Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Siêu Việt Tình Thường

2026-03-03 00:52:48
Nhập Thất Công Phu Nikāya

SIÊU VIỆT TÌNH THƯỜNG

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Siêu việt thường tình PAGEREF _Toc74213055 \h 1

II.Bí quyết của sự tu PAGEREF _Toc74213056 \h 6

Siêu việt thường tình

Minh Thành về núi hơn hai tháng, trở về nhìn đạo tràng rơi rụng lác đác như lá mùa thu. Như vậy có Minh Thành thì mới tu, còn Minh Thành lên núi tu là mọi người khỏi tu nữa. Minh Thành mắc nợ đạo tràng Bửu Liên nhiều lắm, nhưng người nào khéo biết thì Minh Thành trả, còn người không khéo thì đành chịu.

Trước khi vào buổi pháp thoại, Minh Thành giải thích cho mọi người hiểu vì đại đa số Phật tử của mình sống với cái thường tình, chưa nắm vững được pháp. Phật tử đi chùa thích thầy tu vui vẻ, thân thiện, quan tâm hỏi thăm. Cái đó là thường tình của thế gian, chưa nhận thức được giá trị rộng lớn và sâu sắc của Chánh Pháp. Nếu gia đình có chuyện, mời mà thầy đến thì thấy thương thầy, cúng dường cho thầy. Còn nếu có chuyện mà mời thầy không đi được thì không giận nhưng buồn. Đó là thế tình, không phải đạo tình. Cho nên, Minh Thành có nói đến chùa tu có nhiều hướng lắm, nhưng hướng nhiều là thường tình, tình cảm thầy trò, sự quan tâm để ý, hỏi thăm, có chuyện thì nhờ giúp đỡ. Cái này không sai nhưng đúng với kẻ phàm phu. Còn với người biết tu thì sẽ được nâng lên thêm nữa. Người biết tu sẽ vượt lên trên cái phàm tình, thấy được giá trị của Chánh Pháp. Còn mình đi tìm cái tình cảm thông thường, có qua có lại, tôi cúng thầy thì thầy giúp tôi, tôi làm cái này thì thầy phải quan tâm, giúp tôi. Cái này là mua bán, là trao đổi hàng hai chiều của thế gian.

Như vậy, chúng ta tạm chia làm ba mức độ:

Đầu tiên, không có tình nghĩa;

Thứ hai, có tình có nghĩa;

Cuối cùng, siêu việt thường tình.

Nếu không nhìn ra thì sẽ nghĩ sự siêu việt thường tình giống như mức độ một là không có tình nghĩa. Cho nên giữa cái một với cái ba giống nhưng khác nhau. Mức độ một không tình nghĩa là sống không có tình nghĩa, có chuyện cần thì nhờ còn không thì làm ngơ, khi cần mình thì ngọt ngào để nhờ cho được việc, đến khi xong thì mạnh ai nấy đi, có chuyện thì nhờ, hết chuyện thì là người dưng, gọi điện cũng không nghe.

Mức độ thứ hai là có tình có nghĩa, người này mình giúp người ta là người ta giúp lại, mình quan tâm người ta là người ta quan tâm lại… từ trong gia đình, vợ chồng, bà con, anh chị em rồi lan đến vô chùa, thật sự người tu được như vậy là cũng khá, vì nhiều khi tu cũng không có tình nghĩa đầy đủ.

Mức độ thứ ba là siêu việt thường tình. Đây là những vị đã thể nhập Chánh Pháp. Một khi đã thấy pháp, thể nhập Chánh Pháp, tức là đi vào pháp, sống với pháp thì có những cái vượt lên mức hiểu biết của mình, vượt ra khỏi những cái chuẩn mực, lề thói bình thường, hay còn gọi là xuất cách, tức là vượt ra khỏi cái cung cách bình thường.

Quý vị thương con mình, không muốn con đi xa mà phải ở gần mình thì đứa con đó có tiến bộ được không? Có thể lên Sài Gòn học nhưng nó muốn ra nước ngoài học, mình không cho thì đứa con có phát triển lên cao hơn được không? Thêm mức nữa, khi đứa con ra nước ngoài học mà có những chương trình học phải vào phi thuyền lên vũ trụ, đi ra khỏi Trái Đất, nhưng thương con quá thì mình có cho nó đi không?

