Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thánh trí năm uẩn 14 - GÁNH NẶNG

2026-03-03 00:52:49
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 14– GÁNH NẶNG

-THÍCH MINH THÀNH-

Phần 1:

Mấy trăm năm mới xảy ra đại dịch toàn cầu. Cũng có nghĩa là mấy trăm năm xảy ra đây là thời gian thuận lợi quý báu cơ hội hiếm có để chúng ta tu tập ở trên núi. Độc cư thiền tịnh hành trì quán chiếu tu tập tinh tấn soi rọi nổ lực chuyên tâm. Cần quý trọng thật là nhiều thời gian này sử dụng nó một cách trọn vẹn xứng đáng, triệt để hữu ích để sau này mình không có hối hận. Nếu không sử dụng thời gian này thật là tốt sau này mình sẽ hối hận. Khi bận rộn quá mình nói rằng không có thời gian tu lúc có thời gian thuận lợi thích hợp không chịu tu. Đây là sự hoạt động của hữu lậu. Vừa rồi chúng ta đã trải qua gần 3 tháng dịch sắp tới có thể là 3 tháng nữa, chúng ta phải xem 3 tháng này là khóa tu, mỗi ngày là khóa tu. Trong sự nỗ lực cố gắng giai đoạn này sẽ mang lại thành tích kết quả lớn.

Tối hôm trước con có một giấc chiêm bao với nhiều cảm xúc dạt dào về Bát Chánh đạo. Nước mắt con tràn ra và khi thức dậy cảm thọ cũng chưa tan hết. Đó là một cảm thọ hỷ lạc, hạnh phúc dào dạt, trào dâng, muốn hét lên và muốn gầm rống lên cho vang dội khắp trời đất, để những người tu hành thấy được giá trị vĩ đại của thánh Pháp này. Từ đó để mọi người thấy được con đường Thánh Đạo tu tập chân chánh mà Đức Phật đã dạy là đây, sự tu tập chân chánh là đây, xuất ly đạo lộ là đây, không còn phải đi tìm chỗ nào khác nữa. Cho nên thật sự một người tu chân chánh trong dòng pháp này sẽ suốt ngày, suốt đêm, giờ giờ, phút phút nhìn vào bên trong, luôn luôn quán chiếu lại thân tâm của mình để làm cho khô kiệt, cạn kiệt, đào thải, phủi sạch, thâm nhập và tận diệt những dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã. Đó là thái độ tu hành chân chánh không có thời gian để phiến luận, để tâm vào những chuyện khác. Nếu là một người tu chân chánh, thực sự thì pháp nhãn sẽ mở, minh nhãn sanh, trí sanh, quan sanh, người tu chân chánh ấy phải là như vậy. Còn những người mà còn để tâm vào cái nọ cái kia, soi mói người khác để rồi phiền não thì như vậy người đó vẫn còn mù, còn chột.

Con tâm đắc nhất 2 câu:

“ Sống như lửa cháy đầu

Cầu chứng cảnh bất động. ”

Bài này phải đọc và tụng kinh mỗi ngày. Cần phải cảm nhận thật sự chứ không phải nói trên miệng rằng lửa đang cháy trên nón, cháy trên áo, trên tóc mình. Cực chẳng đã phải làm những việc hàng ngày thuộc bổn phận và trách nhiệm của mình, ngoài cái đó ra thì hãy dồn hết tâm lực của mình vào việc mà không bất cứ điều gì có ý nghĩa hơn, thiêng liêng hơn, cao quý hơn và trọng yếu hơn. Đó là mình phải luôn quán chiếu “không có ai ở đây hết”, không có ông A ông B bà C gì đây hết, mình chỉ là một đống bản ngã, vô minh, khát ái, chấp thủ. Đống này đang ngày đêm dần dần đi đến chỗ cạn kiệt, có như thế thì người đó tu mới tiến. một người chân chánh tu hành nhìn thấy được ngũ uẩn, thì khi người đó nhìn lại sẽ không thấy cái tôi, cái của tôi mà đây là một đống dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã và chấp thủ. Đống này đang được hốt, đang được quét, đang được vứt bỏ, đang được đổ, đốt dọn dẹp và đang dần dần đi đến chỗ cạn kiệt, chấm dứt thì người đó tu mới tiến. Tâm mình còn hơn thua, so sánh, bén nhạy với những cái thế gian pháp thì khó lòng tiến sâu vào được vào trong pháp. Nó làm tâm mình giống như con bò bị cưa hai cái sừng, không phải là không biết, dù nó nghe, thấy, biết hết nhưng không còn nhạy nữa, không còn sắc bén nữa do vẫn còn tham, sân, si. Thành ra đối với một hành giả cần phải thấy đây là một đống không có ai, không có tôi, không có của tôi gì ở đây cả mà chỉ là một đống dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã và chấp thủ. Một đống này đang đi đến chỗ đoạn giảm dần dần, làm cho nó khô kiệt, cạn kiệt, kiệt quệ. Nếu còn bén nhạy quá với thế gian, thấy gì cũng nói, thấy gì cũng ý kiến, khi chạm tới là nó bật lại, phản ứng lại liền thì cần phải tập an tịnh trầm lặng, tập những cảm thọ cảm thọ lắng dịu, dễ chịu, giảm bớt những cảm giác sôi nổi, hướng ngoại, phang nhiên. Mấy chục năm nay mình cứ mãi chạy đuổi, hướng ngoại, đầu tư, lao tâm khổ tứ, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ, mưu mô, mưu tính, mưu toan, mưu mẹo, tính toán, mánh khóe đủ điều cuối cùng được gì ngoài một đống tham, sân, si, bản ngã, sầu, bi, khổ, ưu não này. Ngay cả người xuất gia nói cho hơn người ta thôi chứ thật sự được cái gì. Cần phải tập luôn luôn hướng nội, nội quán, nội soi, nội chiếu, nội tĩnh nhất tâm thì ta sẽ thấy được sự bình an, lợi ích, ý nghĩa ngay giữa cuộc đời này.

