SÁM HỐI DIỆT NGÃ 6 - BẢN CHẤT CUỘC ĐỜI - VÒNG LẨN QUẨN - TRỐNG KHÔNG
Tinh Hoa Nikāya
GIẢNG GIẢI BÀI SÁM HỐI DIỆT NGÃ 6
BẢN CHẤT CUỘC ĐỜI – VÒNG LẨN QUẨN – TRỐNG KHÔNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhận diện rác bẩn hồ tâm PAGEREF _Toc94191294 \h 1
II.Bản chất trống rỗng của cuộc đời PAGEREF _Toc94191295 \h 4
III.Chung cuộc kiếp người PAGEREF _Toc94191296 \h 9
IV.Khơi dậy cảm thọ khi lạy Sám Hối Diệt Ngã PAGEREF _Toc94191297 \h 13
Nhận diện rác bẩn hồ tâm
Chúng ta chính thức đi vào bài Sám Hối Diệt Ngã, mọi người vừa nghe, vừa thiền tập, vừa tác ý theo.
Trước hết chúng ta phải hiểu rằng “sám hối” là nhìn nhận lại những sai lầm lúc trước và ngăn chặn những sai phạm về sau, không cho chúng tiếp diễn nữa. “Sám hối diệt ngã” là nhìn nhận lại trước đây chúng ta bởi vì cái tôi, cái ta, vì những ý niệm cao ngạo, hơn thua mà làm cho mình khổ, làm cho người thân xung quanh khổ. Khi đó mình thấy hối hận và không muốn tiếp tục tái diễn những ngôn ngữ, hành vi, ý niệm, tư tưởng như vậy nữa. Từ đó mình muốn đánh gục, đánh đổ, diệt tận những ý niệm về ta, tôi, hơn thua, triệt hạ tất cả những ý niệm về ảo tưởng của tự thân, đó là ý nghĩa của tựa bài “Sám Hối Diệt Ngã”.
Sáng nay khi vừa mở mắt thức dậy thì trong đầu Minh Thành liên tục vang lên những câu sau:
Từ lâu con sống trong mê muội,
Không biết tâm mình rất uế nhơ.
Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.
Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.
Nay thấy tâm mình lắm bùn nhơ,
Rác bẩn hồ tâm đã ngập bờ,
Đáy nước hồ tâm toàn cấu uế,
Thật quá ê chề, quá chán chê.
(Nghi Thức Tu Học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
“Từ lâu” tức là từ vô thỉ kiếp, trong Tương Ưng Vô Thỉ, Đức Phật có nói “Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc”. Như vậy, từ trăm ngàn vạn muôn ức vô thỉ kiếp, không biết bắt đầu từ lúc nào thì được gọi là “từ lâu”. Từ rất là lâu chúng ta đã sống trong tâm mê muội, tâm ám muội, tâm mờ tối, tâm bóng đêm, tâm mù loà, tất cả chúng sanh hoàn toàn ở trong trong tâm si mê, ám muội, mê lầm, khờ dại, mù loà, không thấy biết về thân tâm của chính mình, không biết rằng “tâm mình rất uế nhơ”. Vì sống trong mê muội, sống trong sự hướng ngoại, tầm cầu theo dục lạc, theo ngoại cảnh, sống trong sự ước ao, tìm kiếm, thèm thuồng, khát khao, truy tầm, chạy đuổi, giành giật, đấu đá, đánh đấm, chưa từng quay trở lại để thấy biết thân tâm của mình một cách chính xác nên chúng sanh không biết được sự uế nhơ, cấu uế, dơ bẩn của tâm này.
“Dục, ái, sân, si, không xấu hổ”, bên trong thân này là những sự đòi hỏi, chạy tìm, tìm kiếm, thèm thuồng, kháo khát, khát ái, suốt đời chỉ chạy theo dục ái, thích cái này, muốn cái kia, đòi cái nọ, mong cái khác. Suốt cả đời cứ đợi chờ, ước mơ, hy vọng, thích hoài, muốn hoài, tìm hoài, thương hoài, ái hoài, dục hoài, bực bội hoài, bức xúc hoài, gay gắt, cọc cằn, nóng nảy, sân si hoài mà không biết xấu hổ. Hễ có ai đụng đến là phùng man trợ mắt, ai chạm đến là phình trương lên, khè ra nọc độc, phóng ra hàng loạt những mũi tên và dao, kiếm, gươm, đao. Cả đời sống với một nội tâm đầy ứ tham dục, ngút ngàn sân hận, hôn ám, si mê như vậy mà không biết xấu hổ, không biết hổ thẹn, không biết lo lắng, không biết sợ hãi.
Ngược lại,“Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng”, đi đâu cũng ưỡn ngực, hất mặt, lúc nào cũng muốn mình được gọi tên, được vỗ tay, có bằng khen. Làm chuyện gì cũng muốn được mọi người khen ngợi, vỗ tay, công nhận, nếu không được khen là không chịu làm, ngay cả ở trong chùa cũng vậy. Suốt ngày cứ giương cao ngọn cờ của bản ngã để mọi nhìn thấy “tôi đây nè”, “ta đây nè”, “mình đây nè”. Thân tâm này đẫy rẫy những uế nhơ, mỗi ngày đều sống trong một nội tâm mê muội, tràn đầy những dục, ái, tham, sân, si mà không biết xấu hổ, lo lắng, sợ hãi, tàm quý, thế mà còn vươn cao bản ngã. Ngày qua ngày cứ sống với những cấu uế như vậy mà không biết thẹn thùng, không biết khổ đau, không biết lo sợ.
Giờ đây nhờ học được Thánh Pháp, nhận diện được thân tâm chúng ta mới phát giác, phát hiện ra rằng không biết đã bao nhiêu kiếp mình sống trong mê muội, sống trong dại khờ, sống trong ngu dốt, sống trong si ám, mà không biết được sự dơ bẩn của tâm này. Nhờ nhận diện được năm uẩn cùng với sự thực tập nhìn ngó, soi xét, nội soi, tư sát, quán chiếu những nghĩ ngợi, suy tư, hình bóng, cảm thọ, nhận thức trong tâm nên chúng ta mới“thấy tâm mình lắm bùn nhơ”. Nội tâm này đã đến mức“rác bẩn hồ tâm đã ngập bờ”, tất cả những cấu uế trong tâm đã đầy tràn, bờ hồ của nội tâm này đã đầy ứ, đầy ấp, đầy tràn rác bẩn. Hơn thế nữa,“Đáy nước hồ tâm toàn cấu uế”, khi nhìn sâu vào tâm này chúng ta cũng chỉ thấy toàn là những thứ dơ bẩn, rác bẩn, toàn những thứ hôi hám, bẩn thỉu, cấu bẩn, uế nhiễm, nhơ nhớp đã in sâu từ bao đời bao kiếp. Chính vì vậy, ẩn sâu trong nội tâm này chỉ tràn đầy những dục, ái, hơn thua, si mê, thích hưởng thụ, muốn êm ái. Nhiều người dù cho đi tu rồi nhưng vẫn muốn được êm ái, khỏe khoắn, chịu khó chịu khổ một chút là không được. Chúng sanh cả đời yêu cái thân này, quý cái thân này, trọng cái thân này, say cái thân này, mê cái thân này, đắm cái thân này, cưng cái thân này, chiều cái thân này và cuối cùng khổ luỵ cũng bởi cái thân này.
Bởi vì từ trên bờ hồ nhìn sâu xuống đáy hồ chỉ thấy toàn rác bẩn, cấu uể nên mình cảm thấy “Thật quá ê chề, quá chán chê” cho thân tâm ngũ uẩn này. Sự phát sanh được cảm giác ê chề, chán chê này là một loại Thánh trí tuệ. Sanh khởi được cảm thọ ê chề, cảm giác chán chê này chứng tỏ Thánh trí đã bắt đầu khởi động, đó chính là trí tuệ yểm li, chán ngán những dục vọng, tham ái, chán ngán những cảm thọ sân si, chán chê những cảm thọ hơn thua. Khi nhìn người ta hơn thua là mình thấy ngao ngán và khi chính mình khởi lên cảm giác hơn thua, tranh giành thì mình cũng thấy ê chề, chán chê, không ưa, không thích, không muốn, mệt mỏi, thấy mình dại khờ, ngu muội, thấy mình làm trò của trẻ nít, ấu trĩ.
Chán chê cho cái ngã u mê,
Dối trá, hơn thua, thật não nề.
Chẳng biết vô thường và ảo mộng,
Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không.
(Nghi Thức Tu Học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Thật sự chán chê cho cái ngã u mê này. Ý nghĩ về ta, tôi là ý nghĩ u mê; cảm giác của bản ngã là cảm giác u mê; hình bóng về tự thân là hình bóng u mê; nhận thức có “mình” trong đó là nhận thức u mê; ý niệm ngấm sâu vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức là những ý niệm u mê.