Đến chuyện tu, mình thương và quý ông thầy, lúc nào lại chùa cũng có thầy ở đó, nhà mình có ai bệnh thì mời thầy lại cầu an, ai chết thì mời thầy lại cầu siêu, mình cúng cái gì là phải được vỗ tay nhận bằng công đức. Đó gọi là thương thầy, quý thầy. Bây giờ ông thầy lên núi tu, giống như việc lên Sài Gòn học đại học. Mình muốn giữ thầy bên mình, muốn cái việc thông thường đó cứ vậy hoài thì làm sao thầy mình phát triển? Lâu lâu thầy cắt hết, từ chùa chiền, bổn đạo, Phật tử, dạy học, cho đến giảng pháp để lên núi độc cư, lúc này nếu bà mẹ có hiểu biết thấy con lên Sài Gòn học thì mừng hay buồn, còn Phật tử hiểu biết thì thấy thầy tu học như vậy là mừng hay buồn?

Thái tử Tất-đạt-đa khi bỏ vua Tịnh Phạn, bỏ dì mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề, bỏ Da-du-đà-la, bỏ La-hầu-la, đó là cấp độ thứ mấy? Lúc đó Ngài có đầy đủ mọi phương diện, từ vật chất đến địa vị, sắc đẹp, sức khỏe, tình thân chứ không phải bị vấn đề gì mới đi tu, nhưng bằng con mắt thông thường nhìn thái tử Tất-đạt-đa thì nói Ngài tự nhiên bỏ cha mẹ đi, chẳng những đi mà còn làm ăn xin. Cho nên khi Ngài đắc đạo trở về thì lúc đó vua Tịnh Phạn xúc động và khóc, vì nhà vua thấy con mình là Thái tử mà đầu trần, chân đất, khoác tấm vải cũ, bưng bình bát ăn xin thì vua Tịnh Phạn tức giận, như vậy là làm mất sĩ diện hoàng tộc, trong khi là Thái tử - con vua mà bây giờ làm ăn xin của thần dân chính mình. Nếu quý vị có người con như vậy thì có thấy bực bội, xấu hổ không? Vì cái thấy của mình là cái thấy của thường tình, nếu Ngài không vượt qua cái thường tình đó thì có được sự thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác, có đạo Phật đã tồn tại 3000 năm hay không?

Vì tâm chúng ta lẩn quẩn trong ngũ uẩn, trong cái thường tình, trong cái dục, tham, ái, sân si, bản ngã nên nó chỉ ở trong cái khổ đó, trong cái lề thói đó không ra được, cứ cho rằng ai ở trong lề thói đó giống mình thì đúng còn ai vượt ra thì cho là sai. Cổ nhân có câu “cá chậu chim lồng, kiến bò miệng chén”, tức là con cá ở trong chậu thì chỉ biết cái chậu; con chim ở trong lồng, nhảy lòng vòng cũng ở trong lồng đó thôi; ếch ngồi đáy giếng thì tưởng miệng giếng là bầu trời; kiến bò xung quanh miệng chén thì cứ bò hoài trong đó không đi ra được. Chúng ta cũng giống như vậy, toàn là nhận thức của phàm tình, thấy biết của sự chấp ngã, bấu chặt vào mấy chục kí thịt này, bấu chặt vào những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này rồi cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, là hay, là giỏi, là tài, là ta mới là số một. Cái thấy đó là cái thấy của vô minh, của phàm phu si mê và chấp ngã, chấp thủ, ngũ thủ uẩn bám chấp, thâm căn cố đế bị buộc chặt vào đó.

Mọi người nghĩ rằng lên núi độc cư sướng lắm phải không? Mọi người lên đây khóa cửa lại ở một mình trong 7 ngày, cắt hết tivi, điện thoại, ngày ăn 1-2 bữa thì có chịu nổi không? Khuya thì thời tiết chỉ còn 10ºC vào mùa đông, vậy thì có sướng không? Ở Ấn Độ không chôn người chết mà bỏ vào rừng để những con quạ, diều hâu, kền kền ăn xác chết. Bây giờ Tây Tạng vẫn còn tục lệ điểu táng này, để xác người chết ra như vậy cho mấy con quạ, diều hâu, kền kền ăn. Mình chỉ biết thổ táng, tức là chôn xuống đất; hỏa táng là đem thiêu; thủy táng là sau khi thiêu là đem rải xuống sông nhưng không có điểu táng.