Tuyệt vời lắm, đừng quan trọng gì khác ngoài pháp, hãy xem pháp còn quý hơn sinh mạng của mình. Vì không có gì trên cuộc đời này có ý nghĩa hết, đều là vô nghĩa, thân này còn vô chủ mà. Cái xác thúi này khi ngã xuống là giòi bên trong nó ăn ra; diều hâu, chó rừng, kên kên, giả can ở ngoài nó ăn vào; còn người thân yêu nhất của mình thì quấn chiếu, cuốn mến, quấn gối để đi chôn, đi thiêu cho lẹ, quăng bỏ cho nhanh.

Đại dịch này là cơ hội quý báu nhất để quán chiếu, đẩy thẳng chúng ta đến với Thánh đạo bất thối chuyển. Khi mình tự ngồi đối diện với chính mình, nhìn thử lại mấy chục năm đã trải qua cuối cùng được cái gì? Một đống tham ưu, lòng dục, tham, ái, khao khát trào dâng không bao giờ thỏa mãn. Mình chết trong sự khát khao đó, chết trong sự đòi hỏi, tìm kiếm, chết trong chấp thủ, bản ngã, sân hận và hơn thua. Phải phá tung, phá vỡ, phá sạch, phá tan tất cả những thứ bám víu trong cuộc đời này. Vào tu rồi mà không đúng chánh Pháp thì xem có sầu bi khổ ưu não không? Khi ấy xách cái giỏ, cái đãi chạy qua chùa này chùa khác, nhưng dù cho có chạy một ngàn cái chùa cũng tham, sân, si, bản ngã hoài thôi. Chính mình không thấy đựợc tự thân của mình, mà lại nhìn trách người bên ngoài thì dù cho có tu một tỷ A-tăng kỳ kiếp vẫn sẽ ở trong vô minh, tham và ái bản ngã. Đây là khổ, khổ là đây!

Một khi không thành tựu Thánh tri kiến, không thấy đúng về tự thân, tự tâm của mình; không nhìn ra được bản chất thật sự những cảm giác nghĩ tưởng, nhận thức rõ biết; không thành tựu Bốn Thánh trí về ngũ uẩn, Bốn Thánh trí về lậu hoặc; không nhìn ra được tham sân si và bản ngã trà trộn trong năm uẩn; không đặt tâm đúng hướng để phát giác phát hiện nhiếp phục làm cho nó giảm thiểu và đoạn tận thì sầu bi khổ ưu não sẽ tiếp diễn, tiếp diễn mãi mãi, mãi mãi không có ngày chấm dứt. Cay đắng cho chúng ta, tai nạn cho chúng ta, hoạn nạn cho chúng ta, trong một sự tu hành, tu học như vậy. Thật đau đớn và xót xa khi bỏ cha, bỏ mẹ muốn đi ra, mà cuối cùng cũng đi vào cái mê hồn trận, sau đó lại dẫn đường cho mọi người đi trong con đường tà mãi mãi không có lối ra. Trí tuệ này là trí tuệ thần thánh, tối thượng, vô thượng, thượng nhân pháp, cao thượng.

Có một thầy Tỳ-Kheo đến hỏi Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, có một món đồ nào, một thứ gì trong cuộc đời này nó thường còn, thường hằng, thường trú mà nó không bị biến đổi và không tan hoại vĩnh viễn, mãi mãi. Có cái cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức nào trong tâm mà nó thường còn, thường hằng, thường trú nó không có biến đổi và không tan hoại vĩnh viễn, mãi mãi.

Đức Thế Tôn:

-Chưa có một cảm giác nào, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức nào trong tâm mà nó thường còn, thường hằng, thường trú, không biến đổi, biến hoại, tan hoại,vĩnh viễn.

Đức Phật cúi xuống cầm một miếng phân bò và nói rằng không có một sắc nào, thọ, tưởng, hành, thức nào dầu cho nó nhỏ bằng một chút phân bò này có thể thường còn, thường trú, không biến đổi, vĩnh viễn không bao giờ có. Làm sao mình phải thâm nhập được trí tuệ này, thâm nhập trong cái thấy, nhận thức, suy nghĩ, cảm giác trong mỗi hơi thở của mình trong đời sống thì mới thể nhập Thánh trí chứ không phải nghe rồi nói lại, hoặc là có lúc thấy, lúc không. Mình phải thường trực, thường xuyên, thường luôn lúc nào cũng phải thấy như vậy hết thì mới hết khổ. Đức Phật nói, nếu mà được một cái ngã thể nhỏ bằng một chút xíu phân bò này mà thường còn, thường hằng, thường trú không có biến hoại, vĩnh viễn vững trú, thì đời sống phạm hạnh để chân chánh đoạn tận khổ đau là không thể trình bày về một đường lối thanh tịnh, một đạo lộ giải thoát chân chánh để đoạn tận cái khổ đau. Bởi vì vô thường là khổ, là vô ngã, là trống rỗng, dù cho có nhỏ chút xíu bằng hạt cát đi nữa cũng không ngoại lệ. Và nếu có một cái thường hằng dù nhỏ như thế nào đi chăng nữa thì cũng không thể làm sao mà mình chứng nhập được Niết bàn. Vậy nên bỏ ra hết tất cả cái vô thường là được bởi vì nó là thường hằng. Chính vì không có một cái gì là thường hằng, thường trú, vững trú cho nên Đức Phật mới trình bày đoạn tận cái vô thường, cái khổ đau, từ bỏ, ly tham đối với thứ trống rỗng, vì nó không có một cái chất, cái ngã, cái thường hằng nào dù chút xíu cũng không có. Cho nên đời sống phạm hạnh của con người giác ngộ mới được trình bày để thật sự đoạn tận khổ đau trong cuộc đời. Rõ ràng thấy thân mình không sạch mà sao mình vẫn mê, là do tuệ mình chưa nhập trí bất tịnh cho nên cái thấy của mình nó không đủ sức. Nói theo người đời là lý trí không đủ để chiến thắng tình cảm, nói theo trong đạo là trí tuệ và tuệ lực chưa đủ để quật ngã tập khí của dục, tham, ái tuy là mình thấy, mình biết. Bởi vậy cần sự nỗ lực thể nhập.

