Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Năm Triền Cái 5- Tham Sân Si Là Gốc Của Tội Ác

2026-03-03 00:52:12
Năm Triền Cái 5

Tham Sân Si Là Gốc Tội Ác

THÍCH MINH THÀNH

 Này các Tỳ-kheo, có ba căn bản bất thiện này. Thế nào là ba? Tham là căn bản bất thiện, sân là căn bản bất thiện, si là căn bản bất thiện.

Cái gì là tham sân si, này các Tỳ-kheo, cái ấy bất thiện. Với ai có lòng tham sân si, bị tham sân si chinh phục, tâm không được tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: "Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh." Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất thiện pháp này sanh từ tham sân si, duyên khởi từ tham sân si, tập khởi từ tham sân si, khởi lên nơi người ấy.

 Như vậy, này các Tỳ-kheo, người này được gọi là người nói phi thời, nói không thực, nói không trúng đích, nói phi pháp, nói phi luật. Vì sao người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là người nói phi thời, nói không thực, nói không trúng đích, nói phi pháp, nói phi luật? Như vầy là vì người này, này các Tỳ-kheo, đã vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: "Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh." Khi được đối chất với sự thật, người ấy phủ nhận, không có chấp nhận; khi được đối chất với sự không thật, người ấy không có nhiệt tình thoát mở ra ngoài, nói rằng: "Ðây là không chân, đây là không thực". Cho nên, người như vậy được gọi là người nói phi thời, nói không thực, nói không trúng đích, nói phi pháp, nói phi luật. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, bị các ác bất thiện pháp do tham sanh nhiếp phục, tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú.

Ví như này các Tỳ-kheo, cây sàla hay cây dhava hay cây phandana bị phá hoại, bị bao trùm bởi ba loại tầm gởi, đi đến tổn hại, đi đến bất hạnh, đi đến tổn hại, và bất hạnh. 

Những pháp này, này các Tỳ-kheo, là ba căn bản bất thiện (Tăng Chi Bộ kinh, Chương III - Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, 69.- Các Căn Bản Bất Thiện).

Nghe nói tham sân si hoài có khi nhàm chán rồi xem thường, nhưng khi học và thực tập thì mới thấy rằng 3 từ này hết sức quan trọng trong sự tu tập. Người thật sự thấy được tham sân si là thánh quả Tu-đà-hoàn, tức là chỉ có bậc chánh tri kiến mới thấy hết được hoạt động của tham sân si nhưng không phải thấy toàn diện mà bắt đầu thấy chính xác. Khi Minh Thành phát hiện ra rồi thực tập là bị sốc mạnh, không ngờ rằng sự thành tựu trí huệ không phải là một cái gì cao siêu huyền diệu hay là việc nói chuyện quá khứ vị lai. Người thành tựu trí huệ đúng theo lời Đức Phật nói trong tạng kinh Nikāya là người thấy được sự tập khởi của tham sân si và biết được sự đoạn diệt của tham sân si.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ tập". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, 1.I. Ðịnh)

Rõ biết sự tập khởi của khổ đau là Tập Đế, chính là điều nhận ra được tham sân si. Thành ra đây là thánh trí thứ 2 trong 4 thánh trí của Tứ Đế: Khổ Trí, Tập Trí, Diệt Trí, Đạo Trí. Tuy rằng cứ nói tham sân si, diệt tham sân si nhưng thật sự mình chưa thấy rõ nó, nếu có thấy thì chỉ thấy theo cái thấy bình thường của phàm phu. Ví dụ mình thấy người đó cái gì cũng xin, cái gì cũng muốn là tham thì cái này bình thường, cái này không tu cũng biết. Như vậy sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và đa văn thánh đệ tử để nhận diện được tham sân si là ở chỗ nào? Đây là chỗ hết sức quan trọng, đó là việc chúng ta sẽ thường trực nhìn lại thân thể, thường trực nhìn lại cảm giác, thường trực nhìn lại nội tâm của mình và thường trực xem các pháp diễn ra trong đó như thế nào. Đây cũng chính là Tứ Niệm xứ, tức là luôn nhìn lại cảm giác, thân thể, những suy tư của mình. Lúc đó khi dục tham sanh khởi lên mình phát hiện ngay nó sanh khởi, nó hoạt động, nó xâm chiếm, áp đảo nội tâm mình như thế nào. Còn nếu không có trí huệ để quán thọ trên các thọ, để nhìn cảm giác thì khi nó khởi lên là mình nhập cuộc theo nó, nó hoàn toàn xâm chiếm, điều khiển mình trọn vẹn.