“Dối trá, hơn thua, thật não nề”, nội tâm này là một nội tâm giả dối, gian trá, xảo nguỵ, khen mình chê người, tốt khoe xấu che, không nói lời chân thật, chuyện xấu của người khác thì bươi móc giống như bươi thóc trong gạo, chuyện xấu của mình thì giấu như kẻ gian giấu bài. Suốt ngày cứ đi dòm ngó, nói xấu, chỉ trích, phán xét người khác trong khi không thấy không biết về tự thân chính mình, hoặc có ai nói đến mình thì biện hộ, biện minh, quanh co, xảo luận, gian dối, xảo trá, che lắp, che đậy. Ai đụng đến mình một chút là hơn thua, so đo, phân biệt, đúng sai, hay dở, ai chạm đến mình một chút là cao thấp, vai cấp. Chính vì nhìn thấy được những sự dối trá, hơn thua, lọc lừa đó mà chúng ta thấy não nề cho sự u mê của bản ngã. Vì vậy, những từ “ê chề”, “chán chê”, “não nề” trong bài Sám Hối Diệt Ngã là để giúp chúng ta sanh khởi lên trí yểm li, nhàm chán, xa lìa những ý niệm về bản ngã, về cái tôi. Bằng không, chúng ta cứ mãi chìm đắm trong những tính toán thiệt hơn, đắm say trong những đúng sai, hay dở mà “Chẳng biết vô thường và ảo mộng – Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không”, không biết rằng hình hài này, ý nghĩ đó, cảm thọ kia, hình bóng nọ là chỉ thoáng qua trong phút chốc, chỉ chốc lát là thay đổi, tan biến, quay lưng, trở mặt, lật lọng, chỉ tích tắc là biến hoại, đổi dời.
Bản chất trống rỗng của cuộc đời
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
(Nghi Thức Tu Học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Không ai lấy lại được ngày hôm qua và trong một chốc lát nữa thôi là hiện tại bây giờ cũng sẽ trở thành dĩ vãng. Và lẽ đương nhiên, tương lai cũng chỉ là trống không, chỉ riêng người thấy được chỗ trống không thì mới sanh khởi được tuệ trí. Bản chất cuộc đời là trống rỗng, trống không và vô cùng dễ dàng tan biến. Chỉ cần cúp điện hay có trục trặc một chút là quý Phật tử nghe pháp trực tuyến không được. Trong đại dịch Covid-19 này, chỉ cần hắt hơi, nhiễm bệnh một cái là xong. Hơn nữa, người đang khoẻ mạnh bỗng bị tai biến, đột quỵ, đứt hơi là xong. Đời sống này mỏng manh như vậy nhưng chúng ta không thấy được điều đó, cứ tưởng đâu mọi thứ bình thường, không thay đổi để rồi mãi dính mắc, tìm cầu, tham muốn, bản ngã không ngừng. Thế nên, bản chất cuộc đời này là trống rỗng, trống không, cảnh mộng, dễ dàng tan biến vào hư không. Chúng ta có thể thấy rằng, vì đại dịch Covid-19 này mà đến hiện tại hơn năm triệu người đã tan biến vào hư không. Riêng Việt Nam, theo số liệu thống kê đã có trên ba chục ngàn người ra đi vì dịch bệnh. Tất cả những người đã chết đó bây giờ họ ở nơi đâu? Lúc còn sống họ ấp ủ biết bao toan tính, dự định, kế hoạch, suy nghĩ, lo lắng nhưng phút chốc còn sót lại được cái gì? Trước đó học có nghĩ họ sẽ nhiễm bệnh và chết không?
Chúng ta hãy quán chiếu thật sâu sắc các từ “trống rỗng”, “trống không”, “cảnh mộng”, “tan biến” trong bài kệ này để thấy biết bao toan tính, hơn thua, sân si, được mất, đúng sai của mình chỉ là trống không, trống rỗng, tất cả những thứ đó chỉ như cảnh mộng, bất cứ lúc nào cũng có thể tan biến vào hư không một cách dễ dàng. Minh Thành vừa nghe tin một thầy làm trong Ban Trị sự Phật giáo quận Bình Thạnh, thầy cũng là Thượng toạ Trụ trì, đồng thời là Trưởng ban Nghi lễ đã mất trong dịch bệnh dù chỉ mới hơn năm mươi tuổi. Vài hôm sau, Minh Thành lại nghe tin thím Bảy nhiễm dịch bệnh và mất, tiếp theo lại nghe tin cô Hai cũng nhiễm dịch và không qua khỏi. Cứ vài ngày là Minh Thành nghe tin người này mất, người kia chết. Ngay cả thầy Trụ trì dưới quê cũng vừa bị tai biến, đột quỵ, phải nằm một chỗ, không ngồi dậy được nữa.
Cuộc đời này thật sự chỉ là cảnh mộng, trí tuệ này phải được an trú sâu sắc, vững trú trong người mình. Khi nhìn bất cứ việc gì cũng thấy đó chỉ là vỡ tuồng, là ảo ảnh, là cảnh mộng, tất cả đều trống rỗng, trống không, trống trơn, trong chớp mắt có thể tan biến thành hư không. Đối với mọi sự, mọi vật, mọi việc ở trên đời này thì chúng ta đều nhìn bằng cặp mắt như vậy. Khi làm việc thì chúng ta vẫn có trách nhiệm và cố gắng hết sức để làm nhưng trong cái làm đó là sự thấy biết thâm sâu rằng tất cả chỉ là đồ giả, ảo huyễn, cảnh mộng, trống không, trống rỗng, trống trơn, không có gì quan trọng. Điều quan trọng nhất là diệt tận bản ngã, phá tan thân kiến, dập tắt ba ngọn lửa tham, sân, si, đó mới là việc làm tối thượng.
Còn những việc hơn thua, tranh giành trong cuộc đời này chỉ là mây khói, là ảo ảnh, là cảnh mộng, là trò đùa của trẻ thơ, là sự giành giật đồ chơi nhà chòi vô giá trị của những đứa con nít. Mỗi khi có ý niệm giành giật, hơn thua thì chúng ta tác ý: “Đừng có trẻ con quá, đừng có dại khờ quá, đừng có ấu trĩ quá”. Chúng ta hãy nhìn bằng trí tuệ thâm sâu vào tất cả mọi sự, mọi vật, mọi việc, mọi hình tướng trên thế gian này. Lúc nào cũng phải chiêm nghiệm sâu sắc về bản chất “trống không”, “trống rỗng”, “cảnh mộng” và “dễ dàng tan biến vào hư không” của cuộc đời này. Hiện tại Minh Thành ngồi đây, thầy Pháp An ngồi đó nhưng đến chiều nay, qua ngày mai hoặc đến tuần sau thì chưa biết Minh Thành tan biến trước hay thầy Pháp An tan biến trước. Không có gì chắc chắn rằng thầy Pháp An tuổi già nên ra đi trước, còn mình trẻ thì đi sau, ai có suy nghĩ như vậy là vô minh, không đúng.
Bản chất cuộc đời - vòng lẩn quẩn,
Có không, thương ghét, mãi lòng vòng,
Để rồi chung cuộc trong nước mắt
Chỉ còn nghiệp quả với tâm mê.
(Nghi Thức Tu Học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Những câu kệ này thật sự thấm vào da, ngấm vào thịt, thấu vào xương, thấm tận tuỷ và đi vào trong não. Thật vậy, cuộc đời này chính là một vòng lẩn quẩn không có đường ra, chính chúng ta cũng sẽ chìm mãi trong vòng lẩn quẩn này nếu không đi vào Thánh Pháp. Nhìn lại cha mẹ, anh chị em, bà con, cô bác, bạn bè lâu ngày gặp lại thì chúng ta sẽ thấy rằng tất cả mọi người đều nói chuyện trong một vòng lẩn quẩn về những được mất, ghét thương không hồi kết.“Có không, thương ghét, mãi lòng vòng”, những câu chuyện của họ xoay quanh về việc “tôi có được cái này”, “tôi bị mất cái kia”, “tôi thương người này”, “tôi ghét người nọ”. Cả đời cứ lẩn quẩn trong giận thương, được mất, khen chê, đúng sai, mừng vui… không thoát ra được. Ba mẹ thì gọi điện thoại khóc than vì con cái như thế này, anh chị em điện thoại kể lể ba mẹ như thế kia, bạn bè điện thoại tâm sự cảnh gia đình bất hoà, cãi cọ như thế nọ… Tất cả mọi người cứ trôi nổi trong vòng lẩn quẩn vô cùng, vô tận, vô thỉ, vô chung, không có ngày kết thúc nếu không biết được đến Thánh Pháp, không đi được trên đạo lộ xuất ly này.
Bài ca con cá về vòng lẩn quẩn này cứ hát mãi đến tám chục năm nhưng vẫn chưa chán. Cứ gặp nhau là tham sân si, đúng sai, hay dở, tốt xấu, được mất, hơn thua. Chỉ bấy nhiêu chuyện nhưng nói hết ngày này đến ngày khác, hết tuần này đến tuần khác, hết tháng này đến tháng khác, hết năm này đến năm khác, rồi một thập kỉ, hai thập kỉ, năm thập kỉ, bảy thập kỉ, ngàn thập kỉ, vô lượng thập kỉ vẫn cứ lòng vòng không đi ra được. Thế nhưng kết cuộc cuối cùng của cuộc đời này chẳng có gì ngoài nước mắt, đau thương. Vợ chồng li dị; anh em giành tài sản rồi không nhìn mặt nhau; con cái xin tiền nhưng cha mẹ không cho nên phóng hỏa đốt nhà, tự thiêu… Cái tham, cái sân của con người ghê gớm đến vậy, một khi không làm được là bản ngã phình trương lên, muốn phá hoại, hủy diệt tất cả. Có người bị người yêu bỏ nên mua xăng đăng lên mạng hù dọa, sau đó không ngờ người này thật sự đem xăng đến đốt người yêu vì người yêu không thương mình nữa. Chúng ta thấy rằng, dục vọng, sân hận, bản ngã của con người thật sự vô cùng kinh hãi và khủng khiếp và chúng sanh cứ lòng vòng trong tham, sân, si, bản ngã trong vô lượng kiếp.