Mình thấy trong Trưởng Lão Tăng Kệ có vị Tỷ-kheo, thường là khi sắp sửa chứng A La Hán luôn triển khai thiền quán trong một sự xuyên suốt, miên mật, liên tục nhìn thấy. Có một cô gái đẹp nổi tiếng, đang giận nhà chồng nên bỏ đi về nhà mình, trên đường gặp một thầy đang khất thực, thầy này đang tu quán bất tịnh về bộ xương- bạch cốt tưởng. Ngay khi cô nhe răng nở một nụ cười khinh khi, ngạo nghễ vì thấy người đầu trọc, tướng tu, sao không ở ngoài đời mà đi tu thì lúc đó ngài nhìn thấy một bộ xương đang nhe răng ra. Thế là ngài chứng nhập Thánh trí và bất tịnh quán bạch cốt tưởng, sạch sẽ, dứt sạch các lậu hoặc ngay tại chỗ đó. Bên nhà chồng đi tìm kiếm thấy thầy tu mới hỏi có thấy cô gái với dáng vẻ như vậy như vậy không? Thầy nói chỉ thấy đầu lâu, bộ xương nhe răng ra. Ở đây biết đâu mai mốt có một, hai người chứng nhập bạch cốt tưởng, chưa A La Hán nhưng Bất Lai hoặc Nhị quả cũng được. Cái gọi là bạch cốt tưởng, bộ xương trắng của thầy tu đã tới mức định tướng, định tướng này duy trì liên tục, nhìn đâu cũng thấy bộ xương, tức là sức định của nhà tu là liên tục, liên tục không có gián đoạn như vậy mới chứng nhập. Còn mình nói một chút, nghe rồi xúc động một chút, trở ra thì trở lại y như cũ, không giữ được định tướng, không duy trì được cảm thọ và quán chiếu. Giống như mình nấu cơm, mình nấu cho nóng tí rồi tắt, hết ga, bật lên nóng tí rồi tắt, hết ga cứ như vậy hoài nồi cơm sẽ hư luôn do không đủ độ nóng. Cũng như sự dụng tâm của mình không miên mật, liên tục, xuyên suốt, khít khao, trở ra là mình sống lại với phàm phu tri kiến. Nhìn ra toàn thấy bà A, chị B, anh C, nhìn lại chỉ thấy đúng, sai, hay, dở người này như vậy, người nọ thế kia, người kia khác mà không thấy được tâm hướng ngoại, tâm vô minh và chấp ngã của mình. Khi cùng ngồi lại nói ra thì trong này toàn là sân si, bản ngã, đúng, sai, nó sổ ra hôi như ống cống, như cầu tiêu. Tu như vậy thì tới chừng nào mới thành tựu khi không thấy pháp, không thấy trình pháp. Phải tự quán chiếu tới một mức độ, rồi những chỗ chưa giải quyết được mình phải tự nhìn thấy, chứ đừng để những cái đó không thấy mà chỉ thấy nói người này, người kia không thôi.

Đức Thế Tôn đem bản thân mình ra kể lại, ngày xưa Ngài là vua cai quản 84000 cái thành phố, cung điện đẹp, những căn nhà nhiều tầng lầu. Những cái giường, chõng, nệm, thảm nhung, lụa ,tô, chén, dĩa, bằng ngọc, bằng vàng, bằng bạc, ngà voi hoa lệ, đẹp nhất trên thế gian Người đều sở hữu, hưởng thụ và nếm trải. Nhưng, này các Tỷ-kheo, tất cả các thứ đó điều thuộc về quá khứ, trở thành dĩ vãng, biến hoại, đoạn diệt, không thường trú, không thường hằng, các thứ như vậy là vừa đủ để nhàm chán,ly tham, giải thoát. Bây giờ thành Ca tỳ la vệ nay còn đâu? Chỉ còn đống đất đá đổ nát, những vương quốc ngày xưa trị vì thiên hạ, vang dội một thời, cung điện huy hoàng, tráng lệ nay chỉ là phế tích bị chôn vùi, những di chỉ được người ta khai quật lên chứ không được nằm ở ngoài nữa. Dưới lớp sỏi đá, người ta nghiên cứu, tìm kiếm, đào ra thì phát hiện những phế tích bị chôn vùi về các cung điện, trường đại học mà hàng chục ngàn chư tăng, vị xuất gia cư trú. Tất cả giờ đây chỉ còn là lại những tàn tích, vô thường là như vậy, biến hoại là như vậy, tan nát hoại diệt là như vậy, bại hoại, tan hoại, hủy hoại là như vậy. Chuyện như vậy là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả, chuyện như vậy là vừa đủ để không còn tham muốn đối với tất cả.

