
Nhưng, này Ananda, như vậy không phải kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai. Này Ananda, nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ananda, các Người phải học tập như vậy. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
II. Trình pháp
Chúng ta cùng nhau niệm bài Cúng Dường Tối Thượng. Con mời chư tôn và chư hiền trí chia sẻ cảm thọ khi thiền quán.
Sư cô 1: Con xin dập đầu cung kính kính lễ lên Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con kính lễ tri ân trên sư phụ, con kính lễ trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Đệ tử con xin chia sẻ một phần cảm xúc, cảm thọ, buổi thiền quán sáng nay sư phụ đã cho chúng con nghe về bài kinh đại bát Niết-bàn, thật sự cảm thọ và tưởng, hành chúng con rất là nhiều. Mỗi một lời sư phụ giảng nhắc lại lời kinh hình ảnh Đức Phật và ngài A-nan lên rất rõ ràng, rất là xúc động, chấn động, cảm thọ của con nhiều nhất, chấn động nhất lúc sư phụ nhắc khi Đức Phật nhắc là gần nhập Niết-bàn sau ba tháng. Sự xúc động của ngài A-nan à như một cây lau sậy không còn đứng vững, xúc động rất mạnh, mặc dù đoạn kinh này chúng con có nghe rồi nhưng cũng chấn động, tưởng đến hình ảnh của ngài A-nan lúc ấy. Nếu như ngài A-nan có thỉnh Đức Phật ở lại, nếu lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba Đức Phật cũng sẽ ở lại nhưng sẽ không đúng với quy luật của sinh, lão, bệnh, tử mà Đức Phật đã nói từ đầu, tất cả hành đều là vô thường.
Từng lời ấy con được nhắc lại thấm đẫm, chấn động, Đức Phật cũng phải rã, phải hủy hoại cái thân vật lý và hình ảnh Đức Phật hiện rõ rất rõ trong con, một ra đi vĩ đại, đến với thế giới này cũng vĩ đại và sự ra đi cũng vĩ đại. Một lời Như Lai nói không hề sai khác, dù chúng con có khóc, có thương tiếc giống y quý ngài chưa từng chứng đắc thì cũng đâu có làm sai khác lời dạy của Đức Phật. Sự tôn kính, sự nhắc nhở lời cuối của ngài mà chúng con cũng không có thức tỉnh và đoạn ngài đau, ngài khác nước dù tôn giả A-nan không hề lỗi lầm khi làm thị giả cho người. Chỉ cần sau cùng một ý niệm tôn kính nhưng lại không có nghe lời cũng đủ, còn một cái bài học giống như con nghĩ đến sư phụ, chúng đệ tử dù thân cận không có nghe lời thầy, làm cho người khó chịu và đau lòng dù có thương.
Một bài kinh rất là nhiều bài học và cảm thọ rất nhiều nhưng trong con xin nguyện đời đời kiếp kiếp lòng tin bất động với Đức Phật, với giáo pháp ly tham và với chúng Tăng thánh đệ tử của Đức Phật. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con xin tri ân kính lễ dập đầu kính lễ trên sư phụ đã cho chúng con ôn lại những bài học mà chúng con thường hay buông lung, thường hay phóng vật, thường hay quên. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô 2: Con chân thành kính lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con kính đễ sư phụ tôn kính của chúng con, con kính lễ các quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Hôm nay con được thiền quán theo lời chỉ dạy của sư phụ trong bài kinh đại bát Niết-bàn, cảm thọ của con rất xúc động. Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni ngài là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, bậc thấu hiểu tột cùng về sự thật thân tâm ngũ uẩn này và thế giới đau khổ này. Ngài là bậc vô thượng thanh cao, ngài là bậc vô thượng thanh tịnh, ngài là bậc vô thượng giải thoát, giáo pháp của ngài đã đem lại sự an lạc cho chúng sanh, giải thoát đau khổ, giải thoát sanh tử luân hồi.
Con rất là xúc động, ngài là bậc tối tôn, tối thượng như vậy mà ngài đã nói rằng ngài không nghĩ ngài là thầy của ai cả. Khi con nghe sư phụ nói rằng mấy chục năm thuyết pháp của ngài cho thế gian đau khổ lại buông bỏ, tâm con thán phục ngài, tín ngưỡng ngài vô cùng về giáo pháp ly tham ngũ uẩn, diệt tận bản ngã. Theo những lời giảng của sư phụ con rất là xúc động, con có một sự hối tiếc khi ngài A-nan không thỉnh Đức Phật ở lại và con thương mình vô cùng. Ngài A-nan là một bậc trí tuệ, giáo pháp của ngài để lại đến giờ phút này cũng là nhờ trí tuệ của ngài A-nan nhưng mà vì cái tâm tôn kính thương tiếc Đức Thế Tôn mà ngài cũng có những giây phút tâm bị vô minh. Con thương mình vô cùng, rất là thương, con trôi lăn trong sanh tử luân hồi vô lượng kiếp.