Chị em, huynh đệ, thầy trò tu trong chùa cũng vậy, cứ vài ngày là giận dỗi, bực mình, không nhìn mặt nhau, sau đó xách đồ ra đi, đi được mấy bữa thì lại quay về, hoặc không về thì ở chỗ khác thì lại tiếp tục giận và bỏ đi. Có nhiều chú xuất gia ở Linh Quy nhưng rồi bỏ đi, sau hơn chục năm qua vẫn cứ xách đãi đi lang thang hết chỗ này đến chỗ khác, chưa tìm được nơi dừng chân để chuyên tâm tu học. Cho nên, ngoài đời cũng vậy và trong đạo cũng thế, nếu không thấy pháp thì sẽ mãi quẩn quanh như vậy.
Nhờ được tu theo dòng Thánh Pháp nên khi Minh Thành nghe mọi người báo cáo, phán xử, hài tội lẫn nhau thì Minh Thành thấy vô cùng ê chê, não nề, ngao ngán. Tất cả mọi chuyện suy cho cùng cũng chỉ nằm trong vòng lẩn quẩn của được mất, ghét thương. Minh Thành chỉ ngồi lắng nghe và giữ cho mình sự an tịnh, lắng dịu, còn lại cứ để mọi người giải bày. Bản chất cuộc đời này thật sự là vòng lẩn quẩn, có người hôm qua điện thoại tâm sự khóc lóc đau khổ thì vài hôm sau lại vui vẻ cười vang; có người ban đầu thì cười, nói chuyện một lúc thì chuyển qua khóc; có người vừa vui mừng vì làm ăn trúng mối thì mấy hôm sau phải sầu khổ vì bị giật tiền… Cả cuộc đời cứ xoay vòng, lẩn quẩn, loanh quanh như kiến bò miệng chén trong được mất, hơn thua, ghét thương không có ngày đi ra, đó gọi là lối mòn của suy tư, lối mòn của tư tưởng. Giống như cá chậu chim lồng, con chim dù có bay có hót kiểu gì thì vẫn ở trong lồng, con cá dù có bơi, có lội tung tăng đến đâu thì cũng chỉ ở trong chậu, chỉ trừ khi chim được sổ lồng, cá được trở về sông và biển thì chúng mới thấy được độ rộng lớn của đất trời.
Đất trời rộng lớn thênh thang lắm
Dại gì chui vào chỗ tối tăm.
Đó là lý do tại sao chúng ta phải tu tập bốn tâm vô lượng. Nếu không an trú tâm rộng lớn, rộng mở thì sẽ ở mãi trong vòng lẩn quẩn. Cứ sáng thương chiều ghét giống như hoa phù dung sớm nở tối tàn, một ngày có đủ bốn mùa, sáng xuân, trưa hạ, chiều tối là thu đông. Con người cũng vậy, trong một ngày cứ đổi màu, đổi thái độ liên tục, vừa bình thường vui vẻ thì nghe một câu không vừa lòng, thấy một chuyện không vừa ý là lạnh lùng, băng giá, ai nói gì cũng không muốn trả lời. Nếu cứ để mình loanh quanh trong vòng xoáy thương ghét, đúng sai, được mất, hơn thua như vậy thì biết đến ngày nào mới thoát ra!
Và cuối cùng, kết thúc của cuộc đời này không có gì ngoài nước mắt, nghiệp quả và một nội tâm si mê. Ngoài ra tất cả tài sản, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, bạc, xe cộ, vàng vòng… không còn sót lại gì nữa, điều duy nhất còn lại chỉ là nghiệp quả và tâm mê. Cả đời cứ lo giành giật, tích góp, chất chứa, đấu đá, mưu mô, mưu sĩ, mưu toang, mưu tính, mưu hại với nhau để rồi cuối cùng chỉ còn lại nghiệp quả và tâm mê, chung cuộc chỉ toàn là nước mắt. Chúng ta làm những chuyện hết sức vô nghĩa, không có giá trị, thật sự đúng với câu ca dao “Dã tràng se cát biển đông – Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”. Vậy mà chúng ta cứ tự làm khổ mình rồi làm khổ người, hành hạ mình rồi hành hạ người, hành tội mình rồi hành tội người. Chúng ta làm cho những người thân của mình hết sức đau khổ và tự làm cho những dòng cảm thọ của mình đau khổ vô cùng cũng chỉ vì không biết tu.
Hãy lấy câu “Bản chất cuộc đời - vòng lẩn quẩn – Có không, thương ghét, mãi lòng vòng” làm đề mục thiền quán để thấy những việc mình làm hết sức vô ích, vô nghĩa, vô giá trị. Những cái hơn thua, thị phi, tranh giành, đấu đá, tranh đấu với nhau thật sự vô nghĩa, làm phung phí thời gian, tâm tư. Có nhiều người thưa kiện lẫn nhau kéo dài hàng chục năm, cứ lo làm lo ăn rồi đi kiện tụng, sống như vậy có thông minh hay không? Đừng nói chi người dưng kiện nhau, mà kể cả những người trong gia đình cũng không chịu buông tha nhau. Chúng ta làm khổ cho mình và cho người nhiều không kể hết trong sự vô minh và bản ngã. Trong tâm mê muội này, chúng ta làm khổ cho nhau rất nhiều, chính vì vậy, điều quan trọng cần phải có là một nội tâm tỉnh giác, tỉnh thức, chánh niệm và sáng tỏ, đây là điều vô cùng quý báu. Cho nên, Đức Phật dạy luôn luôn phải để Chánh kiến đứng đầu, vì nếu không tu học, không tu tập, không tu dưỡng Chánh tri kiến thì chúng ta sẽ mãi mãi sống trong tâm u mê, mãi mãi sống trong vòng lẩn quẩn của được mất, ghét thương không có ngày kết thúc và đi ra.
Chung cuộc kiếp người
Chính vì vậy, chúng ta phải nhìn bằng trí tuệ để thấy rằng kết thúc cuộc đời này là kết thúc trong nước mắt, kết thúc trong đau khổ, kết thúc trong tiếc nuối, hối hận, lưu luyến, kết thúc trong sợ hãi, lo âu và hoảng loạn. Bất thình lình cái chết có thể ập đến, bất thình lình mình có thể bị ung thư hoặc bị nhiễm Covid-19 và bị xe cấp cứu đem đi, không có ngày về. Nếu không có sự tu tập, tâm bị dính mắc vào đời sống vô thường này thì lúc đó mình sẽ hoảng loạn, bàng hoàng, hốt hoảng, kinh hãi, lo lắng, sợ hãi, để rồi kết thúc cuộc đời này cũng trong lo sợ, kinh hoàng, hốt hoảng và ngập tràn nước mắt. Cuối cùng, bao nhiêu sự tích luỹ, chất chứa, gom góp, cất giữ, chắt chiu, dành dụm đều không sử dụng được, mà thứ còn lại không gì khác ngoài nghiệp và quả của nghiệp. Những ý nghĩ, lời nói, hành động thiện hay bất thiện sẽ đem lại kết quả tương xứng với nó cùng với một nội tâm u mê, si ám. Đây là ý nghĩa của câu “Để rồi chung cuộc trong nước mắt – Chỉ còn nghiệp quả với tâm mê”.
Tại sao lại kỳ lạ như vậy? Tại sao cả một đời cố gắng giành giật, tranh đấu, thủ đoạn, mưu sĩ, mưu mô, mưu toan, mưu tính đủ cách nhưng cuối cùng mình lại không có gì? Thậm chí đến khi chết cái nút áo còn bị cắt đi, không được đem theo và người thân chỉ đốt cho mình tiền giả, đồ giả. Lúc còn sống chúng ta phải dùng mồ hôi, nước mắt, công sức để làm ra đồng tiền thật nhưng khi chết đi thì chỉ được đốt tiền giả. Trong khi đó, những nghiệp quả lúc sống đã tạo tác thì mình phải nhận lấy và chịu đọa đày trong ba đường ác, còn tất cả của cải, tiền bạc đã làm ra thì để cho người khác sử dụng. Chúng ta sẵn sàng thực hiện những điều gian dối, xảo trá, lừa đảo, ác nghiệp để kiếm tiền, thế nhưng cuối cùng chúng ta không mang tiền bạc theo được, trong khi cái bắt buộc mình phải nhận lấy lại là quả báu của ác nghiệp đã gây tạo. Vậy mà chúng ta cứ chọn đi theo con đường vô ích, vô nghĩa, đau khổ như vậy, thật sự hết sức si mê, vô minh, dại khờ. Mỗi ngày mình đều bán mạng để kiếm tiền, mở mắt ra là kiếm tiền, nửa đêm thức dậy cũng nghĩ đến tiền, lúc nào cũng tính toán để gom góp kiếm tiền trong khi tiền tài, danh vọng, của cải khi chết không đem theo được, mà cái có thể đem theo chỉ là nghiệp quả với tâm mê.
