Đạo Lộ Tu Học Tuần Tự 3
Kinh NIKAYA Giảng Giải - Đạo Lộ Tu Học Tuần Tự 3 - Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ III.mp3
Thích Minh Thành
Học và hành là hai chuyện rất quan trọng, chúng ta học môn này để nắm được Phật pháp nguyên chất, nắm được pháp hành còn học để thi rất dễ, học để thi khác với học để hành, để nắm được cốt lõi của giáo pháp để hành trì.
Này Bà-la-môn, sau khi Tỳ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỳ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Ban ngày, đầu hôm ban đêm hoặc là giữa đêm khi mới thức dậy phải gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp, người tu chân chánh như lời Đức Phật dạy thật sự sẽ không có thời gian, họ luôn nội quán, nội tỉnh, nội soi nhìn lại nội tâm thường xuyên, miên mật, khít khao và liên tục. Tức là trước khi ngủ, trong khi đi kinh hành hoặc khi ngồi đều gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Thế nào là các pháp chướng ngại? Đó là ngũ cái, là năm pháp che đậy tâm làm yếu ớt trí tuệ: Tham ái; sân hận; hôn trầm – thụy miên; trạo hối; nghi ngờ. Năm pháp này làm cho mình bị che đậy, tâm bị trói cột, sở dĩ trí tuệ không được tỏ sáng là do năm thứ này cho nên những lời Phật nói đều được ngài A-nan nhớ không sót một chữ, có bài kệ của Bồ-tát Manjusri (Văn-Thù-Sư-Lợi) khen tặng ngài Ananda như sau:
Tướng như thu mãn nguyệt
Nhãn tợ thanh liên hoa
Phật pháp như đại hải
Lưu nhập A-Nan tâm
Dịch nghĩa:
Tướng như trăng thu đầy,
Mắt biếc tợ sen xanh,
Phật pháp rộng như biển,
Đều vào tâm A-Nan.
Ngài A-nan được khen ngợi như vậy là vì ngài đã phá năm triền cái. Khi ngài nghe pháp là không có năm triền cái cho nên tất cả những lời Phật dạy đều được ngài ghi nhớ, bao nhiêu lời Phật nói đều rót qua ngài không rơi rớt chữ nào. Vì sao mình học bài nhớ trước quên sau? Vì tâm mình còn năm triền cái, lúc thì dục tham, lúc thì nghĩ thương người này giận người kia, không thì lờ đờ hoặc hôn trầm, không ngồi yên được để học hoặc hoài nghi không biết cái đang học đúng hay không cho nên năm triền cái làm tâm không được trong sáng, không sáng tỏ, học bao nhiêu rơi rớt bấy nhiêu. Gột sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp là xem lại trong cảm giác có dục tham không, nếu có phải đánh đuổi, tác ý trừ diệt như quét rác, mình thấy có suy nghĩ, hình bóng, cảm giác về dục tham thì tác ý tẩy sạch, quét dọn, diệt tận hoặc có cảm giác sân hận phải lập tức làm cho an tịnh, lắng dịu và tác ý tẩy sạch tâm tư khỏi chướng ngại pháp. Nếu có hôn trầm, buồn ngủ phải tác ý tinh cần giới, dũng mãnh giới, quán tưởng về ánh sáng, tác ý mạnh mẽ, nỗ lực, làm phát khởi ý muốn nỗ lực trong thiện pháp thì mới đánh đuổi được hôn trầm. Khi trạo cử sanh khởi phải nhiếp phục, an trú tịnh chỉ. Để ý thường xuyên như vậy thì thấy có hoài nghi nào phải dùng chánh kiến về vô thường, khổ, vô ngã đối với năm uẩn, tác ý để phá sạch năm triền cái thì đó là bước tuyệt đối quan trọng của người tu. Khi phá năm triền cái cộng với thực tập thiền sẽ thành tựu năm thiền chi, tầm, tứ, hỷ lạc và nhất tâm, mới đi vào được Sơ thiền. Năm triền cái còn thì không thể vào Sơ thiền được vì ngồi thiền là dục ái, sân, bứt rứt, không thì hôn trầm thì làm sao thiền được? Nóng nực một chút là cả buổi học thấy khó chịu, không nhiếp phục được cảm thọ thì đó là triền cái, sân không chỉ là cãi lộn mà là cảm giác bức xúc, bội dọc, khó chịu không giải tỏa được, lưu trú trong thân tâm làm đa số thời gian ngồi học bị bực dọc vì nóng nực, đó chính là triền cái, là chướng ngại pháp hoặc là bận công việc nên về trễ không kịp tắm rửa, tới lúc vào ngồi thiền bị nóng nực, ngứa ngáy, trong suốt buổi ngồi thiền thì cái nóng nực, ngứa ngáy đó làm cho mình bị trạo cử không yên tịnh được, đó là chướng ngại pháp. Cái đói bụng, ăn quá no hoặc buồn ngủ cũng giống vậy, tất cả những cái này đều phải tẩy sạch thì mới thành tựu được thời nghe pháp, giờ ngồi thiền, nếu không trong suốt giờ đó toàn bị ngũ cái quậy phá, ngồi mà buồn ngủ, bứt rứt, lăng xăng, hết gãi chỗ này lại gãi chỗ kia, ngứa đủ chỗ trên thân… như vậy là năm triền cái này tấn công, áp đảo, che đậy tâm thì pháp không đi vào tâm được, gọi là chướng ngại pháp. Cho nên ngồi thiền mà ngồi bất động từ đầu tới cuối là phải nhiếp phục được trạo hối – trạo cử, không thì ngứa, gãi, trở mình qua lại, đau nhức. Ngồi tỉnh táo là nhiếp phục được hôn trầm. Ngồi mà trong tâm an định là phá được hoài nghi. Ngồi mà không bị những tư tưởng, hình bóng, suy nghĩ về dục, tham, sân chi phối thì mới vào định, nhập Sơ thiền. Sở dĩ không vào Sơ thiền là bị ngũ cái tấn công, suốt ngày, suốt năm, suốt tháng mình không để tâm tư tẩy sạch, gội rửa các chướng ngại pháp. Căn nhà nội tâm của mình đầy rác bẩn, đầy bụi bặm, không thể đối diện được nội tâm, bị sắc ám ảnh, dục, tham ái ám ảnh, hình bóng, suy nghĩ ám ảnh trong tâm, những cảm giác bực bội, khó chịu quậy phá mình, bị buồn ngủ, dao động, tê nhức, đau mỏi, hoài nghi khởi lên liên tục "không biết tu cái pháp này đúng hay không?", "không biết quán bất tịnh như vậy có bất tịnh không mà sao mình toàn thấy tịnh, thấy đẹp?". Như vậy ngũ cái trùm phủ lên nội tâm. Cái là che đậy, triền là trói buộc, năm triền cái che đậy tâm tư, trói buộc mình, gọi là chướng ngại pháp. Người thật tu là người đó bất cứ khi nào cũng phải để ý và đã phá, đánh tan, phá tung năm cái này thì người này mới thành tựu bước đầu, tức là phá được năm triền cái, vào được năm thiền chi. Người này tầm, tứ, hỷ lạc, nhất tâm là một sự hướng tâm về ly dục, được vui vẻ, khi ngồi lại phải tác ý "mình đã xa lìa những thú vui của cuộc đời, được an tịnh như vầy thấy an lạc, hạnh phúc quá". Tâm mình hướng về hỷ lạc trong pháp, trú trong đó gọi là tứ, sau khi trú trong đó thì sanh ra cảm giác vui mừng, sau cảm giác vui mừng là cảm giác vui nhẹ nhàng, sâu lắng gọi là lạc, còn mừng là hỷ, mừng thì hơi dao động còn lạc là vui nhẹ. Sau cái lạc là đi đến nhất tâm, cái tâm thuần nhất.