Nhìn và nghe kỹ hành vi của con chó, khi nhìn thấy nó, có cảm giác xót xa, lo sợ. Tâm của mình không giữ an tịnh đầy dẫy sân hận, hướng ngoại, tháo động trong vô minh, tham ái trong đời sống tiếp theo của mình là vậy, nó đau khổ lắm không có sung sướng gì hết. Nếu mình sống trong vô minh, khát ái, sân si, hướng ngoại, sự tháo động mà mình không nhiếp phục cảm thọ, thì những thân thể đó sẽ chờ đợi mình trong tương lai. Mình thấy là vừa nghe một cái gì chút xíu thôi là nó làm ầm lên hơn nữa. Cho nên phải sợ để luyện tập những cảm giác của mình, tập những cảm giác an tịnh, lắng dịu, định tĩnh, đừng để cho những cảm giác sân hết sức thô tháo, những cảm giác bản ngã sanh khởi. Luôn nhìn thấy những đời sống hiện tại của con người là đầy dẫy tham, sân, si, bản ngã, từ đó thấy được trong đó đời sống tương lai một khi nhắm mắt rồi thì không còn là thân người nữa, khổ lắm! Thân xác của chúng ta đây chắc chắn có một ngày không sớm thì muộn rồi nó cũng đổ vỡ xuống. Nếu không biết dòng pháp này mà trong những lúc nằm trong bệnh viện đối diện với những cảm giác khiếp đảm, sợ hãi, đau khổ, bệnh hoạn thì sẽ ra sao lúc nhắm mắt ra đi? Không có bậc tịch diệt nào mà không biết giáo pháp này. Thật không dễ dàng gì cho mình ngồi tại đây để nghe chánh pháp, thiền định. Thật là không dễ dàng trong giờ phút này mà được an tịnh, ẩn tu nơi núi rừng. Thật là không dễ dàng trong giai đoạn này mà được hành trì Thánh pháp, nghe được những lời chưa từng nghe, hiểu được những điều chưa từng hiểu, cảm nhận được đạo lí chưa từng cảm nhận trong vô lượng kiếp vừa qua. Hãy trân trọng, trân quý biết đâu đời sau mình sẽ giống chú chó kia thì sao, nếu mà không khéo tu. Cho đến như vậy là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả mọi thứ ở trên đời, cho đến như vậy là vừa đủ để ly tham đối với mọi thứ trên thế gian này, cho đến như vậy là vừa đủ để buông bỏ, giải thoát đối với ngũ uẩn.

Đức Thế Tôn có nói, này các Tỳ-kheo ai hoan hỷ, vui thích đối với sắc( thân xác), người ấy hoan hỷ, vui thích đối với khổ. Ai hoan hỷ, vui thích với khổ ta nói người ấy không thoát khỏi khổ đau. Hoan hỷ, hoan nghênh, ưa thích, đắm trước, an trú trong thân xác này là người ấy hoan hỷ, ưa thích đối với khổ. Ai vui thích nhìn ngắm, đam mê, đắm đuối, say mê trong thân xác này là người ấy say mê, ưa thích khổ. Một người say mê, ưa thích đối với khổ ta nói rằng người ấy không thoát khỏi khổ đau. Ai đam mê, ai ưa thích trong thân xác của con chó này thì chúng sanh đó ưa thích, tham đắm trong nỗi khổ của con chó. Những lời này mình phải cho ngấm vào tâm, vào tim, vào tuỷ, não của mình. Con chó kia nó có bản ngã của nó, có tham ái và đời sống thân chó tiếp nối đối với nó. Hay con giòi cũng có bản ngã, nó đam mê ưa thích trong đống phân và đời sống tiếp của nó là những thân giòi tái sanh liên tục. Nó ưa thích những cảm giác, những suy nghĩ, tưởng, những nhận thứ đó cho đời sống súc sanh hôi thúi, bẩn thỉu cứ thế tiếp diễn. Chúng ta ôm ấp một tự ngã, bản ngã, một cái ta tham ái trong đời sống tự thân, phình trương to tướng những cảm giác cao ngạo, tham đắm, mê say, đắm đuối, chìm đắm trong dục, ái, tham với những thân xác, cảm giác này thì đời sống này mãi mãi tiếp diễn và tiếp diễn trong dục, tham, ái, sân, si, vô minh và bản ngã. Đau đớn và xót thương cho chúng ta vì sự vô minh tăm tối, sự nhận lầm, chấp lầm, hiểu lầm, nghĩ tưởng lầm, biết lầm, bấu víu, chấp thủ vào trong thây thúi nà. Ở trong nhà máy sản xuất phân, trong công ty xuất nhập nguồn nước tiểu này mà vênh váo, kiêu căng, hách dịch, cao ngạo, khinh thường thiên hạ. Thật đau khổ cho cái bản ngã, đau khổ cho tham, dục, ái trong sự mê muội, si ám này. Đau khổ trong đời sống không biết lối ra, không đường ra, không lối ra mà chỉ lòng vòng, lẩn quẩn trong các cảm giác, nghĩ tưởng đó. Ai hoan hỷ đối với những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ nội tâm, rõ biết nhận thức thì người ấy hoan hỷ đối với khổ, ai hoan hỷ khổ ta nói người ấy không thoát khỏi khổ đau. Ai không hoan hỷ sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì người ấy không hoan hỷ khổ, người không hoan hỷ không ưa thích khổ, ta nói người ấy giải thoát khỏi khổ đau.

Phần 2:

Chúng ta đang đi trên con đường nhàm chán đối với năm uẩn, đang thực tập sự không tham muốn để ly tham đối với thân xác, cảm giác nghĩ tưởng, nhận thực này để đến chỗ giải thoát khỏi năm uẩn. Phải thực tập và cảm nhận một cách cực kì sâu sắc, thẩm thấu, thông đạt trí huệ này của đức Phật. Hãy nhớ rằng năm thủ uẩn này là một cái gánh hết sức là nặng. Chúng ta hãy tưởng tượng hình ảnh một người đưa đòn gánh lên đôi vai. Đôi vai quằn xuống phía trước 100 kí, phía sau cũng là 100 kí và người này phải gánh bảy chục năm. Từ khi sanh ra, lớn lên, nuôi dưỡng, bắt đầu bảo vệ, vun vén, tưới tẩm, chăm sóc, o bế, nâng niu thì người này đã sập vào bẫy sập mang tên sắc thủ uẩn, trong suy nghĩ, trong cảm giác, trong nghĩ ngợi, nhận thức, người này cho rằng đây là tôi, đây là của tôi, vì thế năm thủ uẩn đó là gánh nặng thứ nhất. Dù đi đâu cũng vác gánh đó theo, ăn không được chút là giận; ngủ không được là phiền; mặc mà không được một chút là hờn; ai nói gì chê bai một chút là sân si, cau có lên; nhìn người ta mà hơn mình thì ganh tỵ, đố kị. Rồi phải trao chuốt cho nó, cho nó ăn, uống cho nó mặc, ngủ. Nói về nơi ở thôi, 20 tuổi mới đi làm có tiền, mà một căn nhà ở nước ngoài là 30 năm mới trả tiền xong, thì khi trả hết coi như xong hết một đời rồi. Ta thấy rằng một cái ở của sắc thủ uẩn này thôi mà phải làm trâu cày cho nó ba mươi năm, còn chưa nói đến ăn, mặc, xe. như thế có đúng là gánh nặng không? Cứ lo lắng hoài, tìm kiếm hoài, suy nghĩ đủ cách, toan tính để gánh cái gánh này. Mà đâu phải gánh cái gánh này yên mãi được đâu. Một hôm nó nặng quá, ta trợt chân, đạp trúng cái gì đó và sụp xuống, té chảy máu, u đầu sứt trán rồi đứng dậy gánh tiếp chứ đâu có buông, nó là sắc thủ uẩn, mà thủ là không bao giờ buông. Sau đó lọm khọm bò lên, vác lên vai gánh nặng này, đi tiếp rồi lại mệt, xỉu té xuống và đỡ đỡ chút rồi gánh tiếp. Mà đâu phải như vậy là yên, mỗi lần sụm xuống là đi gặp bác sĩ, vào bệnh viện tỉnh ngộ được một chút trong những ngày nằm viện. Sau khi hết bệnh trở về cũng tiếp tục gánh cơm, áo, gạo, tiền, vợ chồng, con cái…cứ gánh tiếp, bảo thủ tiếp và chấp thủ tiếp như vậy. Rồi cho đến một ngày gánh này hoàn toàn sụp đổ, lúc ấy nằm xuống thì thào, thở những hơi thở khó khăn, đặt gánh nặng xuống. Người mang gánh nặng là mang tham ái đưa đến tái sanh, cùng với sự vui thích, sự khao khát, sự ham muốn, sự ưa thích ở bên trong đi tìm chỗ này, chỗ kia. Gánh nặng đó một khi ngã đổ xuống thì người này tiếc nuối, hối hận, đau khổ, nước mắt đầm đìa,mình thấy những người chết nhiều khi có nước mắt chảy còn đọng lại trên khóe. Họ suốt đời lo cho nó ăn, mặc, ở, mà đó chỉ mới vật chất; còn bên trong là còn lo cho nó dục, ái, tham, đáp ứng những nhu cầu mà nó ham muốn, khao khát, tìm kiếm. Một cái khổ là nó không bao giờ thỏa mãn, nó đòi, nó khao khát thì cho nó, xong rồi nó khát nữa, lại cho nữa, cứ như vậy hoài, không bao giờ thỏa mãn, mình thì cứ làm đầy tớ mà phục vụ, phục dịch, cung phụng cho nó. Suốt cuộc đời mình chỉ làm bấy nhiêu đó, nếu được thì vui, thích, khoái, không được thì nổi sân lên và thù hận, đó là một sự si ám của vô minh và đời sống chúng ta là cứ lòng vòng như vậy. Rồi những cảm giác bên trong, những hình bóng, những suy nghĩ cứ thúc giục, đòi hỏi, sân hận. Bây giờ dù đầu có bạc trắng, tuổi đã cao, khi ngồi lại thì trong suy nghĩ vẫn mang gánh nặng, còn lo cho con, lo cho cháu, lo về nhà cửa, như vậy năm uẩn là gánh nặng. Sắc này-cái thân xác mấy chục năm này là gánh nặng thứ nhất. Những cảm giác khó khăn, phiền bực, tham, sân, si trong lòng là gánh nặng thứ hai. Những hình bóng về con, cháu, nhà cửa, những người thân thương là gánh nặng thứ ba. Những suy nghĩ của mình làm cho mình chùng xuống, suy nghĩ tới là muốn bệnh là gánh nặng thứ tư, và nhận thức rõ biết, chỉ biết những cái lòng vòng trong đó mà không đi ra ngoài được là gánh nặng thứ năm. Năm uẩn là gánh nặng chính là như vậy.

“Kẻ gánh nặng là người

Mang lấy gánh nặng này

Chính là khổ ở đời,

Còn đặt gánh nặng xuống

Tức là vui, không khổ,

Đặt gánh nặng xuống xong

Không mang thêm gánh khác.

Nếu nhổ khát ái lên

Tận cùng đến gốc rễ

Không còn đói và khát

Được giải thoát, tịnh lạc.”

Như thế nào được gọi là đặt gánh nặng xuống? Đó là sự ly tham, không còn tham ái đối với năm uẩn nữa, sự chấm dứt ái, lòng ưa, lòng muốn, lòng thích, lòng khao, lòng khát đối với năm uẩn, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, là sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, không chấp thủ, đây gọi là đặt gánh nặng xuống. Cho nên ngày đêm mình tu quán bất tịnh, quán chín giai đoạn một tử thi, quán ba mươi hai thể trược, quán Khổ Thánh đế, để làm gì? Đó là để ly tham, chấm dứt sự ưa thích ở trong năm uẩn này một cách hoàn toàn, từ bỏ, xả ly, giải thoát, không chấp thủ. Mình cứ làm như vậy hoài cho đến lúc thành công, đó là đặt gánh nặng xuống xong, không mang thêm gánh khác, không còn đói và khát, không còn đói sắc, không còn thèm thuồng những cảm giác, không còn ưa thích, ham muốn những hình bóng, những suy nghĩ nữa. Thấy được bản chất của nó như nãy giờ đã nó là vô thường, trống rỗng, khổ, vô ngã, không đáng mơ, không đáng thích, không đáng khen, không đáng muốn, không đáng phải đi tìm kiếm nó nữa.