Mặt khác, nếu chúng ta làm ra đồng tiền chân chánh, nuôi sống mình bằng nghề nghiệp chân chánh đúng như lời dạy của Đức Phật về Chánh mạng trong Bát Chánh Đạo thì mình sẽ tránh được rất nhiều nghiệp quả, tai nạn, đau khổ. Vì vậy, phải cố gắng sống chân chánh, nuôi mạng chân chánh, tránh những nghề gọi là Tà mạng, gồm: bán thịt, bán vũ khí, bán thuốc độc, bán người, bán rượu. Tuy nhiên, điều cần để tâm là khi đồng tiền làm che mờ đôi mắt, lòng tham chiếm hết lý trí thì chúng ta không còn biết điều gì đúng, điều gì sai nữa. Ví dụ, nhiều người mở quán cơm mặn, bán hải sản đạt được rất nhiều lợi nhuận, tiền kiếm được nhiều vô số nên họ không nỡ bỏ nghề dù họ là Phật tử và biết đến Phật Pháp. Có một Phật tử tâm sự với Minh Thành rằng một chuyến đi biển và đóng tàu cho người khác ra khơi là họ lời được bạc tỷ nên họ không nỡ bỏ nghề. Sỡ dĩ như vậy là bởi vì Chánh kiến của họ chưa đủ, lòng tin nhân quả của họ chưa mạnh. Đối với người Phật tử còn như vậy thì đừng nói chi người không phải Phật tử, tất cả đều bị tâm tham che lấp.
Cho nên, khi học Phật thì chúng ta phải có niềm tin mãnh liệt, mạnh mẽ về nhân quả, về tội phước, về nghiệp báu, về nghiệp thiện và bất thiện. Sau đó phải dám từ bỏ những gì thuộc về Tà mạng, tránh xa những điều ác, bất thiện pháp thì tự mình mới cứu được mình, bằng không, dù cho làm ra được hàng ngàn tỷ thì cũng không đem theo được, đồng thời còn phải nhận lấy những ác nghiệp đã gây ra. Hơn nữa, nhiều người không những không biết bố thí, cúng dường, không biết chia sẻ, sớt chia cho những người nghèo khổ, mà còn tham lam, bỏn sẻn thì nghiệp càng chồng chất. Thậm chí, có người còn bóc lột sức lao động, khinh khi những người làm công, sỉ nhục, chà đạp những người nghèo khó. Những người như vậy khi chết đi thì nghiệp quả chắc chắn rất nặng nề. Đáng sợ hơn là không phải đến khi chết họ mới chịu quả báu khổ mà thực tế xã hội đã xảy ra vụ thảm án kinh hoàng, làm chấn động cả nước. Có một người làm công vì bị bà chủ nói nặng nói nhẹ mà đã ra tay giết cả gia đình mấy mạng người của bà chủ. Vì vậy, chúng ta phải hết sức cẩn thận đối với nghiệp quả, bởi vì dù làm ra nhiều của cải bao nhiêu đi nữa thì cũng không thể đem theo được, trong khi đó tất cả nghiệp quả xấu ác thì mình phải lãnh lấy không thiếu chút nào.
Ê chề là cuộc sống tâm mê,
Ngã mạn, ta đây, chẳng được gì.
Được chăng nước mắt và phiền não
Được chăng dòng sanh tử khổ đau.
(Nghi Thức Tu Học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Thật sự ê chề cho cuộc sống tâm mê này, lúc nào cũng ta đây, lúc nào cũng kiêu ngạo, lúc nào cũng ngã mạn nhưng cuối cùng không có được gì. Nếu có thì chỉ có những dòng nước mắt và những sự phiền não; nếu có thì chỉ có những sự bực bội, sân hận vì nghĩ rằng người khác không xem mình ra gì, trong khi mình thấy mình là trung tâm vũ trụ, uy quyền đầy người.
Mau tỉnh lại nhìn cuộc sống đi,
Bản ngã cho ta được cái gì?
Phiền não, hư danh và trống rỗng,
Mau tỉnh lại nhìn, ta được chi?
(Nghi Thức Tu Học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Tên gọi của chúng ta chỉ là hư ảo, hư danh, hư huyễn, hư tưởng, hư vọng, đó chỉ là tên suông, chỉ là danh từ trống rỗng, chứ mình chẳng là gì trên cuộc đời này. Thế nên, hãy cố gắng đánh gục bản ngã, nhìn thấu bản chất của nó để không còn mê muội, ưa thích về một cái ta hư ảo, hư vọng, hư danh, hư tưởng, hư huyễn này. Nhờ đó chúng ta thật sự có một nội tâm khiêm cung, khiêm tốn, khiêm nhường, an tịnh, lắng dịu. Như vậy chúng ta mới có thể chan hoà, cảm thông, tha thứ đối với những người thân thương cùng sống với mình trong một gia đình, dưới một mái chùa, chung một đạo tràng bằng tình thân thương và sự thấu hiểu.
Khơi dậy cảm thọ khi lạy Sám Hối Diệt Ngã
Những câu kệ trong bài Sám Hối Diệt Ngã này chúng ta phải đọc thật chậm để phát sanh cảm thọ, còn đọc ào ào thì thọ, tưởng, hành không sanh khởi kịp, nếu có thì chỉ phớt qua. Vì vậy, đối với những bài sám hối phải đọc cho thật chậm rãi, tha thiết, da diết, ngân nga, có khoảng lặng một chút để những câu từ này ngấm sâu vào cảm thọ. Mỗi bài kệ đều có khoảng ngắt giữa từng câu, đó là thời gian để chúng ta tác ý và ngấm vào cảm thọ. Cho nên, bài Sám Hối đọc khác, bài Phục Nguyện đọc khác, mỗi bài kinh đọc lên đều theo kiểu khác nhau. Khi thầy đọc như thế nào thì chúng ta phải để tâm vào học hỏi, bởi vì tụng kinh, lễ Pháp bảo, lạy sám hối, phục nguyện, thiền quán… đều có cách đọc tụng khác nhau.
Hơn nữa, nếu có thời gian thì chúng ta nên lạy mỗi câu trong bài Sám Hối Diệt Ngã. Khi đọc phải thật da diết, từ tốn để cảm thọ dâng trào, tưởng và hành sanh khởi. Sau mỗi câu chúng ta phải lạy thật chậm và tác ý, khi chạm tới mặt đất thì thọ, tưởng, hành sanh khởi. Những cảm xúc đó ngấm sâu vào thân tâm này vì mình thấy được sự cấu uế, uế nhơ của tâm, đồng thời cảm thấy vô cùng xấu hổ và thẹn thùng. Chỉ bốn câu trong bài nhưng có thể làm phát sanh những cảm giác, nghĩ, tưởng thấy rằng mình thật mê muội, tâm này thật uế nhơ, vậy mà không biết xấu hổ, vậy mà không biết thẹn thùng, vậy mà còn giương cao ngọn cờ ta đây lên.
Cho nên, khi đọc sám hối thì phải đọc cho thật tha thiết, da diết, chậm rãi, thấm thía, ngấm thật sâu vào cảm thọ. Giống như có lỗi lầm với người khác, mình quỳ xin lỗi họ thì sẽ nói những lời thật sự tha thiết, da diết, năn nỉ họ và bày tỏ hết tấm lòng của mình. Sám hối chính là như vậy, chúng ta quỳ xuống để xin lỗi nhưng cứ nói ào ào, cho có thì không phải là sám hối thật sự. Cho nên, khi đọc Sám Hối Diệt Ngã là chúng ta đang xin lỗi Phật, xin lỗi Pháp, xin lỗi Tăng, xin lỗi Thánh trí tuệ, xin lỗi chính mình vì tâm mê mà đày đọa, hành hạ thân này. Chúng ta xin lỗi Tam Bảo, xin lỗi cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị em, bạn bè, xin lỗi các bậc đồng phạm hạnh, xin lỗi những oan gia trái chủ, xin lỗi những người mà mình đã từng khởi bản ngã với họ, làm cho họ khổ và xin lỗi cả những người từng khởi bản ngã với mình. Chúng ta sám hối tất cả mọi loài, cũng bởi vì bản ngã này mà mình tự làm đau khổ cho bản thân và gây ra khổ đau cho chúng sanh hữu tình.
Chúng ta phải đọc từng câu, từng chữ sao cho thật da diết, tha thiết, thành kính, chân thành. Thay vì mỗi thời khoá gồm nhiều chương trình thì hãy để tâm làm một chủ đề cho thật chất lượng. Chẳng hạn, kết hợp lạy Sám Hối Diệt Ngã cùng với Đảnh Lễ Ngài Xá Lợi Phất trong một thời khoá, thực tập một cách chân thành, đặt tâm trọn vẹn vào đó thì chúng ta sẽ thấy hiệu quả không ngờ. Mỗi người luân phiên đọc một câu, đọc thật chậm rãi, tha thiết, thành tâm, làm cho cảm thọ sanh khởi càng nhiều thì càng ấn tượng, càng khắc ghi để cảm thọ đó đi sâu và an trú vững chắc trong tâm mình.
