Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghiệp & Quả Báo 34

2026-03-03 00:52:49
Nghiệp & Quả Báo 34

Thích Minh Thành

Ngày 27 tháng 07 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Giới – Định – Tuệ - Giải thoát – Tri kiến PAGEREF _Toc151386348 \h 1

II. Ngũ căn ngũ lực PAGEREF _Toc151386349 \h 5

I. Giới – Định – Tuệ - Giải thoát – Tri kiến

Kính bạch chư tôn thiền đức, chư vị hiền trí, nam nữ Phật tử.

Hôm nay, theo chương trình thường lệ, chúng ta tiếp tục những phần gần cuối trong chuyên đề nghiệp và quả trong kinh tạng Nikāya.

Khi nói về nghiệp và quả thì chúng ta nghĩ đơn giản là chữ nghiệp bình thường, nhưng không phải, trong kinh tạng Nikāya, một khi Đức Thế Tôn nói về một vấn đề nào, lĩnh vực nào, một khía cạnh nào thì Ngài cũng đều nói đến cứu cánh cùng cực viên mãn tất cả mọi phương diện, góc độ, khía cạnh của vấn đề đó. Nên trong phương diện về nghiệp này thì mình học kĩ thì mình cũng nắm vững toàn bộ cốt lõi, Thánh điển của kinh tạng Nikāya.

Vậy nên, những buổi sau này chúng ta đã đi vào nghiệp trắng của hiền thiện và của Thánh pháp để đưa đến Thánh đạo. Chúng ta nên nhớ kĩ chữ nghiệp mà chúng ta học ở đây không có nghĩa thông thường giống như chúng ta quan niệm thông thường những cái xấu ác, mà trong nghiệp này bao gồm nghiệp thiện và các Thánh hạnh của chư hiền Thánh. Chính vì vậy hôm nay chúng ta bước qua bài kinh gần cuối trong chương trình này.

Bài kinh Vô học, Tăng Chi Bộ kinh tập hai và bài kinh Giới, Tăng Chi Bộ Kinh tập hai, Đức Phật nói về đáng được cung kính cúng dường là ruộng phước vô thượng ở trên đời, tức là bậc thành tựu giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến.

“1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.

2. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo,

 Tỷ-kheo đầy đủ giới,

 Đầy đủ định,

 Đầy đủ tuệ,

 Đầy đủ giải thoát,

 Đầy đủ giải thoát tri kiến.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.”

(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Năm Pháp - Phẩm An Ổn Trú - Bài kinh Giới)

Bài kinh Vô Học:

“1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo,

 Tỷ-kheo thành tựu vô học giới uẩn,

 Thành tựu vô học định uẩn,

 Thành tựu vô học tuệ uẩn,

 Thành tựu vô học giải thoát uẩn,

 Thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn.

Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ- kheo đáng được cung kính... là phước điền vô thượng ở đời.”

(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Năm Pháp - Phẩm An Ổn Trú - Bài kinh Vô học)

Chúng ta nghe giới, định, tuệ, giải thoát, tri kiến thì mình nghĩ là mình đã hiểu rồi nhưng thật sự không đơn giản. Với trình độ chúng ta đang được học thì Minh Thành sẽ chia sẻ tương đối trong căn cơ.

Ở đây, có ba chữ vô học uẩn. Vậy tại sao bài kinh ở trên có đầy đủ giới, định, tuệ, đầy đủ giải thoát tri kiến là một bậc đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời hoặc là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người. Vậy tại sao có bài kinh này với bài kinh Vô học nữa? Là vị tu hành đầy đủ vô học giới uẩn, đầy đủ vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn.

Như vậy thì những từ này có ý nghĩa gì mà tại sao Đức Thế Tôn thêm một bài kinh đó? Thêm ba chữ “vô học uẩn”, uẩn là sự tập hợp, là sự tích tụ, tích tập, tập hợp, chứa nhóm. Nên giới của Đức Phật đưa ra không phải chỉ có một, mà giới của Ngài có nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ của giới nên gọi là uẩn. Thành tựu là thành tựu nhiều khía cạnh của giới đức, giới hạnh, giới luật, của đạo hạnh, của đức hạnh. Những nết hạnh hiền thiện, thanh cao, cao thượng, của Thánh hiền thì gọi là giới uẩn.

Chữ vô học uẩn này rất quan trọng, vì một người đã được học giới của Đức Phật thì nó sẽ không học bất cứ một giới nào khác nữa, ngoài giới của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đưa ra. Một người đã thành tựu được giới của Đức Phật đưa ra thì người đó không cần phải học bất cứ một giới nào của phàm phu, của nhân thiên hay thần thánh nào hết. Nên giới ở đây là giới viên mãn, tối thượng, cứu cánh cùng cực nên gọi là vô học giới uẩn.