Mình sẽ nói về dục tham của vô văn phàm phu rồi sẽ nói về sự nhận diện của người đa văn thánh đệ tử tu học khác nhau như thế nào. Những vụ án gần đây hết sức khủng khiếp, một ông già hơn 60 tuổi mà xâm hại một đứa bé mới 11 tháng tuổi. Có những trường hợp ông cụ 80 tuổi cũng đi xâm hại những đứa nhỏ chưa tới 1 năm tuổi. Lúc đó nhìn vào bằng trí năm uẩn sẽ thấy được dục thọ xâm chiếm toàn bộ nội tâm người này, cái tưởng trong nội tâm hoàn toàn tưởng về những hình ảnh đó, cái hành sẽ suy nghĩ xung quanh những cái đó, cái thức chỉ biết bao nhiêu đó. Toàn bộ sắc uẩn bị chi phối bởi dục, như vậy lúc đó sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều là dục, cả 5 uẩn bị dục trùm phủ lên, nó hoàn toàn khống chế chi phối nên người này hoàn toàn không biết gì. Nếu lúc đó có ai nhắc nhở, khiển trách, la rầy thì người đó có thể thoát ra. Còn nếu không có ai nhắc thì người này toàn bộ nội tâm năm uẩn bị xâm chiếm bởi dục nên người này không còn biết đạo đức, nhân nghĩa, lúc đó hoàn toàn là do dục điều khiển.

Mở rộng ra nữa là sân hận, chỉ vì tiếng khen hoặc bị chê khi hát karaoke thì đâm nhau chết. Lúc đó ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều sân hận, 5 uẩn người này bị xâm chiếm bởi sự bực tức, sân hận, không còn biết gì nữa, chỉ làm sao để thỏa mãn sự sức giận. Bên trong nội tâm là sự thúc giục làm việc đó, bị thúc giục bởi sự nóng bức, thù hận, phải thực hiện hành vi trả đũa cho bằng được. Sau đó người này bị tù tội thì có hối hận cũng muộn.

Còn si là những người sử dụng chất kích thích, hay thậm chí có người uống rượu cũng bị mê sảng, nhũn não. Rượu xâm nhập vào não và người này hoàn toàn không nhận thức được gì nữa, thực hiện hành vi giết mẹ, giết chị, hoặc đi tìm để giết thêm đứa cháu. Khủng khiếp như vậy! Lúc đó cái si hoàn toàn xâm chiếm đầu óc, sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều si. Cả năm thứ đánh vào cùng lúc thì làm sao mình thoát ra nổi? Thật sự là kinh khiếp! Cái cảm giác lúc đó chỉ thuần túy là cảm giác của si ảo, ảo giác, nhìn thấy người kia muốn hại mình, muốn giết mình, những cái tưởng là hiện ra hình bóng người ta giết mình, đánh mình, suy nghĩ những điều đó, cái thức chỉ biết bao nhiêu đó. Nên toàn bộ năm uẩn là sự si ảo, si cuồng, si dại nó xâm chiếm toàn bộ thân tâm của người đó. Như vậy là nó gây ra những vụ án kinh thiên động địa, nhưng những người đó không biết đó chỉ là cảm giác, tưởng, hành, thức mà người đó chỉ biết thực hiện theo những cảm giác của dục tham, sân hận và si mê. Hiện nay những vấn đề này trong xã hội diễn ra rất nhiều và rùng rợn. Cho nên mình mới thấy rằng giá trị những lời nói của Đức Phật cách đây 3000 năm tham sân si là cội gốc của bất thiện, là cội gốc của ác pháp là trường tồn, sống mãi đến bây giờ và sau này, không thể khác được và nó đưa tất cả chúng sanh đi xuống vực sâu, nó chôn vùi, nó hủy hoại tất cả tình nghĩa vợ chồng, anh em, bạn bè, thầy trò, chủ tớ. Một khi nó xâm nhập vào nội tâm như kinh nói "với ai bị tham sân si chinh phục, tâm không được tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: "Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh". Như vậy, rất nhiều ác bất thiện pháp này sanh khởi từ tham sân si, duyên khỏi từ tham sân si, tập khởi từ tham sân si, khởi lên nơi người ấy.