./.
GIẢNG GIẢI BÀI SÁM HỐI DIỆT NGÃ 6
BẢN CHẤT CUỘC ĐỜI – VÒNG LẨN QUẨN – TRỐNG KHÔNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhận diện rác bẩn hồ tâm PAGEREF _Toc94191294 \h 1
II.Bản chất trống rỗng của cuộc đời PAGEREF _Toc94191295 \h 4
III.Chung cuộc kiếp người PAGEREF _Toc94191296 \h 9
IV.Khơi dậy cảm thọ khi lạy Sám Hối Diệt Ngã PAGEREF _Toc94191297 \h 13
Nhận diện rác bẩn hồ tâm
Chúng ta chính thức đi vào bài Sám Hối Diệt Ngã, mọi người vừa nghe, vừa thiền tập, vừa tác ý theo.
Trước hết chúng ta phải hiểu rằng “sám hối” là nhìn nhận lại những sai lầm lúc trước và ngăn chặn những sai phạm về sau, không cho chúng tiếp diễn nữa. “Sám hối diệt ngã” là nhìn nhận lại trước đây chúng ta bởi vì cái tôi, cái ta, vì những ý niệm cao ngạo, hơn thua mà làm cho mình khổ, làm cho người thân xung quanh khổ. Khi đó mình thấy hối hận và không muốn tiếp tục tái diễn những ngôn ngữ, hành vi, ý niệm, tư tưởng như vậy nữa. Từ đó mình muốn đánh gục, đánh đổ, diệt tận những ý niệm về ta, tôi, hơn thua, triệt hạ tất cả những ý niệm về ảo tưởng của tự thân, đó là ý nghĩa của tựa bài “Sám Hối Diệt Ngã”.
Sáng nay khi vừa mở mắt thức dậy thì trong đầu Minh Thành liên tục vang lên những câu sau:
Từ lâu con sống trong mê muội,
Không biết tâm mình rất uế nhơ.
Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.
Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.
Nay thấy tâm mình lắm bùn nhơ,
Rác bẩn hồ tâm đã ngập bờ,
Đáy nước hồ tâm toàn cấu uế,
Thật quá ê chề, quá chán chê.
(Nghi Thức Tu Học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
“Từ lâu” tức là từ vô thỉ kiếp, trong Tương Ưng Vô Thỉ, Đức Phật có nói “Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc”. Như vậy, từ trăm ngàn vạn muôn ức vô thỉ kiếp, không biết bắt đầu từ lúc nào thì được gọi là “từ lâu”. Từ rất là lâu chúng ta đã sống trong tâm mê muội, tâm ám muội, tâm mờ tối, tâm bóng đêm, tâm mù loà, tất cả chúng sanh hoàn toàn ở trong trong tâm si mê, ám muội, mê lầm, khờ dại, mù loà, không thấy biết về thân tâm của chính mình, không biết rằng “tâm mình rất uế nhơ”. Vì sống trong mê muội, sống trong sự hướng ngoại, tầm cầu theo dục lạc, theo ngoại cảnh, sống trong sự ước ao, tìm kiếm, thèm thuồng, khát khao, truy tầm, chạy đuổi, giành giật, đấu đá, đánh đấm, chưa từng quay trở lại để thấy biết thân tâm của mình một cách chính xác nên chúng sanh không biết được sự uế nhơ, cấu uế, dơ bẩn của tâm này.
“Dục, ái, sân, si, không xấu hổ”, bên trong thân này là những sự đòi hỏi, chạy tìm, tìm kiếm, thèm thuồng, kháo khát, khát ái, suốt đời chỉ chạy theo dục ái, thích cái này, muốn cái kia, đòi cái nọ, mong cái khác. Suốt cả đời cứ đợi chờ, ước mơ, hy vọng, thích hoài, muốn hoài, tìm hoài, thương hoài, ái hoài, dục hoài, bực bội hoài, bức xúc hoài, gay gắt, cọc cằn, nóng nảy, sân si hoài mà không biết xấu hổ. Hễ có ai đụng đến là phùng man trợ mắt, ai chạm đến là phình trương lên, khè ra nọc độc, phóng ra hàng loạt những mũi tên và dao, kiếm, gươm, đao. Cả đời sống với một nội tâm đầy ứ tham dục, ngút ngàn sân hận, hôn ám, si mê như vậy mà không biết xấu hổ, không biết hổ thẹn, không biết lo lắng, không biết sợ hãi.
Ngược lại,“Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng”, đi đâu cũng ưỡn ngực, hất mặt, lúc nào cũng muốn mình được gọi tên, được vỗ tay, có bằng khen. Làm chuyện gì cũng muốn được mọi người khen ngợi, vỗ tay, công nhận, nếu không được khen là không chịu làm, ngay cả ở trong chùa cũng vậy. Suốt ngày cứ giương cao ngọn cờ của bản ngã để mọi nhìn thấy “tôi đây nè”, “ta đây nè”, “mình đây nè”. Thân tâm này đẫy rẫy những uế nhơ, mỗi ngày đều sống trong một nội tâm mê muội, tràn đầy những dục, ái, tham, sân, si mà không biết xấu hổ, lo lắng, sợ hãi, tàm quý, thế mà còn vươn cao bản ngã. Ngày qua ngày cứ sống với những cấu uế như vậy mà không biết thẹn thùng, không biết khổ đau, không biết lo sợ.
Giờ đây nhờ học được Thánh Pháp, nhận diện được thân tâm chúng ta mới phát giác, phát hiện ra rằng không biết đã bao nhiêu kiếp mình sống trong mê muội, sống trong dại khờ, sống trong ngu dốt, sống trong si ám, mà không biết được sự dơ bẩn của tâm này. Nhờ nhận diện được năm uẩn cùng với sự thực tập nhìn ngó, soi xét, nội soi, tư sát, quán chiếu những nghĩ ngợi, suy tư, hình bóng, cảm thọ, nhận thức trong tâm nên chúng ta mới“thấy tâm mình lắm bùn nhơ”. Nội tâm này đã đến mức“rác bẩn hồ tâm đã ngập bờ”, tất cả những cấu uế trong tâm đã đầy tràn, bờ hồ của nội tâm này đã đầy ứ, đầy ấp, đầy tràn rác bẩn. Hơn thế nữa,“Đáy nước hồ tâm toàn cấu uế”, khi nhìn sâu vào tâm này chúng ta cũng chỉ thấy toàn là những thứ dơ bẩn, rác bẩn, toàn những thứ hôi hám, bẩn thỉu, cấu bẩn, uế nhiễm, nhơ nhớp đã in sâu từ bao đời bao kiếp. Chính vì vậy, ẩn sâu trong nội tâm này chỉ tràn đầy những dục, ái, hơn thua, si mê, thích hưởng thụ, muốn êm ái. Nhiều người dù cho đi tu rồi nhưng vẫn muốn được êm ái, khỏe khoắn, chịu khó chịu khổ một chút là không được. Chúng sanh cả đời yêu cái thân này, quý cái thân này, trọng cái thân này, say cái thân này, mê cái thân này, đắm cái thân này, cưng cái thân này, chiều cái thân này và cuối cùng khổ luỵ cũng bởi cái thân này.
Bởi vì từ trên bờ hồ nhìn sâu xuống đáy hồ chỉ thấy toàn rác bẩn, cấu uể nên mình cảm thấy “Thật quá ê chề, quá chán chê” cho thân tâm ngũ uẩn này. Sự phát sanh được cảm giác ê chề, chán chê này là một loại Thánh trí tuệ. Sanh khởi được cảm thọ ê chề, cảm giác chán chê này chứng tỏ Thánh trí đã bắt đầu khởi động, đó chính là trí tuệ yểm li, chán ngán những dục vọng, tham ái, chán ngán những cảm thọ sân si, chán chê những cảm thọ hơn thua. Khi nhìn người ta hơn thua là mình thấy ngao ngán và khi chính mình khởi lên cảm giác hơn thua, tranh giành thì mình cũng thấy ê chề, chán chê, không ưa, không thích, không muốn, mệt mỏi, thấy mình dại khờ, ngu muội, thấy mình làm trò của trẻ nít, ấu trĩ.
Chán chê cho cái ngã u mê,
Dối trá, hơn thua, thật não nề.
Chẳng biết vô thường và ảo mộng,
Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không.
(Nghi Thức Tu Học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Thật sự chán chê cho cái ngã u mê này. Ý nghĩ về ta, tôi là ý nghĩ u mê; cảm giác của bản ngã là cảm giác u mê; hình bóng về tự thân là hình bóng u mê; nhận thức có “mình” trong đó là nhận thức u mê; ý niệm ngấm sâu vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức là những ý niệm u mê.