Thật sự tu trên con đường này là khó chứ không phải dễ, chính vì khó cho nên mới thất truyền 2000 năm, chứ nếu dễ thì sẽ không thất truyền. Nhưng vấn đề ở đây không phải khó dễ, mà là đúng hay không đúng. Nếu đúng thì mình bất chấp khó dễ, vì khi làm nó sẽ có kết quả. Còn nếu không đúng, dù cho có khó thiệt khó đi nữa thì khi làm nó có kết quả không? Cho nên mình phải hân hoan, mình phải luôn luôn trú trong hỷ lạc. Thí dụ, bây giờ mình được thầy hay sư huynh, sư đệ chỉ mình rằng trong việc đó mình còn bản ngã, nếu theo thông thường là mình buồn,nhưng nếu mình biết tu thì khi gặp như thế mình sẽ vui, vì đó là thầy chỉ cho mình. Bây giờ mình đi làm ăn mà có người chỉ cho mình bí quyết để làm thành công thì mình có cảm ơn không? Vậy thì sao lúc mình tu, người ta chỉ cho mình thành công mình lại buồn. Có phải mình ngu không? Khi mình biết tác ý thì mình tu mới tiến, tu mới thành, tu mới có kết quả. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Nếu tác ý của mình mà nó lệch, hoặc theo hướng tà, hoặc bị thoái đọa thì mình dừng lại. Điều này nhiều lắm, chính trong tự thân của mình con cũng nhìn thấy. Mình bằng lòng, mình thỏa mãn với những thứ mình đang có được thì những người hướng dẫn mình sẽ buồn lo, cũng như Đức Phật có nói “Này các Tỷ-kheo, Ta không tán thán với những người đứng lại đối với thiện pháp”, còn nếu như mình đi đến lậu tận thì được.

Cho nên chỗ này là chỗ khéo, có rất nhiều cái khéo trong sự tu này, nó khó mà nó đúng. Cũng như mình thấy, công việc của ông cơ trưởng máy bay và công việc của một người tài xế chạy Grab, chỉ cần biết chạy honda, lên đăng ký và chạy, do tính khó dễ của hai công việc là khác nhau, nên lương giữa họ cũng không giống nhau. Trong sự tu cũng vậy, kết quả càng lớn chừng nào thì đòi hỏi công sức của mình đánh đổi phải tương xứng. Hột xoàn dễ tìm không, tìm chỗ nào cũng thấy sỏi đá hết và Thánh pháp này nó còn hơn hột xoàn nữa. Thành ra điều quan trọng trong sự tu này là mình phải tác ý cung kính, quý trọng, hiếm có khó gặp là điều đầu tiên. Điều thứ hai là phải tác ý hân hoan, hỷ lạc, vui sướng, hạnh phúc. Điều thứ ba là phải tác ý kính thầy, trọng pháp. Thưa đại chúng, khi Minh Thành học pháp là Minh Thành bỏ tất cả địa vị của một người xuất gia, của một thầy trụ trì, của một giảng sư, của một pháp sư, một khi còn những địa vị đó là không học được. Nếu không đem tâm cung kính pháp hết mực, hết mực thì làm sao học. Đối với Minh Thành là chỉ thấy pháp chứ không thấy người, bất kể hình thái người đó là ai, mà điều quan trọng là thấy được Chánh pháp thì đó là mục tiêu, mục đích, chí hướng mà mình đang tìm cầu. Không thấy người mà chỉ thấy pháp thì mới thành công, chứ mà nhìn người đó hoài là mình sẽ không thể nhập pháp được. Như vậy, trời đất vũ trụ này, mình không thấy gì hết, chỉ thấy pháp thôi thì mình sẽ đắc pháp. Trong tất cả mọi trường hợp đối với nhân, vật, sự việc,.. thì mình chỉ nhìn thấy pháp trong đó thôi, chứ không thấy mấy cái khác. Mình bị la mình cũng thấy đó là pháp, mình được khen mình cũng thấy đó là pháp. Mình bị rầy, mình bị mắng nhiếc, chưởi rủa, bị hất hủi thì mình cũng thấy duy nhất trong đó là pháp chứ không thấy khen, không thấy chê, không thấy bị trách mắng, chưởi rủa. Đây là bí kíp võ công, chỉ thấy pháp thôi, không thấy người đó là già, trẻ, lớn, bé, tu sĩ, xuất gia, nam, đẹp, xấu, trắng, đen, mập, ốm, bệnh, khỏe, cao, thấp gì hết, mà chỉ thấy pháp thôi. Không thấy người, không thấy sự, không thấy vật, không thấy việc, chỉ thấy pháp. Thành ra mấy thầy phải thấy, đừng bám vô cái hình thức, đừng bám vô cái danh dự mà phải bám vô pháp. Luôn luôn tác ý khi buồn chán, tác ý hiện pháp lạc trú, hỷ lạc. Giống như mấy huynh đệ có nói hạnh phúc của mình là niềm hạnh phúc nhất trên thế giới này, phải tác ý như thế liên tục, hoài luôn rằng mình là người hạnh phúc nhất, may mắn nhất, phước báu nhất, công đức nhất, vĩ đại nhất, tuyệt với nhất, 2000 năm rồi mà bây giờ mình lại được sống trong Chánh pháp này. Phải tác ý cho nhiều lên để hỷ lạc sanh khởi, bất cứ lúc nào cũng trú trong hỷ lạc. Khi buồn chán thì phải trú vô hỷ lạc ngay lập tức không thôi mình rất dễ rơi rớt, lọt khỏi con đường tu này. Lúc trước mình có biết các sắc, thọ, tưởng, hành, thức không? Có thấy được tham, sân, si, bản ngã sanh khởi không, mình có thấy nó lật lọng không, có thấy nó ghê gớm, rùng rợn, khủng khiếp, kinh hải không? Bây giờ mình thấy được tức chúng là thấy được trí huệ rồi đó, đó là mình thấy được tự thân, tự tâm của mình rồi đó