Trong thời đại này rất khó để tu thiền định, chính vì vậy mà đi đến các chùa có khi nào đi vào bắt gặp được hình ảnh cả chùa ngồi thiền yên lặng trong thiền đường, hình ảnh này dễ tìm hay khó tìm? Tại sao lại vậy? Cái đó mới là hình ảnh của Đức Phật, mới là hình ảnh của Phật giáo thật sự. Con có chương trình đi viếng khác lạ, trên đường con đi mà thấy chùa nào là con vào thăm, cực kì hiếm hoi và thậm chí là không thấy được hình ảnh đó, cái hình ảnh thật sự của Phật giáo là tất cả phải thiền định tĩnh lặng, gội rửa tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, gọi là thực hành đúng theo những gì Đức Phật dạy. Nhưng bây giờ lại có quan niệm khác, đến chùa mà lặng thing lại thấy buồn, chùa phải hưng thịnh mà hưng thịnh là phải náo nhiệt tùng lâm cho nên những cái sai đó dần dần thành thói quen, người ta không học pháp, không hiểu pháp nên người ta tưởng lầm cái sai thành cái đúng. Con vào chùa nào mà thấy nhộn nhịp, mở nhạc đạo rần rần, gọi nhau í ới là con đi ra vì nhức đầu. Thật sự rất khó để nhìn thấy được màu sắc thật sự của Phật giáo trong ngày nay, trong thời đại này. Một thiền viện lớn ở Myanmar chia ra, một tầng dành cho chư Tăng, một tầng dành cho nam cư sĩ và tầng còn lại dành cho nữ cư sĩ. Mỗi ngày ngồi thiền một tiếng, đi kinh hành một tiếng, làm như vậy suốt ngày, có đến vài trăm người vào thực tập. Cho nên khi học vào Phật giáo nguyên chất sẽ bất ngờ, những cái mình nhận định bây giờ đều không đúng, mình nghĩ rằng ở chùa siêng năng làm việc nhưng cái đó là pháp thối đọa của Tỳ-kheo.
Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?
Ưa công việc, ưa nói chuyện, ưa ngủ, ưa hội chúng, các căn không phòng hộ, ăn uống không tiết độ. Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (I) Hữu Học)
Ưa công việc, ưa thế sự là một trong những pháp thối đọa của Tỳ-kheo vì không ưa thích thiền định, không ưa thích học pháp, cái đó là sự lùi lại và rơi xuống của người tu nhưng hiện tại cách thời đại Phật càng xa thì người siêng năng làm việc cũng đỡ vì có người làm biếng, không muốn làm gì cả, từ cái sai này kéo theo cái sai kia làm càng ngày càng đi gần đến vực thẳm, gọi là "nhất đại bất như nhất đại", nghĩa là mỗi đời một tệ, thối đọa từ từ và diệu pháp bị hỗn loạn, lần lần không biết chánh pháp của Đức Phật thật sự là gì nữa, đi vào con đường của sự ham muốn, của sự chất chứa, gom góp, tích lũy tài sản và vật chất, danh lợi và quyền uy, như vậy là hoàn toàn ngược lại tông chỉ ban đầu của Đức Phật cho nên sự cao thượng của người tu chính là gội rửa sạch được cái tham, cái ham muốn. Hãy xem lại trong nội tâm đối với tài sản, vật chất, đối với danh vọng, tiền bạc, đối với đất đai, chùa chiền thì tâm tham của mình có giảm không? Có được nhiếp phục chưa? Được đoạn tận hay chưa? Đó là chướng ngại pháp, đó mới là người chân tu, mới là đa văn thánh đệ tử. Nếu không hướng đến ly tham thì người đó chỉ có hình thức, không phải là đệ tử thật sự của Đức Phật vì bốn đôi tám chúng của Đức Phật đều hướng đến ly tham đối với cái ăn, cái mặc, đối với tiện nghi vật chất, đối với chỗ ở phòng ốc và nhiếp phục lòng dục, lòng tham, lòng ái, đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc là sắc đẹp, âm thanh, mùi vị, sự xúc chạm.
Hãy nhiếp phục lòng dục, lòng tha, lòng ái, lòng dính mắc!
Cái ái này rất vi tế, đó là những hình bóng trong tâm chứ không phải chỉ ở bên ngoài, gọi là pháp trần. Ái suy nghĩ của mình, ái hình bóng của mình… chính là thọ; tưởng; hành. Những cảm giác êm ái, dễ chịu, ngọt ngào đã qua rồi nhưng hình bóng của cảm giác đó hiện lại trong tâm, mình vẫn còn lưu luyến, tiếc nuối thì đó cũng là chướng ngại pháp và cần phải tẩy sạch nó. Trước khi đi tu mình có quen một người, bây giờ vào tu rồi, khi ngồi thiền có những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về người đó khởi lên thì phải tẩy sạch tâm tư khỏi chướng ngại pháp đó, gọi là gột sạch tâm trí. Khi ngồi mà nhớ lại đối tượng nào đó mà làm cho mình bực tức, hình ảnh người mình giận hiện lên, cảm thọ, suy nghĩ về giận đó thì đó là chướng ngại pháp dù cho người đó đã đi rồi, cho nên ngày đêm liên tục tẩy sạch pháp chướng ngại đó, gọi là chú tâm cảnh giác, là để tâm, sự cẩn thận, chuyên chú tâm tư cảnh giác, đề phòng cao độ. Người tu mình hiện giờ thực hành được bao nhiêu trong những lời dạy của Đức Phật đã nói ở trên? Phải học để biết mình đang đứng ở đâu, còn không cứ nghĩ mình tu giỏi lắm. Đầu hôm khi đi kinh hành phải xem lại nội tâm có tham, sân, trạo cử, hoài nghi, hôn trầm không, nếu có phải tẩy rửa, làm hoài cho đến khi nào sạch thì thôi. Nếu một người tu chăm chỉ thực hành như vậy thì làm gì có thời gian nhìn người khác? Cực kì hiếm và rất ít, thực tập được thì trong chùa yên ổn, đạo tràng sẽ được bình yên. Đạo tràng bất an là do nhìn và để ý người ta để soi mói, bắt lỗi, không chú tâm chính mình mà cứ chú tâm vào người khác, không chú tâm chính mình để diệt ngũ cái mà lại đi chú tâm vào người ta để phát triển ngũ cái, đó là đặt tâm sai hướng nên cuối cùng không nắm được gì trong tay, chỉ có người không nhận thức được mới cầm dao ngay lưỡi, Đức Phật ví dụ cỏ lau nếu cầm ngược chiều sẽ bị đứt tay để ví dụ cho người tu nếu đặt tâm đúng hướng mới diệt tận được khối tham uẩn, sân uẩn, si uẩn và vô minh uẩn, còn đặt tâm sai hướng thì không thể diệt tận được tham sân si, vô minh và bản ngã.