“Dối trá, hơn thua, thật não nề”, nội tâm này là một nội tâm giả dối, gian trá, xảo nguỵ, khen mình chê người, tốt khoe xấu che, không nói lời chân thật, chuyện xấu của người khác thì bươi móc giống như bươi thóc trong gạo, chuyện xấu của mình thì giấu như kẻ gian giấu bài. Suốt ngày cứ đi dòm ngó, nói xấu, chỉ trích, phán xét người khác trong khi không thấy không biết về tự thân chính mình, hoặc có ai nói đến mình thì biện hộ, biện minh, quanh co, xảo luận, gian dối, xảo trá, che lắp, che đậy. Ai đụng đến mình một chút là hơn thua, so đo, phân biệt, đúng sai, hay dở, ai chạm đến mình một chút là cao thấp, vai cấp. Chính vì nhìn thấy được những sự dối trá, hơn thua, lọc lừa đó mà chúng ta thấy não nề cho sự u mê của bản ngã. Vì vậy, những từ “ê chề”, “chán chê”, “não nề” trong bài Sám Hối Diệt Ngã là để giúp chúng ta sanh khởi lên trí yểm li, nhàm chán, xa lìa những ý niệm về bản ngã, về cái tôi. Bằng không, chúng ta cứ mãi chìm đắm trong những tính toán thiệt hơn, đắm say trong những đúng sai, hay dở mà “Chẳng biết vô thường và ảo mộng – Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không”, không biết rằng hình hài này, ý nghĩ đó, cảm thọ kia, hình bóng nọ là chỉ thoáng qua trong phút chốc, chỉ chốc lát là thay đổi, tan biến, quay lưng, trở mặt, lật lọng, chỉ tích tắc là biến hoại, đổi dời.
Bản chất trống rỗng của cuộc đời
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
(Nghi Thức Tu Học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Không ai lấy lại được ngày hôm qua và trong một chốc lát nữa thôi là hiện tại bây giờ cũng sẽ trở thành dĩ vãng. Và lẽ đương nhiên, tương lai cũng chỉ là trống không, chỉ riêng người thấy được chỗ trống không thì mới sanh khởi được tuệ trí. Bản chất cuộc đời là trống rỗng, trống không và vô cùng dễ dàng tan biến. Chỉ cần cúp điện hay có trục trặc một chút là quý Phật tử nghe pháp trực tuyến không được. Trong đại dịch Covid-19 này, chỉ cần hắt hơi, nhiễm bệnh một cái là xong. Hơn nữa, người đang khoẻ mạnh bỗng bị tai biến, đột quỵ, đứt hơi là xong. Đời sống này mỏng manh như vậy nhưng chúng ta không thấy được điều đó, cứ tưởng đâu mọi thứ bình thường, không thay đổi để rồi mãi dính mắc, tìm cầu, tham muốn, bản ngã không ngừng. Thế nên, bản chất cuộc đời này là trống rỗng, trống không, cảnh mộng, dễ dàng tan biến vào hư không. Chúng ta có thể thấy rằng, vì đại dịch Covid-19 này mà đến hiện tại hơn năm triệu người đã tan biến vào hư không. Riêng Việt Nam, theo số liệu thống kê đã có trên ba chục ngàn người ra đi vì dịch bệnh. Tất cả những người đã chết đó bây giờ họ ở nơi đâu? Lúc còn sống họ ấp ủ biết bao toan tính, dự định, kế hoạch, suy nghĩ, lo lắng nhưng phút chốc còn sót lại được cái gì? Trước đó học có nghĩ họ sẽ nhiễm bệnh và chết không?
Chúng ta hãy quán chiếu thật sâu sắc các từ “trống rỗng”, “trống không”, “cảnh mộng”, “tan biến” trong bài kệ này để thấy biết bao toan tính, hơn thua, sân si, được mất, đúng sai của mình chỉ là trống không, trống rỗng, tất cả những thứ đó chỉ như cảnh mộng, bất cứ lúc nào cũng có thể tan biến vào hư không một cách dễ dàng. Minh Thành vừa nghe tin một thầy làm trong Ban Trị sự Phật giáo quận Bình Thạnh, thầy cũng là Thượng toạ Trụ trì, đồng thời là Trưởng ban Nghi lễ đã mất trong dịch bệnh dù chỉ mới hơn năm mươi tuổi. Vài hôm sau, Minh Thành lại nghe tin thím Bảy nhiễm dịch bệnh và mất, tiếp theo lại nghe tin cô Hai cũng nhiễm dịch và không qua khỏi. Cứ vài ngày là Minh Thành nghe tin người này mất, người kia chết. Ngay cả thầy Trụ trì dưới quê cũng vừa bị tai biến, đột quỵ, phải nằm một chỗ, không ngồi dậy được nữa.
Cuộc đời này thật sự chỉ là cảnh mộng, trí tuệ này phải được an trú sâu sắc, vững trú trong người mình. Khi nhìn bất cứ việc gì cũng thấy đó chỉ là vỡ tuồng, là ảo ảnh, là cảnh mộng, tất cả đều trống rỗng, trống không, trống trơn, trong chớp mắt có thể tan biến thành hư không. Đối với mọi sự, mọi vật, mọi việc ở trên đời này thì chúng ta đều nhìn bằng cặp mắt như vậy. Khi làm việc thì chúng ta vẫn có trách nhiệm và cố gắng hết sức để làm nhưng trong cái làm đó là sự thấy biết thâm sâu rằng tất cả chỉ là đồ giả, ảo huyễn, cảnh mộng, trống không, trống rỗng, trống trơn, không có gì quan trọng. Điều quan trọng nhất là diệt tận bản ngã, phá tan thân kiến, dập tắt ba ngọn lửa tham, sân, si, đó mới là việc làm tối thượng.
Còn những việc hơn thua, tranh giành trong cuộc đời này chỉ là mây khói, là ảo ảnh, là cảnh mộng, là trò đùa của trẻ thơ, là sự giành giật đồ chơi nhà chòi vô giá trị của những đứa con nít. Mỗi khi có ý niệm giành giật, hơn thua thì chúng ta tác ý: “Đừng có trẻ con quá, đừng có dại khờ quá, đừng có ấu trĩ quá”. Chúng ta hãy nhìn bằng trí tuệ thâm sâu vào tất cả mọi sự, mọi vật, mọi việc, mọi hình tướng trên thế gian này. Lúc nào cũng phải chiêm nghiệm sâu sắc về bản chất “trống không”, “trống rỗng”, “cảnh mộng” và “dễ dàng tan biến vào hư không” của cuộc đời này. Hiện tại Minh Thành ngồi đây, thầy Pháp An ngồi đó nhưng đến chiều nay, qua ngày mai hoặc đến tuần sau thì chưa biết Minh Thành tan biến trước hay thầy Pháp An tan biến trước. Không có gì chắc chắn rằng thầy Pháp An tuổi già nên ra đi trước, còn mình trẻ thì đi sau, ai có suy nghĩ như vậy là vô minh, không đúng.
Bản chất cuộc đời - vòng lẩn quẩn,
Có không, thương ghét, mãi lòng vòng,
Để rồi chung cuộc trong nước mắt
Chỉ còn nghiệp quả với tâm mê.
(Nghi Thức Tu Học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Những câu kệ này thật sự thấm vào da, ngấm vào thịt, thấu vào xương, thấm tận tuỷ và đi vào trong não. Thật vậy, cuộc đời này chính là một vòng lẩn quẩn không có đường ra, chính chúng ta cũng sẽ chìm mãi trong vòng lẩn quẩn này nếu không đi vào Thánh Pháp. Nhìn lại cha mẹ, anh chị em, bà con, cô bác, bạn bè lâu ngày gặp lại thì chúng ta sẽ thấy rằng tất cả mọi người đều nói chuyện trong một vòng lẩn quẩn về những được mất, ghét thương không hồi kết.“Có không, thương ghét, mãi lòng vòng”, những câu chuyện của họ xoay quanh về việc “tôi có được cái này”, “tôi bị mất cái kia”, “tôi thương người này”, “tôi ghét người nọ”. Cả đời cứ lẩn quẩn trong giận thương, được mất, khen chê, đúng sai, mừng vui… không thoát ra được. Ba mẹ thì gọi điện thoại khóc than vì con cái như thế này, anh chị em điện thoại kể lể ba mẹ như thế kia, bạn bè điện thoại tâm sự cảnh gia đình bất hoà, cãi cọ như thế nọ… Tất cả mọi người cứ trôi nổi trong vòng lẩn quẩn vô cùng, vô tận, vô thỉ, vô chung, không có ngày kết thúc nếu không biết được đến Thánh Pháp, không đi được trên đạo lộ xuất ly này.
Bài ca con cá về vòng lẩn quẩn này cứ hát mãi đến tám chục năm nhưng vẫn chưa chán. Cứ gặp nhau là tham sân si, đúng sai, hay dở, tốt xấu, được mất, hơn thua. Chỉ bấy nhiêu chuyện nhưng nói hết ngày này đến ngày khác, hết tuần này đến tuần khác, hết tháng này đến tháng khác, hết năm này đến năm khác, rồi một thập kỉ, hai thập kỉ, năm thập kỉ, bảy thập kỉ, ngàn thập kỉ, vô lượng thập kỉ vẫn cứ lòng vòng không đi ra được. Thế nhưng kết cuộc cuối cùng của cuộc đời này chẳng có gì ngoài nước mắt, đau thương. Vợ chồng li dị; anh em giành tài sản rồi không nhìn mặt nhau; con cái xin tiền nhưng cha mẹ không cho nên phóng hỏa đốt nhà, tự thiêu… Cái tham, cái sân của con người ghê gớm đến vậy, một khi không làm được là bản ngã phình trương lên, muốn phá hoại, hủy diệt tất cả. Có người bị người yêu bỏ nên mua xăng đăng lên mạng hù dọa, sau đó không ngờ người này thật sự đem xăng đến đốt người yêu vì người yêu không thương mình nữa. Chúng ta thấy rằng, dục vọng, sân hận, bản ngã của con người thật sự vô cùng kinh hãi và khủng khiếp và chúng sanh cứ lòng vòng trong tham, sân, si, bản ngã trong vô lượng kiếp.