Một người từ khi sanh ra đã mù không thấy đường suốt 47 năm, người mù đó chỉ ở một mình trong căn nhà, nên hôi hám, dơ dáy, bẩn thỉu, rác chồng chất. Bây giờ mắt người này được sáng ra, thì đầu tiên người này sẽ thấy rác, thấy dơ, thấy hôi, thấy thối. Nhưng thấy mới chỉ là thấy thôi, còn phải làm nữa, nhưng người thấy được thì nhất định sẽ dọn. Không thể nào thấy mà không dọn trừ khi một là người này điên loạn, thần kinh, không phân biệt được sạch dơ, hai người này bị mù nên không thấy. chứ nếu đây là một người tỉnh táo, minh mẫn, thấy đường, mắt sáng mà dơ, bẩn ở trong nhà mình, thì người này không dọn có được không? Điều đó không thể xảy ra. Cho nên, “Này các Tỷ-kheo, Ta nói phương pháp đoạn trừ lậu hoặc cho người thấy, cho người biết, không phải nói cho người không thấy không biết”(Bài kinh Tất cả lậu hoặc số 2 Trung Bộ Kinh). Như vậy, người thấy, người biết đó, dù sức ngươi này có yếu đi nữa nhưng chắc chắn sẽ dọn dẹp kể cả có một hay nhiều đống rác trong nhà. Điều này là sớm hay muộn tùy theo sự tinh tấn, nỗ lực, tinh cần của họ. Như vậy người bị mù 47 năm và bây giờ sáng được mắt lên thì mừng không, vui không, hạnh phúc không? Mỗi khi mình nhàm chán, buồn bã, thoái thất tâm hãy an trú vào trong hỷ lạc rằng mình được sáng mắt, thấy được thân tâm. Thứ hai, thấy và nhiếp phục được một phần nào đó, mình tác ý hỷ lạc. Tác ý chưởi xong phải cười, mắng xong phải cười, đánh xong phải cười, cười sung sướng lên, hôm này tác ý chưởi nó, mắng nó, đánh nó, diệt nó thật là đã. Ngày xưa mình bị nó diệt, bây giờ mình bắt đầu diệt nó, mình đánh nó, mình xử nó, mình đánh đuổi. Vậy mình thêm cái đó nữa đó là hỷ lạc thứ hai, mình chiến thắng được một chút thôi cũng là vui. Mình thấy lí thú lắm, nhiều khi chỉ một tin nhắn, một cuộc điện thoại, một cuộc nói chuyện, hay một cái gì nhỏ xíu thôi mà mình sanh khởi lên cái bản ngã, nổi sân lên mà mình tác ý được, cảm giác sân đó nó tan đi thì sau đó đi kinh hành mình thấy đã lắm, sung sướng lắm. Mình phải nhìn thấy được chiến thắng đó, đại chúng có đánh đuổi được và thấy cảm giác đó tan không? Khi ngồi trên bồ đoàn mình tưởng, mình quán ra là một lẽ, nhưng mà thật sự đánh phải xáp lá cà thì thú vị lắm. Lúc mà nó đang phừng phừng lên mà mình nhiếp phục được và nó tan hết thì ngay chỗ đó là hỷ lạc. Tu cái này vui lắm, mình mà có thực hành thì mình mới thấy nó thú vị, thấy được cảm thọ mình từ từ tan ra. Nhiều khi Minh Thành thấy sung sướng lắm, ở trong thất đi kinh hành rất là tuyệt vời. Vì mình hung dữ cho nên là mình mới tu nhiều hơn, nhìn ở ngoài thấy khuôn mặt như thế, đầu cuối xuống, mắt lim dim như vậy chứ bên trong hung dữ lắm, dữ dằn lắm. Mình phải diệt cái hung dữ bên trong đó. Nhiều khi, Minh Thành cũng đang sân lắm, mà vẫn nhắn tin “Dạ, con thưa chú ạ”, lúc ấy bên trong rất đã và sung sướng, vì đang sân mà vẫn nói chuyện dạ thưa, xưng “con” đàng hoàn, chứ gặp như hồi đó là chết. Mình thấy rằng như vậy là mình giải tỏa, giải thoát, giải phóng cảm giác dục, tham, ái, sân, si, bản ngã, hay lắm! Như hôm nhập thất Minh Thành quỳ lạy thầy Pháp An, thầy khóc ròng, chứ nếu không tu cái này, không nhiếp phục bản ngã thì khi đi xuất gia, con đâu có lạy như vậy. Mình phải hỷ lạc dù trong chiến thắng nhỏ thôi, nhưng mình lấy đó làm động lực, làm sự khích lệ và tưới tẩm, không thôi là mình cứ tu hoài mà vẫn thấy rác hoài. Bình thường ai tu dòng pháp này thì ban đầu dễ bị sốc lắm. Vì mình thấy khủng khiếp quá cái nội tâm này và có lúc nghĩ là chắc mình không làm nổi đâu, những suy nghĩ đó rất nguy hiểm, nếu có suy nghĩ đó thì sẽ xuống núi hoặc là chỉ tu cho có hình thức thôi. Tức là đến giờ công phu, nghe pháp mình vẫn lên ngồi cho có như ông địa vậy, ai nói gì cũng gật gật, rồi kêu tới cũng nói vài câu cho có, giống như có xác mà không có hồn, không thấy hoan hỷ, không thấy hạnh phúc, không thấy hứng thú, thú vị, sung sướng. Hãy nhớ rằng nếu tu theo dòng pháp này mà không thấy hỷ lạc là tu không được, sớm muộn gì cũng rơi rớt. Cho nên con nhìn thấy mấy chú nào mà mặt mày bí xị, là con phải để ý, chăm sóc. Tại vì một khi chùng xuống, không an trú trong hỷ lạc là sẽ rơi rớt. Cho nên, hỷ lạc không phải một tháng, hai tháng mà phải an trú hỷ lạc luôn mấy năm, lúc nào nghe pháp mình cũng phải hỷ lạc, lúc nào mình tu mình cũng thấy hạnh phúc hết. Khi chiến đấu cũng có những lúc mình cảm thấy xấu hổ, cảm thấy nhức nhối, tức tối, nói chung có nhiều cung bậc của cảm xúc đầy kịch tính trong sự tu này. Thấy ngồi yên, thấy ở một mình, thấy ngồi trên bồ đoàn như thế nhưng trong đó là những trận chiến ác liệt chứ không phải ngồi yên là ngồi yên. Thấy ở ngoài tươi cười nhưng bên trong là những trận chiến, như câu kinh Pháp Cú:

“Dầu tại bãi chiến trường

Thắng ngàn ngàn quân địch

Tự thắng mình tốt hơn

Thật chiến thắng tối thượng.”