Một người đã học được giới trong pháp và luật này, một người đã thành tựu được giới trong pháp và luật này thì người đó không còn đi học bất cứ một giới nào, một pháp luật nào ở đâu nữa ngoài ở đây. Nên chữ vô học trong kinh Nikāya là không còn phải học, phải làm gì nữa. Còn ở ngoài đời thì chữ vô học khác, trong kinh Nikāya dùng chữ vô học tức là tốt nghiệp đại viên mãn, là cứu cánh, cùng cực, tròn đầy, cao tột, vô thượng, tối thượng chữ vô học ở đây. Nên người đã thành tựu Thánh chánh định, tức là những thiền định trong chính Đức Phật dạy nguyên chất, nguyên gốc thì người đó không phải đi học bất cứ thiền định nào khác trong tam thiên, đại thiên thế giới này nữa, như vậy gọi là vô học định uẩn.

Vậy nên một người học trong Phật pháp, giờ mình nói một người đã thành tựu Thánh trí tuệ của Đức Phật truyền trao, thì người này không cần phải đi học bất cứ một loại trí tuệ nào khác trên đời nữa, bất cứ một ai. Như vậy gọi là vô học tuệ uẩn.

Như vậy người này đi học trong Chánh pháp mà người này muốn kiếm thêm một pháp nào nữa thì người đó chưa biết được vô học tuệ uẩn của kinh tạng Nikāya. Vì Đức Thế Tôn gọi đây là trí tế nhị 12:34, trí biết về sắc, tức là trí tuệ biết về thân thể này, từ đâu sanh ra và nó tồn tại như thế nào và nó chấm dứt ra làm sao, cuối cùng nó kết thúc như thế nào, làm sao cho nó sanh, làm thế nào cho nó diệt. Đó gọi là sanh diệt kiếp, sự tập khởi của thân này và sự chấm dứt đoạn diệt của thân, của sắc. Trí đó Đức Phật gọi là trí tế nhị, trí thù thắng, trí tối thượng, trí siêu việt, không còn một trí tuệ nào khác có thể so sánh với trí tuệ đó. Người này đi học như vậy mà còn muốn đi tìm cái gì khác nữa thì người này không biết được vô học tuệ uẩn của Thánh pháp.

Nên một người học được trí tuệ, biết được sự sanh khởi của cảm thọ là tích tập, tụ tập, nhóm họp để nó sanh khởi lên cảm giác, cảm giác đó vận hành như thế nào, chấm dứt như thế nào, người này thấy biết được thành tựu một trí tuệ tế nhị, thâm sâu tột cùng, vi diệu như vậy thì đây gọi là vô học tuệ uẩn. Đối với tưởng, hành, thức cũng vậy, đối với hình bóng trong tâm, những suy nghĩ trong tâm, nhận thức của mình, có được Thánh trí ngũ uẩn để thấy biết nguyên nhân tập khởi và diệt tận của năm thủ uẩn. Sự hình thành, sự tồn tại, chấm dứt của nó, thoát ra như thế nào gọi là bốn chuyển. Tức là bốn khía cạnh, bốn trí tuệ, bốn phương diện, bốn góc độ của các pháp. Đức Thế Tôn từ bốn chuyển Tứ Thánh Đế hay ngũ uẩn.

Như vậy, năm uẩn này từ đâu mà có? Nó gom, nhóm họp như thế nào, sanh khởi lên gọi là tập khởi. Nó an trú như thế nào, nó vận hành như thế nào, nó chấm dứt, làm như thế nào để nó chấm dứt, vì sao mà nó sanh khởi? Nên Đức Phật đã trình bày hết trong Tương Ưng Uẩn, hay nói đầy đủ là trong kinh tạng Nikāya.

Nếu như mình đã học, đã nghe, đã hiểu, giờ mình lại không chịu tu, mình muốn đi tìm trí huệ khác hơn nữa, người này không biết gì về vô học giới uẩn, vô học định uẩn, vô học tuệ uẩn. Vì đây là trí huệ tối thượng, không cần phải học trí tuệ nào khác nữa hết nên gọi là vô học. Các bậc hữu học là các bậc còn học, còn tu, chưa thành công, các bậc vô học là đã tu học thành tựu viên mãn. Đó là tầm quan trọng của ba chữ vô học uẩn này rất sâu sắc, rất cần thiết.

Người không đủ niềm tin với Đức Phật thì người này mới đi tìm cái gì khác ở ngoài pháp và luật, ở ngoài trí tuệ này.

II. Ngũ căn ngũ lực

Giờ chúng ta qua bậc thành tựu năm căn, trong kinh Các Căn trong Tăng Chi Bộ Kinh tập ba:

1. - Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính... là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là sáu?

2. Với tín căn, với tấn căn, với niệm căn, với định căn, với tuệ căn, do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, ngay trong hiện tại chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính... là vô thượng phước điền ở đời.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Sáu Pháp - Phẩm Đáng Được Cung Kính - Bài kinh Các Căn)

Như vậy, Đức Phật đã nói thêm năm căn và năm lực. Vậy thế nào là tín căn?