Chị em, huynh đệ, thầy trò tu trong chùa cũng vậy, cứ vài ngày là giận dỗi, bực mình, không nhìn mặt nhau, sau đó xách đồ ra đi, đi được mấy bữa thì lại quay về, hoặc không về thì ở chỗ khác thì lại tiếp tục giận và bỏ đi. Có nhiều chú xuất gia ở Linh Quy nhưng rồi bỏ đi, sau hơn chục năm qua vẫn cứ xách đãi đi lang thang hết chỗ này đến chỗ khác, chưa tìm được nơi dừng chân để chuyên tâm tu học. Cho nên, ngoài đời cũng vậy và trong đạo cũng thế, nếu không thấy pháp thì sẽ mãi quẩn quanh như vậy.
Nhờ được tu theo dòng Thánh Pháp nên khi Minh Thành nghe mọi người báo cáo, phán xử, hài tội lẫn nhau thì Minh Thành thấy vô cùng ê chê, não nề, ngao ngán. Tất cả mọi chuyện suy cho cùng cũng chỉ nằm trong vòng lẩn quẩn của được mất, ghét thương. Minh Thành chỉ ngồi lắng nghe và giữ cho mình sự an tịnh, lắng dịu, còn lại cứ để mọi người giải bày. Bản chất cuộc đời này thật sự là vòng lẩn quẩn, có người hôm qua điện thoại tâm sự khóc lóc đau khổ thì vài hôm sau lại vui vẻ cười vang; có người ban đầu thì cười, nói chuyện một lúc thì chuyển qua khóc; có người vừa vui mừng vì làm ăn trúng mối thì mấy hôm sau phải sầu khổ vì bị giật tiền… Cả cuộc đời cứ xoay vòng, lẩn quẩn, loanh quanh như kiến bò miệng chén trong được mất, hơn thua, ghét thương không có ngày đi ra, đó gọi là lối mòn của suy tư, lối mòn của tư tưởng. Giống như cá chậu chim lồng, con chim dù có bay có hót kiểu gì thì vẫn ở trong lồng, con cá dù có bơi, có lội tung tăng đến đâu thì cũng chỉ ở trong chậu, chỉ trừ khi chim được sổ lồng, cá được trở về sông và biển thì chúng mới thấy được độ rộng lớn của đất trời.
Đất trời rộng lớn thênh thang lắm
Dại gì chui vào chỗ tối tăm.
Đó là lý do tại sao chúng ta phải tu tập bốn tâm vô lượng. Nếu không an trú tâm rộng lớn, rộng mở thì sẽ ở mãi trong vòng lẩn quẩn. Cứ sáng thương chiều ghét giống như hoa phù dung sớm nở tối tàn, một ngày có đủ bốn mùa, sáng xuân, trưa hạ, chiều tối là thu đông. Con người cũng vậy, trong một ngày cứ đổi màu, đổi thái độ liên tục, vừa bình thường vui vẻ thì nghe một câu không vừa lòng, thấy một chuyện không vừa ý là lạnh lùng, băng giá, ai nói gì cũng không muốn trả lời. Nếu cứ để mình loanh quanh trong vòng xoáy thương ghét, đúng sai, được mất, hơn thua như vậy thì biết đến ngày nào mới thoát ra!
Và cuối cùng, kết thúc của cuộc đời này không có gì ngoài nước mắt, nghiệp quả và một nội tâm si mê. Ngoài ra tất cả tài sản, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, bạc, xe cộ, vàng vòng… không còn sót lại gì nữa, điều duy nhất còn lại chỉ là nghiệp quả và tâm mê. Cả đời cứ lo giành giật, tích góp, chất chứa, đấu đá, mưu mô, mưu sĩ, mưu toang, mưu tính, mưu hại với nhau để rồi cuối cùng chỉ còn lại nghiệp quả và tâm mê, chung cuộc chỉ toàn là nước mắt. Chúng ta làm những chuyện hết sức vô nghĩa, không có giá trị, thật sự đúng với câu ca dao “Dã tràng se cát biển đông – Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”. Vậy mà chúng ta cứ tự làm khổ mình rồi làm khổ người, hành hạ mình rồi hành hạ người, hành tội mình rồi hành tội người. Chúng ta làm cho những người thân của mình hết sức đau khổ và tự làm cho những dòng cảm thọ của mình đau khổ vô cùng cũng chỉ vì không biết tu.
Hãy lấy câu “Bản chất cuộc đời - vòng lẩn quẩn – Có không, thương ghét, mãi lòng vòng” làm đề mục thiền quán để thấy những việc mình làm hết sức vô ích, vô nghĩa, vô giá trị. Những cái hơn thua, thị phi, tranh giành, đấu đá, tranh đấu với nhau thật sự vô nghĩa, làm phung phí thời gian, tâm tư. Có nhiều người thưa kiện lẫn nhau kéo dài hàng chục năm, cứ lo làm lo ăn rồi đi kiện tụng, sống như vậy có thông minh hay không? Đừng nói chi người dưng kiện nhau, mà kể cả những người trong gia đình cũng không chịu buông tha nhau. Chúng ta làm khổ cho mình và cho người nhiều không kể hết trong sự vô minh và bản ngã. Trong tâm mê muội này, chúng ta làm khổ cho nhau rất nhiều, chính vì vậy, điều quan trọng cần phải có là một nội tâm tỉnh giác, tỉnh thức, chánh niệm và sáng tỏ, đây là điều vô cùng quý báu. Cho nên, Đức Phật dạy luôn luôn phải để Chánh kiến đứng đầu, vì nếu không tu học, không tu tập, không tu dưỡng Chánh tri kiến thì chúng ta sẽ mãi mãi sống trong tâm u mê, mãi mãi sống trong vòng lẩn quẩn của được mất, ghét thương không có ngày kết thúc và đi ra.
Chung cuộc kiếp người
Chính vì vậy, chúng ta phải nhìn bằng trí tuệ để thấy rằng kết thúc cuộc đời này là kết thúc trong nước mắt, kết thúc trong đau khổ, kết thúc trong tiếc nuối, hối hận, lưu luyến, kết thúc trong sợ hãi, lo âu và hoảng loạn. Bất thình lình cái chết có thể ập đến, bất thình lình mình có thể bị ung thư hoặc bị nhiễm Covid-19 và bị xe cấp cứu đem đi, không có ngày về. Nếu không có sự tu tập, tâm bị dính mắc vào đời sống vô thường này thì lúc đó mình sẽ hoảng loạn, bàng hoàng, hốt hoảng, kinh hãi, lo lắng, sợ hãi, để rồi kết thúc cuộc đời này cũng trong lo sợ, kinh hoàng, hốt hoảng và ngập tràn nước mắt. Cuối cùng, bao nhiêu sự tích luỹ, chất chứa, gom góp, cất giữ, chắt chiu, dành dụm đều không sử dụng được, mà thứ còn lại không gì khác ngoài nghiệp và quả của nghiệp. Những ý nghĩ, lời nói, hành động thiện hay bất thiện sẽ đem lại kết quả tương xứng với nó cùng với một nội tâm u mê, si ám. Đây là ý nghĩa của câu “Để rồi chung cuộc trong nước mắt – Chỉ còn nghiệp quả với tâm mê”.
Tại sao lại kỳ lạ như vậy? Tại sao cả một đời cố gắng giành giật, tranh đấu, thủ đoạn, mưu sĩ, mưu mô, mưu toan, mưu tính đủ cách nhưng cuối cùng mình lại không có gì? Thậm chí đến khi chết cái nút áo còn bị cắt đi, không được đem theo và người thân chỉ đốt cho mình tiền giả, đồ giả. Lúc còn sống chúng ta phải dùng mồ hôi, nước mắt, công sức để làm ra đồng tiền thật nhưng khi chết đi thì chỉ được đốt tiền giả. Trong khi đó, những nghiệp quả lúc sống đã tạo tác thì mình phải nhận lấy và chịu đọa đày trong ba đường ác, còn tất cả của cải, tiền bạc đã làm ra thì để cho người khác sử dụng. Chúng ta sẵn sàng thực hiện những điều gian dối, xảo trá, lừa đảo, ác nghiệp để kiếm tiền, thế nhưng cuối cùng chúng ta không mang tiền bạc theo được, trong khi cái bắt buộc mình phải nhận lấy lại là quả báu của ác nghiệp đã gây tạo. Vậy mà chúng ta cứ chọn đi theo con đường vô ích, vô nghĩa, đau khổ như vậy, thật sự hết sức si mê, vô minh, dại khờ. Mỗi ngày mình đều bán mạng để kiếm tiền, mở mắt ra là kiếm tiền, nửa đêm thức dậy cũng nghĩ đến tiền, lúc nào cũng tính toán để gom góp kiếm tiền trong khi tiền tài, danh vọng, của cải khi chết không đem theo được, mà cái có thể đem theo chỉ là nghiệp quả với tâm mê.