Bồ tát Tất-đạt-đa lột bỏ mão Thái tử, cởi hoàng bào xuống, cắt mái tóc đen huyền, lấy tấm vải của một người chết trong nghĩa địa đắp vào sống đời sống của một người khất sĩ, buông bỏ tất cả những dục vọng, những tham muốn, tham dục, tham ái, những cái yêu thích của cuộc đời để dấn thân tìm ra Thánh đạo, tìm con đường chấm dứt khổ đau. Còn nếu Ngài vẫn ở gia đình, giống như thông thường thì bây giờ có tượng đức bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, đại Cồ-đàm Go-ta-ma trong chánh điện trên toàn thế giới cho mình lạy hay không? Nếu không có sự quyết tâm mãnh liệt vĩ đại, không có sự hi sinh toàn diện, không có sự dấn thân để tìm cầu chân lý, hi sinh cả thân mạng, xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, buông bỏ bản ngã để chứng đắc cái vô ngã thì làm gì có đạo Phật giác ngộ ngày nay? Làm gì có danh từ Tam Bảo? Làm gì có Tứ Thánh Đế, Bát Thánh Đạo, Tứ Niệm Xứ? Làm gì có 37 Phẩm Trợ Đạo? Làm gì có con đường Diệt Khổ Chi Đạo?

Chúng ta ngày nay nhờ chỗ siêu việt thường tình của Thái tử Tất-đạt-đa, nhờ sự vượt qua tất cả những cái phàm tình, ân tình, nghĩa tình, thâm tình thì đạo Phật mới xuất hiện trên hành tinh này, 10.000 thế giới chấn động khi Bồ tát thành Chánh Đẳng Giác. Còn cái thấy biết của mình chỉ quanh quẩn bên gia đình, chồng con… cái thấy biết nhỏ hẹp của bản ngã, của sự tham ái, tham chấp, tham dục. Trong tâm suy nghĩ chỉ có “mình”, nếu đến chùa mà ông thầy trọng mình, quan tâm mình thì lúc đó thấy thầy đó tốt, nhưng đến mà thầy không nhìn tới mình, chỉ nói pháp thì buồn, tìm chùa khác. Như vậy là vì cái tôi, vì cái ái, vì cái mình thích mà đến chùa chứ không phải mình đến vì pháp.

Thành ra, thật sự Minh Thành thấy trăm ngàn Phật tử nhưng những người đến vì pháp thì chỉ đếm trên đầu ngón tay và Minh Thành chỉ quý những người đó. Minh Thành sẽ rất thân thiện với những người đó, còn hơn anh em ruột thịt, hơn cha mẹ vì pháp với pháp mới tương xứng, mới có sự truyền thừa, sự tiếp nối. Còn pháp với tình khác nhau thì làm sao gặp nhau được. Pháp là hướng đi lên, vượt ra khỏi vô minh; còn tình là lẩn quẩn trong vô minh, không khéo còn bị kéo xuống, cứ đi theo cái chuẩn phàm phu thường tình, tham, sân, si.

Cho nên học pháp, cầu pháp là để cầu sự hướng thượng, đi lên. Sự bỏ cha mẹ, bỏ hết người thân, sự nghiệp để vào chùa cầu pháp chứ không phải vào chùa để cầu chùa, cầu đệ tử, cầu vật chất, đó không phải là người chân tu. Ở nhà mình đã dính mắc vợ con, nhà cửa, tiền bạc; bây giờ vào chùa dính mắc vào chùa chiền, bổn đạo, tài sản thì cũng chẳng khác ngoài đời. Vì vậy, mọi người phải nhìn cho ra được đâu là tu chân chánh và đâu là tu không chân chánh. Nếu không, có khi gặp được người chân tu mà mình lại xem thường, gặp người tu mê lầm thì lại tôn thờ họ. Nguy hiểm vô cùng!

Chân tu mà lại xem thường, còn cái sai lầm, tà kiến thì lại tôn thờ, như vậy thì đời đời kiếp kiếp mình đi trong mê lầm, trong mê tín, trong vô minh, làm mất duyên lành đối với Thánh Pháp, sự giải thoát giác ngộ. Thế nhưng, những việc như vậy thì rất nhiều. Vì vậy, có những cái mình chưa hiểu biết thì đừng vội phê phán mà hãy trầm tĩnh suy xét cho sâu sắc. Những người thật sự chân tu, thật sự vì cầu pháp, cầu đạo thì người đó tâm tâm niệm niệm lúc nào cũng tìm pháp, thực hành pháp và muốn chia sẻ pháp với người khác. Còn người không phải cầu đạo thì những điều họ nói là vì vật chất, tiền tài.