Đến đoạn mà Đức Phật dùng bữa cơm cúng dường có nấm độc, ngài biết và ngài đã dặn đồ ăn này không để cho ai dùng. Tâm thương của ngài thật là bao la, rộng lớn, trí tuệ của ngài cũng là tối tôn, tối thượng, cỏ cây, hoa lá cũng phải rung động, trái đất cũng phải rung chuyển nhưng mà lại không làm đồ vỡ bất cứ một vật gì. Trí tuệ của ngài thật là vô thượng, tâm từ bi của ngài thật là vô tận, vô biên, cả những dòng nước cạn đục như vậy mà cũng phải biến thành dòng nước trong sạch, mát lành, bổ dưỡng khi ngài A-nan đi lấy nước cho Đức Phật. Phải đến lần thứ ba ngài mới đi lấy nước và con cũng có một cái bài học rất là đau xót cho chính sự vô minh của con, một cái tâm không nghe lời, một cái tâm ngu si.
Con rất xúc động khi lời sư phụ nhắc lại cái đoạn mà Đức Phật có nói rằng ngay những lúc trái mùa như vậy, không phải là mùa hoa nở mà cỏ cây, hoa lá cũng nở hoa trái mùa như vậy để cúng dường Như Lai nhưng mà cái sự cúng dường tối thượng vẫn là sự tu tập.
Này Ananda, nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ananda, các Người phải học tập như vậy. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Sư Phụ:
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Những Giây Phút Cuối Cùng Của Thế Tôn
Kinh Đại Bát Niết Bàn
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiền quán PAGEREF _Toc204010132 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc204010133 \h 18
I. Thiền quán
Sư Phụ: Bằng tất cả tấm lòng thành kính con xin đảnh lễ Đức Thế Tôn, chánh pháp chánh, chúng Tăng và thánh giới. Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí nay chúng ta học tinh hoa Nikāya, lớp học của quý thầy, quý cô đã kết thúc, để không gián đoạn bộ sách này chúng ta sẽ học tiếp theo và cái bộ này chúng ta học ít nhất cũng phải hai năm mới hết. Nhắc lại một chút để chúng ta biết đầu đuôi nhân duyên hình thành kinh Nikāya, lúc đó Đức Thế Tôn nhập diệt thì Đức Thế Tôn mới vừa nhắm mắt các vị Tỳ-kheo chưa có giải thoát khỏi tham ái, có vị thì khóc than, có những cánh tay duỗi cao lên, giơ cao lên, có vị khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn qua lộn lại tức là những vị chưa có chứng thánh quả A-la-hán, các ngài đau xót, đau đớn quằn quại. Có người thì giơ hai cánh tay, có người thì thóc than và có vị thì nằm lăn dưới đất lúc Đức Phật nhập Niết-bàn.
Chúng ta dùng cái tưởng của mình để thấy được hình ảnh lúc đó, các vị ràng rũa nước mắt, ngẩng mặt lên trời giơ tay cao lên, có những vị thì nằm vật vã dưới đất.
"- Này Ananda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than, với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: 'Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm'.
Này Ananda, có hạng Thiên thần ở trên đất với tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: 'Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm'." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Sao Thế Tôn nhập diệt quá sớm vậy? Sao bậc Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, ra đi quá sớm như vậy? Sao đấng pháp nhãn, con mắt của người trời nhắm lại sớm như vậy? Các vị Tỳ-kheo ràng rụa nước mắt, đau xót, xót xa, đau đớn, ngẩng mặt lên trời, giơ tay cao lên, gục đầu xuống rơi lệ, những vị nằm vật vã lăn lộn, sao bậc pháp nhãn ra đi sớm như vậy, sao bậc đại đạo sư tịch diệt sớm như vậy, sao Đức Thế Tôn vào Niết-bàn quá sớm như vậy. Chúng con chưa có diệt tận hết những tham, sân, si mà ngài đã đi sớm như vậy.