Mặt khác, nếu chúng ta làm ra đồng tiền chân chánh, nuôi sống mình bằng nghề nghiệp chân chánh đúng như lời dạy của Đức Phật về Chánh mạng trong Bát Chánh Đạo thì mình sẽ tránh được rất nhiều nghiệp quả, tai nạn, đau khổ. Vì vậy, phải cố gắng sống chân chánh, nuôi mạng chân chánh, tránh những nghề gọi là Tà mạng, gồm: bán thịt, bán vũ khí, bán thuốc độc, bán người, bán rượu. Tuy nhiên, điều cần để tâm là khi đồng tiền làm che mờ đôi mắt, lòng tham chiếm hết lý trí thì chúng ta không còn biết điều gì đúng, điều gì sai nữa. Ví dụ, nhiều người mở quán cơm mặn, bán hải sản đạt được rất nhiều lợi nhuận, tiền kiếm được nhiều vô số nên họ không nỡ bỏ nghề dù họ là Phật tử và biết đến Phật Pháp. Có một Phật tử tâm sự với Minh Thành rằng một chuyến đi biển và đóng tàu cho người khác ra khơi là họ lời được bạc tỷ nên họ không nỡ bỏ nghề. Sỡ dĩ như vậy là bởi vì Chánh kiến của họ chưa đủ, lòng tin nhân quả của họ chưa mạnh. Đối với người Phật tử còn như vậy thì đừng nói chi người không phải Phật tử, tất cả đều bị tâm tham che lấp.
Cho nên, khi học Phật thì chúng ta phải có niềm tin mãnh liệt, mạnh mẽ về nhân quả, về tội phước, về nghiệp báu, về nghiệp thiện và bất thiện. Sau đó phải dám từ bỏ những gì thuộc về Tà mạng, tránh xa những điều ác, bất thiện pháp thì tự mình mới cứu được mình, bằng không, dù cho làm ra được hàng ngàn tỷ thì cũng không đem theo được, đồng thời còn phải nhận lấy những ác nghiệp đã gây ra. Hơn nữa, nhiều người không những không biết bố thí, cúng dường, không biết chia sẻ, sớt chia cho những người nghèo khổ, mà còn tham lam, bỏn sẻn thì nghiệp càng chồng chất. Thậm chí, có người còn bóc lột sức lao động, khinh khi những người làm công, sỉ nhục, chà đạp những người nghèo khó. Những người như vậy khi chết đi thì nghiệp quả chắc chắn rất nặng nề. Đáng sợ hơn là không phải đến khi chết họ mới chịu quả báu khổ mà thực tế xã hội đã xảy ra vụ thảm án kinh hoàng, làm chấn động cả nước. Có một người làm công vì bị bà chủ nói nặng nói nhẹ mà đã ra tay giết cả gia đình mấy mạng người của bà chủ. Vì vậy, chúng ta phải hết sức cẩn thận đối với nghiệp quả, bởi vì dù làm ra nhiều của cải bao nhiêu đi nữa thì cũng không thể đem theo được, trong khi đó tất cả nghiệp quả xấu ác thì mình phải lãnh lấy không thiếu chút nào.
Ê chề là cuộc sống tâm mê,
Ngã mạn, ta đây, chẳng được gì.
Được chăng nước mắt và phiền não
Được chăng dòng sanh tử khổ đau.
(Nghi Thức Tu Học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Thật sự ê chề cho cuộc sống tâm mê này, lúc nào cũng ta đây, lúc nào cũng kiêu ngạo, lúc nào cũng ngã mạn nhưng cuối cùng không có được gì. Nếu có thì chỉ có những dòng nước mắt và những sự phiền não; nếu có thì chỉ có những sự bực bội, sân hận vì nghĩ rằng người khác không xem mình ra gì, trong khi mình thấy mình là trung tâm vũ trụ, uy quyền đầy người.
Mau tỉnh lại nhìn cuộc sống đi,
Bản ngã cho ta được cái gì?
Phiền não, hư danh và trống rỗng,
Mau tỉnh lại nhìn, ta được chi?
(Nghi Thức Tu Học Nikāya – Sám Hối Diệt Ngã)
Tên gọi của chúng ta chỉ là hư ảo, hư danh, hư huyễn, hư tưởng, hư vọng, đó chỉ là tên suông, chỉ là danh từ trống rỗng, chứ mình chẳng là gì trên cuộc đời này. Thế nên, hãy cố gắng đánh gục bản ngã, nhìn thấu bản chất của nó để không còn mê muội, ưa thích về một cái ta hư ảo, hư vọng, hư danh, hư tưởng, hư huyễn này. Nhờ đó chúng ta thật sự có một nội tâm khiêm cung, khiêm tốn, khiêm nhường, an tịnh, lắng dịu. Như vậy chúng ta mới có thể chan hoà, cảm thông, tha thứ đối với những người thân thương cùng sống với mình trong một gia đình, dưới một mái chùa, chung một đạo tràng bằng tình thân thương và sự thấu hiểu.
Khơi dậy cảm thọ khi lạy Sám Hối Diệt Ngã
Những câu kệ trong bài Sám Hối Diệt Ngã này chúng ta phải đọc thật chậm để phát sanh cảm thọ, còn đọc ào ào thì thọ, tưởng, hành không sanh khởi kịp, nếu có thì chỉ phớt qua. Vì vậy, đối với những bài sám hối phải đọc cho thật chậm rãi, tha thiết, da diết, ngân nga, có khoảng lặng một chút để những câu từ này ngấm sâu vào cảm thọ. Mỗi bài kệ đều có khoảng ngắt giữa từng câu, đó là thời gian để chúng ta tác ý và ngấm vào cảm thọ. Cho nên, bài Sám Hối đọc khác, bài Phục Nguyện đọc khác, mỗi bài kinh đọc lên đều theo kiểu khác nhau. Khi thầy đọc như thế nào thì chúng ta phải để tâm vào học hỏi, bởi vì tụng kinh, lễ Pháp bảo, lạy sám hối, phục nguyện, thiền quán… đều có cách đọc tụng khác nhau.
Hơn nữa, nếu có thời gian thì chúng ta nên lạy mỗi câu trong bài Sám Hối Diệt Ngã. Khi đọc phải thật da diết, từ tốn để cảm thọ dâng trào, tưởng và hành sanh khởi. Sau mỗi câu chúng ta phải lạy thật chậm và tác ý, khi chạm tới mặt đất thì thọ, tưởng, hành sanh khởi. Những cảm xúc đó ngấm sâu vào thân tâm này vì mình thấy được sự cấu uế, uế nhơ của tâm, đồng thời cảm thấy vô cùng xấu hổ và thẹn thùng. Chỉ bốn câu trong bài nhưng có thể làm phát sanh những cảm giác, nghĩ, tưởng thấy rằng mình thật mê muội, tâm này thật uế nhơ, vậy mà không biết xấu hổ, vậy mà không biết thẹn thùng, vậy mà còn giương cao ngọn cờ ta đây lên.
Cho nên, khi đọc sám hối thì phải đọc cho thật tha thiết, da diết, chậm rãi, thấm thía, ngấm thật sâu vào cảm thọ. Giống như có lỗi lầm với người khác, mình quỳ xin lỗi họ thì sẽ nói những lời thật sự tha thiết, da diết, năn nỉ họ và bày tỏ hết tấm lòng của mình. Sám hối chính là như vậy, chúng ta quỳ xuống để xin lỗi nhưng cứ nói ào ào, cho có thì không phải là sám hối thật sự. Cho nên, khi đọc Sám Hối Diệt Ngã là chúng ta đang xin lỗi Phật, xin lỗi Pháp, xin lỗi Tăng, xin lỗi Thánh trí tuệ, xin lỗi chính mình vì tâm mê mà đày đọa, hành hạ thân này. Chúng ta xin lỗi Tam Bảo, xin lỗi cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị em, bạn bè, xin lỗi các bậc đồng phạm hạnh, xin lỗi những oan gia trái chủ, xin lỗi những người mà mình đã từng khởi bản ngã với họ, làm cho họ khổ và xin lỗi cả những người từng khởi bản ngã với mình. Chúng ta sám hối tất cả mọi loài, cũng bởi vì bản ngã này mà mình tự làm đau khổ cho bản thân và gây ra khổ đau cho chúng sanh hữu tình.
Chúng ta phải đọc từng câu, từng chữ sao cho thật da diết, tha thiết, thành kính, chân thành. Thay vì mỗi thời khoá gồm nhiều chương trình thì hãy để tâm làm một chủ đề cho thật chất lượng. Chẳng hạn, kết hợp lạy Sám Hối Diệt Ngã cùng với Đảnh Lễ Ngài Xá Lợi Phất trong một thời khoá, thực tập một cách chân thành, đặt tâm trọn vẹn vào đó thì chúng ta sẽ thấy hiệu quả không ngờ. Mỗi người luân phiên đọc một câu, đọc thật chậm rãi, tha thiết, thành tâm, làm cho cảm thọ sanh khởi càng nhiều thì càng ấn tượng, càng khắc ghi để cảm thọ đó đi sâu và an trú vững chắc trong tâm mình.
./.