Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nhận Diện Thân Tâm 6

2026-03-03 00:52:49
TINH HOA NIKĀYA

NHẬN DIỆN THÂN TÂM 6

CĂN BẢN TRÍ

– Thích Minh Thành –

Khi học chúng ta phải nhìn lại, nhận rõ, thấy rõ, biết rõ sự có mặt của các pháp trong thân tâm hay cảnh giới thì chúng ta sẽ có một sự nhận diện chính xác, trực tiếp, trực chỉ vào trong các pháp đó là thực pháp, không phải chỉ là những ngôn từ, kiến thức mà là khi học tới đâu thì cái pháp đó sẽ được nhìn nhận rõ ràng, được trình bày, ví dụ cụ thể, thực tế và chỉ ra được trong cái thấy, nghe, trong suy nghĩ, nhận thức, trong sinh hoạt thường nhật, tiếp duyên xúc cảnh. Đó là điều đặc biệt trong tinh thần chúng ta tìm hiểu về kinh Nikāya hay chúng ta chuẩn bị bước vào Trung Bộ Kinh. Đây là những cái tiền phương tiện, những trí tuệ căn bản, điều kiện tiên quyết, những nền tảng để chúng ta mở được cánh cửa nội tâm, tâm linh cũng như mở được kho pháp, kho tàng trí tuệ của Đức Phật.

Như vậy chúng ta đã nhận diện được sáu căn, sáu trần, sáu thức và ý thức là rõ biết được thọ; tưởng; hành. Khi học trong phần căn bản trí tuệ này phải thuộc lòng, không được sai một chữ vì đây là những pháp rất quan trọng, chúng ta phải thuộc lòng, hiểu được ý nghĩa của nó và sau đó là đi vào thực tập nhận diện từng pháp trong tâm của mình. Tất cả những pháp này sẽ được chúng ta nhìn thấy rõ biết và nhận dạng từng pháp một, nó sanh khởi, nó an trú và hoạt động như thế nào bên trong tâm của chúng ta. Chúng ta tiếp tục đi vào phần niệm duyên sanh pháp của mắt.

"Do duyên có mắt và các sắc, sanh khởi Nhãn thức (rõ biết các sắc). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhãn xúc. Do duyên có Nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư.

Mắt + Sắc => Nhãn thức => Nhãn xúc => Thọ do Nhãn xúc sanh + Sắc tưởng + Sắc tư" (nghi thức tu học Nikāya)

Hôm nay chúng ta đi vào bài học rất quan trọng, con mong quý thầy thật chú tâm và để ý thật kĩ đây là duyên sanh pháp của Đức Phật chứng ngộ. Đầu tiên là do duyên có con mắt và các sắc, cái sắc đối diện trước mắt quý thầy là hình bóng của con trên màn hình, do có con mắt và cái sắc và hình bóng trên màn hình sanh khởi ra sự rõ biết các sắc là nhãn thức. Khi các thầy nhìn lên hình bóng thì các thầy rõ biết hình bóng, sắc pháp đó, sự rõ biết đó là nhãn thức, con mắt, sắc khởi lên sự rõ biết sắc, cái rõ biết sắc pháp trước mặt là nhãn thức. Khi ba pháp này hội tụ thì gọi là nhãn xúc, nghĩa là sự tiếp xúc của con mắt, nếu nói sự tiếp xúc của con mắt là nói vắn tắt còn nói đầy đủ là do duyên có con mắt và các sắc sanh khởi nhãn thức, sự hội tụ của ba pháp này là nhãn xúc, đây là chánh tạng trong lời kinh Đức Phật nói nên phải học thuộc lòng. Khi ba pháp căn – trần – thức, nhãn căn, sắc trần và nhãn thức hội tụ, giao thoa thì tạo ra nhãn xúc.

