Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 18
Tinh Hoa Nikāya
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 18
Thích Minh Thành
Ngày 13 tháng 03 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc137397060 \h 1
II. Năm loại cảm thọ PAGEREF _Toc137397061 \h 4
III. Tâm hiền PAGEREF _Toc137397062 \h 13
I. Huấn luyện cảm thọ
Tham, sân, si nó biểu hiện trên thân của mình ở 3 chỗ nào, cái này rất quan trọng, ai xung phong ạ?
Cái này con xin thưa là không phải con phát hiện ra đâu. Mà là một vị sư phụ, là 1 người đã thành tựu pháp Nikāya này nhìn ra được, cái này trong kinh không có nói. Đức Phật chỉ nói trong 3 cảm thọ, cảm thọ khó chịu sẽ có sân đi theo miên man trong đó, cảm thọ dễ chịu sẽ có tham đi theo miên man trong đó, cảm thọ không dễ chịu không khó chịu nó có si miên man trong đó. Khi Ngài tu, Ngài quán chiếu, Ngài mới thấy được sự biểu hiện của nó trên thân. Khi mà mình giận lên, tự nhiên trong lồng ngực mình nó nóng phừng lên phải không? Trong lồng ngực mình nó bốc hỏa lên, bốc nhiệt lên. Khi mình si thì 2 con mắt mình nó sẽ lờ đờ, người ta nhìn vô người ta biết, nếu mình cảm thọ mình cũng biết.
Nhưng mà mình có biết thì mình chỉ biết trong vô minh, mình không có biết nó là kẻ giặt, cho nên nó xuất hiện rồi mình để luôn, mình nhập cuộc với nó luôn, mình bị nó xâm chiếm, áp đảo luôn. Còn cái tham dục là ở chỗ phát dục của bộ phận sinh dục, khi nó sanh khởi lên là nó hoạt động, nó có sự máy động, động chuyển, biến động ở trong đó. Cho nên muốn tác ý như hồi nãy sư có hỏi đó, là tác ý đúng ngay chỗ của nó. Thí dụ nó đang phừng phừng ở trong lồng ngực mình phải kêu: “Thôi đi cảm thọ ơi, ngươi hãy an tịnh, lắng dịu xuống đi. Ngươi đừng có bốc cháy, đốt cháy lên nữa.
Ngươi đừng có làm khổ ta nữa, ngươi hãy mát dịu, an tịnh, lắng dịu. Ta đã khổ với ngươi vô lượng, vô biên kiếp rồi. Ngươi đã đốt cháy ta trăm ngàn vạn kiếp rồi, giờ này ngươi hãy hoàn toàn dập tắt, tan biến hoàn toàn. Để cho tâm ta hoàn toàn mát mẻ, thanh lương, ngọt ngào, dễ chịu. Ta không có chấp nhận cái cảm thọ sân hận, bực bội, bốc cháy này. Ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta, ta không có dung chứa, chứa đựng ngươi. Ta không có cho phép ngươi có mặt, xuất hiện trong thân tâm ta, ngươi hãy tan biến hoàn toàn đi”. Thì lúc đó mình kêu nó tan biến ra khỏi thân tâm của mình, lúc đó mình trải cái tâm từ ngay giữa lồng ngực. Mình trải ra, mình tập thương mình, vì cái sân hận này mình đã đau khổ bao nhiêu ngàn lần.
Vì cái cảm thọ tức giận này mình đã thù hận bao nhiêu, vô lượng vô biên kiếp rồi. Vì cái cảm thọ đốt cháy này, mình đã thiêu hủy, thiêu rụi, thiêu đốt chính tự thân mình và những người thương yêu biết bao nhiêu lần. Mình không có chấp nhận cái cảm thọ này, mình muốn đẩy nó ra, mình muốn dập tắt, diệt tận nó, cho nó tan biến hoàn toàn khỏi thân tâm của mình. Khi nó tan biến rồi, mình cho nó khởi tâm từ lên, cho nó khởi tình thương lên. Thương là thương mình trước tiên, chứ không phải thương người ta. Thương mình bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp phải bị khuất phục, bị cúi đầu, phải làm nô lệ cho cảm giác sân hận này. Bị nó sai khiến, điều khiển, xâm chiếm, áp đảo, bị nó đè đầu cưỡi cổ.
Thương cho mình và thương cho đối tượng làm cho mình sân hận đó, họ cũng là nạn nhân của cơn giận, mình cũng là nạn nhân của cơn giận. Tất cả hữu tình chúng sanh, đều là nạn nhân của cơn giận. Mình trải tâm thương chính mình, mình trải tâm thương đến đối tượng làm mình sân hận. Sau đó mình trải tâm thương cho hữu tình chúng sanh, vạn loại, muôn loài. Thì lúc đó cái tâm thương mình trùm khắp trời đất hết, đó là từ vô lượng tâm. Đó là cách hóa giải sân hận, mà phải hướng tâm đúng ngay chỗ đó mới được, chứ hướng chỗ khác là không được. Như tự nhiên chưa gì hết mà đi trải tâm thương, mà bên trong này nó phừng phừng thì làm sao mà thương.
Bây giờ cái nhà mình nó đang cháy mà mình không dập nhà mình, mà mình nói: “Để tôi qua cứu nhà kia”. Điều đó nó không có xảy ra được, phải làm xong của mình rồi thì mình mới giúp được người ta. Tại vì cái nguồn, cái gốc, cái cội của vấn đề là vấn đề ở chính mình. Cái ngọn lửa đầu tiên mà nó bốc trong nhà mình, nó lan qua nhà bên kia. Bây giờ mình có dập cái nhà bên kia tắt đi chăng nữa, mà bên đây mình không dập thì nó cũng lan qua cháy nữa, hoặc lan tiếp nhà bên khác. Cái chỗ phát hỏa là chỗ bản thân mình đây, không phải chỗ kia hay chỗ nọ. Thấy được như vậy gọi là chánh kiến, trong cái cơn giận thấy đúng về cơn giận. Mình mà tác ý được như vậy gọi là chánh tri kiến, thấy đúng về cơn giận, nghĩ đúng về cơn giận, nói đúng về cơn giận.
Nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, nhiếp phục, chế ngự làm cho nó lắng dịu, an tịnh như vậy là tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Chúng ta thấy không? Khi mình muốn nhiếp phục 1 cơn giận, phải đầy đủ tám đúng. Đó là đạo lộ của bậc Thánh, đó là con đường, là phương pháp, là cách dập tắt. Chứ đâu phải nói đơn giản khi sân, mà bây giờ mình kêu đừng có sân nữa là nó dừng sân, không phải. Phải thấy đúng nguồn gốc của sự sân hận, rồi mình phải sống đúng, quán đúng, siêng đúng, định đúng về cái sân hận đó. Thì nó mới đi đến chỗ diệt tận, bứng gốc cái sân hận luôn. Mà muốn hoàn toàn cái tâm từ thì phải có thời gian là đầu tiên phải biết được cơn giận, sự vận hành, chỗ trú ở, cư ngụ, cư trú, hang ổ, xào quyệt của nó. Mà hang ổ, xào quyệt của nó là trú trong cái cảm thọ.
Mà cảm thọ khó chịu đầu tiên chúng ta phải biết tên gọi nó là gì? Nó là thọ, và bộ mặt của nó là khổ thọ. Tánh tình của nó là thiêu đốt, bốc cháy lên, là muốn phá hủy, hủy diệt. Bản chất của nó là thứ vô thường, 1 hồi nó tan biến, nó đâu có thật, mà tại sao mình phải nắm giữ, nắm giữ vô đó mình khổ đau. Tất cả mọi cái đi theo trình tự, cho nên mình phải nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận nó, rồi mình phải thoát ra khỏi cơn giận đó. Mà chúng ta biết diệt hết cái sân này là thành quả thứ mấy không? Bất lại, là không còn trở lại thế giới này nữa. Một người mà diệt tận sân hoàn toàn, không còn 1 tí xíu dư tàn xót lại, 1 chút bụi bặm hay cái tro tàn cũng không còn nữa thì người đó là bất lai, Thánh quả thứ 7, không còn trở lại thế giới này nữa.
Tham dục hết, sân hết, thân kiến, hoài nghi, giới cắm thủ, năm hạ phần kiết sử không còn. Nhất lai rồi tới bất lai, hết tham sân luôn, không có trở lại thế giới của loài người. Ở tịnh cư thiên, là nơi cư trú của các bậc Thánh quả thứ 3, bất thoái chuyển, không còn lùi lại, chỉ ở từ đó rồi nhập Niết-bàn luôn. Cho nên mình học phải thật là kỹ, thật là vững từ tên tuổi, mặt mũi, tánh tình cho đến bản chất của năm uẩn. Ở đây là đang nói về cảm thọ, biết là thọ nhưng nó là thọ gì. Trong thọ có cái gì, rồi trong đó nó vận hành như thế nào, làm sao nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận nó. Mình phải tác ý đúng chỗ của nó, sân ở đó, si ở trong con mắt, rồi tham dục ở trong chỗ phát dục. Mình phải hướng về đó để tác ý mạnh mẽ, tác ý dùng lời cho nó mạnh, nặng.
II. Năm loại cảm thọ
Thì những cái này từ từ, sâu sâu rồi mới nói, lêm núi rồi mới nói. Nói ở đây cũng chưa đúng chỗ, ai muốn học chuyên sâu là phải lên núi. Thành ra mình phải thấy được vị ngọt của cảm thọ, sự nguy hiểm và tác hại của cảm thọ và sự xuất ly thoát ra được. Mình phải nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với cảm thọ. Đó là 7 trí về thọ đó, có 2 loại cảm thọ là thọ về thân và thọ về tâm. “Có 3 loại thọ nãy giờ chúng ta đã nói rồi. Có 5 loại cảm thọ là: Hỷ, lạc, khổ, ưu và xả.
- Cảm giác dễ chịu của thân gọi là lạc.
- Cảm giác khó chịu của thân gọi là khổ.
- Cảm giác dễ chịu, hoan hỉ của tâm gọi là hỷ.
- Cảm giác khó chịu, bực bội, phiền não trong tâm gọi là ưu.
Hỷ là mừng, còn chữ ưu là lo. Hỷ, khổ, lạc, ưu: Vui, khổ, mừng, lo. Sầu, bi, khổ, ưu, não thì chữ ưu đó là lo lắng, ưu tư, buồn bã, khó chịu, bực bội. Còn “xả” là cảm giác không dễ chịu, không khó chịu của thân tâm. Đây là 5 thọ, nhưng bây giờ chúng ta cần nắm 3 thọ thôi là được rồi, ở đây mình chỉ nói sơ qua thôi chứ mình phân tích nhiều quá chúng ta học bị rối. Đây là các bậc Thánh đi vào thiền định, các Ngài thấy mồn một từng chi tiết, khía cạnh, gốc độ khi tâm đã định rồi. Còn mình bây giờ mình chỉ có 3 thọ, mình cố gắng nhận diện được 3 thọ đó là hay lắm rồi. Còn 6 thọ ở đây đó là nói theo duyên sanh ra thọ, duyên có 6 xúc cho nên có 6 thọ.