Trong bài kinh Các sức mạnh rộng thuyết trong Tăng Chi Bộ kinh tập hai giải thích thế nào là tín căn, tín lực. Căn là gốc rễ, lực là sức mạnh, khi mình đã có căn cứ, đã có gốc rễ rồi thì mình sẽ có lực, có sức mạnh nên tín căn phát triển thành tín lực. Vậy đầu tiên thế nào là lòng tin? Là vị Thánh đệ tử - đệ tử của bậc Thánh, nói gọn là bao gồm bốn chúng, hai chúng xuất gia tăng, ni và hai chúng cư sĩ. Như vậy, Thánh đệ tử bao gồm cả cư sĩ nên vị tại gia hay xuất gia, là tăng hay tục, có lòng tin, tin tưởng nơi sự giác ngộ của Như Lai.

Tin tưởng được nói là tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai. Không phải là tin Phật độ cho mình được cái này cái kia mà là tin sự giác ngộ của Đức Phật. Điều này rất quan trọng, nói là “Tôi cũng tin Phật như vậy, tôi cũng đi chùa, tôi cũng lạy Phật, tôi cũng cầu xin, tôi tin Phật như vậy!” Nhưng mà mình có tin sự giác ngộ của Đức Phật không? Mình biết được Phật giác ngộ cái gì không? Mình phải học, Đức Phật giác ngộ được Thánh trí ngũ uẩn.

Đức Phật giác ngộ được bốn sự thật đau khổ của cuộc đời này, Tứ Thánh Đế. Đức Phật giác ngộ về tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã là nguyên nhân đau khổ của tất cả vô lượng, vô số, vô biên, hằng hà sa số hành tinh, thế giới. Mình có tin cái tham làm cho mình khổ không? Như lời Đức Phật đã nói: Cái tham đã đốt cháy tâm can mình, mình có thấy không?

Đó gọi là chánh tín, chánh kiến, tin đúng, thấy đúng. Mình có tin là cái tôi, cái ta này làm cho mình khổ đau, cái hơn cái thua này làm cho mình khổ đau hơn như lời Đức Phật nói. Tin cái đó mới gọi là tin Phật, tin sự giác ngộ của Đức Phật, tin vào Phật pháp mà Đức Phật đã nói ra. Như vậy, tin Phật là tin Pháp, và tin Pháp là sẽ tin Tăng. Chữ Tăng bao gồm bốn chúng như khi nãy nói, không chỉ có người xuất gia, chữ Tăng bao gồm cả đoàn thể của Phật giáo, đoàn thể này gồm có người xuất gia và cư sĩ.

Nên thờ Đức Phật trong kinh Nikāya thì chúng ta đọc kĩ sẽ thấy, rất nhiều vị Thánh cư sĩ, có những vị Thánh cư sĩ còn giảng pháp cho chư Tỳ-kheo. Hoặc có những vị xuất gia nhưng chưa chứng Thánh quả, hoặc những vị cư sĩ nhưng chứng Thánh quả. Vậy nên chỗ này chúng ta nên để ý thật kĩ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín lực?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: "Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín lực.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Năm Pháp - Phẩm Sức Mạnh – Bài kinh Các sức mạnh rộng thuyết)

Ở đây, Đức Phật nói tin tưởng vào sự giác ngộ của Như Lai và tin vào mười đức hạnh cao thượng, siêu việt của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Tức là Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Những điều này các vị nên đọc Nghi Thức tu học Nikāya, trong đó có bài Đảnh lễ trí đức Như Lai là giải thích từng đức hiệu của Ngài, mỗi đức hiệu là một bài, ở Linh Quy Pháp Ấn lạy những bài đó hằng ngày.

Ví dụ như Thế Tôn. Khi mình nói từ Thế Tôn nhưng mình không hiểu Thế Tôn là gì. Thế Tôn là bậc thế gian tôn kính, thế giới tôn thờ, thế giới tôn vinh, cuộc đời này tôn vinh, là bậc tôn kính nhất ở trên đời. Nên nhiều lúc ở trong chùa rất lâu, ngay cả người tu cũng không hiểu Thế Tôn là gì.

Bậc A-la-hán là bậc đã diệt tận hoàn toàn tham, sân, si. Chánh Đẳng Chánh Giác là bậc thấy, biết tất cả phương diện, góc độ, khía cạnh, đầy đủ, viên mãn, đồng điều, trọn vẹn của thân tâm và thế giới này. Không có gì không thấy, không có gì không biết. Nói gọn hơn là thấy được sự thật khổ đau và con đường diệt khổ và đã chứng đắc được đạo lộ đó. Đó là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, là giác ngộ được sự khổ và diệt khổ, chứng đắc được con đường đó.