Ví như, này các Tỳ-kheo, sợi râu của lúa mì, hay sợi râu của lúa mạch bị đặt sai hướng, khi tay hay chân đè vào, có thể đâm thủng tay hay chân, hay có thể làm đổ máu; sự tình này không xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì sợi râu bị đặt sai hướng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo với tâm bị đặt sai hướng, có thể đâm thủng vô minh, làm minh sanh khởi, có thể chứng đạt Niết-bàn; sự tình này không xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì tâm bị đặt sai hướng.
Này các Tỳ-kheo, ví như các sợi râu của lúa mì, hay sợi râu của lúa mạch được đặt đúng hướng, khi tay hay chân đè vào, có thể đâm thủng tay hay chân, hay có thể làm cho đổ máu; sự tình này có xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì sợi râu được đặt đúng hướng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo với tâm được đặt đúng hướng, có thể đâm thủng vô minh, làm minh sanh khởi, có thể chứng đạt Niết-bàn; sự tình này có thể xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì tâm được đặt đúng hướng. (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, V. Phẩm Ðặt Hướng và Trong Sáng, 1-10 Tâm Ðặt Sai Hướng v.v...)
Chúng ta đã nghe ngũ uẩn nhưng chưa nghe tham uẩn, si uẩn, vô minh uẩn, khổ uẩn. Chữ "uẩn" là tổ hợp, một tổ hợp của những cảm giác tham ái, một tổ hợp của những cảm giác bức xúc, sân hận, bực bội, một tổ hợp của những cảm giác si ám, si mê, vô minh, một tổ hợp của những cảm giác ta đây, hơn thua, ganh tị. Chỉ có bậc chánh kiến nhìn thấy đúng được thân tâm thì mới đâm thủng được tham uẩn mà từ trước đến nay chưa từng đâm thủng, phá vỡ tổ hợp của tham ái mà từ trước đến nay chưa từng phá vỡ. Do không thấy được tham uẩn của mình cho nên phải thành tựu chánh kiến mới thấy được nó, tức là phải nhìn thấy được ngũ uẩn, phải thường xuyên và liên tục nhìn lại các cảm giác, nghĩ tưởng mới thấy tham, dục, ái hoạt động ra sao, còn không nhìn thấy ngũ uẩn sẽ không thấy tham, dục, ái, chỉ thấy được những cái thô của vô văn phàm phu, không đáng nói vì không tu người ta cũng biết. Vì thế trong sự tu phải siêng năng nhìn lại thân tâm vào đầu hôm, giữa đêm, cuối đêm tức là hừng sáng khi mới thức là phải tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, đó gọi là chú tâm cảnh giác, tu được bốn chữ này là đi đến thánh quả thứ nhất, tu quyết liệt có thể đi đến các tầng thánh quả thứ hai, thứ ba.
"Hãy đến Tỳ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Phải niệm thân, niệm oai nghi, niệm hành động, an trú cảm giác toàn thân và biết mình đang làm gì. Mỗi bước chân phải có sự chánh niệm và tỉnh giác, nhìn thẳng hay nhìn quanh đều phải tỉnh giác, những câu kinh này là khẩu quyết, định lý, học trong đây rồi chiêm nghiệm, ứng dụng thực tế trong cuộc sống, đối chiếu vào sinh hoạt hằng ngày thì mới hiểu được một phần nhỏ trong đây chứ không phải đọc ào ào là xong. Cái nhìn của mình thế nào là chánh niệm tỉnh giác? Tức là thực hành ba pháp, tầm nhìn rộng mở, không chuyên chú vào một người nào hoặc một vật nào quá nhiều, tầm nhìn phải bao quát, đặt niệm trước mặt, rõ biết trước mặt, chánh niệm trước mặt chứ không phải là cái nhìn của vô minh, si ám, cái nhìn của thất niệm. Phải thực tập nhìn phổ quát chứ đừng nhìn nhỏ hẹp, trong tất cả mọi trường hợp cái nhìn phải rộng mở. Ví dụ bước vào bếp tìm món ăn đó là nhìn món đó thôi, phải nhìn bao quanh cái bếp, lên chánh điện, thiền đường, Ni xá cũng phải tập chánh niệm khi nhìn. Khi tu bên thiền minh sát, ví dụ ngồi thiền bị ngứa nên gãi nhưng trước khi gãi người ta ý thức phải có sự tỉnh giác, hành động gãi cũng được thực hiện nhẹ nhàng trong sự ý thức, còn mình mà ngứa là gãi ra tiếng động luôn, không có chánh niệm tỉnh giác, việc đại tiểu tiện cũng vậy. Mỗi một hành động phải được rèn luyện nhưng rèn quá thì lại không chịu được, bỏ đi hết. Các vị làm thị giả phải cực kì rèn luyện, nó sẽ làm mình thay đổi thành con người mới, Minh Thành tạm chia ra ba giai đoạn:
Giai đoạn I: Thay da đổi thịt, thực tập các oai nghi.
Giai đoạn II: Thay xương đổi cốt, thành tựu chánh kiến, thay đổi nhận thức, tư tưởng.
Giai đoạn III: Siêu phàm nhập thánh, diệt tận các lậu hoặc.
Giai đoạn tập các oai nghi để thay da đổi thịt, ở ngoài đời gọi là phải có ý tứ, có nết na, "cái nết đánh chết cái đẹp" còn trong đạo gọi là chánh niệm và tỉnh giác, điều này làm cho mình trở thành tôn nghiêm, cao thượng. Mỗi nhất cử nhất động phải để ý, chánh niệm và tỉnh giác, đắp y nghiêm chỉnh rồi bước đi chứ không được vừa đi vừa đắp, kéo lê y dưới đất, tuyệt đối không được đắp y hoặc xả y ngay trước bàn tổ, đó không phải là nơi để mặc y mà phải là ở trong phòng hoặc chỗ khuất đắp y rồi bước ra. Cầm chén, đũa, muỗng cũng phải có chánh niệm, nếu không tay áo dính vào thức ăn không thì rớt muỗng, đũa, đổ nước tương. Lúc bình thường chưng đồ, chưng trái cây không bị gì nhưng đến khi giỗ Tổ có khách đông, dĩa trái cây bị rớt lộp độp ngay lúc các Hòa Thượng chứng minh đến thì thất bại toàn tập.
Này Bà-la-môn, sau khi chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỳ-kheo, hãy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm".
Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Vào rừng sâu ở Lan-nhã,
Núi dựng tùng già ôm bóng cả,
Thong dong ngồi tịnh mái chùa tranh,
Cảnh lặng lòng yên thanh thoát lạ!