Mắt nhìn thấy cái gì đó bực bội gọi là gai mắt; nghe cái gì khó chịu, chướng tai. Thì như vậy mình nhìn cái gì khó chịu, khó sanh khởi ra liền ngay con mắt. Nghe khó chịu liền sanh khởi trong lỗ tai bùng bùng, nó đỏ lên. Đó là thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do nhãn xúc sanh. Lỗ mũi mình ngửi lên 1 cái là: “Trời ơi, bực bội, khó chịu, sân si”, bước vô toilet 1 cái là 1 đống vậy đó. Khó chịu sanh khơi lên liền, bực bội liền. Đó là thọ do tỷ xúc sanh, tức là cảm giác do lỗ mũi mình tiếp xúc nó sanh khởi ra. Rồi nếm đồ ăn, đưa món đồ ăn vô rồi tê tê cái lưỡi, rồi mê, khoái, rồi ăn riết mập thù lù vậy đó. Thấy rõ ràng không? Thọ do nhĩ xúc sanh thấy liền không? Mới nói 1 cái là nhìn thấy rồi phải không? Nếu mà ai mập là thấy khó chịu liền à, chứ đâu phải người ta nói mình đâu, người ta nói cái pháp nó vận hành như vậy.
Tự nhiên mình mập cái mình nhột à, cái đó thọ do nhĩ xúc sanh, người thật việc thật, pháp thật, pháp sống đó. Mấy người ốm người ta ngồi cười vô tư: “Tôi ốm chứ tôi có mập đâu”, còn mình mập mình nói: “Tôi mập”, thì đó nhận sắc là mình. Ngay lúc đó là vô minh, ngay lúc đó gọi là sắc thủ uẩn, thọ do nhĩ xúc sanh. Thấy pháp sống rõ chưa? Nói lớn lên. Học là phải phấn khởi, phấn chấn, sáng tỏ. Chứ không có học đơ đơ, đờ đờ, ngáo ngáo trong trạng thái si. Đọc kinh là phải đọc hùng hồn, mạnh mẽ, tùy theo cái bài. Lúc nào đọc thiền là thiền vị, lúc nào đọc vô thượng Phật đạo là đọc mạnh mẽ lên. Chứ không phải lúc nào cũng rề rề vầy hoài, không có đồ rê mi gì hết, lúc nào cũng ngang ngang đô đô, mình phải trầm bỏng, du dương. Lúc nào gặp cũng rề rề, không có 1 sức sống.
Cho nên thọ do con mắt mình tiếp xúc nó sanh khởi ra, lỗ tai mình nghe nó sanh khởi ra cảm giác, khi mũi mình ngửi, lưỡi mình nếm, thân mình đụng chạm sanh khởi ra cảm thọ ghê gớm. Phải quán chiếu, hằng ngày mình phải xem 6 cái thọ này, khi 6 sự tiếp xúc nó sanh khởi. Khi mà trong ý xúc của mình, thọ do ý xúc sanh rất là thâm sâu, phải học thuộc lòng cái duyên sanh pháp. Khi mình ngồi có cái hình bóng trong tâm hiện ra, mình khoái cái hình bóng đó, thích nó, ngồi cười 1 mình. Mà lâu lâu thì còn được chứ ngồi cười 1 mình hoài là rồi xong, sứt bản lề. Rồi xong đi 1 mình, quơ tay, múa chân nói 1 mình là đưa đi đâu? Biên Hòa hả? Bệnh viện gì vậy? “Tâm thần”.
Là như vậy đó, chứ mình đừng tưởng mình ngồi im ru trên bồ đoàn đó là mình tu đâu. Ngồi trong đó mà dục nó khởi trong đó, tham trong đó, ngồi trong suy tính làm cái gì đó để kiếm tiền. Thì ngồi như vậy chứ không phải tu đâu, đâu có li dục tư duy đâu. Cái đó là dục tầm nó sanh khởi mà không thấy không biết, không phải ngồi yên là tu đâu. Mới cái thân nó tu thôi, chứ cái tâm nó có tu không? Sâu sắc đó. Mình nhận diện ngũ uẩn mới biết được, chứ còn không mình nhìn ở ngoài là mình lầm. Ngồi đó nhưng mà bực bội, sân hận, ngồi đó suy nghĩ, tới giờ ngồi thiền nghĩ bực bà kia, bực sư tỷ kia sáng nói mình cái gì đó. Ngồi đó nguyên 1 hồi thiền lẩm bẩm, ngồi nghiệm cái gì đó chứ có tu đâu, đó là sân tầm.
Chứ không có li sân, không có li dục, mà đang vận hành các pháp ác và bất thiện pháp nó đang sanh khởi trong đó. Mà mình chấp nhận, nuôi dưỡng các pháp đó. Mình nằm với nó, mình ăn ở với nó, mình nuôi dưỡng cho nó lớn mạnh ở trong thân tâm của mình. Như vậy là ác bất thiện tháp đang hiện hữu, sanh khởi, tăng trưởng, phát triển trong tâm cho nên đâu có tu. Thấy ghê chưa, sâu sắc không? Chứ không phải ngồi yên trên đó là tu đâu. Thân ngồi yên, nhưng mà thọ, tưởng, hành, thức có yên không? Ý hành như thế nào? Có li dục tư duy, li sân tư duy, bất hệ tư duy không? Có đọc Bát chánh đạo chưa? Ngồi im ru. Trước giờ cho đọc mấy lần rồi? Phải cố gắng học thuộc, chánh tu duy là li dục tư duy, li sân tư duy, bất hệ tư duy.
Tức là mình suy nghĩ về lìa sự tham muốn, suy nghĩ rời sự sân hận, suy nghĩ rời sự muốn hại người khác. Suy nghĩ như vậy rồi là suy nghĩ chân chánh, nghĩ đúng của bậc Thánh, chánh tư duy. Đó là sự sâu sắc của sự tu của mình, không phải nhìn ở ngoài mà quyết định được. Nếu mà mình không có học cái này làm sao mình biết, mình ngồi đó mình ôm ấp những cái lậu hoặc, phiền não, cấu nhiễm của tâm. Mình làm nó xâm chiếm, lớn mạnh ở trong tâm của mình mà mình không biết. Mình tưởng mình đang tu, mình tu ở ngoài tướng, tu ở hình thức ở ngoài không à. Cho nên ngồi đó là phải tác ý, tác ý diệt những cái sân đó, những cái suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đó.
Đánh đuổi nó ra như nãy giờ mình đã học, như vậy mới gọi là tu, tinh cần, tinh tấn, như lý tác ý, như lý giác sát, như lý tác ứng, tuệ lực, tinh tấn lực, mãnh hổ lực, đại hùng đại lực. Đánh phá, đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm của mình, làm cho thân tâm của mình trong sạch, thanh tịnh, dễ chịu, ngọt ngào, mát mẻ, rộng lớn, từ ái. Đó là chúng ta nói về cái thọ do ý xúc sanh, cái cảm thọ sanh khởi từ sự tiếp xúc bên trong. Cái tâm ý của mình ngồi 1 mình, trong đó những hình bóng nó sanh khởi, những cảm giác, những suy nghĩ sanh khởi lên. Một ngày mình ngồi yên được mấy tiếng? Im ru hết trơn. Một ngày mình ngồi yên được 1 tiếng đồng hồ không? Thấy chưa? Không có thời gian ngồi yên.
Lăn xăn, dao động, hướng ngoại, tìm kiếm những cái bên ngoài làm sao thấy được tâm mình. Không thấy được tâm mình, làm sao mà biết có cấu nhiễm. Không biết được nó dơ chỗ nào, làm sao mình tẩy rửa. Không tẩy rửa làm sao đi đến thanh tịnh, trong sạch. Mình sống với 1 cái tâm cấu nhiễm, như vậy phiền não, khổ đau. Đức Phật nói tâm mình là 1 vết thương, chạm tới là sừng sộ, phẫn nộ lên. Cái tâm không có tu tập, chưa có hiền, chưa có ngoan từ ái, chưa có khiêm cung, chưa có dễ thương. Chạm tới 1 cái là nó nhảy dựng lên, chạm tới 1 cái là nó sừng sộ, nó phẫn nộ, nó bất mãn, sân hận. Đó là 1 nội tâm không có tu tập, tâm hoang vu, tâm rừng rú. Chúng ta thấy không? Bây giờ mình căn cứ trong kinh Nikāya mình mới thấy mình đang ở chỗ nào, ở cửa chùa phải không? Chúng ta thấy không?
Mình chưa nhìn ra được ngũ uẩn làm sao mình tu. Mình không thấy những suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng, nhận thức đó làm sao mình tu. Tối ngày mình cứ nhìn ra ngoài không à, so đo cái này cái kia, người này người nọ, món đồ này món đồ khác, chùa này chùa nọ, cảnh này cảnh kia. Chạy theo những cái sắc pháp, sắc uẩn vô thường, những cái thứ bị biến đổi, bị tan biến, bị bại hoại, bị hoại diệt. Như vậy khi những cái đó bị đổi thay là mình sầu, bi, khổ, ưu não. Không được thì mình đau khổ, được rồi thì lo lắng, sợ hãi, sợ mất, sợ nó hư. Sợ mình phải rời xa những thứ khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ với cái dục hấp dẫn. Những thứ mà đáng vui, đáng mừng, đáng ưa, đáng thích, vừa lòng, hấp dẫn, liên hệ với sự ham muốn của mình, một khi nó rời xa rồi mình đau khổ.
Tại mình đâu có nhìn lại, đâu có quán chiếu, đâu có nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham. Mình đâu có thấy sự nguy hiểm và tác hại ở trong đó. Mình bị cái vị ngọt nó xâm chiếm, áp đặt, nhận chìm mình. Giống như con ruồi chết trong hủ mật, mà không có biết tai họa. Chỉ thấy miếng ngọt, vị ngọt mà không biết vô đó thì chết. Thành ra tất cả chúng sanh là bị vị ngọt nó nhấn chìm, chết chìm trong đó. Người tu là người phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại ở trong cái vị ngọt của cảm thọ. Nếu mình không có quán chiếu, thiền quán, suy tư, nghiền ngẫm cái này là mình không có đi tới đâu hết. Xuất gia bao nhiêu năm trời ngồi lại rầu rĩ, mặt mày ủ ê, sầu, bi, khổ, ưu, não.
“Tôi còn muốn cái này nữa, còn muốn cái kia nữa. Tôi còn tính làm cái này nữa mà sao trở ngại hoài, buồn quá”. Đó là dục không à, dục tham, lòng khao, lòng khát, lòng tham, lòng muốn, lòng ái, lòng thích vẫn còn y nguyên, thậm chí tăng trưởng phát triển. Không được nhìn thấy, không được nhiếp phục, không được chế ngự làm sao đoạn tận, làm sao xuất ly ra khỏi nó được. Chúng ta thấy đó, toàn bộ sự tu hành này có mấy chữ đó đó, nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham. Nếu mình thấy được sự nguy hiểm, tác hại của nó, nhiếp phục, chế ngự nó để mình đi đến chấm dứt nó, mình đi ra khỏi nó. Đó là đạo lộ của bậc Thánh, Thánh đạo, chỉ có như vậy mới hết đau khổ thôi, không có con đường nào khác hết.
Đây là con đường độc nhất đưa chúng sanh đi đến thanh tịnh, vượt khỏi khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng nhập Niết-bàn, không có con đường thứ 2. Mình coi tất cả khổ đau, sự lo lắng của mình có phải từ sự ham muốn, yêu thích không? Bây giờ mình không có thích cái ly trên bàn gì hết, thì nó rớt xuống cái “rổn”, đổ thì đổ, nó bể thì bể. Tại cái tánh chất của nó là bể mà, nó bể là sự biểu hiện tính chất của nó thì có gì đâu mà khổ. Nhưng vì lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng khoái, lòng thích, cái tâm chấp thủ cho rằng cái này là của tôi. Cho nên nó bể cái là mình sân si, đau khổ, bực bội. Chứ còn nó bể là chuyện đó đúng rồi, không bể cái đó mới là lạ, chứ bể cái đó mới trúng. Không chết là chuyện lạ, chết là chuyện bình thường, đối với bậc có trí tuệ là vậy đó.