Lúc đó là nhân thiên chấn động, địa cầu rung chuyển và tiếng khóc than vang vọng cả một vùng, bao nhiêu cây số là người đầy ấp, trên hư không gần hai mươi cây số không có một cái chỗ nào trống nhỏ bằng lỗ kim mà không có các vị thánh đệ tử thiên, các chư thiên đầy ấp, đầy ngập, chật kính cả một vùng trời. Hoa sala trái mùa trổ ra, rơi xuống cúng dường kim thân của Đức Phật, hương trời, hương chiên đàn, tất cả các loại thiên hương, chư thiên tung vãi trong hư không rơi xuống kim thân của ngài. Tiếng khóc, tiếng than, tiếng tiếc thương và những mùi hương và các loài hoa, thiên hoa tràn ngập cùng khắp, lúc đó không phải là mùa hoa nở nhưng các cây sala trái mùa trổ hoa.
Từng làng gió thổi qua và những cánh hoa rơi chầm chậm trên gương mặt của đấng từ tôn, rơi trên vai, rơi xuống hông, rơi trước mặt, rơi xuống bàn chân của ngài và kim thân của Thế Tôn nằm bất động. Chư thánh chúng nhìn ngài không có chớp mắt, Thế Tôn bây giờ đã tám mươi tuổi, tóc bạc như sương, trán nhăn nheo, má hớp lại, da trổ đồi mồi, bàn chân là gân guốc xương da gầy guộc, trên mình là một tấm y cũ kỹ và vươn vãi dưới tà y là đất bùng nhơ nhớp. Một ông lão tám mươi tuổi nằm yên bất động, lúc này thân của Thế Tôn bừng sáng chói sáng và chiếu sáng lên ánh sáng của hoàng kim, sáng hơn cả mặt trời, mặt trăng trong giây phút cuối cùng trước khi nhập diệt.
Ngài nhập sơ thiền, xả sơ thiền vào nhị thiền, xả nhị thiền vào tam thiền, xả tam thiền lên tứ thiền rồi bắt đầu nhập vào không vô biên xứ, xả không vô biên xứ nhập vào thức vô biên xứ, xả thức vô biên xứ định, vô sở hữu xứ, xả vô sở hữu xứ định nhập vào phi tưởng phi phi tưởng xứ, xả phi tưởng phi phi tưởng xứ lần lượt rất nhiều chục lần, nhiều trăm lần. Tức là tâm tự tại, rong chơi các thánh chánh định nhiều chục lần, nhiều trăm lần và cuối cùng Thế Tôn thu thần thị tịch. Trước khi ra đi Thế Tôn nhắn nhủ lời cuối:
"Và Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: 'Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật'.
Ðó là lời cuối cùng Như Lai." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Mọi sự vật, hiện tượng sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là sự vận hành, sự biến đổi, sự dịch chuyển, sự thiên lưu, là sự bại hoại của vô thường. Hãy mạnh mẽ lên, hãy nỗ lực, hãy tinh tấn, hãy dấn thân để tự mình thoát ra những dục, tham ái, sân si, vô minh, bản ngã đó. Ngũ uẩn là kẻ giết người này, bất hạnh này, hãy nỗ lực để tự mình thoát ra.
"Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Ngài đã tám mươi tuổi rồi, đã lên tới tuổi của bậc trưởng thượng, đã suy lão, sức tàn lực kiệt, sự sống còn lại chẳng là bao. Ta từ bị các thầy cô ta đi một mình. Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni ta xin từ biệt ta đi một mình.
Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
"Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Hãy tự mình làm chỗ dựa cho chính mình, hãy quay về hải đảo của tự thân bằng sự luôn luôn ghi nhớ thân xác này, cảm giác này, nội tâm này và những thứ cấu nhiễm bên trong. Hãy tinh tấn, chánh niệm, chùi rửa những thứ uế nhiễm trong tâm, hãy giữ giới luật, hãy thu nhiếp, hãy thâu thúc ý chí của mình trong sự tu học, hành trì, bảo hộ tâm mình. Ai tinh tấn trong pháp và luật này sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
Nay ta khuyên dạy các vị mọi sự vật, hiện tượng, các pháp hữu vi này là biến đổi, là tan hoại, là tan nát, huỷ hoại, hoại diệt. Hãy tinh tấn lên, chớ có buông lung phóng dật, đó là lời cuối cùng của Như Lai. Thế Tôn nói dứt lời ngài liền nhập diệt vào đại Niết-bàn tịch diệt, xuất ly khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, an trú vào tâm bất động giải thoát, bất tử.
Nhân duyên đây chúng ta nghe lại một đoạn kinh trong đại bác Niết-bàn tường thuật lại cái cảnh giây phút cuối cùng Đức Phật nhập diệt.
"Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: 'Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỳ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống'. Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy trì mạng căn. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Trong kinh Nikāya nói sự thật ngài rất đau đớn gần như muốn chết nhưng ngài chánh niệm tỉnh giác chịu đựng cơn đau đó, không có một chút gì than thở, đây là sự thật. Đức Phật bằng xương, bằng da, bằng thịt, một con người có sanh, có già, có bệnh, có chết, Thế Tôn tự nghĩ thật là không hợp lẽ, không có hợp lý nếu ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận ta, không từ biệt chúng Tỳ-kheo. Ngài dùng cái đạo lực của ngài, cái định lực của ngài, cái tuệ lực của ngài nhiếp phục, chế ngự cái cảm thọ đó.
"Rồi Thế Tôn lành bệnh. Sau khi lành bệnh không bao lâu, đức Phật rời khỏi tịnh xá và ngồi trên ghế đã soạn sẵn, trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc bấy giờ tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch Thế Tôn, thấy Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch Thế Tôn, con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỳ-kheo." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Ngài A-nan mừng vì thấy Thế Tôn bây giờ khỏe hơn lúc bị bệnh, thấy thế tôn chịu đựng cái sự đau đớn đó, cái căn bệnh đó thì thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, đứng không vững nữa khi nhìn thấy Thế Tôn phải chịu đựng như vậy đau đớn như vậy. Ngài A-nan đứng không nổi nữa, đứng không vững nữa, gió thổi nghiêng qua nghiêng lại, mắt con mờ mịt không thấy rõ, phương hướng nữa, ngài bàng hoàng, ngài xót xa, ngài đau xót, ngài đau đớn, ngài đau lòng. Con có được một chút an ủi như vậy dầu cho con biết rằng ngài sẽ còn để nói lời sau cùng nhưng mà con vẫn bàng hoàng, mù mịt hết, đứng không vững nữa.
"Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ananda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ananda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy)." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Ta không phân biệt đây là đệ tử của ta và kia là đệ tử của người khác, bằng tất cả tấm lòng, bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng sự thương tưởng đến tất cả hữu tình, tất cả chúng sanh, bằng sự thấu triệt đại khổ uẩn đối với muôn loài này, ta đã để lại một đạo lộ minh minh, bạch bạch, tỏ tỏ, tường tường, trong trong, sáng sáng, rành rẽ, rõ ràng, sáng suốt, thứ tự, tuần tự. Chư Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi ta? Đối với các pháp Như Lai không bao giờ là vị đạo sư còn nắm tay đối với tất cả các pháp mà ta chứng ngộ, ta không bao giờ còn giấu giếm, cất lại, dành riêng cho ta một chút nào cả, ta đã trao hết cho tất cả các ông. Trao hết tất cả một cách hoàn toàn, truyền lại đầy đủ viên mãn, thanh tịnh, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ, viên mãn, thanh tịnh phạm hạnh, có nghĩa có văn, không còn sót bất cứ cái gì nữa. Như vậy thì các vị còn mong mỏi gì lời di giáo nữa, còn có cái gì mới nữa, còn có cái gì khác nữa, còn có cái gì lạ nữa đâu.
"Này Ananda, những ai nghĩ rằng: 'Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo'; hay 'chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai' thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: 'Ta là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo; hay 'chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta' thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo?" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Nếu như người thầy nào nghĩ rằng mình là thầy, mình là bậc lãnh đạo, các đệ tử là trò, là người chịu sự dạy dỗ, giáo dục của mình thì người đó mới có lời di giáo. Như Lai không có nghĩ rằng ta lãnh đạo chúng Tỳ-kheo, ta không có nghĩ rằng chúng Tỳ-kheo là chịu sự giáo hấn của ta thì làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Chúng ta nghe cái câu này chúng ta hiểu cái gì? Đây là thánh trí vô ngã đại viên mãn trong giây phút cuối cùng, ta không có nghĩ ta là thầy, ta không có nghĩ các Tỳ-kheo là học trò vì không có ai ở đây cả. Thân trống rỗng không ai trong đó.
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
Bản chất tứ đại là không có ta, bản tánh của ngũ uẩn là vô ngã, ai là thầy, ai là đệ tử. Câu nói này đánh sập hết toàn bộ bốn mươi chín năm thuyết pháp, phủi một cái rớt hết tất cả, đây là đại thánh trí vô ngã viên mãn của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Ta không có nghĩ ta là người lãnh đạo chúng Tỳ-kheo tức là trong hành uẩn đã diệt tận cái bản ngã, đã bứng hoàn toàn gốc rễ của một cái ta, đã tận diệt cái tôi và đương nhiên sắc; thọ; tưởng; thức cũng như vậy. Ta không có nghĩ ta là sư phụ, ta không có nghĩ ta là đạo sư, ta không có nghĩ ta là người cầm đầu, ta chưa từng nghĩ ta là thầy của các Tỳ-kheo. Vì từ tâm, vì tình thương, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho các ngũ uẩn, ta đã đem tất cả trí tuệ chia sẻ cho mọi người.
"Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Ngài dùng định lực để cái thân không bị thọ thân tác động, ngài dùng định của tâm không cho thọ thân lấp áp vô, còn mình không có thiền định nào hết, không có chút định lực nào hết thì lúc đó như thế nào.
"Vậy nên, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Cái thân bệnh hoạn như vậy thì nương tựa cái gì nếu ko có chánh pháp? Ngài đem cái thân ngài ra để thuyết pháp, ngài đem cái đạo ra để ngài chứng minh, ngài đem cái bệnh của ngài ra để hiển thị thánh trí, thánh pháp, chánh pháp.
"Này Ananda, thế nào là vị Tỳ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?
Này Ananda, ở đời, vị Tỳ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Quán xét tự thân của mình bằng trí tuệ đã được học, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời, nhiếp phục, chế ngự mọi ham muốn và nỗ lực, dõng mãnh và hãy tỉnh táo, tinh anh, quán sát, nhiếp phục, chế ngự, ngăn chặn mọi sự ham muốn và yêu thích ở trên đời này. Nhiếp phục, chế ngự những buồn bực, những sân hận, bản ngã trên cuộc đời này, cũng vậy đối với cảm thọ, đối với nội tâm, đối với những thứ cấu nhiễm, những ác bất thiện pháp, hay là những thiện pháp phải nỗ lực, tinh tấn, tỉnh giác chánh niệm, diệt ác sanh thiện, gắng công làm nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời này.
"Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Khi Thế Tôn quyết định sau ba tháng nhập Niết-bàn thì địa cầu chấn động, cả trái đất rung chuyển nhưng mà rung chuyển như vậy mà không có làm hư đổ bất cứ một cái gì hết. Đại địa rung động như vậy, đại địa chấn động như vậy, ghê rợn, lông tóc dựng ngược và sấm trời vang động.
"Rồi tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?
- Này Ananda, có tám nhân, có tám duyên khiến đại địa chấn động.
Lại nữa này Ananda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được chế ngự, hay hàng chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này quán địa tánh có hạn, quán thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động mạnh.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, khi ấy quả đất rung động, chuyển động, chấn động mạnh.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai, chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ, không duy trì mạng sống, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai nhập vô dư y Niết Bàn, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
"Thế Tôn đi đến điện thờ Càpàla, khi đến Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Ananda đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:
- Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sàttambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada, khả ái thay điện thờ Càpàla.
Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.
Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn; tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người'. Vì tâm tôn giả bị Ma vương ám ảnh." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Đức Phật đã nói mấy lần như vậy nhưng vì tâm ý của ngài A-nan lúc đó mờ mịt, hồi nãy chúng ta đã nghe như lau sậy đứng không vững, mất hết các phương hướng, tâm ngài đang buồn đau, khổ sầu, cộng với ác ma che tâm nên ngài không có thỉnh Đức Phật.
"- Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi, đã không nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người'. Này Ananda, nếu Ngươi thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Quả chăng cũng là nhân duyên và nghiệp báo của chúng sanh trong thế giới này.
"Này Ananda, phải chăng ngay từ ban đầu Ta đã từng tuyên bố rằng mọi vật ưu ái, thân hình đều phải bị thay đổi, trở về hư không, biến dịch? Này Ananda, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh khởi, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến diệt? Thật không có sự trạng ấy." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Làm sao những thứ vô thường, bại hoại, hoại diệt mà lại không biến đổi? Làm sao có sự kiện ấy?
"Này Ananda, những gì Như Lai đã từ bỏ, dứt khoát, xả ly, phóng xả, khước từ, chính là thọ, hành. Như Lai đã nói và nói một cách dứt khoát: 'Không lâu, Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ'. Nói rằng Như Lai vì muốn sống mà phản lại lời tuyên bố trên thời thật không có sự trạng ấy." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Bây giờ ta đã tuyên bố rõ ràng cho chư thiên và loài người là ba tháng sau ta nhập Niết-bàn, chẳng lẽ bây giờ ta lại vì sự sống mà ta phản lại lời tuyên bố trên? Ta đã dứt khoát một cách dứt khoát, ta đã từ bỏ, dứt bỏ, xả ly, buông bỏ, khước từ, chính là thọ, hành. Bài kinh này rất xúc động, chúng ta cũng chưa có cơ hội để học hết bài đại bát Niết-bàn này.