(Chứng Đạo Ca Vĩnh Gia Huyền Giác)
Chỗ ở của người tu là viễn ly xứ, là chỗ xa vắng, tịch mịch, yên lặng. Với một hoàn cảnh thanh tịnh, vắng vẻ, an ổn thì mới có thể nhìn nội tâm một cách sâu sắc, rõ ràng, rành rẽ, thấu đáo. Còn giờ bên trong đang ngồi thiền mà đối diện chùa là quán café đang mở nhạc ngay lúc ngồi thiền thì làm sao yên tịnh để thiền được, ngồi thiền mà tim đập thình thịnh theo nhạc vì cái loa mở quá to, thậm chí lên núi cũng không tha, đúng giờ ngồi thiền dưới chân núi mở nhạc ầm ĩ vang vọng lên đỉnh núi nghe rõ mồn một. Cho nên thời này tu phải cực kì cố gắng vì hoàn cảnh rất động, phải tìm chỗ thanh tịnh để thực hành pháp.
Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên; từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc; từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.
Khi đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Đây là bài phục nguyện của Linh Quy Pháp Ấn. Phá được năm triền cái sẽ vào thiền thứ nhất, đó là trạng thái thiền thứ nhất, là một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh. Khi đã thoát khỏi năm triền cái thì tác ý nhẹ nhàng "Hạnh phúc quá! Hỷ lạc quá khi được rời xa năm triền cái đó", khi vừa tác ý thôi là cái tâm vị đó hoan hỉ, hỷ lạc, hạnh phúc. Đức Phật ví dụ cục bột tắm chà khắp thân tâm, cũng giống như vậy, người đạt được trạng thái Sơ thiền cũng thấm nhuần hỷ lạc toàn thân, không chỗ nào trên thân mà không có hỷ lạc, hạnh phúc, sung sướng trong trạng thái ly dục, ly ác bất thiện pháp.
Sau khi đã đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly ác, bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này các Tỳ-kheo, như một người hầu tắm lão luyện, hay đệ tử người hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Trạng thái thiền thứ hai là không còn tác ý hướng tâm mà đó là trạng thái hỷ lạc do định sanh, vui mừng bên trong tâm là sự thuần nhất, yên tịnh thì đó là thiền thứ hai
Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Thiền thứ ba là vị này lìa khỏi sự vui mừng và trú trong tâm buông xả, chánh niệm tỉnh giác và thân vị này cảm nhận được cảm giác an lạc mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, tức là vị này sẽ buông xả cảm giác vui mừng đó, hoàn toàn ở trong tâm an định
Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Trạng thái thiền thứ tư là hoàn toàn an tịnh, không trú trong hỷ lạc, tâm thuần nhất thanh tịnh
Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Đó là bốn tầng thiền được Đức Phật chứng nhập và giảng dạy.
Này Bà-la-môn, đối với những Tỳ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách, đó là sự giảng dạy của Ta như vậy đối với những vị ấy (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Bậc hữu học là còn đang tu học, từ phàm phu cho đến Tam quả vẫn còn gọi là bậc hữu học, bậc vô học là bậc đã thành tựu A-la-hán quả vì thế mà bậc hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách.
Còn đối với những vị Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Những bậc đã thành tựu quả vị A-la-hán, các lậu hoặc đã tận rồi thì hiện tại lạc trú, tức là họ sẽ an lạc trong giây phút hiện tại khi thực hành những pháp đã nói bên trên. Mình vẫn còn gánh nặng của tham ái, vô minh, nếu nói đầy đủ là năm gánh nặng: gánh sắc; gánh thọ; gánh tưởng; gánh hành; gánh thức. Mình gánh thân thịt mấy chục kí này vậy mà vẫn thích nó mà thích là tham ái, cho đến khi nào mình thấy chán ngán đống thịt này, thấy đống thịt này là một gánh nặng, cảm thấy mệt mỏi, ngao ngán, nhàm chán với đống thịt này và không muốn gánh nó nữa thì mới bắt đầu khởi động trí tuệ trong thân tâm. Lúc bệnh mới thấy chán, còm khỏe thì không thấy chán cho nên sắc này là một gánh nặng, những cảm giác trong người là một gánh nặng, những suy nghĩ là một gánh nặng, những hình bóng ám ảnh trong tâm là một gánh nặng. Ngồi thiền không thể an định được vì những hình bóng cứ ẩn hiện, lời nói lầm thầm liên tục, những cảm giác thúc giục buông thả vì đau mệt, nằm xuống cho khỏe và những người đã đặt gánh nặng xuống là bậc A-la-hán, là bậc thánh tối cao. Trong đạo Phật chỉ có duy nhất Tôn giả Gotama là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, là Phật, còn những vị sau Phật chỉ là những bậc A-la-hán, tâm thanh tịnh của họ ngang với Phật, chỉ khác ở chỗ Đức Phật là người đầu tiên khám phá ra con đường, các vị này là những người đi theo con đường đó, chỗ chứng đắc của các vị là sự thanh tịnh y như Phật. Chỉ có duy nhất một Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, cho đến khi nào giáo pháp của ngài không còn ai biết bất kì từ nào về Tam bảo, trong vô lượng vô biên kiếp sau sẽ có một vị Phật khác xuất hiện và không thể đồng thời có hai Đức Phật cùng một lúc.
Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
-- Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Sa-môn Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều chứng được cứu cánh đích Niết-bàn hay chỉ có một số chứng được?
-- Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Ngài giảng dạy đầy đủ, tuần tự tuyệt vời như vậy nhưng tất cả đệ tử đều chứng ngộ hay chỉ có một số là chứng ngộ, Đức Phật trả lời có một số chứng đắc được Niết-bàn, một số không chứng đắc được.
-- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn, trong khi có mặt Tôn giả Gotama là bậc chỉ đường, tuy vậy các đệ tử Tôn giả Gotama, được Tôn giả Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được?
-- Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, hãy trả lời cho Ta. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có giỏi về con đường đi đến Rajagaha (Vương Xá)?
-- Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến Rajagaha.
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người, muốn đi đến Rajagaha, người này đến Ông và nói như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha. Hãy chỉ cho tôi con đường đi đến Rajagaha". Ông nói với người ấy như sau: "Ðược, này Bạn, đây là con đường đưa đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những hồ ao mỹ diệu". Dầu cho người ấy được khuyến giáo như vậy, được giảng dạy như vậy, nhưng lại lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây. Rồi một người thứ hai đến, muốn đi đến Rajagaha. Người này đến Ông và hỏi như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha, mong Tôn giả chỉ con đường ấy cho tôi". Rồi Ông nói với người ấy như sau: "Ðược, này Bạn, đây là đường đi đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những ao hồ mỹ diệu". Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như vậy, đi đến Rajagaha một cách an toàn.
-- Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Nào giờ mình đã nghe Đức Phật là bậc Đạo sư, là người chỉ đường thì đây là bài kinh giải thích chữ đó.
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggalana bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả Gotama, đối với những người không phải vì lòng tin, chỉ vì sinh kế, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; Tôn giả Gotama không thể sống với những người như vậy.
Còn những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không nói phô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ thối thất, đi đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, an trú, tỉnh giác, định tĩnh, nhứt tâm, có trí tuệ, không câm ngọng; Tôn giả Gotama sống hòa hợp với những vị ấy.
Ví như Tôn giả Gotama, trong các loại căn hương, hắc chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây hương, xích chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi là tối thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả Gotama được xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay.
Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo./.
Thích Minh Thành
Học và hành là hai chuyện rất quan trọng, chúng ta học môn này để nắm được Phật pháp nguyên chất, nắm được pháp hành còn học để thi rất dễ, học để thi khác với học để hành, để nắm được cốt lõi của giáo pháp để hành trì.
Này Bà-la-môn, sau khi Tỳ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỳ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Ban ngày, đầu hôm ban đêm hoặc là giữa đêm khi mới thức dậy phải gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp, người tu chân chánh như lời Đức Phật dạy thật sự sẽ không có thời gian, họ luôn nội quán, nội tỉnh, nội soi nhìn lại nội tâm thường xuyên, miên mật, khít khao và liên tục. Tức là trước khi ngủ, trong khi đi kinh hành hoặc khi ngồi đều gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Thế nào là các pháp chướng ngại? Đó là ngũ cái, là năm pháp che đậy tâm làm yếu ớt trí tuệ: Tham ái; sân hận; hôn trầm – thụy miên; trạo hối; nghi ngờ. Năm pháp này làm cho mình bị che đậy, tâm bị trói cột, sở dĩ trí tuệ không được tỏ sáng là do năm thứ này cho nên những lời Phật nói đều được ngài A-nan nhớ không sót một chữ, có bài kệ của Bồ-tát Manjusri (Văn-Thù-Sư-Lợi) khen tặng ngài Ananda như sau:
Tướng như thu mãn nguyệt
Nhãn tợ thanh liên hoa
Phật pháp như đại hải
Lưu nhập A-Nan tâm
Dịch nghĩa:
Tướng như trăng thu đầy,
Mắt biếc tợ sen xanh,
Phật pháp rộng như biển,
Đều vào tâm A-Nan.
Ngài A-nan được khen ngợi như vậy là vì ngài đã phá năm triền cái. Khi ngài nghe pháp là không có năm triền cái cho nên tất cả những lời Phật dạy đều được ngài ghi nhớ, bao nhiêu lời Phật nói đều rót qua ngài không rơi rớt chữ nào. Vì sao mình học bài nhớ trước quên sau? Vì tâm mình còn năm triền cái, lúc thì dục tham, lúc thì nghĩ thương người này giận người kia, không thì lờ đờ hoặc hôn trầm, không ngồi yên được để học hoặc hoài nghi không biết cái đang học đúng hay không cho nên năm triền cái làm tâm không được trong sáng, không sáng tỏ, học bao nhiêu rơi rớt bấy nhiêu. Gột sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp là xem lại trong cảm giác có dục tham không, nếu có phải đánh đuổi, tác ý trừ diệt như quét rác, mình thấy có suy nghĩ, hình bóng, cảm giác về dục tham thì tác ý tẩy sạch, quét dọn, diệt tận hoặc có cảm giác sân hận phải lập tức làm cho an tịnh, lắng dịu và tác ý tẩy sạch tâm tư khỏi chướng ngại pháp. Nếu có hôn trầm, buồn ngủ phải tác ý tinh cần giới, dũng mãnh giới, quán tưởng về ánh sáng, tác ý mạnh mẽ, nỗ lực, làm phát khởi ý muốn nỗ lực trong thiện pháp thì mới đánh đuổi được hôn trầm. Khi trạo cử sanh khởi phải nhiếp phục, an trú tịnh chỉ. Để ý thường xuyên như vậy thì thấy có hoài nghi nào phải dùng chánh kiến về vô thường, khổ, vô ngã đối với năm uẩn, tác ý để phá sạch năm triền cái thì đó là bước tuyệt đối quan trọng của người tu. Khi phá năm triền cái cộng với thực tập thiền sẽ thành tựu năm thiền chi, tầm, tứ, hỷ lạc và nhất tâm, mới đi vào được Sơ thiền. Năm triền cái còn thì không thể vào Sơ thiền được vì ngồi thiền là dục ái, sân, bứt rứt, không thì hôn trầm thì làm sao thiền được? Nóng nực một chút là cả buổi học thấy khó chịu, không nhiếp phục được cảm thọ thì đó là triền cái, sân không chỉ là cãi lộn mà là cảm giác bức xúc, bội dọc, khó chịu không giải tỏa được, lưu trú trong thân tâm làm đa số thời gian ngồi học bị bực dọc vì nóng nực, đó chính là triền cái, là chướng ngại pháp hoặc là bận công việc nên về trễ không kịp tắm rửa, tới lúc vào ngồi thiền bị nóng nực, ngứa ngáy, trong suốt buổi ngồi thiền thì cái nóng nực, ngứa ngáy đó làm cho mình bị trạo cử không yên tịnh được, đó là chướng ngại pháp. Cái đói bụng, ăn quá no hoặc buồn ngủ cũng giống vậy, tất cả những cái này đều phải tẩy sạch thì mới thành tựu được thời nghe pháp, giờ ngồi thiền, nếu không trong suốt giờ đó toàn bị ngũ cái quậy phá, ngồi mà buồn ngủ, bứt rứt, lăng xăng, hết gãi chỗ này lại gãi chỗ kia, ngứa đủ chỗ trên thân… như vậy là năm triền cái này tấn công, áp đảo, che đậy tâm thì pháp không đi vào tâm được, gọi là chướng ngại pháp. Cho nên ngồi thiền mà ngồi bất động từ đầu tới cuối là phải nhiếp phục được trạo hối – trạo cử, không thì ngứa, gãi, trở mình qua lại, đau nhức. Ngồi tỉnh táo là nhiếp phục được hôn trầm. Ngồi mà trong tâm an định là phá được hoài nghi. Ngồi mà không bị những tư tưởng, hình bóng, suy nghĩ về dục, tham, sân chi phối thì mới vào định, nhập Sơ thiền. Sở dĩ không vào Sơ thiền là bị ngũ cái tấn công, suốt ngày, suốt năm, suốt tháng mình không để tâm tư tẩy sạch, gội rửa các chướng ngại pháp. Căn nhà nội tâm của mình đầy rác bẩn, đầy bụi bặm, không thể đối diện được nội tâm, bị sắc ám ảnh, dục, tham ái ám ảnh, hình bóng, suy nghĩ ám ảnh trong tâm, những cảm giác bực bội, khó chịu quậy phá mình, bị buồn ngủ, dao động, tê nhức, đau mỏi, hoài nghi khởi lên liên tục "không biết tu cái pháp này đúng hay không?", "không biết quán bất tịnh như vậy có bất tịnh không mà sao mình toàn thấy tịnh, thấy đẹp?". Như vậy ngũ cái trùm phủ lên nội tâm. Cái là che đậy, triền là trói buộc, năm triền cái che đậy tâm tư, trói buộc mình, gọi là chướng ngại pháp. Người thật tu là người đó bất cứ khi nào cũng phải để ý và đã phá, đánh tan, phá tung năm cái này thì người này mới thành tựu bước đầu, tức là phá được năm triền cái, vào được năm thiền chi. Người này tầm, tứ, hỷ lạc, nhất tâm là một sự hướng tâm về ly dục, được vui vẻ, khi ngồi lại phải tác ý "mình đã xa lìa những thú vui của cuộc đời, được an tịnh như vầy thấy an lạc, hạnh phúc quá". Tâm mình hướng về hỷ lạc trong pháp, trú trong đó gọi là tứ, sau khi trú trong đó thì sanh ra cảm giác vui mừng, sau cảm giác vui mừng là cảm giác vui nhẹ nhàng, sâu lắng gọi là lạc, còn mừng là hỷ, mừng thì hơi dao động còn lạc là vui nhẹ. Sau cái lạc là đi đến nhất tâm, cái tâm thuần nhất.