Thí bây giờ mình học rồi, mình có trí tuệ, mình thấy mình đang ngồi ở đây là bất thường, mà mình gặp tai nạn mình chết, cái đó là bình thường. Chính vì vậy mà mình trân trọng, trân quý cái sự mình đang được an ổn này lắm. Để mình được tu tập, được học hỏi, được thành tựu. Còn nếu không, khi sự tan nát, hủy hoại, hoại diệt, thay đổi, vô thường, tai nạn nó tới là lúc đó lúc đó đau khổ, cho nên phải để ý. Cái 6 thọ, 18 thọ là từ từ chúng ta học đi, cái này mà phân tích nhiều nó sẽ rối, chúng ta chỉ cần quán chiếu 3 thọ thôi. Mười tám thọ ở đây là 1 xúc có thể sanh 1 trong 3 cảm thọ, mà có 6 xúc, mình nhân cho 3 ra 18 cảm thọ.
“Khi mình tiếp xúc có thể sanh ra vui, có thể sanh ra khổ, có thể sanh ra không vui không khổ. Và có 6 tư duy là thân cận với hỷ, 6 tư duy thân cận với ưu, 6 tư duy thân cận với xả”. Tức là 6 suy nghĩ mà nó gần với sự dễ chịu, hoan hỉ trong tâm. Sáu suy nghĩ mà nó gần với sự buồn, khó chịu, bực bội. Sáu suy nghĩ nó gần với sự không dễ chịu không có chịu, xả. Ở đây nói cái này 1 chút để chúng ta thấy cái xả này nó ghê lắm. Cái xả mà của trí tuệ là nó khác, còn cái xả của cái tâm mà nó si mê là khác. Cái chữ “xả thọ” ở đây là chúng ta phải hiểu, nó có 2 cái phương diện, 1 phương diện của người không có trí tuệ, thì cái xả là cái tâm buông xả. Còn cái xả của phàm phu mà ở đây nói bình thường ở trong cái xả thọ này, tức là cái cảm thọ trơ trơ, không dễ chịu, không khó chịu.
Thành ra phải hiểu, cái chữ xả này nó dễ lầm lẫn. Cũng như “lạc thọ, khổ thọ, xả thọ”, thì chữ “xả” này chính là trung tính, tức là không phải khổ cũng không phải vui, nó đơ đơ. Chẳng hạn như mình đi ra đường, hay giờ mình ngồi cũng không phải hứng thú gì, cũng không phải khó chịu, thấy thường thường, đều đều vậy đó. Thì cái đó là xả đó, thì cái này nó dễ si mê lắm. Nếu mà mình có học ngũ uẩn, có nhận diện cảm thọ, mà mình biết cảm thọ không khổ không vui là cảm thọ xả, thì cái đó là có tu. Còn nếu mà mình ngồi nó đơ đơ, nó không thích cũng là không không thích, nó đều đều như vậy mà nếu mình không có biết là thọ. Mà mình thấy: “Tôi thấy thường thường thôi, tôi không khoái mà tôi cũng không ghét”. Thì cái đó cũng là xả, nhưng mà cái xả thọ này si, chúng ta dễ hiểu cái này không ạ?
Cái này chúng ta nắm được dễ không? Im ru hết trơn vậy? Còn cái xả mà của trí tuệ tức là nó xuông xả, nó không có an trú cái tự ngã vô cái cảm thọ đơ đơ đó, nó không nói: “Tôi giờ thấy thường thường”, nhưng mà nó biết đây đang có 1 cảm thọ đơ đơ, không thích cũng không ghét. Mà nó biết được này là cảm thọ bất khổ, bất lạc. Đây chỉ là cảm thọ. Rồi chỗ sâu hơn nữa là gì? Là nó biết cảm thọ này vô thường, “không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi”. Rồi chút xíu cảm thọ đó sẽ đổi thay, một hồi bị ai cự là sẽ buồn, sẽ khổ, được khen thì sẽ vui. Cái cảm thọ không khổ, không vui này nó là vô thường, cho nên mình đừng cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình.
Thì mình buông xả cái cảm thọ đó, mình không có chấp nhận cái cảm thọ đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Thì cái đó là xả thọ, có sự nhận diện, có sự trí tuệ, có sự tu tập. Phân biệt được 2 cái đó ha, phân biệt kỹ 2 cái này. Mà thường chúng ta sống trong cảm thọ này, là cảm thọ đơ đơ, trơ trơ mà chúng ta không biết. Mà rất thường, 1 ngày chúng ta sống với cái này khoảng bao nhiêu? Ngày nào cũng giận hết trơn hả? Một ngày giận mấy tiếng? Nó ít phải không? Cái giận nó ít lắm, rồi cái khoái thích nó cũng ít. Nhưng mà cái thường thường nè, cái này nhiều không? Cái không thích và không không thích, cái đều này chiếm 70, 80, 90%, mà chúng ta tu là tu cái cảm thọ này, cái này quan trọng.
Làm sao phá cái cảm thọ này? Đây là vấn đề đó. Cái hồi nãy đầu tiên con vô con hỏi quý thầy cô mà quý thầy cô im ru đó, chính là cảm thọ đó đó. Rồi sau 1 hồi kêu là phấn khởi lên, “dạ có” đàng hoàng, vỗ tay này nọ, mặt mày như hoa nở, thì cái đó là cảm thọ khác, lạc thọ. Còn cái nghe nói tới sự nghiệp đời tu của mình chưa tới đâu hết trơn, tự nhiên thấy khổ thọ. Cho nên chỗ này là chỗ quan trọng nè, cái buồn mà nó đưa đến thiện pháp và cái buồn mà nó đưa đến bất thiện pháp, phân biệt được chỗ này không? Cái này rất quan trọng, không nhìn ra được những cảm thọ này là mình không biết tu đâu. Thí dụ bây giờ ngồi mà chậc lưỡi: “Bữa nay lễ gì mà người ta đi chơi nhốc, lễ quốc tế phụ nữ mới mấy bữa nay”. Ngồi tủi thân, người này được tặng cái này, được tặng hoa, tặng quà: “Mình không có gì hết trơn”, ngồi buồn.
Thì cái này là thiện pháp hay bất thiện pháp? Bất thiện pháp. Rồi cái ngồi suy tư: “Buồn quá, mình tu 10 năm rồi, mà tại sao cái sân bự chà bá trong tâm mình. Chạm tới 1 cái là bực bội, sân hận, mình xấu hổ quá. Không lẽ bây giờ mình chui xuống lỗ, hay là mình độn thổ. Chứ tự nhiên bây giờ huynh đệ mới tu mà mình sân hận, sân si, bản ngã này kia”. Rồi tối trở về phòng: “Trời ơi, nhục nhã, xấu hổ vô cùng biết làm sao giờ. Huynh đệ người ta mới vô chùa tập sự, mà mình phình trương cái bản ngã của mình, mình ưỡn ngực, hất mặt lên là ta đây: “Biết tôi ở chùa này bao lâu không? Mới vô đừng có lạng quạng nha không?” Bây giờ nhớ tới cái hình ảnh đó sao mà xấu đau xấu đớn. Trời đất ơi bây giờ không lẽ độn thổ, làm sao sáng mau ra dòm mặt người ta đây trời ơi”.
Mình ngồi, mình suy nghĩ vậy mình buồn, thấy mình tự trách mình, thấy mình ray rứt, thì cái u buồn đó là thiện pháp. Phát triển nó lên, tăng trưởng nó lên, để cho nó càng xấu hổ, “nhục nhã sanh Thánh quả”. Viết câu này vô, để lên bàn thờ lạy, đóng khung lại, để lên bàn học, 1 ngày tụng trăm lần, càng lạy càng tốt. Mình lên mình lại Đức Phật, mình nhìn Đức Thế Tôn ngồi, mình thấy 1 bậc tối tôn tối thượng của chu thiên và loài người. Minh Thành mới dịch câu: Đảnh lễ lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác ra tiếng Việt, cho đạo tràng Nikāya đọc mỗi trước khi nghe pháp. Chữ “nam mô” là con dập đầu cúi lạy, “Thế Tôn” là bậc thế gian tôn kính, “A-la-hán” là tâm hoàn toàn thanh tịnh, diệt tận tham, sân, si. “Chánh đẳng giác” là bậc thấu suốt tột cùng thân tâm và thế giới.
Chữ “Phật” là đấng giác ngộ hoàn toàn, bậc thấu suốt tột cùng thân tâm và thế giới. Khi mình đọc câu đó xong, mình nhìn lên Đức Phật thấy sao Ngài cao quý, tối thượng, vĩ đại như vậy. Mình nhìn lại mình, mình thấy nhục nhã, xấu hổ. Mình thấy mình dưỡng tử Như Lai, mình nói mình Thánh đệ tử, Tỳ-kheo, mà tại sao mình đầy giẫy những ác bất thiện pháp. Tối về mình nhìn mình thấy nhục nhã, xấu hổ, tủi thân, mình dập đầu mình khóc, mình lạy. Thì cái khóc, cái lạy, cái tủi thân, xấu hổ, nhục nhã đó là cái pháp tàm quý. Sự xấu hổ và sợ hãi đó nó sanh khởi thì cái đó là gia tài của bậc Thánh. Còn người nào mà không có cái đó, thì tu không bao giờ tiến hết. Một trong những cái pháp mà đưa người này đến nhập lưu Thánh quả là tàm quý, không có tàm quý là không có tiến bộ được.
Tương Ưng Cassapa Ngài Ma-ha-ca-diếp nói: “Một người không có lo lắng, không có xấu hổ, không có sợ hãi thì không bao giờ tăng thượng trong thiện pháp, không bao giờ đạt được Niết-bàn, không bao giờ diệt tận hết tham, sân, si”. Cho nên mình tu bây giờ thì ít người nào nói tàm quý này lắm, nói học trên chữ nghĩa phớt qua vậy thôi. Chứ không có khai triển tàm quý này hết mức, tối đa. Để cho mỗi 1 lần mà mình làm sai, tội lỗi là cảm thấy nhục nhã, thấy mình bẩn thỉu, thấy mình không xứng đáng đối với chiếc y, không xứng đáng với cái đầu tròn này. Mình vô mình lạy Phật, không dám nhìn, cúi cái đầu mình xuống, gục cái đầu mình xuống, dập cái đầu mình xuống.
Thì như vậy cái pháp sanh khởi trong mình, thì cái đó là dòng chảy đưa mình thể nhập vào trong một cái sự mà mình sẽ cố gắng làm sạch, làm mới, làm đẹp mình lại. Thì đó là cái động lực để cho mình thăng tiến, tăng thượng trong đức hạnh, thiền định, trí tuệ. Không có cái pháp tàm quý, xấu hổ, lo lắng, nhục nhã, sợ hãi là không có tiến bộ được. Cho nên mình tu mà mình trơ trơ, coi mình là thầy, là cô, là sư phụ. Lúc nào mình cũng ở trong cái vẻ cao cao, thấy người ta không xá, hay là xá phớt lờ là mình sân si lên. Thì như vậy là xong, sự tu của mình là coi như âm nặng, chứ không có nói là số 0, cái chỗ này quan trọng. Người chân tu thấy pháp là người lúc nào cùng cúi đầu, lúc nào cũng thấy mình xấu hổ đối với Phật và các bậc Thánh.