"Rồi Thế Tôn cùng tôn giả Ananda đi đến giảng đường Kùtagàra vườn Ðại Lâm, khi đi đến, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy đi mời tất cả Tỳ-kheo sống ở gần Vesàli tụ họp tại giảng đường này.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, đi mời tất cả vị Tỳ-kheo sống ở gần Vesàli tụ họp tại giảng đường, rồi đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, chúng Tỳ-kheo đã tụ họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.
Thế Tôn liền đi đến giảng đường và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các vị Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỳ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli, ăn xong và trên đường khất thực trở về, Thế Tôn nhìn Vesàli với cái nhìn của con voi chúa rồi nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, lần này là lần cuối cùng, Như Lai nhìn Vesàli. Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Bhandagàma.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Ngài ngoảnh mặt trở lại một cách chầm chậm nhìn cái ánh nhìn điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm hùng, uy nghiêm, uy dũng, Việc xoay mặt trở lại nhìn chậm chậm, từ từ như vậy gọi là cái nhìn của con voi chúa, trầm hùng, trầm tĩnh, điềm tĩnh, thanh tịnh, uy nghiêm, uy dũng.
"Và Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát, cùng với chúng Tỳ-kheo đến nhà thợ sắt Cunda, khi đến xong liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi. Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda:
- Này Cunda, loại mộc nhĩ đã soạn sẵn, hãy dọn cho ta. Còn các món ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy dọn cho chúng Tỳ-kheo.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Thợ sắt Cunda vâng lời Thế Tôn, dọn cho Thế Tôn các món mộc nhĩ đã soạn sẵn, và dọn cho chúng Tỳ-kheo các món ăn khác, loại cứng và loại mềm.
Rồi Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda:
- Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.
Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.
Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kusinàra.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Kusinàra chính là nơi mà Đức Phật nhập Niết-bàn mà chúng ta đã đi qua Ấn Độ.
"Tôi nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda.
Cơn bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi.
Sau khi cùng món ăn loại mộc nhĩ.
Kịch bệnh khởi lên nơi bậc Ðạo Sư.
Ðiều phục bệnh hoạn, Thế Tôn dạy rằng:
'Ta đi đến thành Kusinàra'.
Rồi Thế Tôn bước xuống đường, đến một gốc cây và nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn ngồi nghỉ, này Ananda.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn và xếp tư áo Sanghàti lại.
Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy đem nước cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
Lần thứ hai tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục, khi tôn giả Ananda đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng, không vẩn đục.
Tôn giả Ananda tự nghĩ: 'Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay thần túc và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi ta đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục'." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Giờ này bậc đạo sư cũng đang giống như vậy.
"Sau khi dùng bát lấy nước, tôn giả Ananda đến chỗ Thế Tôn và bạch với Ngài:
- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu. Bạch Thế Tôn, con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi con đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước. Xin thỉnh Thiện Thệ dùng nước!
Và Thế Tôn uống nước.
Lúc bấy giờ, Pukkusa, dòng họ Mallà, đệ tử của ngài Alàra Kàlàma đang đi trên con đường từ Kusinàra đến Pàvà.
Pukkusa, dòng họ Mallà thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Pukkusa, dòng họ Mallà, bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, trạng thái trầm tĩnh của một vị xuất gia!
Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà nói với một người khác: 'Này bạn, hãy đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc'. - "Tôn giả, xin vâng'. Người ấy vâng lời Pukkusa, dòng họ Mallà và đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc.
Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà đem dâng một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc ấy cho Thế Tôn và nói:
- Bạch Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc. Mong Thế Tôn vì thương xót con mà thâu nhận cho.
- Này Pukkusa, hãy đắp cho Ta một áo và đắp cho Ananda một áo.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
ukkusa, dòng họ Mallà vân lời Thế Tôn, đắp một áo cho Ngài và đắp một áo cho tôn giả Ananda.
Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho Pukkusa, người dòng họ Mallà, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Và Pukkusa, người dòng họ Mallà, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỉ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn và từ biệt.
Khi Pukkusa, dòng họ Mallà đi chưa được bao lâu, tôn giả Ananda đem cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc này đặt trên thân Thế Tôn, và khi cặp áo này được đặt trên thân Thế Tôn, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi. Và Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, sự thanh tịnh và sáng chói màu da của Như Lai! Bạch Thế Tôn, khi con đặt trên thân Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc vàng chói và sẵn sàng để mặc này, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Tức là da của Đức Phật còn chiếu sáng hơn cái y kim tuyến đó nữa.
"- Thật vậy, này Ananda. Này Ananda, có hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói. Thế nào là hai? Này Ananda, trong đêm Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Giác và trong đêm Như Lai sắp diệt độ, nhập Niết-bàn giới, không còn dư y sanh tử nữa. Này Ananda, đó là hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói". (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Đêm nay chính là đêm Như Lai diệt độ, nhập Niết-bàn giới, tận cùng của sự sanh tử sống chết, không còn tái sanh nữa và da dẻ của Đức Phật chiếu sáng như là vàng rồng rực rỡ, chói lòa màu huỳnh kim cho đến chiếc y bằng kim tuyến đều phải bị làm cho nhòe, mờ đi.