Trong thời đại này rất khó để tu thiền định, chính vì vậy mà đi đến các chùa có khi nào đi vào bắt gặp được hình ảnh cả chùa ngồi thiền yên lặng trong thiền đường, hình ảnh này dễ tìm hay khó tìm? Tại sao lại vậy? Cái đó mới là hình ảnh của Đức Phật, mới là hình ảnh của Phật giáo thật sự. Con có chương trình đi viếng khác lạ, trên đường con đi mà thấy chùa nào là con vào thăm, cực kì hiếm hoi và thậm chí là không thấy được hình ảnh đó, cái hình ảnh thật sự của Phật giáo là tất cả phải thiền định tĩnh lặng, gội rửa tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, gọi là thực hành đúng theo những gì Đức Phật dạy. Nhưng bây giờ lại có quan niệm khác, đến chùa mà lặng thing lại thấy buồn, chùa phải hưng thịnh mà hưng thịnh là phải náo nhiệt tùng lâm cho nên những cái sai đó dần dần thành thói quen, người ta không học pháp, không hiểu pháp nên người ta tưởng lầm cái sai thành cái đúng. Con vào chùa nào mà thấy nhộn nhịp, mở nhạc đạo rần rần, gọi nhau í ới là con đi ra vì nhức đầu. Thật sự rất khó để nhìn thấy được màu sắc thật sự của Phật giáo trong ngày nay, trong thời đại này. Một thiền viện lớn ở Myanmar chia ra, một tầng dành cho chư Tăng, một tầng dành cho nam cư sĩ và tầng còn lại dành cho nữ cư sĩ. Mỗi ngày ngồi thiền một tiếng, đi kinh hành một tiếng, làm như vậy suốt ngày, có đến vài trăm người vào thực tập. Cho nên khi học vào Phật giáo nguyên chất sẽ bất ngờ, những cái mình nhận định bây giờ đều không đúng, mình nghĩ rằng ở chùa siêng năng làm việc nhưng cái đó là pháp thối đọa của Tỳ-kheo.
Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?
Ưa công việc, ưa nói chuyện, ưa ngủ, ưa hội chúng, các căn không phòng hộ, ăn uống không tiết độ. Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (I) Hữu Học)
Ưa công việc, ưa thế sự là một trong những pháp thối đọa của Tỳ-kheo vì không ưa thích thiền định, không ưa thích học pháp, cái đó là sự lùi lại và rơi xuống của người tu nhưng hiện tại cách thời đại Phật càng xa thì người siêng năng làm việc cũng đỡ vì có người làm biếng, không muốn làm gì cả, từ cái sai này kéo theo cái sai kia làm càng ngày càng đi gần đến vực thẳm, gọi là "nhất đại bất như nhất đại", nghĩa là mỗi đời một tệ, thối đọa từ từ và diệu pháp bị hỗn loạn, lần lần không biết chánh pháp của Đức Phật thật sự là gì nữa, đi vào con đường của sự ham muốn, của sự chất chứa, gom góp, tích lũy tài sản và vật chất, danh lợi và quyền uy, như vậy là hoàn toàn ngược lại tông chỉ ban đầu của Đức Phật cho nên sự cao thượng của người tu chính là gội rửa sạch được cái tham, cái ham muốn. Hãy xem lại trong nội tâm đối với tài sản, vật chất, đối với danh vọng, tiền bạc, đối với đất đai, chùa chiền thì tâm tham của mình có giảm không? Có được nhiếp phục chưa? Được đoạn tận hay chưa? Đó là chướng ngại pháp, đó mới là người chân tu, mới là đa văn thánh đệ tử. Nếu không hướng đến ly tham thì người đó chỉ có hình thức, không phải là đệ tử thật sự của Đức Phật vì bốn đôi tám chúng của Đức Phật đều hướng đến ly tham đối với cái ăn, cái mặc, đối với tiện nghi vật chất, đối với chỗ ở phòng ốc và nhiếp phục lòng dục, lòng tham, lòng ái, đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc là sắc đẹp, âm thanh, mùi vị, sự xúc chạm.
Hãy nhiếp phục lòng dục, lòng tha, lòng ái, lòng dính mắc!
Cái ái này rất vi tế, đó là những hình bóng trong tâm chứ không phải chỉ ở bên ngoài, gọi là pháp trần. Ái suy nghĩ của mình, ái hình bóng của mình… chính là thọ; tưởng; hành. Những cảm giác êm ái, dễ chịu, ngọt ngào đã qua rồi nhưng hình bóng của cảm giác đó hiện lại trong tâm, mình vẫn còn lưu luyến, tiếc nuối thì đó cũng là chướng ngại pháp và cần phải tẩy sạch nó. Trước khi đi tu mình có quen một người, bây giờ vào tu rồi, khi ngồi thiền có những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về người đó khởi lên thì phải tẩy sạch tâm tư khỏi chướng ngại pháp đó, gọi là gột sạch tâm trí. Khi ngồi mà nhớ lại đối tượng nào đó mà làm cho mình bực tức, hình ảnh người mình giận hiện lên, cảm thọ, suy nghĩ về giận đó thì đó là chướng ngại pháp dù cho người đó đã đi rồi, cho nên ngày đêm liên tục tẩy sạch pháp chướng ngại đó, gọi là chú tâm cảnh giác, là để tâm, sự cẩn thận, chuyên chú tâm tư cảnh giác, đề phòng cao độ. Người tu mình hiện giờ thực hành được bao nhiêu trong những lời dạy của Đức Phật đã nói ở trên? Phải học để biết mình đang đứng ở đâu, còn không cứ nghĩ mình tu giỏi lắm. Đầu hôm khi đi kinh hành phải xem lại nội tâm có tham, sân, trạo cử, hoài nghi, hôn trầm không, nếu có phải tẩy rửa, làm hoài cho đến khi nào sạch thì thôi. Nếu một người tu chăm chỉ thực hành như vậy thì làm gì có thời gian nhìn người khác? Cực kì hiếm và rất ít, thực tập được thì trong chùa yên ổn, đạo tràng sẽ được bình yên. Đạo tràng bất an là do nhìn và để ý người ta để soi mói, bắt lỗi, không chú tâm chính mình mà cứ chú tâm vào người khác, không chú tâm chính mình để diệt ngũ cái mà lại đi chú tâm vào người ta để phát triển ngũ cái, đó là đặt tâm sai hướng nên cuối cùng không nắm được gì trong tay, chỉ có người không nhận thức được mới cầm dao ngay lưỡi, Đức Phật ví dụ cỏ lau nếu cầm ngược chiều sẽ bị đứt tay để ví dụ cho người tu nếu đặt tâm đúng hướng mới diệt tận được khối tham uẩn, sân uẩn, si uẩn và vô minh uẩn, còn đặt tâm sai hướng thì không thể diệt tận được tham sân si, vô minh và bản ngã.