Nhìn lại mình là tham nhốc hết, sân hận quá chừng, si mê, vô minh, bản ngã to tướng. Đụng vô cái gì là cũng còn tham, còn muốn, còn khoái, còn hơn thua, còn đấu tranh. Thì mình thấy như vậy là nhục nhã, lo lắng, sợ hãi. Ngồi lại là thấy ưu tư, trăn trở, thao thức ngủ không được. Nửa đêm ngủ dậy là tự hỏi: “Tại sao mình lại có những cái như vậy?” Lo hoài, rồi cố gắng làm sao tẩy sạch những cái này. Thì cái đó rất quan trọng, “nhục nhã sanh Thánh quả”, đó là dòng chảy của Thánh pháp. Cho nên đó là “thất Thánh tài” mình học chữ nghĩa thôi à, bây giờ “thất Thánh tài” ai nhớ? Tính, Giới, Văn, Thí, Tàm, Quý, Tuệ. Đây là 7 tài sản của bậc Thánh.
Có được 7 cái này, tức mình là người thừa tự pháp, thừa kế Thánh sản. Mình được thừa tự tài sản của Đức Phật và các bậc Thánh. Còn mình không có mấy cái này, coi như mình là kẻ nghèo hèn trong Phật pháp. Lòng tin bất động đối với Đức Phật, giáo pháp và chúng Tăng. Giới hạnh, nghe pháp, bố thí, xấu hổ, sợ hãi và trí tuệ quán chiếu sanh diệt ở trong 5 thủ uẩn. Phải có được 7 cái pháp này, nó đang có mặt, sanh khởi, vận hành, tăng trưởng, phát triển, tăng thượng, lớn mạnh trong thân tâm của mình. Như vậy mình được gọi là người được thừa kế tài sản của bậc Thánh. Chứ không phải học thuật ngữ đơn sơ mà lên đọc đọc, nói theo chữ nghĩa như vậy. Mà phải có trong tâm, trong thân của mình, pháp tàm quý nó có.
III. Tâm hiền
Thậm chí là trong đạo tràng Nikāya, mà nói về Đức Phật là nước măt đầy mặt hết trơn, xúc cảm, chấn động. Khi quán về nghiệp quả là bao nhiêu cái gì sâu kín trong tâm là bày lộ hết, phát lồ sám hối, không có che đậy. Cái đức chân thật của người gọi là đệ tử của Như Lai gọi là trực hạnh, một cái tâm chánh trực, chân chánh, chân thực, chân thành. Mình bây giờ kêu nói nhẹ, góp ý cái là: “Đâu có đâu, tại cô kia chứ tôi có làm đâu”. Vậy là xong rồi, mình rất là nuông chiều, bảo vệ, che chắn, rào chặt rất là kỹ. Ai chạm tới mình cái là đùng đùng nổi giận, sân si, sân hận, bản ngã sanh khởi lên. Như vậy làm sao mà tu, không có tu được. Cho nên bước đầu tiên trong pháp hành Nikāya, là phải thực tập tâm hiền.
Các bậc Thánh hồi xưa gọi với nhau là hiền giả, bậc hiền trí. Người nào cũng phải đạt được cái tâm hiền, rồi sau đó mới tu được. Nếu mình còn hung dữ, mình còn những cảm giác bức xúc, bực bội, những cảm giác mà hơn thua này kia là không bao giờ tu được. Còn những cái đó, là mầm mống của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đầu tiên phải thành 1 người hiền giả, hiền nhân, thì mới tu Thánh pháp được. Tức là cái đạo đức căn bản của con người phải thành tựu.
“Dục tu tiên đạo,
Tiên tu nhân đạo,
Nhân đạo bất tu,
Tiên đạo viễn hỷ.”
Muốn tu đạo tiên, trước tu đạo người, đạo người chưa tu, đạo tiên xa với, đó là câu nhà nho người ta nói đó. Đó là mới có tiên đạo, tức là chư thiên còn luân hồi trong sanh tử đó, chứ chưa phải Thánh đạo. Thánh đạo là cắt đứt dòng luân hồi sanh tử luôn, ra khỏi lục đạo, ngũ thú, xuất ly tam giới. Cho nên bước quan trọng đầu tiên của người thực hành pháp Nikāya, là phải thành tựu tâm hiền. Mà muốn thực tập cái tâm hiền này thì ít nhất là phải 3 năm, 5 năm, phải rèn luyện về cái tâm hiền. Quý vị nào muốn học thì vô coi “Tầm Quan Trọng Của Tâm Hiền Trí”, có 9 buổi giảng, về bài kinh “Sau Khi Ăn” của tôn giả Xá-Lợi-Phất. Bài đó là bài rất quan trọng về pháp học và pháp hành.
Chín buổi, là 9 cái pháp quán chiếu của Ngài Xá-Lợi-Phất. Là Ngài tu về cái hạnh đất, nước, gió lửa, giống như nùi giẻ rách, an cái tâm của Ngài trú giống như con bò đực bị cưa cái sừng, giống như 1 người thấp hèn nhất ở trong xã hội, giống như bị ung nhọt 9 lỗ. Ngài quán những cái pháp đó, Ngài thành tựu bậc Thánh chí cao, tối thượng trong hàng Thánh. Đó là pháp hành của Ngài Xá-Lợi-Phất, mà đạo tràng Nikāya ứng dụng cái đó làm chính, lấy 9 cái pháp đó làm an trú tâm, phải tu tập trong 3 năm về cái tâm hiền. Bất cứ 1 người nào vô đầu tiên là cho 6 tháng thực tập tâm hiền, dầu cho quý thầy, sư cô tu bao nhiêu lâu đi nữa thì lên núi là thực tập tâm hiền rồi nói gì nói.
Cái tâm còn dữ dằn, còn hơn thua, sân si, bản ngã làm sao mình tu. Bây giờ tu vô nhìn thấy lỗi người ta không à, mình không nhìn lại cảm thọ của mình, không nhìn thấy được cái tâm cấu uế, uế nhiễm của mình. Mình cứ hướng ra ngoài, mình bắt người này, bắt người kia, chỉ trích cái này cái nọ làm sao mình tu, không có tu được. Cho nên phải thành tựu tâm hiền 70, 80%, đó là nói tương đối rồi nha, chứ không phải 100%. Mình mà được 100% tâm hiền, cộng với chánh tri kiến nữa là nhập lưu, tối thiểu là Thánh quả, tối cao là A-la-hán được thành tưu. Thành ra chúng ta đọc Nikāya chúng ta thấy các vị Tỳ-kheo ngày xưa hiền lắm, hỏi cái gì là khai hết trơn à.
Như Đức Phật hỏi ông có nói vậy không? Là: “Dạ dạ, đúng rồi, con nói vậy đó”, Đức Phật hỏi: “Sao ngày nói vậy?” là khai hết trơn hết trọi. Còn mình bây giờ kêu đến là: “Đâu có đâu”, lanh lợi đó, mà lanh ngu không à. Lẻo mép, ngụy biện, xảo luận, quanh co giấu lỗi lầm, ở trong sám hối diệt ngã đó, đọc kỹ bài đó. Tâm của chúng ta là 1 cái tâm xảo trá, quanh co, ngụy biển, bản ngã, hơn thua, không có tu được. Cái tâm đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không à. Muốn tu Thánh pháp của Phật, là phải thành tựu được cái tâm hiền. Rồi sau đó mới thành tựu trí tuệ rồi trở thành hiền trí, chứ không phải hiền ngu. Hiền mà khờ khờ, mù mù, không biết gì hết trơn hết trọi, thấy lạ lạ cái lụm thì cái đó là hiền ngu.
Cái hiền trí của Đức Phật đặc biệt, hiền nhưng mà người ta có trí tuệ sâu sắc về ngũ uẩn, người ta không có hơn thua với đời. “Này các Tỳ-kheo, Như Lai không có tranh với đời, chỉ có đời tranh với đời”. Như Lai không có tranh với thế gian, Trung Bộ kinh. Lúc đó là 500 người, những người đại gia, giàu có, những thôn trưởng có chức quyền. Lúc Đức Thế Tôn mới vừa về, các ông nhóm họp, xách đồ ăn đủ thứ món, nước noi, bánh trái, sữa này, sữa kia, ở trước cửa tịnh xá ồn ào. Đức Thế Tôn hỏi Ngài Ananda:
“- Cái gì ồn ào ngoài đó, sao mà giống nhóm bạn hàng tôm, hàng cá nhóm chợ.
- Bạch Thế Tôn, các vị thương gia, gia chủ, đại gia hay tin Thế Tôn về, họ nhóm họp đem thức ăn, thực phẩm, bánh trái đến cúng dường Đức Thế Tôn.
- Ông nhân danh ta ra đuổi đi, ta không có tranh với đời, ta không có ưa thích những lợi dưỡng như phân, ta không có tìm tòi những lợi dưỡng như phân.”
Chúng ta thấy Đức Phật nghiêm từ lắm, chứ không phải như mình tưởng làm thinh như trong phim này nọ kia. Ngài nghiêm từ, nghiêm túc lắm, có khi Ngài quở trách nặng lắm. Chứ không phải đơn giảng lúc nào Ngài cũng ngồi im ru mà cười đâu, không phải. Sai 1 cái là Ngài rầy mạnh lắm, Ngài đọc cái là mình rúng động, nổi da gà sợ lắm. Cái uy đức của Ngài nghiêm mà từ, từ mà nghiêm. Rồi 1 nhóm Tỳ-kheo nữa, 500 người mới xuất gia, đệ tử Ngài Mục-Thiền-Liên và Ngài Xá-Lợi-Phất đi về chia bình bát, tọa cụ này kia ồn ào. Ngài mới hỏi:
“- Này Ananda ai vậy? Các thầy này ở đâu tới đây?
- Bạch Thế Tôn, là đệ tử Ngài Mục-Thiền-Liên và Ngài Xá-Lợi-Phất các vị mới xuất gia, tân Tỳ-kheo về chia bồ đoàn, tọa cụ.
- Ra nhân danh ta đuổi đi, xuất gia gì giống như bạn hàng tôm cá vậy. Ta không có gặp.”
Rồi mấy vị Tỳ-kheo kia đi đến xin với Đức Thế Tôn, xin bao nhiêu lần không được, rồi phạm thiên Sapati, rồi các vị trong thích tử, bà con, dòng họ, chư thiên, Ngài Ananda năn nỉ sau đó lâu Đức Phật mới cho về. Chứ không phải đơn giản đâu, Ngài đuổi hết 500 Tỳ-kheo đó không tiếp. Xuất gia giống như bạn hàng tôm cá, không có thân hành niệm, không có oai nghi, không có giới luật, không có an tịnh lắng dịu, không có thu thúc lục căn, phòng hộ các căn là đuổi đi. Thành ra Thế Tôn giờ còn chắc nhiều vấn đề để cho mình học lắm. Đó là đại gia, doanh nhân và các Tỳ-kheo 500 người đó.
Cho nên chúng ta cố gắng học kinh Nikāya, để mình biết được cái bổn phận sự của mình như thế nào. Phải cố gắng học cho nhiều, còn không thôi mình cứ học theo xưa bày nay làm, ta sao mình vậy thì làm sao học tới gốc rễ, và cái tiền đồ, tương lai của mình cũng không đi tới đâu. Đó là chỉ học trong cái pháp phàm phu thôi, phước báo của nhân thiên. Cho nên là trong cái oai nghi, giới hạnh là Đức Phật rất là kỹ.