Chúng ta khổ nhưng không biết tại sao chúng ta khổ, mình oán người này, trách người kia, hận đời, tránh trời, oán người thì đó là mình không giác mà mình … 24.13. Minh trong Minh Hạnh Túc là tam minh, tức là Ngài đã thấy được nhiều đời nhiều kiếp của kiếp mình ở trong sanh tử, gọi là sanh tử minh. Thấy được nhiều đời nhiều kiếp sanh tử của chúng sinh. Ngài có trí tuệ đoạn tận tất cả các hôn mê, mê lầm trong thân tâm của Ngài, gọi là lậu tận minh, túc mạng minh, thiên nhãn minh, hay có khi gọi là sanh tử minh. Tức là Ngài thành tựu trí tuệ, Ngài biết được dòng sống chết của Ngài trong vô lượng vô biên kiếp như thế nào và Ngài biết được nguyên nhân nào mà chúng sanh sanh tử trầm luân, đau khổ, đẹp xấu, sang hèn… Ngài đều thấy biết hết và Ngài đoạn tận tất cả vô minh, khát ái trong tâm của Ngài.

Về Thiện Thệ là Ngài vượt qua bốn dòng thác lũ. Thế Gian Giải là thông giải hết tất cả các pháp thế gian. Vô Thượng Sĩ là bậc không có ai hơn trên nữa. Điều Ngự Trượng Phu là Ngài có khả năng điều phục các bậc trượng phu, những bậc trí thức, kiêu căng, những bậc ương ngạnh nhất trên cuộc đời này thì Ngài đều có khả năng điều phục được hết. Là thầy của trời và người, bậc giác ngộ.

Như vậy, mình tin vào sự giác ngộ của Ngài, như vậy mình gọi là có tín căn – căn cứ của lòng tin đặt ở nơi sự giác ngộ của Đức Phật. Đó mới có góc, còn mình tin là có ông Phật và ông ấy độ cho mình được mạnh khỏe, giàu có… thì đó không phải là tín căn, đó chỉ là tín ngưỡng. Lòng tin này có căn cứ, có gốc rễ, gốc gác, cội gốc, sự thật đặt trên một nền tảng là vị Thánh đệ tử có lòng tin tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn lực?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực kiên trì tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tấn lực.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Năm Pháp - Phẩm Sức Mạnh – Bài kinh Các sức mạnh rộng thuyết)

Từ sự tin đó thì vị này nỗ lực, siêng năng, phấn đấu, tin cần, tin tấn, từ bỏ những pháp bất thiện và thành tựu những thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp. Như vậy được gọi là tấn lực. từ lòng tin có căn cứ mới tạo thành sức mạnh ở trong niềm tin và từ niềm tin đó là động lực đẩy mình phải thực hiện.

Ví dụ trước khi cha mẹ mình chết, trong những giây phút cuối cùng, người cha lấy hơi lên để nói rất khó khăn là “Con ơi, trong góc ở phía tay phải của nhà mình, trong đó cha có để một hũ vàng, con hãy nhớ đào lên. Cả cuộc đời của cha đã dành dụm, của ông nội, ông cố ngày xưa để lại, cha đã cất, giữ kín ở trong đó. Giờ con hãy đào lên thì con sẽ được số vàng quý báu, quý giá đó.

Nếu mình có niềm tin với ông cụ thì mình có đào không? Hay là ông ấy chưa ra đi thì đã mang cuốc ra làm liền rồi? Ông không cần đợi. Vậy nên giờ Đức Phật chỉ cho mình, nhưng vì mình chưa đủ niềm tin cũng như đứa con không đủ niềm tin “Ông này nói vậy chứ ông ấy không có đâu, đào gì đâu.” Vậy nên mình sẽ không có việc mang cuốc đi đào ngay, đào bới, xới móc ngay còn nếu có niềm tin thì lập tức mình sẽ đi làm liền, tức là người này có niềm tin thì lập tức sẽ có tấn lực.

Người này sống tinh cần, tinh tấn từ bỏ những cái ác, bất thiện pháp, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp. Giờ mình tin là giữ giới, là chắc chắn không rơi vào những đường ác, đường khổ, sanh khởi nhân thiên. Vậy mình có giữ giới không? Mình phải chắc chắn giữ, siêng năng giữ, mình cẩn thận giữ, nỗ lực mình giữ, tinh cần mình giữ, mình biết bố thí thì sẽ giàu có, cúng dường Tam bảo, hộ trì Chánh pháp là đời đời mình sung túc, sung mãn, địa vị cao sang, quyền quý. Thậm chí được sanh lên cõi trời, mà không phải cõi trời thiên nhân bình thường mà là thiên chủ, vua trời.

Mình biết như vậy thì mình có không? Mình có bố thí hay tu Tứ Vô lượng tâm không? Mình tin chắc là mình có làm không? Hơn cả hũ vàng hàng triệu lần. Nên một người có niềm tin thì tự động người đó sẽ tiến, không cần ai nói, tự pháp vận hành là vậy. Như vậy người này là tấn lực, tấn căn, người này nỗ lực, siêng năng thực hiện những cái mình tin đó.

Nên đó là tại sao mình tu không tiến, vì lòng tin mình không có đủ, nghe thì nghe, hiểu là hiểu, cũng gật gù, cũng vỗ tay nhưng vài ngày thì mình lại tin thế gian hơn là tin đạo pháp. Mình tin cái đẹp cái xấu, cái giàu, cái nghèo, hơn là mình tin cái vô thường, khổ đau. Mình tin, mình ham, mình khoái món ăn ngon hơn là mình sợ nó bệnh, vậy nên lòng tin không có đủ.