"Này Ananda, hôm nay khi canh cuối cùng đã mãn, tại Upavattana ở Kusinàrà, trong rừng Sàla của dòng họ Mallà, giữa hai cây sàla song thọ, Như Lai sẽ diệt độ. Này Ananda, chúng ta hãy đi đến sông Kakutthà.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến con sông Kakutthà, xuống sông tắm và uống nước rồi lội qua bờ bên kia, đi đến rừng xoài và tại đây, nói với đại đức Cundaka:
- Này Cundaka, hãy xếp áo Sanghàti làm bốn cho Ta. Này Cundaka, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Ðại đức Cundaka vâng lời Thế Tôn và xếp áo Sanghàti làm bốn.
Rồi Thế Tôn nằm xuống phía hông bên mặt như dáng điệu con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm, tỉnh giác, suy tư, với ý niệm ngồi dậy lại khi phải thời. Và đại đức Cundaka ngồi phía trước Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, rất có thể có người làm cho thợ sắt Cunda hối hận: 'Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho Ngươi, thật là tai hại cho Ngươi, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ Ngươi cúng dường, và nhập diệt'." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Thế Tôn dặn ngài Ananda, dặn với Thuần Đà đừng có hối hận.
"Này Ananda, cần phải làm tiêu tan sự hối hận ấy của thợ sắt Cunda: 'Này Hiền giả, thật là công đức cho bạn, vì được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt. Này Hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ lời nói này của Thế Tôn: "Có hai sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác? Thế nào là hai?
Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết-bàn giới, không còn di hưởng sanh tử.
Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng tuổi thọ; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng an lạc; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng danh tiếng; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ đợưc hưởng cõi trời, nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng uy quyền'.
Này Ananda, cần phải làm cho thợ sắt Cunda tiêu tan hối hận.
Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, chúng ta hãy đi qua bờ bên kia sông Hirannavati, đến ở Kusinàrà - Upavatama - rừng Sàlà của dòng họ Màllà.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến bên kia sông Hirannavati, tại Kusinàrà Upavattana, rừng Sàlà của dòng họ Mallà, khi đi đến nơi liền nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ: này Ananda, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ. Và Thế Tôn nằm xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, hai chân để lên nhau chánh niệm và giác tỉnh.
Lúc bấy giờ, cây sàlà song thọ trổ hoa trái mùa, tràn đầy cành lá. Những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Những thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài, nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
Rồi Như Lai nói với tôn giả Ananda:
-- Này Ananada, các cây sàlà song thọ tự nhiên trổ hoa trái mùa tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
Nhưng, này Ananda, như vậy không phải kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai. Này Ananda, nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ananda, các Người phải học tập như vậy. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
II. Trình pháp
Chúng ta cùng nhau niệm bài Cúng Dường Tối Thượng. Con mời chư tôn và chư hiền trí chia sẻ cảm thọ khi thiền quán.
Sư cô 1: Con xin dập đầu cung kính kính lễ lên Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con kính lễ tri ân trên sư phụ, con kính lễ trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Đệ tử con xin chia sẻ một phần cảm xúc, cảm thọ, buổi thiền quán sáng nay sư phụ đã cho chúng con nghe về bài kinh đại bát Niết-bàn, thật sự cảm thọ và tưởng, hành chúng con rất là nhiều. Mỗi một lời sư phụ giảng nhắc lại lời kinh hình ảnh Đức Phật và ngài A-nan lên rất rõ ràng, rất là xúc động, chấn động, cảm thọ của con nhiều nhất, chấn động nhất lúc sư phụ nhắc khi Đức Phật nhắc là gần nhập Niết-bàn sau ba tháng. Sự xúc động của ngài A-nan à như một cây lau sậy không còn đứng vững, xúc động rất mạnh, mặc dù đoạn kinh này chúng con có nghe rồi nhưng cũng chấn động, tưởng đến hình ảnh của ngài A-nan lúc ấy. Nếu như ngài A-nan có thỉnh Đức Phật ở lại, nếu lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba Đức Phật cũng sẽ ở lại nhưng sẽ không đúng với quy luật của sinh, lão, bệnh, tử mà Đức Phật đã nói từ đầu, tất cả hành đều là vô thường.