Bất cứ lúc nào gặp mình mà hỏi: "Dạo này tu học làm sao? Có nghe pháp không?", "Có thấy được sự thật của cuộc đời chưa?", "Có thấy được khổ không? Có thấy được nguyên nhân của khổ là tham, sân, si, bản ngã không?", "Có giảm bớt những cái đó chưa?", thì đây thật sự là vị thầy thương mình. Thương cái vô minh của mình; thương cái mê lầm của mình; thương cái si ám của mình; thương cái sự bám chấp vào cục thịt mấy chục kí lô này; thương cho sự u mê trong cảm giác suốt ngày đêm; thương cho sự si si dại dại trong những hình bóng lờ mờ của nội tâm; thương cho sự suy nghĩ trong lời nói lầm thầm của bản ngã, của ta đây, của cống cao, ngạo mạn, của hơn thua, ganh tỵ, của đố kỵ, của sân si, của nhân ngã bỉ thử đã làm cho mình đau khổ hoài hoài mãi mãi; thương cho cái vô minh, chấp thủ trong ngũ uẩn này; thương cho cái sự nhận rằng những cái tri thức, cái hiểu biết đó là mình, cho rằng mình đúng còn người ta sai, mình hay còn người ta dở, mình phải người ta quấy, mình sáng người ta tối.

Thương thật là thương! Thương vô cùng thương!

Bí quyết của sự tu

Đức Phật dạy trong kinh Nikāya:

Này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ? Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

Tóm lại năm thủ uẩn là khổ, sự nắm chặt, sự bám chặt, sự nhận lầm trong ngũ uẩn này làm cho mình đảo điên, quay cuồng. Suốt cuộc đời mình là một cuộc truy lùng, mong muốn, hi vọng, đợi chờ… Đó là dục, tham và ái, nó thống trị, chế ngự, chiếm lãnh toàn bộ thân tâm của mình. Cứ chạy và tìm hoài, không có điểm dừng, tìm cho tới lúc già cỗi mòn mỏi, kiếm cho tới lúc sắp trút hơi tàn vẫn không ngừng. Cả một cuộc đời mình là một sự chạy đuổi và tìm kiếm khao khát, ước mơ và hi vọng. Hi vọng đi tìm những thứ mong manh, tạm bợ, sớm nở tối tàn. Mình đã chụp bao nhiêu hòn bong bóng nước từ nhỏ tới giờ, mình đã chất chứa bao nhiêu những sự tham ái, tham dục? Vô số, vô lượng, vô tỷ kiếp đã khổ vì nó, bây giờ tiếp tục đi theo nó nữa, rồi tương lai sẽ tiếp tục dài dài và mãi mãi không có ngày dừng lại.

Nếu không học Thánh Pháp, không hành trì Thánh Pháp này thì con đường luân hồi của mình cứ tái diễn trong bi kịch đau khổ. Bao nhiêu những nỗi khổ, niềm đau mình chất đã chứa từ nhỏ đến giờ. Trong tâm mình chất chứa tham, sân si, bản ngã, nói ra là thị phi, bay mùi không chịu nổi, thân thể này ba ngày không tắm là không chịu nổi, còn tâm mình đã 70 năm mà không chịu tẩy rửa. Một người vài ngày không tắm khi lại gần là không chịu nổi, mà không ngờ cái tâm mình đã vô lượng vô biên kiếp không được lau chùi, không được thanh lọc. Vì thế tu là một cuộc thanh lọc vĩ đại trong vô lượng kiếp vừa qua chưa từng làm và bây giờ chúng ta phải làm!

Mọi người hãy tẩy rửa đi chứ đừng làm dáng, làm hình thức bên ngoài. Ngồi chụp hình, chắp tay búp sen chứ đụng vô là lựu đạn, thuốc nổ, chất độc chất chứa đầy trong tâm. Vì mình không chịu quay trở lại kiểm tra thân tâm chính mình mà cứ nhìn hết người này đến người kia, vào chùa còn nhìn thấy thầy sai chứ đừng nói bạn đạo, còn chồng con ở nhà là chạy mất. Nhìn ra ngoài rồi bắt lỗi từ trên xuống dưới, nhìn thấy ai cũng sai, thích xét nét người khác, tới lúc người ta nói lại là sân hận. Tại sao mình lại đi soi mói người ta, tới chừng người ta góp ý với mình là mình lại sân si lên.

Cho nên bí quyết, bí chiêu của sự tu là hướng nội, nội soi thân tâm, nhìn lại hành vi, cử chỉ của mình, soi rọi cảm giác, nghĩ tưởng của mình. Đó gọi là nhận diện ngũ uẩn. Còn mình hướng ngoại là không có tu gì hết, dù cho hình thức là tu, thậm chí có cạo đầu thì cũng không có tu. Ngồi xuống là nói chuyện người khác, còn bản thân mình ngay khi nói thì không thấy cái gì đang vận hành. Bản ngã thì chình ình, chỉ thích làm phán quan, người chân tu nhìn thấy rác bẩn như vậy thì xấu hổ vô cùng.