Nó tập hợp rồi khởi lên gọi là Tập Đế, rồi người này chối tội, bảo không có làm thì người nói phi thời, nói không thực, nói không trúng đích, nói phi pháp, nói phi luật. Khi được đối chất với sự thật, người ấy phủ nhận, không có chấp nhận; khi được đối chất với sự không thật, người ấy không có nhiệt tình thoát mở ra ngoài. Thoát mở ra ngoài tức là thừa nhận, chấp nhận sự thật. Tông xe người ta rồi trốn, giết người rồi trốn, cuối cùng cũng bị bắt ra ánh sáng. Đó là sự khủng khiếp.

Này các Tỳ-kheo, bị các ác bất thiện pháp do tham sanh nhiếp phục, tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú.

Chữ Thú tức là thú hướng, là những con đường xấu ác. Ngay hiện tại là người đó đã sống với sự tổn não, tức là bị tù tội, bị trả thù. Sự ưu não, nhiệt não tức là sự nóng bức trong thân tâm.

Minh Thành sẽ nói mức trung bình của tham sân si để mọi người nhìn thấy được nó. Bây giờ đa văn thánh đệ tử khác biệt với vô văn phàm phu ở chỗ luôn nhìn lại cảm giác, luôn xem lại những nghĩ tưởng trong nội tâm để kiểm soát nó thường trực. Cho nên chánh niệm ở chỗ sâu sắc, ngoài chỗ oai nghi biết đi đứng ngồi nằm thì chánh niệm thâm sâu trong phần Thiền Định của Tăng Chi Bộ kinh là thọ khởi lên thì mình biết, tưởng khởi lên mình biết, nó an trú và chấm dứt như thế nào là mình biết. Đó gọi là chánh niệm tỉnh giác thâm sâu trong Tăng Chi Bộ kinh đã nói. Chỗ mà các bậc hiền thánh, những bậc trí huệ đa văn thánh đệ tử khen ngợi Đức Phật là Đức Phật luôn luôn không lúc nào không biết thọ tập khởi lên như thế nào, thọ an trú như thế nào và thọ chấm dứt như thế nào, tưởng sanh khởi, an trú và chấm dứt như thế nào thì Đức Phật hoàn toàn biết, liên tục biết, không lúc nào không biết. Đây là chỗ cực kì thâm sâu của thiền quán, thiền định, chỉ và quán. Người ta nói hôm nay mời thầy đi tụng ở nhà con, người này đi đến rước thầy bằng xe máy cũ kĩ, hôm sau đám khác mời thì rước bằng xe đời mới, đắt tiền. Khi mình ngồi lên 2 chiếc xe thì cái thọ của mình như thế nào? Nếu nói cảm giác bình thường là sai vì mình không thiền quán nên không thấy rõ nó, không thể bình thường được, mình không quán thọ trên các thọ nên mình không thấy chứ nó không thể bình thường. Cái thọ lúc đó là thọ lạc, cái tưởng lúc đó là tưởng tùm lum, cái hành sẽ nói "phải như có chiếc này đi tới đi lui", nó chỉ nói như vậy nhưng để mình đọc được nó là cả một khối trí huệ, mình phải đọc được cái tâm của mình. Cho nên ngũ uẩn là đại tạng kinh sống, những cảm giác, nghĩ tưởng của mình là đại tạng kinh sống. Nếu mình đọc được điều này thì rất tuyệt diệu. Còn cảm giác kia là khổ thọ, khó chịu. Lạc thọ là dễ chịu, thậm chí là thích thú, khoan khoái. Vậy thì dục, ái, tham đều có mặt. Đi xe đời mới êm ái, rồi qua xe kia ngồi mà kêu ầm ầm, ghế ngồi xấu xí thì lúc đó cảm thọ ra sao? Đây là chỗ sâu sắc, mình phải nhìn sâu vào trong cảm giác. Bây giờ đi vào sự vi tế của cảm thọ, có người điện thoại nói muốn gặp thầy. Lại gặp mình là một người đẹp, từ trẻ tới giờ chưa từng gặp người đẹp, giàu, rất khả ái, khả ý, khả lạc liên hệ đến dục hấp dẫn như vầy, gặp đúng người đúng gu của mình thì lúc đó phải nhìn xem cảm giác như thế nào, cái tưởng, suy nghĩ trong nội tâm như thế nào, dục ái tham có khởi lên không. Cái dục thúc giục bên trong sự thích thú muốn nói chuyện, khi hỏi thầy có thời gian nói chuyện không thì nhanh chóng trả lời có, "cứ ngồi nói chuyện không sao hết". Đó là ái, là thích thú, muốn nói chuyện dài lâu là tham, cái này là những cái sâu sắc mà mình phải nhìn thấy được. Có thể mọi người nghĩ có gì đâu mà Minh Thành nói kĩ, không phải vậy, như khi nấu nồi nước bắt đầu sôi lên thì trào lên những bọt bong bóng, rồi từ từ mới sôi lên 70-90°C mới tràn ra. Khi nãy mình nói những cái của phàm phu là đã tràn ra như vầy, còn đa văn thánh đệ tử là mới chừng 30°C là bắt đầu đã thấy bọt nổi lên. Khi bọt nổi lên là mình phải thấy, phải biết do mình có sự quán thọ trên thọ, nếu không thường trực nhìn cảm giác thì lúc đó hoàn toàn không thể biết được. Khi mọi người đã thấy được thì thánh trí bắt đầu tỏa sáng, bắt đầu thể nhập trí huệ của bậc thánh. Mọi người nghĩ tu mà bắt bẻ kĩ quá thì không phải vậy, mà đó là sự vận hành đương nhiên của ngũ uẩn. Nếu người đó nghèo khó khốn khổ xin ăn, vào chùa xin gạo xin tiền thì mình có muốn kêu người ta ngồi lâu thêm không? Đó là sân khởi lên, cảm giác khó chịu bực bội khởi lên. Mình phải thấy phải biết, đó là sự vận hành của các cảm thọ, cảm giác.