Từng lời ấy con được nhắc lại thấm đẫm, chấn động, Đức Phật cũng phải rã, phải hủy hoại cái thân vật lý và hình ảnh Đức Phật hiện rõ rất rõ trong con, một ra đi vĩ đại, đến với thế giới này cũng vĩ đại và sự ra đi cũng vĩ đại. Một lời Như Lai nói không hề sai khác, dù chúng con có khóc, có thương tiếc giống y quý ngài chưa từng chứng đắc thì cũng đâu có làm sai khác lời dạy của Đức Phật. Sự tôn kính, sự nhắc nhở lời cuối của ngài mà chúng con cũng không có thức tỉnh và đoạn ngài đau, ngài khác nước dù tôn giả A-nan không hề lỗi lầm khi làm thị giả cho người. Chỉ cần sau cùng một ý niệm tôn kính nhưng lại không có nghe lời cũng đủ, còn một cái bài học giống như con nghĩ đến sư phụ, chúng đệ tử dù thân cận không có nghe lời thầy, làm cho người khó chịu và đau lòng dù có thương.
Một bài kinh rất là nhiều bài học và cảm thọ rất nhiều nhưng trong con xin nguyện đời đời kiếp kiếp lòng tin bất động với Đức Phật, với giáo pháp ly tham và với chúng Tăng thánh đệ tử của Đức Phật. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con xin tri ân kính lễ dập đầu kính lễ trên sư phụ đã cho chúng con ôn lại những bài học mà chúng con thường hay buông lung, thường hay phóng vật, thường hay quên. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô 2: Con chân thành kính lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con kính đễ sư phụ tôn kính của chúng con, con kính lễ các quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Hôm nay con được thiền quán theo lời chỉ dạy của sư phụ trong bài kinh đại bát Niết-bàn, cảm thọ của con rất xúc động. Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni ngài là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, bậc thấu hiểu tột cùng về sự thật thân tâm ngũ uẩn này và thế giới đau khổ này. Ngài là bậc vô thượng thanh cao, ngài là bậc vô thượng thanh tịnh, ngài là bậc vô thượng giải thoát, giáo pháp của ngài đã đem lại sự an lạc cho chúng sanh, giải thoát đau khổ, giải thoát sanh tử luân hồi.
Con rất là xúc động, ngài là bậc tối tôn, tối thượng như vậy mà ngài đã nói rằng ngài không nghĩ ngài là thầy của ai cả. Khi con nghe sư phụ nói rằng mấy chục năm thuyết pháp của ngài cho thế gian đau khổ lại buông bỏ, tâm con thán phục ngài, tín ngưỡng ngài vô cùng về giáo pháp ly tham ngũ uẩn, diệt tận bản ngã. Theo những lời giảng của sư phụ con rất là xúc động, con có một sự hối tiếc khi ngài A-nan không thỉnh Đức Phật ở lại và con thương mình vô cùng. Ngài A-nan là một bậc trí tuệ, giáo pháp của ngài để lại đến giờ phút này cũng là nhờ trí tuệ của ngài A-nan nhưng mà vì cái tâm tôn kính thương tiếc Đức Thế Tôn mà ngài cũng có những giây phút tâm bị vô minh. Con thương mình vô cùng, rất là thương, con trôi lăn trong sanh tử luân hồi vô lượng kiếp.
Đến đoạn mà Đức Phật dùng bữa cơm cúng dường có nấm độc, ngài biết và ngài đã dặn đồ ăn này không để cho ai dùng. Tâm thương của ngài thật là bao la, rộng lớn, trí tuệ của ngài cũng là tối tôn, tối thượng, cỏ cây, hoa lá cũng phải rung động, trái đất cũng phải rung chuyển nhưng mà lại không làm đồ vỡ bất cứ một vật gì. Trí tuệ của ngài thật là vô thượng, tâm từ bi của ngài thật là vô tận, vô biên, cả những dòng nước cạn đục như vậy mà cũng phải biến thành dòng nước trong sạch, mát lành, bổ dưỡng khi ngài A-nan đi lấy nước cho Đức Phật. Phải đến lần thứ ba ngài mới đi lấy nước và con cũng có một cái bài học rất là đau xót cho chính sự vô minh của con, một cái tâm không nghe lời, một cái tâm ngu si.
Con rất xúc động khi lời sư phụ nhắc lại cái đoạn mà Đức Phật có nói rằng ngay những lúc trái mùa như vậy, không phải là mùa hoa nở mà cỏ cây, hoa lá cũng nở hoa trái mùa như vậy để cúng dường Như Lai nhưng mà cái sự cúng dường tối thượng vẫn là sự tu tập.
Này Ananda, nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ananda, các Người phải học tập như vậy. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Sư Phụ:
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.