Hình bóng trên màn hình này không phải là hình bóng của con mà trên đây là hình bóng của con ma hay con quỷ thì lúc đó các thầy có cảm giác gì? Sẽ có khổ thọ, cảm giác sợ hãi, khó chịu, rùng rợn, đó là thọ do nhãn xúc sanh. Do duyên có nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh. Nếu có hình bóng của con thì các thầy có cảm giác có thể là lạc thọ, có thể là bất khổ bất lạc thọ, có thể là cảm giác vui khi được học, cũng có thể là cảm giác thường thường, không vui cũng không buồn. Nếu là hình bóng con quỷ xuất hiện trên màn ảnh thì cảm thọ sẽ khác, đó là cảm thọ do nhãn xúc sanh. Nếu xuất hiện hình ảnh của một minh tinh màn bạc quốc tế thì cảm thọ sanh khởi vui vẻ, thích thú, đó là cảm thọ do nhãn xúc sanh, tức là cảm thọ, cảm giác do con mắt tiếp xúc với sắc trần mà sanh khởi ra cảm thọ đó. Cảm thọ này có được là do con mắt tiếp xúc, muốn được tiếp xúc thì phải có đủ ba pháp là con mắt, sắc và sự rõ biết sắc, thiếu một cái thì không thể sanh khởi ra nhãn xúc, không sanh khởi ra cảm thọ do nhãn xúc sanh. Sau khi nhìn thấy hình ảnh của một minh tinh điện ảnh quốc tế hay hình bóng của con quỷ thì sau đó mình trở về phòng hay về cốc, Tăng xá, Tăng đường thì hình bóng đó hiện lại trong tâm thì gọi là sắc tưởng, mình hồi tưởng lại sắc pháp, sắc tướng, dáng vóc của người minh tinh nổi tiếng thế giới thì gọi là sắc tưởng. Mình suy nghĩ về hình dáng đó thì gọi là sắc tư.

Hôm qua chúng ta ra thiền viện để công quả chuẩn bị cho đại giới đàn, sau khi làm việc xong thì trở về ngồi thiền thì hình bóng của mình đang làm công việc hiện lại trong tâm thì gọi là sắc tưởng. Những suy nghĩ về công việc đó, mình thấy Hòa Thượng hoặc quý thầy thiết kế trang nghiêm, uy nghi thì suy nghĩ đó là sắc tư. Khi mình bước ra giới đài hay giới trường thì khi mắt thấy những hình sắc đó thì cái pháp diễn ra thế nào? Do duyên có mắt, có lễ đài, có chỗ chuẩn bị thỉnh các vị giới sư truyền giới cho giới tử thì đó là các sắc, khi mắt nhìn thấy sự trang nghiêm, phạm vũ huy hoàng thì lúc đó sanh khởi ra sự rõ biết các sắc là nhãn thức, sự hội tụ của ba pháp là con mắt, giới đàn, giới đàn, giới trường, sự rõ biết giao thoa, hội tụ thì gọi là nhãn xúc. Khi con mắt tiếp xúc thì lập tức sanh khởi ra thọ do nhãn xúc sanh là sự dễ chịu, hân hoan, hoan hỉ, đến khi về trường thì những hình bóng đó hiện lại trong tâm là sắc tưởng, có những suy nghĩ về giới đài là sắc tư. Như vậy là do duyên có con mắt, ngoài kia là sự thiết lập giới đài là sắc, sanh khởi sự rõ biết các sắc đó, ba pháp này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc là nhãn xúc, khi con mắt, các sắc, sự rõ biết tiếp xúc với nhau lập tức sanh ra cảm thọ, cảm xúc cho nên cảm xúc là sự tiếp xúc rồi sanh ra cảm giác, cảm thọ, sau khi mình trở về thì những hình bóng, suy nghĩ sanh khởi trở lại trong tâm là sắc tưởng, sắc tư.

-"Do duyên có tai và các tiếng, sanh khởi Nhĩ thức (nghe rõ, rõ biết các âm thanh). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhĩ xúc. Do duyên có Nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư.