Vậy nên trong kinh Đức Phật đã nói: Này các vị, chỉ cần người nào tin tưởng ta thôi, thì người đó bất thoái chuyển. Tức là nhập lưu Thánh quả Tu-đà-hoàn. Chỉ cần người đầy đủ lòng tin ở nơi Đức Phật thôi thì người đó đã vào Thánh quả.

Nên mình không đủ lòng tin ở nơi pháp chính vì vậy mà sự nghiệp hành pháp của mình không nỗ lực, không quết tâm, không đem hết sức mình tu liều mạng, tu liều chết, không quyết tử để tu. Một người tu trọn vẹn, cầm guốc, cầm đồ chạy lẹ liền “Ba nói vậy hả, để con, để con!” rồi chạy liền, kêu mấy đứa con, mấy đứa cháu “Vào làm liền bây. Lẹ! Hũ vàng!”

Nên ông già dặn tới dặn lui rồi tàn hơi, ba tháng sau, tám tháng sau, một năm, ba năm sau cũng không thèm đào vì nghĩ “Vàng đâu mà có!” Là vì không đủ lòng tin. Nên mình không có tấn lực, sức mạnh tiến lên tinh tấn, dũng mãnh, nỗ lực. Khi đủ lòng tin thì tự động làm sức mạnh, niềm tin biến thành sức mạnh.

Khi đã có sức mạnh nỗ lực thì tiếp theo là niệm tu, niệm lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm lực?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có chánh niệm, thành tựu tối thắng niệm và tuệ. Vị ấy nhớ và gợi lại trong trí nhớ những điều đã nói và đã làm lâu ngày về trước. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là niệm lực.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Năm Pháp - Phẩm Sức Mạnh – Bài kinh Các sức mạnh rộng thuyết)

Có chánh niệm, tuệ lực, thành tựu tối thắng niệm và tuệ. Vị ấy nhớ và gợi lại trong trí nhớ những điều đã học trong pháp của Đức Phật, những điều mà Đức Phật đã chứng ngộ thì vị này không quên.

Ví dụ nhân quả, nghiệp báo, tham, trước khi làm việc gì thì cũng phải nghĩ hậu quả của nó, vị này không bao giờ quên. Bây giờ nhìn thấy một người tật nguyền, bị què, mù lòa, đui điếc, câm, ngọng thì liền nhớ đến nghiệp quả. Người này lập tức nhớ ra đây là nghiệp gì, nghiệp lúc xưa liếc ngang, liếc dọc người ta, trừng trợn, sân si người ta.

Hay lúc xưa dùng chân đá người ta, đạp người ta, dùng tay đánh người ta bị què quặc, cụt tay, cụt chân. Dùng miệng nói lời tục tằn, lời thô ác, chửi mắng, sỉ nhục người ta nên giờ sanh ra bị câm, ngọng, sứt môi, nói đớt. Người này nhìn tới chỗ nào thì lập tức nhớ tới pháp đó ngay gọi là niệm lực.

Sức mạnh của sự chánh niệm, sức mạnh của sự ghi nhớ và ghi nhớ các pháp mà Đức Phật đã thành tựu, chứng ngộ, trình bày, giải thích, tuyên thuyết, khai thị, minh hiển, hiển thị, nhìn tới đâu là các pháp hiện rõ tới đó trong tâm. Đó gọi là niệm lực. Đó là nói những cái căn bản, còn sâu hơn nữa thì người này nhìn thấy được thọ, tưởng, hành trong tâm. Một cảm thọ sanh khởi lên là bất thiện, là biết cảm thọ này là nguyên nhân của khổ. Cảm thọ bực bội, bực tức, bực dọc, bực phiền, bực mình này là nguyên nhân đưa đến khổ, người này từ bỏ cảm thọ này và tìm đủ mọi cách để từ bỏ.

Đó là tấn lực. Vì người này tin tưởng chắc chắn cái này sẽ đưa đến khổ. Người này …38:20, người này khởi lên tình thương, tâm từ, lan tỏa ra xót thương, bi mẫn thì người này biết ngay đây là một cảm thọ hiền thiện, đây là một cảm thọ thiện lành, hiền …38:37, cảm thọ của từ bi, của tình thương thì nhất định cảm thọ này sẽ đưa đến an lạc hiện tại và hạnh phúc ở trong tương lai, lâu dài cho mình và cho chúng sanh. Người này phát triển cảm thọ này lên, làm cho cảm thọ này càng lan tỏa ra, đầy ắp, sung mãn từ đảnh tóc tới gót chân. Người này vận hành, tác ý và cố tình, cố ý tác ý vận hành, làm cho cảm thọ này lan tỏa ra không gian phía trước mặt, phải trái, trên, dưới, bề dọc, bề ngang. Cùng khắp tất cả các phương hướng.