Cảm giác si là khi đang ngồi học mà tâm thụ động, uể oải, con mắt lờ đờ rồi mình cũng cho phép mắt nhắm lại rồi gục ngã, nằm dài trên bàn mà ngủ. Đó là cảm giác của si mê, hôn trầm, nó hoàn toàn xâm chiếm năm uẩn mà mình hoàn toàn không biết nên mình là người thất bại, đại bại. Thậm chí không thể dùng từ chiến bại vì mình có chiến đấu đâu mà bại, mình hoàn toàn gục ngã trước cảm giác của si, mình không có đánh đuổi nó, không chiến đấu chống lại nó. Sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình đều si, toàn bộ năm uẩn lúc đó bị si mê xâm chiếm tất cả thân tâm. Đây là ví dụ rất rõ, rất là thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu). Tham sân si tràn ngập hết mọi thứ chứ không phải như mình nghĩ "bây giờ tôi tu là tham sân si không còn nữa, cũng bớt nhiều lắm rồi". Một sư đệ, một chú tiểu, hay chú tập sự xuất gia làm sai là mình rầy la thì lúc đó nhìn lại cái thọ trong nội tâm có sân không. Sự nhắc nhở, la rầy là bằng từ tâm hay bằng bản ngã, cái sân sâu thẳm trong đó. Đây là thậm thâm, cực thậm thâm, nan thông đạt, cực nan thông đạt. Thành ra khi nhắc nhở, hướng dẫn người ta thì xem lại lúc đó cảm giác của mình có sân không, có bản ngã, có ta đây không, có xem mình là người trên trước còn người kia là thấp hơn không. Nếu có những cái này thì những cái mình dạy họ đều là bất thiện pháp. Ghê gớm như vậy đó! Sâu xa như vậy đó! Vì không nhìn lại cảm giác thì làm sao mình biết mình đang có cảm thọ gì, lúc đó mình chỉ biết "tôi dạy từ tâm, tôi thương tôi mới nói, tôi thương tôi mới dạy, tôi thương tôi mới chỉ", thật ra thương cũng có nhưng chỉ một chút, còn bản ngã vẫn y nguyên, cái tôi to tướng, cái lớn-nhỏ chình ình. Như thế không phải là từ tâm, chính vì vậy mà chỗ này mình mới thấy sự đặc biệt tuyệt vời của tạng kinh Nikāya là Phật không nói phải đi độ người này người nọ hay làm này làm kia mà cái cốt lõi của thánh điển là quay trở lại để tẩy rửa, tẩy trừ, đoạn diệt, đoạn tận hết tất cả tham sân si và bản ngã. Đây là toàn bộ cái lõi, là trái tim của tạng kinh. Khi mình đoạn tận càng nhiều thì suy nghĩ, lời nói, hành động càng lợi mình lợi người. Phải lợi mình trước thì mới lợi người được, mình còn đầy rẫy tham sân si, bản ngã thì lợi cho ai? Cho nên Đức Phật nói:

Này các Tỳ-kheo một người đang bị trói mà lại đi mở trói cho người khác thì sự kiện này không thể xảy ra. Một người còn vô minh, còn dục si ái, còn chấp ngã, chấp thủ đầy rẫy mà có thể làm cho người khác được minh, được trí huệ, giải thoát thì sự kiện này không thể xảy ra.

Bây giờ mình không lo quay trở lại nhìn tham sân si, bản ngã để mình triệt hạ, diệt tận nó mà bây giờ lại ra ngoài hướng dẫn, dạy dỗ người ta, rồi lo tổ chức làm này nọ hoài thì cuối cùng càng ngày càng làm thì không khéo tham sân si càng phát triển thêm. Chính cái này là "sư phụ ơi, con nản quá, con mệt quá". Vì cái gốc không lo giải quyết, gốc rễ chưa ăn sâu, bám chắc, gió mạnh thì cái cây ốm yếu, mới bắt đầu nảy mầm thì làm sao chịu được phong ba bão táp? Trong khi nội tâm thối nát đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối, các loài ruồi lằng bu đậu thì làm sao mình làm cho người khác thanh tịnh? Đây là chỗ đau lòng, xót xa. Những cái thật nhỏ như vậy thôi để mọi người thấy, đi ngoài nắng gắt, mới về nhà là đi thẳng vào toa lét để tắm. Khi mình dội nước thì mình có dội chậm chậm, từ từ hay xối ào ào cho mát? Trong cái xối nước đó, trong cảm giác đó có dục, thúc giục mình xối lẹ nhanh, mình khoang khoái là ái, ham thích là xối cho nhanh lên để cho mát. Thật sự cái thọ rất ghê gớm, cho nên cái ái nếu nhìn rộng thì nó tràn ngập, nó xâm chiếm toàn bộ tất cả trong sinh hoạt hằng ngày của mình. Đây là sự khủng khiếp.