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 18
Thích Minh Thành
Ngày 13 tháng 03 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc137397060 \h 1
II. Năm loại cảm thọ PAGEREF _Toc137397061 \h 4
III. Tâm hiền PAGEREF _Toc137397062 \h 13
I. Huấn luyện cảm thọ
Tham, sân, si nó biểu hiện trên thân của mình ở 3 chỗ nào, cái này rất quan trọng, ai xung phong ạ?
Cái này con xin thưa là không phải con phát hiện ra đâu. Mà là một vị sư phụ, là 1 người đã thành tựu pháp Nikāya này nhìn ra được, cái này trong kinh không có nói. Đức Phật chỉ nói trong 3 cảm thọ, cảm thọ khó chịu sẽ có sân đi theo miên man trong đó, cảm thọ dễ chịu sẽ có tham đi theo miên man trong đó, cảm thọ không dễ chịu không khó chịu nó có si miên man trong đó. Khi Ngài tu, Ngài quán chiếu, Ngài mới thấy được sự biểu hiện của nó trên thân. Khi mà mình giận lên, tự nhiên trong lồng ngực mình nó nóng phừng lên phải không? Trong lồng ngực mình nó bốc hỏa lên, bốc nhiệt lên. Khi mình si thì 2 con mắt mình nó sẽ lờ đờ, người ta nhìn vô người ta biết, nếu mình cảm thọ mình cũng biết.
Nhưng mà mình có biết thì mình chỉ biết trong vô minh, mình không có biết nó là kẻ giặt, cho nên nó xuất hiện rồi mình để luôn, mình nhập cuộc với nó luôn, mình bị nó xâm chiếm, áp đảo luôn. Còn cái tham dục là ở chỗ phát dục của bộ phận sinh dục, khi nó sanh khởi lên là nó hoạt động, nó có sự máy động, động chuyển, biến động ở trong đó. Cho nên muốn tác ý như hồi nãy sư có hỏi đó, là tác ý đúng ngay chỗ của nó. Thí dụ nó đang phừng phừng ở trong lồng ngực mình phải kêu: “Thôi đi cảm thọ ơi, ngươi hãy an tịnh, lắng dịu xuống đi. Ngươi đừng có bốc cháy, đốt cháy lên nữa.
Ngươi đừng có làm khổ ta nữa, ngươi hãy mát dịu, an tịnh, lắng dịu. Ta đã khổ với ngươi vô lượng, vô biên kiếp rồi. Ngươi đã đốt cháy ta trăm ngàn vạn kiếp rồi, giờ này ngươi hãy hoàn toàn dập tắt, tan biến hoàn toàn. Để cho tâm ta hoàn toàn mát mẻ, thanh lương, ngọt ngào, dễ chịu. Ta không có chấp nhận cái cảm thọ sân hận, bực bội, bốc cháy này. Ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta, ta không có dung chứa, chứa đựng ngươi. Ta không có cho phép ngươi có mặt, xuất hiện trong thân tâm ta, ngươi hãy tan biến hoàn toàn đi”. Thì lúc đó mình kêu nó tan biến ra khỏi thân tâm của mình, lúc đó mình trải cái tâm từ ngay giữa lồng ngực. Mình trải ra, mình tập thương mình, vì cái sân hận này mình đã đau khổ bao nhiêu ngàn lần.
Vì cái cảm thọ tức giận này mình đã thù hận bao nhiêu, vô lượng vô biên kiếp rồi. Vì cái cảm thọ đốt cháy này, mình đã thiêu hủy, thiêu rụi, thiêu đốt chính tự thân mình và những người thương yêu biết bao nhiêu lần. Mình không có chấp nhận cái cảm thọ này, mình muốn đẩy nó ra, mình muốn dập tắt, diệt tận nó, cho nó tan biến hoàn toàn khỏi thân tâm của mình. Khi nó tan biến rồi, mình cho nó khởi tâm từ lên, cho nó khởi tình thương lên. Thương là thương mình trước tiên, chứ không phải thương người ta. Thương mình bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp phải bị khuất phục, bị cúi đầu, phải làm nô lệ cho cảm giác sân hận này. Bị nó sai khiến, điều khiển, xâm chiếm, áp đảo, bị nó đè đầu cưỡi cổ.
Thương cho mình và thương cho đối tượng làm cho mình sân hận đó, họ cũng là nạn nhân của cơn giận, mình cũng là nạn nhân của cơn giận. Tất cả hữu tình chúng sanh, đều là nạn nhân của cơn giận. Mình trải tâm thương chính mình, mình trải tâm thương đến đối tượng làm mình sân hận. Sau đó mình trải tâm thương cho hữu tình chúng sanh, vạn loại, muôn loài. Thì lúc đó cái tâm thương mình trùm khắp trời đất hết, đó là từ vô lượng tâm. Đó là cách hóa giải sân hận, mà phải hướng tâm đúng ngay chỗ đó mới được, chứ hướng chỗ khác là không được. Như tự nhiên chưa gì hết mà đi trải tâm thương, mà bên trong này nó phừng phừng thì làm sao mà thương.
Bây giờ cái nhà mình nó đang cháy mà mình không dập nhà mình, mà mình nói: “Để tôi qua cứu nhà kia”. Điều đó nó không có xảy ra được, phải làm xong của mình rồi thì mình mới giúp được người ta. Tại vì cái nguồn, cái gốc, cái cội của vấn đề là vấn đề ở chính mình. Cái ngọn lửa đầu tiên mà nó bốc trong nhà mình, nó lan qua nhà bên kia. Bây giờ mình có dập cái nhà bên kia tắt đi chăng nữa, mà bên đây mình không dập thì nó cũng lan qua cháy nữa, hoặc lan tiếp nhà bên khác. Cái chỗ phát hỏa là chỗ bản thân mình đây, không phải chỗ kia hay chỗ nọ. Thấy được như vậy gọi là chánh kiến, trong cái cơn giận thấy đúng về cơn giận. Mình mà tác ý được như vậy gọi là chánh tri kiến, thấy đúng về cơn giận, nghĩ đúng về cơn giận, nói đúng về cơn giận.
Nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, nhiếp phục, chế ngự làm cho nó lắng dịu, an tịnh như vậy là tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Chúng ta thấy không? Khi mình muốn nhiếp phục 1 cơn giận, phải đầy đủ tám đúng. Đó là đạo lộ của bậc Thánh, đó là con đường, là phương pháp, là cách dập tắt. Chứ đâu phải nói đơn giản khi sân, mà bây giờ mình kêu đừng có sân nữa là nó dừng sân, không phải. Phải thấy đúng nguồn gốc của sự sân hận, rồi mình phải sống đúng, quán đúng, siêng đúng, định đúng về cái sân hận đó. Thì nó mới đi đến chỗ diệt tận, bứng gốc cái sân hận luôn. Mà muốn hoàn toàn cái tâm từ thì phải có thời gian là đầu tiên phải biết được cơn giận, sự vận hành, chỗ trú ở, cư ngụ, cư trú, hang ổ, xào quyệt của nó. Mà hang ổ, xào quyệt của nó là trú trong cái cảm thọ.
Mà cảm thọ khó chịu đầu tiên chúng ta phải biết tên gọi nó là gì? Nó là thọ, và bộ mặt của nó là khổ thọ. Tánh tình của nó là thiêu đốt, bốc cháy lên, là muốn phá hủy, hủy diệt. Bản chất của nó là thứ vô thường, 1 hồi nó tan biến, nó đâu có thật, mà tại sao mình phải nắm giữ, nắm giữ vô đó mình khổ đau. Tất cả mọi cái đi theo trình tự, cho nên mình phải nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận nó, rồi mình phải thoát ra khỏi cơn giận đó. Mà chúng ta biết diệt hết cái sân này là thành quả thứ mấy không? Bất lại, là không còn trở lại thế giới này nữa. Một người mà diệt tận sân hoàn toàn, không còn 1 tí xíu dư tàn xót lại, 1 chút bụi bặm hay cái tro tàn cũng không còn nữa thì người đó là bất lai, Thánh quả thứ 7, không còn trở lại thế giới này nữa.
Tham dục hết, sân hết, thân kiến, hoài nghi, giới cắm thủ, năm hạ phần kiết sử không còn. Nhất lai rồi tới bất lai, hết tham sân luôn, không có trở lại thế giới của loài người. Ở tịnh cư thiên, là nơi cư trú của các bậc Thánh quả thứ 3, bất thoái chuyển, không còn lùi lại, chỉ ở từ đó rồi nhập Niết-bàn luôn. Cho nên mình học phải thật là kỹ, thật là vững từ tên tuổi, mặt mũi, tánh tình cho đến bản chất của năm uẩn. Ở đây là đang nói về cảm thọ, biết là thọ nhưng nó là thọ gì. Trong thọ có cái gì, rồi trong đó nó vận hành như thế nào, làm sao nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận nó. Mình phải tác ý đúng chỗ của nó, sân ở đó, si ở trong con mắt, rồi tham dục ở trong chỗ phát dục. Mình phải hướng về đó để tác ý mạnh mẽ, tác ý dùng lời cho nó mạnh, nặng.
II. Năm loại cảm thọ
Thì những cái này từ từ, sâu sâu rồi mới nói, lêm núi rồi mới nói. Nói ở đây cũng chưa đúng chỗ, ai muốn học chuyên sâu là phải lên núi. Thành ra mình phải thấy được vị ngọt của cảm thọ, sự nguy hiểm và tác hại của cảm thọ và sự xuất ly thoát ra được. Mình phải nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với cảm thọ. Đó là 7 trí về thọ đó, có 2 loại cảm thọ là thọ về thân và thọ về tâm. “Có 3 loại thọ nãy giờ chúng ta đã nói rồi. Có 5 loại cảm thọ là: Hỷ, lạc, khổ, ưu và xả.
- Cảm giác dễ chịu của thân gọi là lạc.
- Cảm giác khó chịu của thân gọi là khổ.
- Cảm giác dễ chịu, hoan hỉ của tâm gọi là hỷ.
- Cảm giác khó chịu, bực bội, phiền não trong tâm gọi là ưu.
Hỷ là mừng, còn chữ ưu là lo. Hỷ, khổ, lạc, ưu: Vui, khổ, mừng, lo. Sầu, bi, khổ, ưu, não thì chữ ưu đó là lo lắng, ưu tư, buồn bã, khó chịu, bực bội. Còn “xả” là cảm giác không dễ chịu, không khó chịu của thân tâm. Đây là 5 thọ, nhưng bây giờ chúng ta cần nắm 3 thọ thôi là được rồi, ở đây mình chỉ nói sơ qua thôi chứ mình phân tích nhiều quá chúng ta học bị rối. Đây là các bậc Thánh đi vào thiền định, các Ngài thấy mồn một từng chi tiết, khía cạnh, gốc độ khi tâm đã định rồi. Còn mình bây giờ mình chỉ có 3 thọ, mình cố gắng nhận diện được 3 thọ đó là hay lắm rồi. Còn 6 thọ ở đây đó là nói theo duyên sanh ra thọ, duyên có 6 xúc cho nên có 6 thọ.