Thắng được chính mình là chiến công oanh liệt nhất, mà thắng chính mình là thắng những cảm giác thúc giục, hướng ngoại, những cảm giác bực bội, bứt rứt, bức bối, những cảm giác giận lên, tức lên, những cảm giác ta đây, bản ngã, hơn thua. Như vậy, những trận thắng nhỏ nhỏ mình phải tác ý dài dài để mình vui lên. Nhớ “Tất cả các pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, mà nếu không có tác ý thì lấy gì pháp sanh khởi. Lên núi tu, nghe chim hót, thấy trúc lay tác ý hạnh phúc quá, vui sướng quá giờ này được ở đây. Mọi bữa trước khi vào thời pháp thoại, Minh Thành ngồi đó, chim hót, trầm hương quyện tỏa, không gian mát mẻ, yên tịnh, thiêng liêng, đại chúng trang nghiêm, khi đó con ngồi con không muốn nói gì nữa. Muốn để cho nó lâu để cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian, cảm nhận sự trang nghiêm, thanh tịnh của đại chúng. Những cảm giác đó nuôi dưỡng tâm tu của mình, nếu không có cảm giác đó là xong luôn. Mình tu con đương này là diệt mấy cái cấu nhiễm, nhất định mình thấy được những cấu nhiễm đó mới diệt được, chứ không thấy thì sao mà diệt. Còn bây giờ mình thấy mà mình sợ cấu nhiễm luôn thì phải làm sao? Có một thí dụ là anh chàng đó vẽ ra hình con ma, anh ấy gắng vẽ ra sao cho nó dữ dằn, anh ấy vẽ xong rồi ảnh tự sợ cái hình mà ảnh vẽ ra. Cũng giống như có người sợ ma mà lại thích coi phim ma, coi xong rồi khi tối đến là trùm đầu cổ, không dám đi đâu hết. Cũng vậy trong sự tu này mình phải biết chế tác hỷ lạc, phải an trú trong sơ thiền chừng nào là tốt chừng đó, nhưng mà phải luôn tinh cần, tinh tấn và nỗ lực. Hỷ để mà tấn, chứ không phải hỷ mà để thỏa mãn, hài lòng. Nếu hỷ mà là hoan hỷ quá, thích thú quá trong hiện tại là ở đó luôn không có tiến bộ. Mặt khác, tiến hoài mà không có hỷ, đến lúc căng quá là mình dễ đứt. Cho nên cái hỷ để nuôi cái tiến và cái tiến đặt nền tảng trên hoan hỷ. Cho nên tu rất là thú vị, chính vì vậy lâu lâu phải lên núi tu, còn ở nhà một thời gian là mất luôn cái hỷ mà cái tấn cũng không còn. Tiến tới cũng không tiến, mà hỷ cũng không có, cứ trơ trơ, cứ xoay quanh chồng con kêu réo, rồi đến tiền, rồi đến đủ thiếu, rồi dịch bệnh nên cứ lo, cứ sợ. Cho nên điều quan trọng nhất của đại chúng là duy trì thực tập, mình phải nuôi cảm giác hỷ lạc. Mỗi khi mình nghe kinh thì mình thấy trí mình sáng ra, hoặc khi quán được vấn đề gì thì mình thấy hỷ lạc sanh khởi. Ngày hôm nay mình thấy được bộ xương rõ hơn hôm trước, cái tưởng của mình khi thiền quán về 32 thể trược không còn lờ mờ nữa mà nó hiện rõ hơn trước. Hoặc là qua dịch bệnh này, mình càng thấy điều này Đức Phật nói quá đúng, quá hay, quá tuyệt với, pháp này thật tối thượng. Phải luôn tác ý đây là pháp tối thượng, cung kính pháp, đảnh lễ pháp, khát khao pháp, khát ngưỡng pháp. Trong những thời nghe pháp, phải luôn tác ý, không được để hôn trầm, phải đánh cho hôn trầm tan ra. Phải say sưa với pháp, dù cho có nghe bảy, tám tiếng đồng hồ luôn cũng phải tỉnh táo, minh mẫn, sáng suốt mới được. Mình suy nghĩ xem Cô như thế nào, gần xỉu luôn, nhưng vẫn bắt cảm thọ ngồi để làm ra đại tạng kinh như thế này. Một thân thể bệnh hoạn như thế mà nhiếp phục cảm thọ, đi làm 8-10 tiếng rồi, mà đi về đến khuya vẫn phải làm đến 1-2 giờ đêm. Mà ngồi bình thường như thế này là không làm nỗi, muốn xỉu, mà nhiếp phục cảm thọ, bắt phải làm kinh là phải làm. Còn mình giờ ngồi nghe pháp mà mình nghe không nỗi, mình thấy mình xấu hổ không? Phải nhiếp phục và tìm nhiều cách tác ý để sao cho nó thành công thôi tức là mình làm chủ cảm thọ của mình, dầu cho nó mệt mỏi cũng bắt nó phải làm.

Cũng như Minh Thành uống thuốc ho, khi ấy hết ho, nhưng tác dụng phụ là buồn ngủ. Nhưng không được cho phép mình mệt quá nên thôi mình ngủ một bữa, bữa khác sẽ nhiếp phục. Nhất định không cho ngủ và Như lý tác ý đi thiền hành một tiếng rưỡi đồng hồ xem còn ngủ nỗi không? Phải nhiếp phục như vậy.

./.