Người này lan tỏa lòng từ này, tình thương này đến những người oán hận, đến những người làm khổ cho mình. Người này giải tỏa được tâm oán hận đó, tâm khó chịu, bực bội của người kia. Người này biết chắc rằng đây là hiền thiện, là hạnh phúc, an lạc, lợi ích. Người này đã tin chắc như vậy rồi nên người này phải nỗ lực làm, nhớ để làm, nhắc mình để mình làm, để tâm vào để mình làm gọi là thành tựu tối thắng niệm, tối thắng tuệ.

Tối thắng niệm là sức nhớ cực kì sắc bén, cực kì mau lẹ, nhanh lẹ, nhìn là nhớ liền. Thậm chí trong khi không có duyên xúc mà người này vẫn nhớ ở trong tâm, vẫn an trú trong pháp, không phải đợi tới xúc rồi mới nhớ. Xúc rồi nhớ cũng là chậm. Tức là có ý nghĩ sanh khởi lên là một ý nghĩ tham, nhìn thấy người ta đẹp đẽ hay nhìn thấy người ta giàu có hay những món đồ giá trị thì khởi lòng tham lên là người này biết liền, lập tức chánh niệm, tối thắng niệm xuất hiện ngay.

Người này biết suy nghĩ này, cảm giác này, tư tưởng này là bất thiện, phải từ bỏ, chấm dứt, diệt tận, xuất ly, xả ly, đoạn ly, từ bỏ, ói ra, mửa ra, khạc ra, nhổ ra, quăng ra, liệng ra khỏi thân tâm. Đó tức là niệm lực, sức mạnh của chánh niệm. Lòng tin, sự cố gắng, luôn nhắc nhớ, quán sát tâm mình.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định lực?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ly các dục, ly các bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, được các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Đoạn lạc đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là định lực.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Năm Pháp - Phẩm Sức Mạnh – Bài kinh Các sức mạnh rộng thuyết)

Đây là Đức Phật nói về tứ thiền, mình chỉ nói về sơ thiền để mình dễ hiểu, mình có thể thực hành được. Vị Thánh đệ tử ly các dục, ly các bất thiện pháp, chứng đạt và an trú thiền thứ nhất. Trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.

Người này nhớ lại sự từ bỏ cái tham nên mình vui, hôm nay đúng ra là mình có khởi lòng tham, nếu mình không khéo là mình đã bị sập bẫy rồi, kí hợp đồng đó là coi như xong rồi. Như trong mùa sốt đất thì có biết bao người phá sản, thiếu nợ, thậm chí những nhà nông hối tiếc, lúc đó người ta bán được giá rất cao, gấp mấy lần bình thường mà lại tiếc, đợi cho nó lên giá nữa nhưng cuối cùng muốn bán rẻ nhưng không ai mua.

Như vậy là vì tâm tham của mình, bây giờ mình thoát khỏi tâm tham, từ bỏ tâm tham thì mình thấy vui quá, thấy hạnh phúc, thấy tâm mình nhẹ nhõm, mình thấy khỏe, nhẹ, thấy mình an lạc, không tham, thanh thản. Mình tác ý như vậy nên mình vui, tâm an định.

Nên trong kinh Nikāya Đức Phật đã nói rất khổ, không tu được, vui mới tu được. Mình tưởng đạo Phật nói Khổ Thánh Đế là cái gì cũng khổ, mình nghĩ những người tu khổ lắm nhưng thật ra những người tu mới vui. Vui là tâm hoan hỷ, khi ly dục thì tâm mới vào định được. Còn tâm đang thất tình, thất nghiệp, buồn đau, lo rầu thì tâm đó làm sao vào định được?

Nên Đức Thế Tôn nói chỉ có hỷ lạc thì mới tu được, mới vào thiền định được, mới phá tất cả các lậu hoặc được. Vậy nên mình sẽ rất bất ngờ, khi ác và bất thiện pháp giảm dần dần đi, cạn kiệt thì lúc đó tâm của mình hoan hỷ, mình thấy thân tâm của mình thanh tịnh, không có phạm lỗi lầm nên mình vất vui, hỷ lạc, hoan hỷ, hân hoan. Còn giờ mình ngồi lại thấy sát sanh cũng có, trộm cắp cũng có, tà dâm, dối gạt cũng có thì làm sao vui được? Tòa án lương tâm xử mình, làm cho mình ray rứt, nhức nhối, đau nhức.

Đó gọi là trạo hối, tức là tâm bị ray rứt, ray rứt với tội lỗi của nó đã làm, tâm không yên thì làm sao hoan hỷ được. Tâm ray rứt như vậy thì nó không vào trong định được, làm sao nó lắng dịu, an tịnh được. Cho nên, do mình từ bỏ những ác, bất thiện pháp, sân si, dục ái, bản ngã, hơn thua, tranh giành, đấu đá, ganh tị, tâm mình rất vui, nhẹ, êm thì nó vào định. Đó là chúng ta giải thích rất đơn giản, như Đức Phật đã giảng là tứ thiền, nhưng chúng ta chỉ giải thích sơ thiền thôi.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ lực?

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với sự thể nhập bậc Thánh vào con đường đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ lực.