Ví như, này các Tỳ-kheo, sợi râu của lúa mì, hay sợi râu của lúa mạch bị đặt sai hướng, khi tay hay chân đè vào, có thể đâm thủng tay hay chân, hay có thể làm đổ máu; sự tình này không xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì sợi râu bị đặt sai hướng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo với tâm bị đặt sai hướng, có thể đâm thủng vô minh, làm minh sanh khởi, có thể chứng đạt Niết-bàn; sự tình này không xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì tâm bị đặt sai hướng.
Này các Tỳ-kheo, ví như các sợi râu của lúa mì, hay sợi râu của lúa mạch được đặt đúng hướng, khi tay hay chân đè vào, có thể đâm thủng tay hay chân, hay có thể làm cho đổ máu; sự tình này có xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì sợi râu được đặt đúng hướng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo với tâm được đặt đúng hướng, có thể đâm thủng vô minh, làm minh sanh khởi, có thể chứng đạt Niết-bàn; sự tình này có thể xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì tâm được đặt đúng hướng. (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, V. Phẩm Ðặt Hướng và Trong Sáng, 1-10 Tâm Ðặt Sai Hướng v.v...)
Chúng ta đã nghe ngũ uẩn nhưng chưa nghe tham uẩn, si uẩn, vô minh uẩn, khổ uẩn. Chữ "uẩn" là tổ hợp, một tổ hợp của những cảm giác tham ái, một tổ hợp của những cảm giác bức xúc, sân hận, bực bội, một tổ hợp của những cảm giác si ám, si mê, vô minh, một tổ hợp của những cảm giác ta đây, hơn thua, ganh tị. Chỉ có bậc chánh kiến nhìn thấy đúng được thân tâm thì mới đâm thủng được tham uẩn mà từ trước đến nay chưa từng đâm thủng, phá vỡ tổ hợp của tham ái mà từ trước đến nay chưa từng phá vỡ. Do không thấy được tham uẩn của mình cho nên phải thành tựu chánh kiến mới thấy được nó, tức là phải nhìn thấy được ngũ uẩn, phải thường xuyên và liên tục nhìn lại các cảm giác, nghĩ tưởng mới thấy tham, dục, ái hoạt động ra sao, còn không nhìn thấy ngũ uẩn sẽ không thấy tham, dục, ái, chỉ thấy được những cái thô của vô văn phàm phu, không đáng nói vì không tu người ta cũng biết. Vì thế trong sự tu phải siêng năng nhìn lại thân tâm vào đầu hôm, giữa đêm, cuối đêm tức là hừng sáng khi mới thức là phải tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, đó gọi là chú tâm cảnh giác, tu được bốn chữ này là đi đến thánh quả thứ nhất, tu quyết liệt có thể đi đến các tầng thánh quả thứ hai, thứ ba.
"Hãy đến Tỳ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác". (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Phải niệm thân, niệm oai nghi, niệm hành động, an trú cảm giác toàn thân và biết mình đang làm gì. Mỗi bước chân phải có sự chánh niệm và tỉnh giác, nhìn thẳng hay nhìn quanh đều phải tỉnh giác, những câu kinh này là khẩu quyết, định lý, học trong đây rồi chiêm nghiệm, ứng dụng thực tế trong cuộc sống, đối chiếu vào sinh hoạt hằng ngày thì mới hiểu được một phần nhỏ trong đây chứ không phải đọc ào ào là xong. Cái nhìn của mình thế nào là chánh niệm tỉnh giác? Tức là thực hành ba pháp, tầm nhìn rộng mở, không chuyên chú vào một người nào hoặc một vật nào quá nhiều, tầm nhìn phải bao quát, đặt niệm trước mặt, rõ biết trước mặt, chánh niệm trước mặt chứ không phải là cái nhìn của vô minh, si ám, cái nhìn của thất niệm. Phải thực tập nhìn phổ quát chứ đừng nhìn nhỏ hẹp, trong tất cả mọi trường hợp cái nhìn phải rộng mở. Ví dụ bước vào bếp tìm món ăn đó là nhìn món đó thôi, phải nhìn bao quanh cái bếp, lên chánh điện, thiền đường, Ni xá cũng phải tập chánh niệm khi nhìn. Khi tu bên thiền minh sát, ví dụ ngồi thiền bị ngứa nên gãi nhưng trước khi gãi người ta ý thức phải có sự tỉnh giác, hành động gãi cũng được thực hiện nhẹ nhàng trong sự ý thức, còn mình mà ngứa là gãi ra tiếng động luôn, không có chánh niệm tỉnh giác, việc đại tiểu tiện cũng vậy. Mỗi một hành động phải được rèn luyện nhưng rèn quá thì lại không chịu được, bỏ đi hết. Các vị làm thị giả phải cực kì rèn luyện, nó sẽ làm mình thay đổi thành con người mới, Minh Thành tạm chia ra ba giai đoạn:
Giai đoạn I: Thay da đổi thịt, thực tập các oai nghi.
Giai đoạn II: Thay xương đổi cốt, thành tựu chánh kiến, thay đổi nhận thức, tư tưởng.
Giai đoạn III: Siêu phàm nhập thánh, diệt tận các lậu hoặc.
Giai đoạn tập các oai nghi để thay da đổi thịt, ở ngoài đời gọi là phải có ý tứ, có nết na, "cái nết đánh chết cái đẹp" còn trong đạo gọi là chánh niệm và tỉnh giác, điều này làm cho mình trở thành tôn nghiêm, cao thượng. Mỗi nhất cử nhất động phải để ý, chánh niệm và tỉnh giác, đắp y nghiêm chỉnh rồi bước đi chứ không được vừa đi vừa đắp, kéo lê y dưới đất, tuyệt đối không được đắp y hoặc xả y ngay trước bàn tổ, đó không phải là nơi để mặc y mà phải là ở trong phòng hoặc chỗ khuất đắp y rồi bước ra. Cầm chén, đũa, muỗng cũng phải có chánh niệm, nếu không tay áo dính vào thức ăn không thì rớt muỗng, đũa, đổ nước tương. Lúc bình thường chưng đồ, chưng trái cây không bị gì nhưng đến khi giỗ Tổ có khách đông, dĩa trái cây bị rớt lộp độp ngay lúc các Hòa Thượng chứng minh đến thì thất bại toàn tập.
Này Bà-la-môn, sau khi chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỳ-kheo, hãy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm".
Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Vào rừng sâu ở Lan-nhã,
Núi dựng tùng già ôm bóng cả,
Thong dong ngồi tịnh mái chùa tranh,
Cảnh lặng lòng yên thanh thoát lạ!