Tai + Tiếng => Nhĩ thức => Nhĩ xúc => Thọ do Nhĩ xúc sanh + Thanh tưởng +Thanh tư" (nghi thức tu học Nikāya)

Do duyên có lỗ tai, bên ngoài là âm thanh các tiếng, mình sanh khởi ra sự rõ biết các âm thanh. Mình đang nhẹ nhàng bỗng nhiên vào bếp bị la, bị chỉ trích những lỗi lầm sai quấy thì lúc đó mình có khổ thọ khó chịu, bực bội, sân. Sau đó mình về phòng, về Tăng đường nhưng âm thanh đó vẫn còn vang vọng bên trong và những suy nghĩ về lời nói la mắng, chê bai vẫn tiếp diễn. Những điều này rất bình thường và chúng ta sống với nó thường xuyên, do duyên có tai, có tiếng rầy la sanh khởi lên sự rõ biết các tiếng đó, sự hội tụ của ba pháp này là nhĩ xúc, lỗ tai, tiếng chỉ trích hội tụ lại thì gọi là nhĩ xúc, sự tiếp xúc của tai và khi tiếp xúc thì lập tức sanh khởi cảm thọ, đây là thọ do nhĩ xúc sanh, cảm thọ đó có là do sự tiếp xúc của lỗ tai sanh khởi ra, cảm thọ đó là cảm thọ khó chịu, bực bội, nóng giận. Khi về rồi mình vẫn hồi tưởng lại âm thanh đó thì gọi là thanh tưởng, mình vẫn suy nghĩ về lời nói đó thì gọi là thanh tư.

Đây là duyên sanh pháp của Đức Phật được ngài chứng ngộ, tất cả cái này đều là một vòng vận hành của duyên sanh pháp cho nên sự tức giận đó không phải tự nhiên có mà phải đầy đủ các yếu tố, nếu người đó chửi mà đứng xa thật xa cách vài trăm mét mình không nghe được thì làm sao mình giận, làm sao sanh khởi ra cảm giác bực bội, khó chịu được cho nên nó chỉ là duyên sanh pháp thôi. Âm thanh đó phải ở trong giới vực của tai thì mới nghe được, cũng như ở đây bị trục trặc âm thanh thì các thầy nói cả buổi cũng không nghe được gì cả hoặc là bị rớt mạng thì không thấy ai cả, như vậy cái thấy, cái nghe của mình là duyên sanh, là thứ kết hợp, nương dựa, không tự nó có được. Lỗ tai bệnh là điếc, con mắt bị bụi bay vào là hết thấy đường hoặc là bị cận thị, viễn thị, loạn thị, hoặc là bị mù nên nhãn căn bị hư không thấy được sắc cho nên sự thấy đó đòi hỏi các duyên mới sanh khởi ra được nhãn thức là sự rõ biết các sắc, không đủ duyên thì không thể sanh khởi lên sự rõ biết các sắc và không đủ duyên thì không thể sanh khởi lên cảm thọ do nhãn xúc sanh, càng không có sắc tưởng, sắc tư hay là thanh tưởng, thanh tư.

Người ở sát bên phòng của mình khen mình hết lời với huynh đệ nhưng vì cách vách tường mình không nghe được lời nghe đó nên mình không hoan hỉ, sung sướng, khoan khoái, mình không sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, mình nghe không được vì cách bức tường. Ví dụ này cho thấy cái nghe, cái thấy hay những tư tưởng về thanh hay là tư tưởng về sắc, những hình bóng, suy tư, nghĩ ngợi đều là duyên sanh pháp. Hoặc ở giữa đại chúng mình được đọc tên hoan nghênh, vỗ tay khen ngợi là người tu bậc nhất trong chúng, mình nghe thì cảm thọ mình hoan hỉ, vui vẻ, sau khi trở về phòng, về Tăng đường hoặc là nhập thất nhớ lại hình bóng người khen, lời khen ngợi, những tiếng vỗ tay vang dội, hằng trăm ánh mắt nhìn ngưỡng mộ thì lúc đó mình có thấy sắc tưởng, sắc tư không, thanh tưởng, thanh tư không, có thấy thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do nhãn xúc sanh không? Đó là duyên sanh pháp, trước nay chúng ta học duyên sanh pháp rất chung chung, còn khi học về duyên sanh pháp trong Nikāya do Đức Phật chứng ngộ thì nó rất cụ thể, thiết thực, rõ ràng, duyên sanh pháp ở nơi sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư. Sáu ái là sự yêu thích đối với sáu trần. Sáu tư là nhớ nghĩ về sáu trần. Sáu tưởng là hồi tưởng, tưởng nhớ về sáu trần. Trong duyên sanh pháp này nếu học kĩ thì mình sẽ bao trùm hết tất cả những pháp ở trên.