Này các Tỷ-kheo, các pháp này là năm lực.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Năm Pháp - Phẩm Sức Mạnh – Bài kinh Các sức mạnh rộng thuyết)

Như đơn giản, tại sao có thân này? Nếu mình không học Chánh pháp, Thánh pháp thì mình sẽ không biết. Thân này nói về căn bản, cội gốc thôi, từ cái gần tới cái xa, từ cái cạn tới cái sâu …47:02 thân này do mẹ cha sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt. Đó là nói hiện tại, nói sâu hơn nữa là thân này sở dĩ tại sao ở trong bào thai, Đức Phật giải thích là do tâm hôn mê và ham thích, tức là khát ái, là vô minh … 47:32, tham ái.

Chỗ này chúng ta cần phải học sâu sắc. Vô minh và khát ái kết thành, nói đơn giản tiếng Việt mình là một tâm hôn mê, không biết đây là khổ. Nó tưởng đâu là vui nên nó ham thích, khoan khoái, khao khát, thèm khát, đói khát. Được nhào vô rồi nó bị chấp thủ, nắm chặt trong này, cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Như thế là thân này được sanh ra. Con chó hay con dòi cũng bị sanh ra, con heo cũng là bị sanh ra vì nó cũng không muốn sanh ra những thân đó. Ngay cả mình là một con người có khi đẹp đẽ giàu có mà nhiều khi mình chán, mình không muốn. Vì lỡ sanh ra như vậy rồi thì phải chịu, không biết làm sao, là bị sanh mà không biết tại sao sanh. Nên khi tu học được trí tuệ của Đức Phật thì được dạy là tại sao nó sanh và làm sao để cho nó chấm dứt.

Đó gọi là sắc tập khởi, sắc đoạn diệt. Đây là Thánh trí ngũ uẩn. Từ sự không thấy, không biết đó thì nó tưởng là ở đó vui, đẹp lắm, bền lắm, tưởng đâu đó là nó. Vô thường cho là thường, khổ cho là vui, dơ cho là sạch, không phải mình mà nó cho là mình, là tôi, là ta.

Đó là bốn cái điên đảo tưởng, là si mê đối với trí tuệ. Vị Thánh đệ tử có trí tuệ về sự sanh diệt đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Tại sao nó có cảm giác gì để tiếp xúc? Nếu nó có cảm giác dễ chịu là nó khoan khoái, dính mắc, tham đắm, còn là cảm giác khó chịu thì nó bực bội, sân hận. Nhưng ở trong cảm giác nó không biết đó là cảm giác nên sống ở trong si mê, nó cho cảm giác đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Các tưởng trong tâm, các hình bóng trong tâm, do tiếp xúc nên mới có tưởng, xúc tập khởi nên tưởng tập khởi.

Nên nó nhìn thấy, tiếp xúc, nghe như vậy, đụng chạm như vậy mà bây giờ trở về với hình bóng trong tâm. Nếu như đụng chạm đó, nhìn thấy đó mà đó là dễ chịu, ngọt ngào, êm ái, thì nó về nhớ, ghiền, thèm, muốn, làm điên đảo lòng. Còn nếu cái thấy, cái nghe, cái xúc, cái chạm đó mà nó bực bội, khó chịu, sân hận thì trở về nhà là nó tức tối, tức tưởi, giận tức, sân hận, thù hận. Đó là các pháp sanh diệt trong tâm mình, không thấy không biết nên gọi là vô minh.

Tại sao sân hận này nổi lên? Tại sao để cho nó chấm dứt? Khi mình hiểu, mình biết được trí về ngũ uẩn thì mình sẽ biết được pháp sanh diệt đó. Nói sâu hơn là thấy được khổ và nguyên nhân của khổ, tại sao mình khổ và làm thế nào để tiêu diệt khổ đau? Khổ này từ đâu sanh ra? Làm sao để khổ này chấm dứt? Mình thành tựu được trí tuệ đó để thành vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt. Sự thể nhập của bậc Thánh vào con đường đoạn tận khổ đau, sự nắm giữ ở trong hình hài này, ở trong cảm giác, hình bóng trong tâm này, sự nắm giữ ở trong các suy nghĩ lầm thầm này, sự nắm giữ trong nhận thức, theo vô minh này. Sự nắm giữ đó là phiền não, là khổ đau, sự chấp thủ năm uẩn là phiền não, là khổ đau.

Khi mình phá vỡ được cái vô minh, cắt đứt được khát ái, mình đập tan được sự nắm giữ vào trong ngũ uẩn này thì lúc đó tất cả các đau khổ đều diệt tận, được hạnh phúc, được an lạc, được giải thoát, được bình an tối thượng. Như vậy mình thành tựu được sức mạnh được trí tuệ, căn cứ từ sự thấy biết sức mạnh về trí tuệ. Trong năm căn, năm lực này, Đức Phật ví dụ trí tuệ đó là nóc nhọn, tất cả năm căn, năm lực đó lấy trí tuệ làm nóc nhọn, làm đỉnh chóp và tất cả pháp đều hướng về trí tuệ đó dẫn đường, là tượng thủ, là cầm đầu, là đứng đầu, là thống soái, là vị chủ soái. Khi trí tuệ đó dẫn đường thì niềm tin mình hay sự nỗ lực hay sự nghi nhớ, quán xét của mình, tâm định của mình đều được đi đến chỗ chân chánh, là chính xác, là thành tựu.

Trong bài kinh Cần phải thấy trong Tăng Chi Bộ Kinh tập hai, Đức Phật đã nói:

- Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này. Thế nào là năm? Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.

Và này các Tỷ-kheo, tín lực cần phải thấy ở đâu?

Trong bốn Dự lưu chi phần; ở đấy, tín lực cần phải thấy.

Và này các Tỷ-kheo, tấn lực cần phải thấy ở đâu?

Trong bốn chánh cần; ở đấy, tấn lực cần phải thấy.

Và này các Tỷ-kheo, niệm lực cần phải thấy ở đâu?

Trong Bốn niệm xứ; ở đấy, niệm lực cần phải thấy.

Và này các Tỷ-kheo, định lực cần phải thấy ở đâu?

Ở trong bốn Thiền; ở đấy, định lực cần phải thấy.

Và này các Tỷ-kheo, tuệ lực cần phải thấy ở đâu?

Ở trong bốn Thánh đế; ở đấy, tuệ lực cần phải thấy.

Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Năm Pháp - Phẩm Sức Mạnh - Bài kinh Cần phải thấy)

Niềm tin cần phải thấy trong bốn dự lưu phần, tức là tin Phật, tin Pháp, tin Tăng và đầy đủ các giới. Sự tinh tấn thấy ở đâu? Thấy ở trong Bốn chánh cần. Từ thiện chưa sanh làm cho nó sanh, nếu đã sanh thì làm cho nó lớn mạnh thêm. Điều ác đã sanh rồi thì phải diệt nó. Chặn đứng tất cả những điều ác chưa sanh, đã sanh rồi thì phải diệt tận. Chánh niệm là thấy ở đâu? Là thấy trong Bốn niệm xứ.

Vậy nên chữ Chánh niệm này rất sâu sắc, phải thấy ở thân, thọ, tâm, pháp. Nên trong kinh Nikāya Đức Phật dạy rất kỹ, từng chữ nhất quán, trên, dưới, trước, sau. Bài kinh thứ nhất nói ra sao thì bài kinh cuối cùng Đức Phật nói như vậy, không có chuyện nói như vầy rồi lại nói khác. Không phải như sách vở sau này nói lung tung. Chánh niệm là cái nào ra cái đó, là Tứ Niệm Xứ, tức là luôn cảnh giác nhìn lại thân, nhìn lại những cảm giác, nhìn vào nội tâm và thấy được cái gì ở bên trong nội tâm, thiện hay bất thiện để mình xử lý.

Định thấy ở trong bốn thiền, tuệ thấy ở trong bốn Thánh đế. Muốn biết người đó có trí tuệ như thế nào thì phải coi người đó hiểu về Bốn Thánh Đế như thế nào, tức là hiểu về khổ và sự diệt khổ thì người đó có trí tuệ, được thể hiện trong bốn sự thật về đau khổ của đời sống này. Nên Đức Phật nói năm pháp này giống như nóc nhọn, chóp đỉnh ở trên nhà mình, tất cả những cái … 56:11

Cúi đầu về một hướng nóc nhọn đó chính là trí tuệ, khi có trí tuệ dẫn đầu thì tin thành chánh tín, sự tinh tấn của mình thành chánh tinh tấn và sự chánh niệm của mình mới thật sự là chánh niệm, định của mình mới là Thánh chánh định, không phải chánh định. Nếu trí tuệ mình không có, mình hiểu một cách lệch lạc, sai lầm thì tất cả những cái khác sẽ đi vào trong mê tín, tà kiến.

Như vậy, chúng ta thấy rõ được bài hôm nay Đức Phật nói về ngũ căn, ngũ lực, là những thiện pháp, Thánh pháp giúp cho mình tu hành tiến bộ, phá diệt các lậu hoặc, phiền não. Mình nên nhớ kĩ niềm tin ở đây là tin sự giác ngộ của Đức Phật. Sự tinh tấn là tinh tấn từ bỏ các thiện pháp, tu tập các thiện pháp. Chánh niệm ở đây là sự luôn luôn nhớ những lời dạy của Đức Phật và nhớ nhìn vào trong ngũ uẩn này. Nhiếp phục các cảm thọ tiêu cực, phát huy các cảm thọ tích cực của từ bi, hỷ xả, tiêu diệt tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã.

Định lực chính là hoan hỷ, tâm vui mới có thể tu tập an định được khi thấy mình ít có lỗi. Cuối cùng, trí tuệ ở đây là khổ và sự diệt khổ. Như vậy, khi mình đã có một căn cứ địa vững chắc thì mình sẽ có một sức mạnh oai hùng để mình tiến đạo, để mình thành tựu những pháp cao đẹp của Thánh hiền.