Nếu mình quán cảm thọ tới sâu sắc thì sẽ phát giác ra dục lậu, cái này là cực sâu. Phát giác ra rồi sẽ thấy nó khủng khiếp. Cái này đòi hỏi phải có sự thiền định trầm mặc, yên tịnh mới nhìn sâu vào được. Đó giờ mình học dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu mà mình không biết trạng thái của nó ra sao. Cái dục khởi trên thân trong cảm giác thì đó là cái thô, gọi là tham dục, dục tham nhưng cái dục lậu là một trạng thái ngấm ngầm hoạt động của một tâm mê. Chữ lậu là lậu hoặc. Cái tâm mê ngấm ngầm hoạt động, tức là nó qua mặt, ẩn giấu trá hình, mà nó giấu rất kín, rất khéo trong nội tâm. Nó ngấm ngầm ẩn giấu sâu kín trong nhiều lớp của cảm thọ, nó ở phía dưới điều hành toàn bộ thế giới này. Cho nên thế giới này gọi là dục giới. Tại sao thế giới này gọi là dục giới? Vì tất cả cảm giác, suy nghĩ, tưởng tượng này nằm trong dòng chảy của dục, không đi ra khỏi dục. Đây là sự thật khủng khiếp, nó ngấm ngầm chi phối toàn bộ thế giới này. Người đi xin ăn, vô gia cư lang thang ngoài đường thì họ có đi tìm cái dục không? Họ khổ đau do không có dục nên họ đi tìm, đi tìm cái dục của sắc, của thanh, của hương, của vị, của xúc, nói sâu hơn là cái dục của pháp. Họ đi tìm cái dục về những cái vật chất, cảm giác. Mình cũng đang đi tìm những cảm giác, thành ra nhiều người nghĩ rằng người này thương người kia, người nọ thích món đồ kia nhưng cái đó chỉ biết ở bề ngoài, còn sâu thẳm là người này thích cảm giác của con người đó đem lại. Chỗ này là chỗ mà mọi người phải nhìn ra được, dùng thánh trí nhìn sâu vào cảm giác để biết được người này thích cảm giác của người đó, của món đồ đó đem lại cho mình, chứ không phải thích người đó không. Thích người đó thì tại sao lại giận, rồi thưa kiện, có khi giết hại, từ yêu thành hận, nếu thương thì tại sao lại như vậy? Cho nên phải biết rằng cảm giác này vô thường, bị biến đổi, hư ảo, nó trống rỗng cho nên nó lật nghiêng lật ngửa, cuốn theo chiều gió. Thành ra mới có câu giàu đổi bạn, sang đổi vợ, đó là kinh nghiệm từ ông bà ngày xưa để lại để nhìn ra cảm giác đó là vô thường, là duyên sanh, là trống không. Đó là đang nói người nghèo cũng đâu khổ về dục, họ đi tìm những thứ vật chất, những cảm giác, âm thanh, mùi vị, sự tiếp xúc. Còn với người giàu, tại sao có thể bỏ ra mấy triệu mua vé vào ngồi nghe nhạc thính phòng? Chính là khi nghe thì nó đem lại cảm giác thích thú, vui sướng. Có người dám bỏ ra nhiều tiền để mua nước hoa, có nhiều người bị chết suốt đời với một mùi mà mùi này không phải dễ chịu. Ghê gớm chưa? Người ta gọi là lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi. Đó là dục của hương, chính là ái vào cái mùi đó. Chỉ có trí huệ này mới phân tích hết được chứ học phớt bên ngoài thì làm sao có thể trị được tham sân si? Cái dục tham ái trong cái mùi đó, nó thích mùi đó, muốn mùi đó, muốn thêm mùi đó, giữ mùi đó càng lâu càng tốt. Không có mùi đó thì khổ, không có cảm giác đó là đau, không tiếp xúc được cái đó là không muốn sống trên đời này nữa và đi đến chỗ tự vẫn. Không phải chỉ riêng dục ái nam nữ, ngoài ra còn bạn bè, cha mẹ, tiền bạc, tài sản, mất danh tiếng thì người ta sẵn sàng nhảy lầu tự vẫn, không muốn sống nữa vì muốn cái dục của âm thanh được tung hô, của hương vị, sự tiếp xúc đó. Thành ra trí huệ về năm uẩn này cho mình sự thấy biết hết sức sâu sắc, nhìn lại mới thấy sâu sắc. Chỉ riêng việc ăn cơm nhìn lại rất hổ thẹn, ngay bản thân Minh Thành khi ăn thấy rõ ràng dục tham ái trong đó. Khi nhìn thấy đồ ăn nhiều thì mình xem cảm giác có thúc giục mình gắp cho lẹ, cho nhanh không, mình nhai thức ăn có thích không, nhai chưa xong mình có muốn gắp nữa không. Đó là dục, ái, tham đối với hương vị, khi mình thấy cái sắc của món ăn, khi mình ngửi mùi của món ăn là hương, khi mình gắp thức ăn chạm vào lưỡi thì đó là vị. Chỉ có thánh trí mới thấy được những chỗ này, chỉ có Đức Phật – bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác mới chỉ ra được trí huệ thâm sâu như vậy ở trong cảm giác.