-"Do duyên có mũi và các mùi, sanh khởi Tỷ thức (rõ biết các mùi). Sự hội tụ của ba pháp này là Tỷ xúc. Do duyên có Tỷ xúc nên sanh khởi thọ do tỷ xúc sanh, hương tưởng, hương tư.

Mũi + Mùi => Tỷ thức => Tỷ xúc => Thọ do Tỷ xúc sanh + Hương tưởng + Hương tư.

-Do duyên có lưỡi và các vị, sanh khởi Thiệt thức (rõ biết các vị). Sự hội tụ của ba pháp này là Thiệt xúc. Do duyên có Thiệt xúc nên sanh khởi thọ do thiệt xúc sanh, vị tưởng, vị tư.

Lưỡi + Vị => Thiệt thức => Thiệt xúc => Thọ do Thiệt xúc sanh + Vị tưởng + Vị tư" (nghi thức tu học Nikāya)

Chúng ta bước qua phần duyên sanh pháp của mũi và lưỡi, đó là mình nói tắt chứ có cả căn, trần, thức, xúc, thọ, tưởng, tư. Có đến bảy lớp vận hành trong tâm mình mà mình không hề thấy biết. Do duyên có lỗ mũi, có mùi thức ăn bốc lên, khởi ra sự rõ biết các mùi, như vậy là lỗ mũi, mùi thức ăn ngon, sự rõ biết các mùi hội tụ, tiếp xúc thì sanh ra cảm giác. Cảm giác đó là do có mũi, có mùi thức ăn, có sự rõ biết các mùi, có sự tiếp xúc của ba pháp nên sanh khởi ra thọ, khi tiếp xúc thì sanh ra thọ, sanh ra tưởng, sanh ra hành, đó là định lý chứng ngộ của Đức Phật, cứ hễ tiếp xúc là sanh ra cảm giác, sanh ra hình bóng và suy nghĩ, tư tưởng. Khi lỗ mũi ngửi mùi thức ăn ngon, rõ biết mùi đó, sanh khởi ra cảm giác, hương tưởng, hương tư xuất hiện. Hồi tưởng lại những mùi vị của món ngon mà mình đã ăn thì gọi là hương tưởng, vị tưởng và mình suy nghĩ về hương vị đó, về món ăn đó, thậm chí là chảy nước dãi khi đói bụng, khi làm mệt mà có món ngon trước mặt. Đối với lưỡi cũng vậy, do có lưỡi, có các vị ngon, sanh khởi ra sự rõ biết các vị nhưng đây phải là lưỡi bình thường còn lưỡi bị bệnh mất mùi, mất vị thì làm sao biết thức ăn ngon hay dở, lúc đó mình mới thấy các pháp vận hành, không phải là mất hoàn toàn vị giác mà nó trơ ra, bình thường mình nếm được mười phần nhưng bị bệnh thì chỉ còn hai ba phần thôi, không thấy ngon lành gì cả, đối với cái mũi cũng vậy. Cho nên nó là pháp duyên sanh, biến đổi, vô thường, dịch chuyển, biến hoại, cái nhận thức không còn rõ ràng, không còn đúng nữa, mất vị giác, mất khứu giác. Như vậy do có lưỡi, có thức ăn ngon, có sự rõ biết các vị, ba pháp này hội tụ, giao thoa thì gọi là thiệt xúc là sự tiếp xúc của lưỡi, khi tiếp xúc thì sanh khởi ra cảm giác dễ chịu, khó chịu hoặc bình thường, không dễ chịu cũng không khó chịu. Nếu ngon quá thì ăn nhiều là tham, nếu là dở ăn không vào là sân, đó là thọ do thiệt xúc sanh, sau khi trở về cốc, về Tăng đường, về liêu thì mình hồi tưởng lại mùi vị của món ăn thì gọi là hương tưởng, vị tưởng, nghĩa là hồi tưởng lại hình bóng, màu sắc của món ăn đó là sắc tưởng, mình hồi tưởng lại mùi vị là vị tưởng, vị tư là suy nghĩ về món ăn đó.