Mắt nhìn thấy cái gì đó bực bội gọi là gai mắt; nghe cái gì khó chịu, chướng tai. Thì như vậy mình nhìn cái gì khó chịu, khó sanh khởi ra liền ngay con mắt. Nghe khó chịu liền sanh khởi trong lỗ tai bùng bùng, nó đỏ lên. Đó là thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do nhãn xúc sanh. Lỗ mũi mình ngửi lên 1 cái là: “Trời ơi, bực bội, khó chịu, sân si”, bước vô toilet 1 cái là 1 đống vậy đó. Khó chịu sanh khơi lên liền, bực bội liền. Đó là thọ do tỷ xúc sanh, tức là cảm giác do lỗ mũi mình tiếp xúc nó sanh khởi ra. Rồi nếm đồ ăn, đưa món đồ ăn vô rồi tê tê cái lưỡi, rồi mê, khoái, rồi ăn riết mập thù lù vậy đó. Thấy rõ ràng không? Thọ do nhĩ xúc sanh thấy liền không? Mới nói 1 cái là nhìn thấy rồi phải không? Nếu mà ai mập là thấy khó chịu liền à, chứ đâu phải người ta nói mình đâu, người ta nói cái pháp nó vận hành như vậy.
Tự nhiên mình mập cái mình nhột à, cái đó thọ do nhĩ xúc sanh, người thật việc thật, pháp thật, pháp sống đó. Mấy người ốm người ta ngồi cười vô tư: “Tôi ốm chứ tôi có mập đâu”, còn mình mập mình nói: “Tôi mập”, thì đó nhận sắc là mình. Ngay lúc đó là vô minh, ngay lúc đó gọi là sắc thủ uẩn, thọ do nhĩ xúc sanh. Thấy pháp sống rõ chưa? Nói lớn lên. Học là phải phấn khởi, phấn chấn, sáng tỏ. Chứ không có học đơ đơ, đờ đờ, ngáo ngáo trong trạng thái si. Đọc kinh là phải đọc hùng hồn, mạnh mẽ, tùy theo cái bài. Lúc nào đọc thiền là thiền vị, lúc nào đọc vô thượng Phật đạo là đọc mạnh mẽ lên. Chứ không phải lúc nào cũng rề rề vầy hoài, không có đồ rê mi gì hết, lúc nào cũng ngang ngang đô đô, mình phải trầm bỏng, du dương. Lúc nào gặp cũng rề rề, không có 1 sức sống.
Cho nên thọ do con mắt mình tiếp xúc nó sanh khởi ra, lỗ tai mình nghe nó sanh khởi ra cảm giác, khi mũi mình ngửi, lưỡi mình nếm, thân mình đụng chạm sanh khởi ra cảm thọ ghê gớm. Phải quán chiếu, hằng ngày mình phải xem 6 cái thọ này, khi 6 sự tiếp xúc nó sanh khởi. Khi mà trong ý xúc của mình, thọ do ý xúc sanh rất là thâm sâu, phải học thuộc lòng cái duyên sanh pháp. Khi mình ngồi có cái hình bóng trong tâm hiện ra, mình khoái cái hình bóng đó, thích nó, ngồi cười 1 mình. Mà lâu lâu thì còn được chứ ngồi cười 1 mình hoài là rồi xong, sứt bản lề. Rồi xong đi 1 mình, quơ tay, múa chân nói 1 mình là đưa đi đâu? Biên Hòa hả? Bệnh viện gì vậy? “Tâm thần”.
Là như vậy đó, chứ mình đừng tưởng mình ngồi im ru trên bồ đoàn đó là mình tu đâu. Ngồi trong đó mà dục nó khởi trong đó, tham trong đó, ngồi trong suy tính làm cái gì đó để kiếm tiền. Thì ngồi như vậy chứ không phải tu đâu, đâu có li dục tư duy đâu. Cái đó là dục tầm nó sanh khởi mà không thấy không biết, không phải ngồi yên là tu đâu. Mới cái thân nó tu thôi, chứ cái tâm nó có tu không? Sâu sắc đó. Mình nhận diện ngũ uẩn mới biết được, chứ còn không mình nhìn ở ngoài là mình lầm. Ngồi đó nhưng mà bực bội, sân hận, ngồi đó suy nghĩ, tới giờ ngồi thiền nghĩ bực bà kia, bực sư tỷ kia sáng nói mình cái gì đó. Ngồi đó nguyên 1 hồi thiền lẩm bẩm, ngồi nghiệm cái gì đó chứ có tu đâu, đó là sân tầm.
Chứ không có li sân, không có li dục, mà đang vận hành các pháp ác và bất thiện pháp nó đang sanh khởi trong đó. Mà mình chấp nhận, nuôi dưỡng các pháp đó. Mình nằm với nó, mình ăn ở với nó, mình nuôi dưỡng cho nó lớn mạnh ở trong thân tâm của mình. Như vậy là ác bất thiện tháp đang hiện hữu, sanh khởi, tăng trưởng, phát triển trong tâm cho nên đâu có tu. Thấy ghê chưa, sâu sắc không? Chứ không phải ngồi yên trên đó là tu đâu. Thân ngồi yên, nhưng mà thọ, tưởng, hành, thức có yên không? Ý hành như thế nào? Có li dục tư duy, li sân tư duy, bất hệ tư duy không? Có đọc Bát chánh đạo chưa? Ngồi im ru. Trước giờ cho đọc mấy lần rồi? Phải cố gắng học thuộc, chánh tu duy là li dục tư duy, li sân tư duy, bất hệ tư duy.
Tức là mình suy nghĩ về lìa sự tham muốn, suy nghĩ rời sự sân hận, suy nghĩ rời sự muốn hại người khác. Suy nghĩ như vậy rồi là suy nghĩ chân chánh, nghĩ đúng của bậc Thánh, chánh tư duy. Đó là sự sâu sắc của sự tu của mình, không phải nhìn ở ngoài mà quyết định được. Nếu mà mình không có học cái này làm sao mình biết, mình ngồi đó mình ôm ấp những cái lậu hoặc, phiền não, cấu nhiễm của tâm. Mình làm nó xâm chiếm, lớn mạnh ở trong tâm của mình mà mình không biết. Mình tưởng mình đang tu, mình tu ở ngoài tướng, tu ở hình thức ở ngoài không à. Cho nên ngồi đó là phải tác ý, tác ý diệt những cái sân đó, những cái suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đó.
Đánh đuổi nó ra như nãy giờ mình đã học, như vậy mới gọi là tu, tinh cần, tinh tấn, như lý tác ý, như lý giác sát, như lý tác ứng, tuệ lực, tinh tấn lực, mãnh hổ lực, đại hùng đại lực. Đánh phá, đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm của mình, làm cho thân tâm của mình trong sạch, thanh tịnh, dễ chịu, ngọt ngào, mát mẻ, rộng lớn, từ ái. Đó là chúng ta nói về cái thọ do ý xúc sanh, cái cảm thọ sanh khởi từ sự tiếp xúc bên trong. Cái tâm ý của mình ngồi 1 mình, trong đó những hình bóng nó sanh khởi, những cảm giác, những suy nghĩ sanh khởi lên. Một ngày mình ngồi yên được mấy tiếng? Im ru hết trơn. Một ngày mình ngồi yên được 1 tiếng đồng hồ không? Thấy chưa? Không có thời gian ngồi yên.
Lăn xăn, dao động, hướng ngoại, tìm kiếm những cái bên ngoài làm sao thấy được tâm mình. Không thấy được tâm mình, làm sao mà biết có cấu nhiễm. Không biết được nó dơ chỗ nào, làm sao mình tẩy rửa. Không tẩy rửa làm sao đi đến thanh tịnh, trong sạch. Mình sống với 1 cái tâm cấu nhiễm, như vậy phiền não, khổ đau. Đức Phật nói tâm mình là 1 vết thương, chạm tới là sừng sộ, phẫn nộ lên. Cái tâm không có tu tập, chưa có hiền, chưa có ngoan từ ái, chưa có khiêm cung, chưa có dễ thương. Chạm tới 1 cái là nó nhảy dựng lên, chạm tới 1 cái là nó sừng sộ, nó phẫn nộ, nó bất mãn, sân hận. Đó là 1 nội tâm không có tu tập, tâm hoang vu, tâm rừng rú. Chúng ta thấy không? Bây giờ mình căn cứ trong kinh Nikāya mình mới thấy mình đang ở chỗ nào, ở cửa chùa phải không? Chúng ta thấy không?
Mình chưa nhìn ra được ngũ uẩn làm sao mình tu. Mình không thấy những suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng, nhận thức đó làm sao mình tu. Tối ngày mình cứ nhìn ra ngoài không à, so đo cái này cái kia, người này người nọ, món đồ này món đồ khác, chùa này chùa nọ, cảnh này cảnh kia. Chạy theo những cái sắc pháp, sắc uẩn vô thường, những cái thứ bị biến đổi, bị tan biến, bị bại hoại, bị hoại diệt. Như vậy khi những cái đó bị đổi thay là mình sầu, bi, khổ, ưu não. Không được thì mình đau khổ, được rồi thì lo lắng, sợ hãi, sợ mất, sợ nó hư. Sợ mình phải rời xa những thứ khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ với cái dục hấp dẫn. Những thứ mà đáng vui, đáng mừng, đáng ưa, đáng thích, vừa lòng, hấp dẫn, liên hệ với sự ham muốn của mình, một khi nó rời xa rồi mình đau khổ.
Tại mình đâu có nhìn lại, đâu có quán chiếu, đâu có nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham. Mình đâu có thấy sự nguy hiểm và tác hại ở trong đó. Mình bị cái vị ngọt nó xâm chiếm, áp đặt, nhận chìm mình. Giống như con ruồi chết trong hủ mật, mà không có biết tai họa. Chỉ thấy miếng ngọt, vị ngọt mà không biết vô đó thì chết. Thành ra tất cả chúng sanh là bị vị ngọt nó nhấn chìm, chết chìm trong đó. Người tu là người phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại ở trong cái vị ngọt của cảm thọ. Nếu mình không có quán chiếu, thiền quán, suy tư, nghiền ngẫm cái này là mình không có đi tới đâu hết. Xuất gia bao nhiêu năm trời ngồi lại rầu rĩ, mặt mày ủ ê, sầu, bi, khổ, ưu, não.
“Tôi còn muốn cái này nữa, còn muốn cái kia nữa. Tôi còn tính làm cái này nữa mà sao trở ngại hoài, buồn quá”. Đó là dục không à, dục tham, lòng khao, lòng khát, lòng tham, lòng muốn, lòng ái, lòng thích vẫn còn y nguyên, thậm chí tăng trưởng phát triển. Không được nhìn thấy, không được nhiếp phục, không được chế ngự làm sao đoạn tận, làm sao xuất ly ra khỏi nó được. Chúng ta thấy đó, toàn bộ sự tu hành này có mấy chữ đó đó, nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham. Nếu mình thấy được sự nguy hiểm, tác hại của nó, nhiếp phục, chế ngự nó để mình đi đến chấm dứt nó, mình đi ra khỏi nó. Đó là đạo lộ của bậc Thánh, Thánh đạo, chỉ có như vậy mới hết đau khổ thôi, không có con đường nào khác hết.
Đây là con đường độc nhất đưa chúng sanh đi đến thanh tịnh, vượt khỏi khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng nhập Niết-bàn, không có con đường thứ 2. Mình coi tất cả khổ đau, sự lo lắng của mình có phải từ sự ham muốn, yêu thích không? Bây giờ mình không có thích cái ly trên bàn gì hết, thì nó rớt xuống cái “rổn”, đổ thì đổ, nó bể thì bể. Tại cái tánh chất của nó là bể mà, nó bể là sự biểu hiện tính chất của nó thì có gì đâu mà khổ. Nhưng vì lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng khoái, lòng thích, cái tâm chấp thủ cho rằng cái này là của tôi. Cho nên nó bể cái là mình sân si, đau khổ, bực bội. Chứ còn nó bể là chuyện đó đúng rồi, không bể cái đó mới là lạ, chứ bể cái đó mới trúng. Không chết là chuyện lạ, chết là chuyện bình thường, đối với bậc có trí tuệ là vậy đó.