Thế nên, khi mình nói chuyện với chồng con thì quý vị nhớ nhìn lại tâm mình, xem lúc đó mình nói bằng tâm từ, nói bằng lòng thương, bằng sự quan tâm con mình hay là đang nói bằng sân hận, tâm bản ngã. Nếu nói bằng tâm sân hận là phải dừng lại, bất cứ khi nào mình thấy rằng mình góp ý người khác bằng cái tâm sân hận là phải dừng lại ngay, không nói nữa. Nếu biết tu và có sự phản tỉnh thì chúng ta sẽ cảm thấy nhục nhã vô cùng. Nhục vô cùng nhục! Nhục quá là nhục! Không còn cái nào nhục hơn cái nhục này, tối ngày đi soi mói người ta, đi cự cãi người ta trong khi bản thân mình thì xấu xa. Nhiều việc mình nói người ta rồi mình cũng y chang vậy, cho nên nói nhẹ nhàng thôi. Phải nhớ rằng khi thân tâm sanh khởi lên tham, sân, bản ngã thì lúc đó mình đã có lỗi, chứ không đợi phát ra miệng hay hành động là mới có lỗi.

Luôn luôn lúc nào hễ thấy bực bội sanh khởi lên là mình phải tác ý để dập tắt: "Thôi, cái cảm giác sân này, ngươi hãy tan biến đi, ngươi hãy lắng dịu đi, ngươi hãy mát mẽ đi. Đốt cháy để làm gì?", "Để cho bà tu". Vuốt ngực và nói với cảm giác "dịu xuống đi". Làm như vậy thì cảm giác, cảm thọ sẽ được lắng dịu xuống. Mình phải huấn luyện, dạy dỗ cảm giác, còn không là nó quậy mình tan tành hết. Cái cảm giác ác độc trong chính tự thân hại mình chứ không phải ai ở bên ngoài giết hại mình, chính nó làm cho mình khổ, xúi giục mình đi tìm kiếm không dừng nghỉ. Chính cảm giác xúi giục mình đi vào quán bar, sử dụng các chất kích thích, chính cảm giác xúi giục mình đua xe để tìm cảm giác mạnh rồi lãnh hậu quả gãy chân, chết người. Tất cả chỉ là cảm giác nhưng do mình không tu tập, không nhận diện cảm giác, không quán chiếu cảm xúc, không làm chủ cảm thọ thì nó xúi gì là mình làm nấy.

Tu là thường trực để ý và nhìn lại cảm giác, xem trong cảm giác có sự thúc giục không. Nếu thúc giục mình đi chùa, nghe pháp là tốt nên phải đi nhiều hơn nữa, phát huy cảm giác thiện lành. Còn thúc giục đi đánh bài cho tan nhà nát cửa thì phải từ bỏ, có những người Việt sang chơi bài ở Las Vegas thua tan nát đến nỗi vợ bỏ, con từ mặt, tan nhà nát cửa rồi bị ảnh hưởng thần kinh. Vì trong nội tâm thúc giục "vào đó sẽ giàu", những sòng bạc ở Las Vegas to lớn như cung điện hoàng gia, đậu xe trước cổng là có người mở cửa, vào cho ăn uống đầy đủ, tới lúc trở ra không có đồng bạc về xe. Từ đó mình nhìn ra nhiều cái khác, tới giờ ngồi thiền thì bị thúc giục vào bếp nấu ăn thì phải thấy để nhiếp phục: "Giờ này là giờ tu, giờ ngồi thiền chứ không phải giờ đi nấu ăn". Mình phải nhiếp phục các cảm giác, làm chủ các cảm xúc. Phải nhìn thấy và nhiếp phục thì đây là sự tu trực diện, là pháp chánh thống của Đức Phật giảng dạy.

Còn cầu xin, lễ lạy là để giúp cho mình nhớ để quay lại nhìn nội tâm "Lạy Phật, sao con cứ mê theo cảm giác", "Con lạy Ngài cho con nhớ để con trị cảm giác dục, sân si, bản ngã". Cái lạy này là Chánh Pháp: "Con lạy cơn giận của mình. Sao mà con giận hoài, cha mẹ con cũng giận, chồng con cũng giận, con cháu con cũng giận", "Bây giờ con sám hối trước Phật cơn giận này, con quyết từ nay về sau trị cơn giận này. Con không chất chứa, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển cảm giác sân hận trong lòng con nữa. Con phải nuôi dưỡng những cảm giác thông cảm, tha thứ, những cảm giác hiền từ, thương yêu. Con phải có cảm giác thương với tất cả mọi người".

./.