Những điều này rất cụ thể, rõ ràng, chúng ta sử dụng hằng ngày hằng giờ, hằng tháng, hằng năm cho đến suốt cuộc đời và vô lượng vô biên kiếp mà chúng ta không biết thì Đức Phật gọi là vô minh. Tại sao lại vậy? Do không thấy không biết các pháp nên toàn bộ hòa làm một với nhau, mình không hề biết cái nào là thanh tưởng, thanh tư, còn bây giờ mình mở ra từng cái riêng lẻ. Nếu không thấy không biết các pháp thì chỉ thấy có món ăn ngon trước mặt, đầy đủ màu sắc, trong tâm là sự thúc giục, ưa thích nhưng khi đã biết các pháp thì đó chỉ là sắc pháp, là tứ đại. Nếu không thành tựu trí tuệ thì nhìn cái nào cũng như nhau, tức là nhìn trong sự không thấy không biết là vô minh và tham muốn, yêu thích tức là khát ái. Nếu chúng ta không thành tựu căn bản trí thâm sâu mà Đức Phật truyền thụ cho mình thì mình nhìn mọi thứ từ cái thấy, nghe, ngửi, nếm, từ bên ngoài đến bên trong đều là cái nhìn của vô minh và tham ái, chấp thủ, tức là không thấy không biết bản chất của nó, yêu thích nó và nắm giữ nó để rồi đau khổ vì nó. Tất cả chúng sanh đều là như vậy.

Khi học cái này chúng ta sẽ thấy Đức Phật mở ra hết bánh xe, trục xe, căm xe, niềng xe, cổ xe, từng bộ phận đều mở ra để thấy rằng không có cái nào là một chiếc xe, không có cái nào là một con người, không có cái nào là một tự ngã, một cái tôi, cái ta mà tất cả đều là sự lắp ráp, kết hợp, nương dựa. Chúng ta tập nhận diện rồi sẽ thấy cơ thể này là một bộ máy, thân thể này là một bộ máy, tâm thức này là một bộ máy, hệ điều hành thâm sâu bên trong là vô minh và khát ái, là một tâm si mê và tâm yêu thích, tiếp theo là sự nắm giữ, bám chắc, nắm cứng, từ đó có ra sầu, bi, khổ, ưu, não, nó tiếp diễn vô tận không có ngày dừng nghỉ trừ khi nào thành tựu chánh tri kiến, vén bức màn bí mật của ngũ uẩn này ra. Đây là nguyên lý sanh ngũ uẩn, những gì mình nói nãy giờ chỉ là ngũ uẩn, là sắc; thọ; tưởng; hành; thức thôi. Những nguyên lý, định lý mà Đức Phật chứng ngộ là chứng ngộ cái này thôi chứ không phải chứng ngộ cái không ai hiểu được, ngài chứng ngộ những điều rất rõ ràng, thiết thực, cụ thể, những cái làm cho chúng sanh tham muốn, nóng giận, si mê và đau khổ, ngài thấy biết những điều này một cách tận cùng, triệt để và chỉ cho chúng ta để chúng ta không ngộ nhận, không nhìn lầm, ảo tưởng.

-"Do duyên có thân và có sự đụng chạm, sanh khởi Thân thức (rõ biết sự đụng chạm). Sự hội tụ của ba pháp này là Thân xúc. Do duyên có Thân xúc nên sanh khởi thọ do thân xúc sanh, xúc tưởng, xúc tư.