Thí bây giờ mình học rồi, mình có trí tuệ, mình thấy mình đang ngồi ở đây là bất thường, mà mình gặp tai nạn mình chết, cái đó là bình thường. Chính vì vậy mà mình trân trọng, trân quý cái sự mình đang được an ổn này lắm. Để mình được tu tập, được học hỏi, được thành tựu. Còn nếu không, khi sự tan nát, hủy hoại, hoại diệt, thay đổi, vô thường, tai nạn nó tới là lúc đó lúc đó đau khổ, cho nên phải để ý. Cái 6 thọ, 18 thọ là từ từ chúng ta học đi, cái này mà phân tích nhiều nó sẽ rối, chúng ta chỉ cần quán chiếu 3 thọ thôi. Mười tám thọ ở đây là 1 xúc có thể sanh 1 trong 3 cảm thọ, mà có 6 xúc, mình nhân cho 3 ra 18 cảm thọ.
“Khi mình tiếp xúc có thể sanh ra vui, có thể sanh ra khổ, có thể sanh ra không vui không khổ. Và có 6 tư duy là thân cận với hỷ, 6 tư duy thân cận với ưu, 6 tư duy thân cận với xả”. Tức là 6 suy nghĩ mà nó gần với sự dễ chịu, hoan hỉ trong tâm. Sáu suy nghĩ mà nó gần với sự buồn, khó chịu, bực bội. Sáu suy nghĩ nó gần với sự không dễ chịu không có chịu, xả. Ở đây nói cái này 1 chút để chúng ta thấy cái xả này nó ghê lắm. Cái xả mà của trí tuệ là nó khác, còn cái xả của cái tâm mà nó si mê là khác. Cái chữ “xả thọ” ở đây là chúng ta phải hiểu, nó có 2 cái phương diện, 1 phương diện của người không có trí tuệ, thì cái xả là cái tâm buông xả. Còn cái xả của phàm phu mà ở đây nói bình thường ở trong cái xả thọ này, tức là cái cảm thọ trơ trơ, không dễ chịu, không khó chịu.
Thành ra phải hiểu, cái chữ xả này nó dễ lầm lẫn. Cũng như “lạc thọ, khổ thọ, xả thọ”, thì chữ “xả” này chính là trung tính, tức là không phải khổ cũng không phải vui, nó đơ đơ. Chẳng hạn như mình đi ra đường, hay giờ mình ngồi cũng không phải hứng thú gì, cũng không phải khó chịu, thấy thường thường, đều đều vậy đó. Thì cái đó là xả đó, thì cái này nó dễ si mê lắm. Nếu mà mình có học ngũ uẩn, có nhận diện cảm thọ, mà mình biết cảm thọ không khổ không vui là cảm thọ xả, thì cái đó là có tu. Còn nếu mà mình ngồi nó đơ đơ, nó không thích cũng là không không thích, nó đều đều như vậy mà nếu mình không có biết là thọ. Mà mình thấy: “Tôi thấy thường thường thôi, tôi không khoái mà tôi cũng không ghét”. Thì cái đó cũng là xả, nhưng mà cái xả thọ này si, chúng ta dễ hiểu cái này không ạ?
Cái này chúng ta nắm được dễ không? Im ru hết trơn vậy? Còn cái xả mà của trí tuệ tức là nó xuông xả, nó không có an trú cái tự ngã vô cái cảm thọ đơ đơ đó, nó không nói: “Tôi giờ thấy thường thường”, nhưng mà nó biết đây đang có 1 cảm thọ đơ đơ, không thích cũng không ghét. Mà nó biết được này là cảm thọ bất khổ, bất lạc. Đây chỉ là cảm thọ. Rồi chỗ sâu hơn nữa là gì? Là nó biết cảm thọ này vô thường, “không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi”. Rồi chút xíu cảm thọ đó sẽ đổi thay, một hồi bị ai cự là sẽ buồn, sẽ khổ, được khen thì sẽ vui. Cái cảm thọ không khổ, không vui này nó là vô thường, cho nên mình đừng cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình.
Thì mình buông xả cái cảm thọ đó, mình không có chấp nhận cái cảm thọ đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Thì cái đó là xả thọ, có sự nhận diện, có sự trí tuệ, có sự tu tập. Phân biệt được 2 cái đó ha, phân biệt kỹ 2 cái này. Mà thường chúng ta sống trong cảm thọ này, là cảm thọ đơ đơ, trơ trơ mà chúng ta không biết. Mà rất thường, 1 ngày chúng ta sống với cái này khoảng bao nhiêu? Ngày nào cũng giận hết trơn hả? Một ngày giận mấy tiếng? Nó ít phải không? Cái giận nó ít lắm, rồi cái khoái thích nó cũng ít. Nhưng mà cái thường thường nè, cái này nhiều không? Cái không thích và không không thích, cái đều này chiếm 70, 80, 90%, mà chúng ta tu là tu cái cảm thọ này, cái này quan trọng.
Làm sao phá cái cảm thọ này? Đây là vấn đề đó. Cái hồi nãy đầu tiên con vô con hỏi quý thầy cô mà quý thầy cô im ru đó, chính là cảm thọ đó đó. Rồi sau 1 hồi kêu là phấn khởi lên, “dạ có” đàng hoàng, vỗ tay này nọ, mặt mày như hoa nở, thì cái đó là cảm thọ khác, lạc thọ. Còn cái nghe nói tới sự nghiệp đời tu của mình chưa tới đâu hết trơn, tự nhiên thấy khổ thọ. Cho nên chỗ này là chỗ quan trọng nè, cái buồn mà nó đưa đến thiện pháp và cái buồn mà nó đưa đến bất thiện pháp, phân biệt được chỗ này không? Cái này rất quan trọng, không nhìn ra được những cảm thọ này là mình không biết tu đâu. Thí dụ bây giờ ngồi mà chậc lưỡi: “Bữa nay lễ gì mà người ta đi chơi nhốc, lễ quốc tế phụ nữ mới mấy bữa nay”. Ngồi tủi thân, người này được tặng cái này, được tặng hoa, tặng quà: “Mình không có gì hết trơn”, ngồi buồn.
Thì cái này là thiện pháp hay bất thiện pháp? Bất thiện pháp. Rồi cái ngồi suy tư: “Buồn quá, mình tu 10 năm rồi, mà tại sao cái sân bự chà bá trong tâm mình. Chạm tới 1 cái là bực bội, sân hận, mình xấu hổ quá. Không lẽ bây giờ mình chui xuống lỗ, hay là mình độn thổ. Chứ tự nhiên bây giờ huynh đệ mới tu mà mình sân hận, sân si, bản ngã này kia”. Rồi tối trở về phòng: “Trời ơi, nhục nhã, xấu hổ vô cùng biết làm sao giờ. Huynh đệ người ta mới vô chùa tập sự, mà mình phình trương cái bản ngã của mình, mình ưỡn ngực, hất mặt lên là ta đây: “Biết tôi ở chùa này bao lâu không? Mới vô đừng có lạng quạng nha không?” Bây giờ nhớ tới cái hình ảnh đó sao mà xấu đau xấu đớn. Trời đất ơi bây giờ không lẽ độn thổ, làm sao sáng mau ra dòm mặt người ta đây trời ơi”.
Mình ngồi, mình suy nghĩ vậy mình buồn, thấy mình tự trách mình, thấy mình ray rứt, thì cái u buồn đó là thiện pháp. Phát triển nó lên, tăng trưởng nó lên, để cho nó càng xấu hổ, “nhục nhã sanh Thánh quả”. Viết câu này vô, để lên bàn thờ lạy, đóng khung lại, để lên bàn học, 1 ngày tụng trăm lần, càng lạy càng tốt. Mình lên mình lại Đức Phật, mình nhìn Đức Thế Tôn ngồi, mình thấy 1 bậc tối tôn tối thượng của chu thiên và loài người. Minh Thành mới dịch câu: Đảnh lễ lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác ra tiếng Việt, cho đạo tràng Nikāya đọc mỗi trước khi nghe pháp. Chữ “nam mô” là con dập đầu cúi lạy, “Thế Tôn” là bậc thế gian tôn kính, “A-la-hán” là tâm hoàn toàn thanh tịnh, diệt tận tham, sân, si. “Chánh đẳng giác” là bậc thấu suốt tột cùng thân tâm và thế giới.
Chữ “Phật” là đấng giác ngộ hoàn toàn, bậc thấu suốt tột cùng thân tâm và thế giới. Khi mình đọc câu đó xong, mình nhìn lên Đức Phật thấy sao Ngài cao quý, tối thượng, vĩ đại như vậy. Mình nhìn lại mình, mình thấy nhục nhã, xấu hổ. Mình thấy mình dưỡng tử Như Lai, mình nói mình Thánh đệ tử, Tỳ-kheo, mà tại sao mình đầy giẫy những ác bất thiện pháp. Tối về mình nhìn mình thấy nhục nhã, xấu hổ, tủi thân, mình dập đầu mình khóc, mình lạy. Thì cái khóc, cái lạy, cái tủi thân, xấu hổ, nhục nhã đó là cái pháp tàm quý. Sự xấu hổ và sợ hãi đó nó sanh khởi thì cái đó là gia tài của bậc Thánh. Còn người nào mà không có cái đó, thì tu không bao giờ tiến hết. Một trong những cái pháp mà đưa người này đến nhập lưu Thánh quả là tàm quý, không có tàm quý là không có tiến bộ được.
Tương Ưng Cassapa Ngài Ma-ha-ca-diếp nói: “Một người không có lo lắng, không có xấu hổ, không có sợ hãi thì không bao giờ tăng thượng trong thiện pháp, không bao giờ đạt được Niết-bàn, không bao giờ diệt tận hết tham, sân, si”. Cho nên mình tu bây giờ thì ít người nào nói tàm quý này lắm, nói học trên chữ nghĩa phớt qua vậy thôi. Chứ không có khai triển tàm quý này hết mức, tối đa. Để cho mỗi 1 lần mà mình làm sai, tội lỗi là cảm thấy nhục nhã, thấy mình bẩn thỉu, thấy mình không xứng đáng đối với chiếc y, không xứng đáng với cái đầu tròn này. Mình vô mình lạy Phật, không dám nhìn, cúi cái đầu mình xuống, gục cái đầu mình xuống, dập cái đầu mình xuống.
Thì như vậy cái pháp sanh khởi trong mình, thì cái đó là dòng chảy đưa mình thể nhập vào trong một cái sự mà mình sẽ cố gắng làm sạch, làm mới, làm đẹp mình lại. Thì đó là cái động lực để cho mình thăng tiến, tăng thượng trong đức hạnh, thiền định, trí tuệ. Không có cái pháp tàm quý, xấu hổ, lo lắng, nhục nhã, sợ hãi là không có tiến bộ được. Cho nên mình tu mà mình trơ trơ, coi mình là thầy, là cô, là sư phụ. Lúc nào mình cũng ở trong cái vẻ cao cao, thấy người ta không xá, hay là xá phớt lờ là mình sân si lên. Thì như vậy là xong, sự tu của mình là coi như âm nặng, chứ không có nói là số 0, cái chỗ này quan trọng. Người chân tu thấy pháp là người lúc nào cùng cúi đầu, lúc nào cũng thấy mình xấu hổ đối với Phật và các bậc Thánh.
Nhìn lại mình là tham nhốc hết, sân hận quá chừng, si mê, vô minh, bản ngã to tướng. Đụng vô cái gì là cũng còn tham, còn muốn, còn khoái, còn hơn thua, còn đấu tranh. Thì mình thấy như vậy là nhục nhã, lo lắng, sợ hãi. Ngồi lại là thấy ưu tư, trăn trở, thao thức ngủ không được. Nửa đêm ngủ dậy là tự hỏi: “Tại sao mình lại có những cái như vậy?” Lo hoài, rồi cố gắng làm sao tẩy sạch những cái này. Thì cái đó rất quan trọng, “nhục nhã sanh Thánh quả”, đó là dòng chảy của Thánh pháp. Cho nên đó là “thất Thánh tài” mình học chữ nghĩa thôi à, bây giờ “thất Thánh tài” ai nhớ? Tính, Giới, Văn, Thí, Tàm, Quý, Tuệ. Đây là 7 tài sản của bậc Thánh.
Có được 7 cái này, tức mình là người thừa tự pháp, thừa kế Thánh sản. Mình được thừa tự tài sản của Đức Phật và các bậc Thánh. Còn mình không có mấy cái này, coi như mình là kẻ nghèo hèn trong Phật pháp. Lòng tin bất động đối với Đức Phật, giáo pháp và chúng Tăng. Giới hạnh, nghe pháp, bố thí, xấu hổ, sợ hãi và trí tuệ quán chiếu sanh diệt ở trong 5 thủ uẩn. Phải có được 7 cái pháp này, nó đang có mặt, sanh khởi, vận hành, tăng trưởng, phát triển, tăng thượng, lớn mạnh trong thân tâm của mình. Như vậy mình được gọi là người được thừa kế tài sản của bậc Thánh. Chứ không phải học thuật ngữ đơn sơ mà lên đọc đọc, nói theo chữ nghĩa như vậy. Mà phải có trong tâm, trong thân của mình, pháp tàm quý nó có.
III. Tâm hiền
Thậm chí là trong đạo tràng Nikāya, mà nói về Đức Phật là nước măt đầy mặt hết trơn, xúc cảm, chấn động. Khi quán về nghiệp quả là bao nhiêu cái gì sâu kín trong tâm là bày lộ hết, phát lồ sám hối, không có che đậy. Cái đức chân thật của người gọi là đệ tử của Như Lai gọi là trực hạnh, một cái tâm chánh trực, chân chánh, chân thực, chân thành. Mình bây giờ kêu nói nhẹ, góp ý cái là: “Đâu có đâu, tại cô kia chứ tôi có làm đâu”. Vậy là xong rồi, mình rất là nuông chiều, bảo vệ, che chắn, rào chặt rất là kỹ. Ai chạm tới mình cái là đùng đùng nổi giận, sân si, sân hận, bản ngã sanh khởi lên. Như vậy làm sao mà tu, không có tu được. Cho nên bước đầu tiên trong pháp hành Nikāya, là phải thực tập tâm hiền.
Các bậc Thánh hồi xưa gọi với nhau là hiền giả, bậc hiền trí. Người nào cũng phải đạt được cái tâm hiền, rồi sau đó mới tu được. Nếu mình còn hung dữ, mình còn những cảm giác bức xúc, bực bội, những cảm giác mà hơn thua này kia là không bao giờ tu được. Còn những cái đó, là mầm mống của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đầu tiên phải thành 1 người hiền giả, hiền nhân, thì mới tu Thánh pháp được. Tức là cái đạo đức căn bản của con người phải thành tựu.
“Dục tu tiên đạo,
Tiên tu nhân đạo,
Nhân đạo bất tu,
Tiên đạo viễn hỷ.”
Muốn tu đạo tiên, trước tu đạo người, đạo người chưa tu, đạo tiên xa với, đó là câu nhà nho người ta nói đó. Đó là mới có tiên đạo, tức là chư thiên còn luân hồi trong sanh tử đó, chứ chưa phải Thánh đạo. Thánh đạo là cắt đứt dòng luân hồi sanh tử luôn, ra khỏi lục đạo, ngũ thú, xuất ly tam giới. Cho nên bước quan trọng đầu tiên của người thực hành pháp Nikāya, là phải thành tựu tâm hiền. Mà muốn thực tập cái tâm hiền này thì ít nhất là phải 3 năm, 5 năm, phải rèn luyện về cái tâm hiền. Quý vị nào muốn học thì vô coi “Tầm Quan Trọng Của Tâm Hiền Trí”, có 9 buổi giảng, về bài kinh “Sau Khi Ăn” của tôn giả Xá-Lợi-Phất. Bài đó là bài rất quan trọng về pháp học và pháp hành.
Chín buổi, là 9 cái pháp quán chiếu của Ngài Xá-Lợi-Phất. Là Ngài tu về cái hạnh đất, nước, gió lửa, giống như nùi giẻ rách, an cái tâm của Ngài trú giống như con bò đực bị cưa cái sừng, giống như 1 người thấp hèn nhất ở trong xã hội, giống như bị ung nhọt 9 lỗ. Ngài quán những cái pháp đó, Ngài thành tựu bậc Thánh chí cao, tối thượng trong hàng Thánh. Đó là pháp hành của Ngài Xá-Lợi-Phất, mà đạo tràng Nikāya ứng dụng cái đó làm chính, lấy 9 cái pháp đó làm an trú tâm, phải tu tập trong 3 năm về cái tâm hiền. Bất cứ 1 người nào vô đầu tiên là cho 6 tháng thực tập tâm hiền, dầu cho quý thầy, sư cô tu bao nhiêu lâu đi nữa thì lên núi là thực tập tâm hiền rồi nói gì nói.
Cái tâm còn dữ dằn, còn hơn thua, sân si, bản ngã làm sao mình tu. Bây giờ tu vô nhìn thấy lỗi người ta không à, mình không nhìn lại cảm thọ của mình, không nhìn thấy được cái tâm cấu uế, uế nhiễm của mình. Mình cứ hướng ra ngoài, mình bắt người này, bắt người kia, chỉ trích cái này cái nọ làm sao mình tu, không có tu được. Cho nên phải thành tựu tâm hiền 70, 80%, đó là nói tương đối rồi nha, chứ không phải 100%. Mình mà được 100% tâm hiền, cộng với chánh tri kiến nữa là nhập lưu, tối thiểu là Thánh quả, tối cao là A-la-hán được thành tưu. Thành ra chúng ta đọc Nikāya chúng ta thấy các vị Tỳ-kheo ngày xưa hiền lắm, hỏi cái gì là khai hết trơn à.
Như Đức Phật hỏi ông có nói vậy không? Là: “Dạ dạ, đúng rồi, con nói vậy đó”, Đức Phật hỏi: “Sao ngày nói vậy?” là khai hết trơn hết trọi. Còn mình bây giờ kêu đến là: “Đâu có đâu”, lanh lợi đó, mà lanh ngu không à. Lẻo mép, ngụy biện, xảo luận, quanh co giấu lỗi lầm, ở trong sám hối diệt ngã đó, đọc kỹ bài đó. Tâm của chúng ta là 1 cái tâm xảo trá, quanh co, ngụy biển, bản ngã, hơn thua, không có tu được. Cái tâm đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không à. Muốn tu Thánh pháp của Phật, là phải thành tựu được cái tâm hiền. Rồi sau đó mới thành tựu trí tuệ rồi trở thành hiền trí, chứ không phải hiền ngu. Hiền mà khờ khờ, mù mù, không biết gì hết trơn hết trọi, thấy lạ lạ cái lụm thì cái đó là hiền ngu.
Cái hiền trí của Đức Phật đặc biệt, hiền nhưng mà người ta có trí tuệ sâu sắc về ngũ uẩn, người ta không có hơn thua với đời. “Này các Tỳ-kheo, Như Lai không có tranh với đời, chỉ có đời tranh với đời”. Như Lai không có tranh với thế gian, Trung Bộ kinh. Lúc đó là 500 người, những người đại gia, giàu có, những thôn trưởng có chức quyền. Lúc Đức Thế Tôn mới vừa về, các ông nhóm họp, xách đồ ăn đủ thứ món, nước noi, bánh trái, sữa này, sữa kia, ở trước cửa tịnh xá ồn ào. Đức Thế Tôn hỏi Ngài Ananda:
“- Cái gì ồn ào ngoài đó, sao mà giống nhóm bạn hàng tôm, hàng cá nhóm chợ.
- Bạch Thế Tôn, các vị thương gia, gia chủ, đại gia hay tin Thế Tôn về, họ nhóm họp đem thức ăn, thực phẩm, bánh trái đến cúng dường Đức Thế Tôn.
- Ông nhân danh ta ra đuổi đi, ta không có tranh với đời, ta không có ưa thích những lợi dưỡng như phân, ta không có tìm tòi những lợi dưỡng như phân.”
Chúng ta thấy Đức Phật nghiêm từ lắm, chứ không phải như mình tưởng làm thinh như trong phim này nọ kia. Ngài nghiêm từ, nghiêm túc lắm, có khi Ngài quở trách nặng lắm. Chứ không phải đơn giảng lúc nào Ngài cũng ngồi im ru mà cười đâu, không phải. Sai 1 cái là Ngài rầy mạnh lắm, Ngài đọc cái là mình rúng động, nổi da gà sợ lắm. Cái uy đức của Ngài nghiêm mà từ, từ mà nghiêm. Rồi 1 nhóm Tỳ-kheo nữa, 500 người mới xuất gia, đệ tử Ngài Mục-Thiền-Liên và Ngài Xá-Lợi-Phất đi về chia bình bát, tọa cụ này kia ồn ào. Ngài mới hỏi:
“- Này Ananda ai vậy? Các thầy này ở đâu tới đây?
- Bạch Thế Tôn, là đệ tử Ngài Mục-Thiền-Liên và Ngài Xá-Lợi-Phất các vị mới xuất gia, tân Tỳ-kheo về chia bồ đoàn, tọa cụ.
- Ra nhân danh ta đuổi đi, xuất gia gì giống như bạn hàng tôm cá vậy. Ta không có gặp.”
Rồi mấy vị Tỳ-kheo kia đi đến xin với Đức Thế Tôn, xin bao nhiêu lần không được, rồi phạm thiên Sapati, rồi các vị trong thích tử, bà con, dòng họ, chư thiên, Ngài Ananda năn nỉ sau đó lâu Đức Phật mới cho về. Chứ không phải đơn giản đâu, Ngài đuổi hết 500 Tỳ-kheo đó không tiếp. Xuất gia giống như bạn hàng tôm cá, không có thân hành niệm, không có oai nghi, không có giới luật, không có an tịnh lắng dịu, không có thu thúc lục căn, phòng hộ các căn là đuổi đi. Thành ra Thế Tôn giờ còn chắc nhiều vấn đề để cho mình học lắm. Đó là đại gia, doanh nhân và các Tỳ-kheo 500 người đó.
Cho nên chúng ta cố gắng học kinh Nikāya, để mình biết được cái bổn phận sự của mình như thế nào. Phải cố gắng học cho nhiều, còn không thôi mình cứ học theo xưa bày nay làm, ta sao mình vậy thì làm sao học tới gốc rễ, và cái tiền đồ, tương lai của mình cũng không đi tới đâu. Đó là chỉ học trong cái pháp phàm phu thôi, phước báo của nhân thiên. Cho nên là trong cái oai nghi, giới hạnh là Đức Phật rất là kỹ.