Trạng thái ngấm ngầm của dục lậu giống như các nhà địa chất đào sâu xuống nhiều lớp bên dưới mặt đất thì sẽ phát hiện ra nhiều loại khác nhau chứ không phải như mình nhìn trên bề mặt chỉ có thấy một lớp, người tu có trí quán thâm sâu vào thọ; tưởng; hành; thức sẽ thấy trong nhiều lớp ở phía dưới là một sự ngấm ngầm hoạt động của dục lậu; hữu lậu và vô minh lậu. Toàn bộ đời sống chúng ta nếu không thành tựu, không thể nhập thánh trí này thì mình cũng chạy lòng vòng để tìm, để thỏa mãn dục tham thôi, có chăng khác nhau ở hình thức. Khi mình thích tượng Phật đẹp thì mình cứ đi tìm tượng Phật hoài thì đó có phải là ái, dục, tham không? Đó chỉ là sắc uẩn chứ không phải là Phật. Hay là mình thích ngôi chùa to đẹp thì cũng giống như vậy. Hoặc là thích chơi cây kiểng, uốn cây hình con này con kia, trong các loại cây kiểng mình có thì đó là cây mình thích nhất mà bị ăn trộm lấy mất thì sầu bi khổ ưu não.

Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.

Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, 20. VIII. Ưa Thích (2)).

Như vậy người này diệt tận, chấm dứt sanh già bệnh chết, sầu bi khổ ưu não, đó là giáo pháp ly tham, ly dục. Mình tu là luôn thường trực, bất cứ lúc nào cũng nhìn lại cảm giác, những nghĩ tưởng có tham dục ái không, có thúc giục trong nội tâm không, có khoái không, có thích thú không, có muốn thêm nữa không chứ không phải đợi đến lúc lên thiền đường, không chờ đến lúc vào chánh điện mới nhìn lại cảm giác. Nếu có thì chính là nó, trong kinh gọi là năm dục trưởng dưỡng, nghĩa là 5 thứ này làm lớn mạnh, nuôi lớn lòng dục. Năm thứ đó là những hình sắc, những âm thanh, mùi vị, những sự xúc chạm nào mà khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ liên hệ đến dục hấp dẫn thì những cái này là những cái nuôi lớn lòng dục. Bất cứ khi nào con mắt tiếp xúc với sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm với cái gì mà những cái đó đáng yêu, đáng thích, khoan khoái, hấp dẫn liên hệ đến dục thì phải cẩn thận. Đó là mồi nhử của ác ma, đó là món đồ của bạch cốt tinh, gọi sư phụ cứu con nhưng trong bụng nó toàn là lửa đỏ cháy rực, hãy coi chừng những cái sắc hấp dẫn lôi cuốn, làm cho mình khoan khoái thích thú. Phải có chánh niệm tỉnh giác đề phòng, phòng thủ và phòng hộ. Đây là chỗ tuyệt vời của bậc đa văn thánh đệ tử. Nếu không có chánh niệm tỉnh giác, không có thánh trí để soi rọi thì mình sẽ nghiêng ngã hết. Có một chú là cư sĩ dẫn gia đình đến, "bạch thầy con là người việt gốc sư, chỉ vì đi chung một chuyến xe buýt thôi mà bây giờ có 2 đứa nhỏ. Con ra đời luôn". Trong năm dục trưởng dưỡng thì đây là thọ do thân xúc sanh, thân tiếp xúc sanh ra cảm thọ, nhãn xúc là con mắt nhìn thấy, âm thanh là nhĩ xúc nghe. Như vậy 6 trần, 6 thọ nhất tề đánh vào mình, cảm giác do con mắt tiếp xúc, cảm giác do lỗ tai nghe tiếng, cảm giác do mũi ngửi mùi, thân xúc chạm, và đặc biệt là ý xúc. Trong năm dục trưởng dưỡng thì pháp tưởng, ý xúc là rất sâu xa. Sau khi mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi mùi, thân tiếp xúc thì khi trở về xúc sanh thọ; tưởng; hành. Đây là nguyên lý của ngũ uẩn, mình phải thuộc thì mới biết để quán. Khi trở về nhà 6 tưởng sanh khởi, sắc tưởng của người đó khởi lên, thanh tưởng; hương tưởng; vị tưởng; xúc tưởng; pháp tưởng khởi lên trong nội tâm mình và cảm giác gợi lại, những hình bóng người đó gợi lại, những suy nghĩ gợi lên thì mình bị thọ; tưởng; hành dẫn dắt, cái thức biết bao nhiêu đó, cứ dẫn dắt thành ra thọ; tưởng; hành 1, thọ; tưởng; hành 2, thọ; tưởng; hành 3,… liên tục như vậy thì vài năm chịu hết nổi là "sư phụ, cho con hoàn tục". Đó là sự vận hành của tâm thức, đây là tâm lý học tối thượng của Phật giáo, nhìn rõ tận tường mọi hoạt động trong nội tâm. Thành ra mọi người phải học duyên sanh pháp để biết, để thấy. Khi quán càng sâu xuống các lớp sẽ thấy một trạng thái ngấm ngầm hoạt động thúc giục mình đi, tiếp xúc, tìm gặp, làm này nọ chứ ở yên không được. Nó thúc giục mình phải đi truy tầm, giao thiệp để cung phụng cho cái dục, để làm cho cái dục thỏa mãn, phục vụ cho cái dục mà cái dục này không bao giờ thỏa mãn. Chính vì vậy mà bản chất của dục là trống rỗng mà mình phục vụ cho cái không bao giờ thỏa mãn là sầu bi khổ ưu não không giờ tịnh chỉ, không bao giờ chấm dứt, không bao giờ dừng nghỉ. Thành ra sự quán chiếu thật thâm sâu vào tứ đại, vào 32 thể trược và 9 giai đoạn tử thi là nhất định phải có của người xuất gia, nếu không có là không thể nào diệt tận, không thể nào mình chấm dứt được. Đây là những pháp quán được chính bậc Chánh Đẳng Giác và các bậc A-la-hán hành trì và tu tập. Mình có giỏi hơn họ không mà mình không quán? Nhưng bây giờ rất ít người quán, thậm chí là không có, cho nên mình không thể làm cho tham sân si giảm bớt lại, không thể đoạn giảm, dừng lại thì làm sao mình đi đến chỗ dứt hẳn. Vì vậy để phát hiện ra, nhìn thấu được tham sân si là gốc rễ của bất thiện pháp làm cho mình khốn khổ, làm cho mình không tự chủ, bị nhiệt não, tổn não ngay trong đời sống hiện tại, sau khi mạng chung là đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì mình phải liên tục nhận diện năm uẩn, bất cứ lúc nào cũng nhìn lại thân thể xem nó ra sao. Đừng nhìn người ta vì nhìn người ta sẽ gây phiền não cho mình, nhìn mình xem lúc này có cảm giác gì, trong cảm giác có dục muốn về, chừng nào chuông reo thì đi ra là không có dục, còn chưa có chuông mà thúc giục hoài thì đó là dục, phải diệt tận nó. Phải nhìn lại cảm giác xem nó thuộc về cảm giác gì, nhìn sâu vào những cảm giác đó sẽ thấy tham sân si, bản ngã, tật đố, ganh tỵ… trong đó. Nhìn vào tưởng thì những hình bóng trong nội tâm có gì, những lời nói thì thầm, thỏ thẻ, thủ thỉ, thở than là hành uẩn. Chết ở chỗ những lời nói này, chết ở chỗ mình không có trí huệ để nhìn thấy được bộ mặt của những tên ác độc, những mũi nhọn, gai đâm trong nội tâm trong năm uẩn này. Phải nhìn ra cho được, lột mặt nạ nó ra. Thức là biết được thọ; tưởng; hành, ý thức là biết được cảm giác lúc đó ra sao, biết được có tưởng gì đang có mặt trong nội tâm, biết được đang có suy nghĩ gì. Mình tu tập để có trí huệ nhìn ngược lại để thấy năm uẩn, thì cái trí huệ đó là sự khác biệt của đa văn thánh đệ tử và vô văn phàm phu, rất là khác biệt. Phải nắm thật vững thì đây là pháp hành, pháp học song song với nhau. Phải nghe lại, chiêm nghiệm lại để nhận diện trong nội tâm, đây món quà tinh thần vô giá đi theo mình suốt cuộc đời tu, tương lai sau này cho đến khi nào mình có thể tuyên bố dõng dạc "sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm và không còn trở lui trạng thái này nữa" (Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất).

./.