(Chứng Đạo Ca Vĩnh Gia Huyền Giác)
Chỗ ở của người tu là viễn ly xứ, là chỗ xa vắng, tịch mịch, yên lặng. Với một hoàn cảnh thanh tịnh, vắng vẻ, an ổn thì mới có thể nhìn nội tâm một cách sâu sắc, rõ ràng, rành rẽ, thấu đáo. Còn giờ bên trong đang ngồi thiền mà đối diện chùa là quán café đang mở nhạc ngay lúc ngồi thiền thì làm sao yên tịnh để thiền được, ngồi thiền mà tim đập thình thịnh theo nhạc vì cái loa mở quá to, thậm chí lên núi cũng không tha, đúng giờ ngồi thiền dưới chân núi mở nhạc ầm ĩ vang vọng lên đỉnh núi nghe rõ mồn một. Cho nên thời này tu phải cực kì cố gắng vì hoàn cảnh rất động, phải tìm chỗ thanh tịnh để thực hành pháp.
Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên; từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc; từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.
Khi đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Đây là bài phục nguyện của Linh Quy Pháp Ấn. Phá được năm triền cái sẽ vào thiền thứ nhất, đó là trạng thái thiền thứ nhất, là một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh. Khi đã thoát khỏi năm triền cái thì tác ý nhẹ nhàng "Hạnh phúc quá! Hỷ lạc quá khi được rời xa năm triền cái đó", khi vừa tác ý thôi là cái tâm vị đó hoan hỉ, hỷ lạc, hạnh phúc. Đức Phật ví dụ cục bột tắm chà khắp thân tâm, cũng giống như vậy, người đạt được trạng thái Sơ thiền cũng thấm nhuần hỷ lạc toàn thân, không chỗ nào trên thân mà không có hỷ lạc, hạnh phúc, sung sướng trong trạng thái ly dục, ly ác bất thiện pháp.
Sau khi đã đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly ác, bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này các Tỳ-kheo, như một người hầu tắm lão luyện, hay đệ tử người hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Trạng thái thiền thứ hai là không còn tác ý hướng tâm mà đó là trạng thái hỷ lạc do định sanh, vui mừng bên trong tâm là sự thuần nhất, yên tịnh thì đó là thiền thứ hai
Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Thiền thứ ba là vị này lìa khỏi sự vui mừng và trú trong tâm buông xả, chánh niệm tỉnh giác và thân vị này cảm nhận được cảm giác an lạc mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, tức là vị này sẽ buông xả cảm giác vui mừng đó, hoàn toàn ở trong tâm an định
Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Trạng thái thiền thứ tư là hoàn toàn an tịnh, không trú trong hỷ lạc, tâm thuần nhất thanh tịnh
Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Đó là bốn tầng thiền được Đức Phật chứng nhập và giảng dạy.
Này Bà-la-môn, đối với những Tỳ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách, đó là sự giảng dạy của Ta như vậy đối với những vị ấy (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Bậc hữu học là còn đang tu học, từ phàm phu cho đến Tam quả vẫn còn gọi là bậc hữu học, bậc vô học là bậc đã thành tựu A-la-hán quả vì thế mà bậc hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách.
Còn đối với những vị Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Những bậc đã thành tựu quả vị A-la-hán, các lậu hoặc đã tận rồi thì hiện tại lạc trú, tức là họ sẽ an lạc trong giây phút hiện tại khi thực hành những pháp đã nói bên trên. Mình vẫn còn gánh nặng của tham ái, vô minh, nếu nói đầy đủ là năm gánh nặng: gánh sắc; gánh thọ; gánh tưởng; gánh hành; gánh thức. Mình gánh thân thịt mấy chục kí này vậy mà vẫn thích nó mà thích là tham ái, cho đến khi nào mình thấy chán ngán đống thịt này, thấy đống thịt này là một gánh nặng, cảm thấy mệt mỏi, ngao ngán, nhàm chán với đống thịt này và không muốn gánh nó nữa thì mới bắt đầu khởi động trí tuệ trong thân tâm. Lúc bệnh mới thấy chán, còm khỏe thì không thấy chán cho nên sắc này là một gánh nặng, những cảm giác trong người là một gánh nặng, những suy nghĩ là một gánh nặng, những hình bóng ám ảnh trong tâm là một gánh nặng. Ngồi thiền không thể an định được vì những hình bóng cứ ẩn hiện, lời nói lầm thầm liên tục, những cảm giác thúc giục buông thả vì đau mệt, nằm xuống cho khỏe và những người đã đặt gánh nặng xuống là bậc A-la-hán, là bậc thánh tối cao. Trong đạo Phật chỉ có duy nhất Tôn giả Gotama là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, là Phật, còn những vị sau Phật chỉ là những bậc A-la-hán, tâm thanh tịnh của họ ngang với Phật, chỉ khác ở chỗ Đức Phật là người đầu tiên khám phá ra con đường, các vị này là những người đi theo con đường đó, chỗ chứng đắc của các vị là sự thanh tịnh y như Phật. Chỉ có duy nhất một Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, cho đến khi nào giáo pháp của ngài không còn ai biết bất kì từ nào về Tam bảo, trong vô lượng vô biên kiếp sau sẽ có một vị Phật khác xuất hiện và không thể đồng thời có hai Đức Phật cùng một lúc.
Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
-- Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Sa-môn Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều chứng được cứu cánh đích Niết-bàn hay chỉ có một số chứng được?
-- Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Ngài giảng dạy đầy đủ, tuần tự tuyệt vời như vậy nhưng tất cả đệ tử đều chứng ngộ hay chỉ có một số là chứng ngộ, Đức Phật trả lời có một số chứng đắc được Niết-bàn, một số không chứng đắc được.
-- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn, trong khi có mặt Tôn giả Gotama là bậc chỉ đường, tuy vậy các đệ tử Tôn giả Gotama, được Tôn giả Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được?
-- Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, hãy trả lời cho Ta. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có giỏi về con đường đi đến Rajagaha (Vương Xá)?
-- Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến Rajagaha.
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người, muốn đi đến Rajagaha, người này đến Ông và nói như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha. Hãy chỉ cho tôi con đường đi đến Rajagaha". Ông nói với người ấy như sau: "Ðược, này Bạn, đây là con đường đưa đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những hồ ao mỹ diệu". Dầu cho người ấy được khuyến giáo như vậy, được giảng dạy như vậy, nhưng lại lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây. Rồi một người thứ hai đến, muốn đi đến Rajagaha. Người này đến Ông và hỏi như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha, mong Tôn giả chỉ con đường ấy cho tôi". Rồi Ông nói với người ấy như sau: "Ðược, này Bạn, đây là đường đi đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những ao hồ mỹ diệu". Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như vậy, đi đến Rajagaha một cách an toàn.
-- Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Nào giờ mình đã nghe Đức Phật là bậc Đạo sư, là người chỉ đường thì đây là bài kinh giải thích chữ đó.
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggalana bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả Gotama, đối với những người không phải vì lòng tin, chỉ vì sinh kế, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; Tôn giả Gotama không thể sống với những người như vậy.
Còn những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không nói phô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ thối thất, đi đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, an trú, tỉnh giác, định tĩnh, nhứt tâm, có trí tuệ, không câm ngọng; Tôn giả Gotama sống hòa hợp với những vị ấy.
Ví như Tôn giả Gotama, trong các loại căn hương, hắc chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây hương, xích chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi là tối thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả Gotama được xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay.
Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo./.