Thân + Sự đụng chạm => Thân thức => Thân xúc => Thọ do Thân xúc sanh + Xúc tưởng + Xúc tư" (nghi thức tu học Nikāya)

Do duyên có thân này, có sự đụng chạm, sanh khởi ra sự rõ biết đụng chạm đó, đó là thân căn, xúc trần bên ngoài và thân thức. Bàn tay chúng ta để lên cuốn sách thì duyên sanh pháp là do duyên có bàn tay, có sự đụng chạm giữa bàn tay chúng ta và cuốn sách, khởi ra sự rõ biết sự đụng chạm đó. Ba pháp này hội tụ thì ngay đó gọi là thân xúc, là sự tiếp xúc của thân hay sự tiếp xúc của bàn tay. Khi tiếp xúc thì sanh ra cảm thọ, nếu đó là đống lửa, là than đỏ mà chạm vào sẽ có khổ thọ, còn chạm vào đóa hoa là lạc thọ. Tùy theo duyên xúc mà sanh khởi ra tham hay sân, thích thú, khoan khoái hay bực bội, khó chịu hoặc là trung tính, thường thường. Sau khi tiếp xúc rồi trở về thì có ra xúc tưởng, xúc tư, cái này mới ghê gớm, nhiều khi đưa món đồ cho nhau mà lỡ chạm tay nhau chút ít thôi mà về nhà nhớ mãi không quên, hồi tưởng lại sự đụng chạm đó là xúc tưởng, suy nghĩ về sự đụng chạm là xúc tư. Bây giờ tiếp xúc với cuốn sách, tiếp xúc với đóa hoa hồng, hoa sen hay tiếp xúc với một con người mà đối tượng đó có thể sanh khởi lên dục ái thì xúc tưởng, xúc tư này vô cùng khủng khiếp. Hình bóng của sự đụng chạm đó sẽ ám ảnh trong tâm, được cất chứa, lưu giữ trong đó, có mặt, hiện hữu, tồn tại trong tâm và lâu lâu hình ảnh đó hiện lại, lâu lâu suy nghĩ về hình ảnh, về sự đụng chạm đó.

Vì vậy cần phải quán chiếu để thấy được các pháp vận hành, do có thân, có sự đụng chạm tiếp xúc rồi khởi ra sự rõ biết sự đụng chạm đó, khi đã đụng chạm thì sanh khởi ra cảm giác, sau đó mình hồi tưởng lại sự đụng chạm tiếp xúc đó, suy nghĩ về sự đụng chạm tiếp xúc đó. Nếu những sự đụng chạm tiếp xúc đó là tham ái, sân hận thì những hình ảnh, những suy tư đó sẽ ám ảnh, xâm chiếm, áp đảo trong tâm, nó có chỗ đứng trong tâm nên mới giận nhau hoài hoặc thương không dứt, người này cất giữ, an trú những hình ảnh đó trong tâm mà không tác ý tẩy sạch, quét sạch, diệt tận, để cho những hình ảnh, âm thanh, tư duy, suy nghĩ tồn tại, bám rễ trong tâm, như vậy thì không thể giải phá được tham sân, yêu hận, thương ghét. Có những người giận hoài không tha thứ được là do họ cất giữ những thọ; tưởng; hành trong tâm, người này không muốn chấm dứt, không muốn từ bỏ, không muốn diệt tận những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ đó, nó cứ tồn tại trong tâm. Còn nếu quyết định từ bỏ không nghĩ ngợi nữa, không nhớ mong, không hờn giận nữa, người này tác ý từ bỏ, diệt tận không cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai thì tự động thân tâm người này trong sạch, thanh tịnh. Chúng ta phải nhận diện để thấy được những pháp hành sâu sắc mà Đức Phật chứng ngộ, đó là duyên sanh pháp của mắt; tai; mũi; lưỡi; thân, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư.