Nghiệp & Quả Báo 18
Kinh Nikāya Giảng Giải
Nghiệp & Quả Báo 18
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Một thắc mắc về tái sanh của hai người PAGEREF _Toc139300894 \h 1
II. Sáu hạng người PAGEREF _Toc139300895 \h 5
III. Không đo lường các hạng người PAGEREF _Toc139300896 \h 10
I. Một thắc mắc về tái sanh của hai người
"Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của nữ tu sĩ Migasàlà; sau khi đến, ngồi trên ghế đã soạn sẵn. Ngồi xuống một bên, nữ cư sĩ Migasàlà thưa với Tôn giả Ananda:
Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): 'Cả hai sống Phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai? ' Puràna, thân phụ của con, thưa Tôn giả, sống Phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: 'Là bậc Dự lưu sanh với thân ở Tusità ( Ðâu-suất)'. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: 'Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità'. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): 'Cả hai sống Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai'?
- Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn.
Tôn giả Ananda sau khi nhận đồ ăn khất thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasàlà, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Rồi Tôn giả Ananda, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng con đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà, sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Nữ cư sĩ Migasàlà đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Migasàlà thưa với con: 'Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): 'Cả hai sống Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai'. Puràna thân phụ con, thưa Tôn giả, sống Phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: 'Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità'. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: 'Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità'. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai'? 'Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con nói với nữ cư sĩ Migasàlà: 'Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn'.
- Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người? Này Ananda, có sáu hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là sáu?
- Ở đây, này Ananda, có người khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỉ sống chung. Vị ấy nghe Pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập vào tri kiến, không chứng đắc thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
Ở đây, này Ananda, có người khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỉ sống chung. Vị ấy nghe Pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập vào tri kiến, có chứng đắc thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi về thối đọa. Ở đây, này Ananda, những kẻ đo lường đo lường như sau: 'Những pháp ấy của vị này là như vậy, những pháp ấy của vị kia là như vậy; làm sao trong những hạng người này, có người hạ liệt, có người là thắng diệu? Và do sự đo lường ấy, này Ananda, đối với những người đo lường là không hạnh phúc, là đau khổ lâu dài. Ở đây, này Ananda, hạng người này, khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỉ sống chung. Vị này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, thể nhập được vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này, này Ananda, so sánh với hạng người trước là tiến bộ hơn, là thắng diệu hơn. Vì cớ sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có là người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananda, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người. Chỉ có ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người, hay là người như Ta.
Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên; với người này, nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên; với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, có chứng được thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa...
Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên; với người này, nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên. Với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, Này Ananda, những kẻ đo lường đo lường như sau: 'Những pháp ấy của vị này là như vậy; những pháp ấy của vị kia là như vậy. Làm sao trong những hạng người là hạ liệt, có người là thắng diệu?' Và sự đo lường ấy, này Ananda, đối với những người đo lường là không hạnh phúc, là đau khổ lâu dài.
Ở đây, này Ananda, hạng người này khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỉ sống chung. Vị này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, thể nhập được vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này, này Ananda, so sánh với hạng người trước là tiến bộ hơn, là thắng diệu hơn. Vì cớ sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananda, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người này hay là người như Ta.
Và này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà, lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể biết sự thắng liệt giữa các người? Này Ananda, có sáu hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Giới như thế nào, này Ananda, Puràna được thành tựu, giới ấy Isidatta chưa thành tựu. Do vậy ở đây, Puràna có sanh thú khác với sanh thú của Isidatta. Tuệ như thế nào, này Ananda, Isidatta được thành tựu, tuệ ấy Puràna chưa thành tựu. Do vậy ở đây, Isidatta có sanh thú khác với sanh thú của Puràna. Như vậy, này Ananda, cả hai người này đều có thiếu sót một chi phần"
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, II. Migasàlà)
Hôm nay chúng ta học bài kinh Migasala trong Tăng Chi Bộ, tập III. Ngài Ananda đi đến nơi ở của cư sĩ Magasala thì vị cư sĩ này hỏi ngài Anan có hai người, một người sống phạm hạnh tức là không sinh hoạt vợ chồng, một người sống không phạm hạnh tức là còn sinh hoạt vợ chồng, nhưng sau khi chết thì cả hai người đều cùng sanh đến nơi tốt đẹp là cõi trời Đâu-suất và được Đức Phật nói rằng hai vị này đều là bậc Dự Lưu, là Thánh quả thứ nhất.
Trong hai người này thì một người là cha, một người là cậu của cô cư sĩ này, cha của cô này sống phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mạng chung thì Thế Tôn nói rằng đó là bậc Dự Lưu sanh ở cõi Đâu-suất, còn cậu của cô này thì "tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità". Cô cư sĩ này nghi vấn nên mới hỏi ngài Ananda, ngài trả lời rằng Đức Thế Tôn trả lời như vậy là như vậy.
"- Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn", câu này có nghĩa rằng Đức Thế Tôn trả lời như vậy là đúng như vậy, nếu đọc trong kinh văn sẽ hơi khó hiểu. Sau câu hỏi đó thì ngài Ananda quay về nói lại cho Thế Tôn nghe xong thì ngài giải thích có sáu hạng người, nhưng trước khi giải thích Thế Tôn có câu quở trách rằng đem trí tuệ của đàn bà để nhìn hình tướng bên ngoài, đó là sự ngu si, tức là Đức Phật đã nói như vậy rồi mà vẫn không tin lời của người, hỏi tại sao lại như vậy.
Nói theo cách thông thường là đàn bà, còn nói sâu sắc một chút là phàm phu làm sao có thể hiểu biết được sự thù thắng và hạ liệt giữa con người với con người. Nghe câu này giống như Đức Phật có sự phân biệt giai cấp nhưng sau này mình sẽ học nhiều bài kinh Đức Phật nói về đặc tính của phụ nữ, mình sẽ biết tại sao phụ nữ không trở thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, tại sao phụ nữ không trở thành chuyển luân vương, tại sao không thành ma vương, đều do nhân quả của nghiệp chứ không phải ngài kì thị nam nữ, với lại văn hóa thời đó sử dụng câu nói như vậy. Khổng Tử cũng hay nói đàn bà với con nít, nghĩa là xã hội ngày xưa phụ nữ ít được học, thậm chí bây giờ có những nước phụ nữ ra đường phải bịt mặt, bị nhiều thiệt thòi.
Ở Ấn Độ phân biệt giai cấp rất khủng khiếp, khi con qua đó thì chú tài xế không được ngồi ăn cơm chung với mình mà phải ngồi riêng, trải qua 2600 năm mà giai cấp vẫn còn rất rõ rệt vì vậy thời đó Đức Thế Tôn cho phụ nữ xuất gia, thành lập Ni chúng là cả một vấn đề bị công kích, chỉ trích, hãm hại rất khủng khiếp. Sau đây Đức Phật đưa ra 6 hạng người là sáu nguyên nhân tại sao mình chỉ nhìn thấy bề ngoài, hình tướng bên ngoài còn những cái sâu sắc bên trong, nhân duyên, phước đức của người đó mình không biết được.
II. Sáu hạng người
Người thứ nhất là "khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỉ sống chung". Khéo tự chế ngự nghĩa là khi muốn nói điều gì, muốn la lối nhưng kiềm chế lại, mình muốn có những hành động cho hả dạ nhưng kiềm chế lại không cho phát ra, mình có những ý nghĩ "nói như vậy là đụng chạm tôi, xúc chạm tôi" nhưng mình nhiếp phục lại, không tiếp tục nghĩ nữa, đó là tự chế ba nghiệp, tự chế suy nghĩ, tự chế lời nói, tự chế hành động. Chính mình khéo léo tự chế ngự suy nghĩ, lời nói, hành động của mình, dễ chung sống, ai cũng hoan hỉ sống chung nhưng "nghe Pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập vào tri kiến, không chứng đắc thời giải thoát".
Nghe pháp không có tác động, không có cảm thọ gì cả, cứ đơ đơ ra, nghe nói về khổ mà không thấy khổ gì cả, nói vô thường lại không thấy vô thường mà chỉ thấy bình thường, nghe nói bản ngã thì bảo không có bản ngã gì cả cho nên không thể nhập vào tri kiến, tức là không thể nhập được sự thấy biết của bậc Thánh, không thấy được cái sân hận này nó nguy hiểm, tác hại như thế nào.
Đức Phật nói nó là thuốc độc nhưng mình "không được, tôi phải giận mới đúng", tức là mình không có một chút thể nhập nào trong cái thấy biết mà Đức Phật truyền trao cho mình, nghe pháp không có tác động gì cả, học cũng không có tác động gì cả, không thể nhập được tri kiến cho nên không chứng đắc thời giải thoát.
Thời giải thoát ở đây là giải thoát một khoảng thời gian, ví dụ có lúc tâm mình nhẹ tênh, không có tham, sân, si trong khoảng thời gian nghe pháp hay ngồi thiền, lúc đó mình không có năm triền cái thì gọi là thời giải thoát, tức là thoát ra khỏi tham, sân, si tạm thời, trong một khoảng thời gian nào đó. Nhưng người này lại không có được điều đó vì họ không cảm pháp, không thể nhập được cái thấy biết của Đức Phật nói nên tâm không thoát ra được tham, sân, si, vô minh, dục ái dù chỉ trong một khoảng thời gian, nó cứng ngắc, trơ trơ ra cho nên sau khi chết thì "Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng",
Nhìn bề ngoài thấy cũng khéo léo tự kiềm chế bản thân, dễ sống, dễ nuôi, mọi người ở chung cũng vui nhưng nghe pháp không thọ được, không thể nhập được cái thấy biết của Đức Phật truyền trao, tâm không thoát được tham, sân, si, bản ngã dù chỉ trong khoảng thời gian ngắn cho nên sau khi nhắm mắt ra đi thì người này hướng về thối đọa do tâm không thể nhập vào tri kiến, không thể nhập vào cái thấy biết về vô thường, khổ, vô ngã, về tai họa, trống rỗng, khổ đau, không cảm thọ được, không thấm thía được, không tuôn trào nước mắt, không chấn động thân tâm, không rung chuyển các chấp thủ, nghe thì nghe nhưng xong thì thôi cho nên sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa chứ không hướng về thù thắng.
Hạng người thứ hai là khi nghe pháp thì người này có sự tác động tâm ý, đó là cách tác ý, học nhiều, có tác động tâm ý vào lời dạy của Đức Phật, có thấm thía, có sự cảm động, chấn động, vỡ òa ra một sự thật, nào giờ tưởng mình giỏi lắm nhưng giờ thấy mình chưa giỏi, nào giờ tưởng mình tốt lắm nhưng giờ mình ra thấy mình chưa tốt, nào giờ tưởng mình hiền lắm nhưng khi nhận diện ngũ uẩn và nhìn sâu vào thì thấy mình chưa hiền, đó là bắt đầu có sự cảm động, có sự tác động, rung chuyển, đó là bài kinh thủ chuyển, các chấp thủ của mình bị rung chuyển.
Do người này có sự cảm động, chấn động như vậy cho nên người này có thể nhập vào cái thấy biết mà Đức Phật truyền trao, chính vì có thể nhập vào cái thấy biết nên có một khoảng thời gian tâm người này thoát ra khỏi tham, sân, si, thoát ra khỏi bản ngã, có thể quỳ lạy bất kì người nào, nhìn thấy lỗi lầm của mình, nhìn thấy cái tôi ta của mình nên thấy nhục nhã, tàm quý, hổ thẹn, trào dâng nước mắt nên dập đầu xuống, mình thoát ra bản ngã vênh váo, kiêu căng, cống cao ngã mạn trong một khoảng thời gian thì gọi là thời giải thoát. Người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, đi đến thù thắng không đi đến thối đọa. Do cái thọ là tổng hành dinh, là cái kho của tâm, bây giờ chạm tới thọ tức là rung chuyển được tâm mê, tâm vô minh, tham ái, chấp thủ thì người này sẽ hướng đến việc thanh lọc tâm cấu nhiễm cho nên sau khi nhắm mắt ra đi sẽ hướng về thù thắng, không hướng đến thối đọa.
Thù thắng là đi lên, thối đọa là đi lùi lại và rơi xuống, muốn đi lên thì nghe pháp phải có sự tác động tâm ý, học nhiều phải có tác động tâm ý và thể nhập vào trí tuệ của Đức Phật, phải thẩm thấu, thấm thía trí tuệ vô thường, khổ, vô ngã, cái bất an, tai họa thì sau khi chết mình sẽ hướng tới thù thắng. Bây giờ đừng hỏi sau khi chết mình ra sao, Đức Phật đã dạy rồi, chỉ cần làm theo thôi.
Hạng người thứ ba là "chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên", phẫn nộ là sự giận dữ thô thiển, kiêu mạn là bản ngã to lớn thể hiện ra bên ngoài rất thô, hai cái này đều là thô, là sự giận dữ và ta đây biểu hiện ra thân hành. Thỉnh thoảng các tham dục, tham ái, tham lam khởi lên, người này khi học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát.
Nghe pháp không có cảm giác, không có khoảng thời gian tâm thoát ra được những cái tham, sân, si, những dục ái, những vô minh, hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng. Đó là đã nhiếp phục được cái thô về kiên mạn và phẫn nộ nhưng sau khi nhắm mắt ra đi người này vẫn thối đọa là do không thọ được pháp, cái pháp không đi vào trong cảm thọ, nó không có chân đứng, không có sự thiết lập, không có sự thọ trì cất giữ trong cảm thọ.
Khi chưa vào dòng pháp Nikāya thì nghe phất phơ, nghe rồi gió thổi bay hết, lâu lâu nghe ai nhắc thì nhớ lại chút ít, không có chuyện khóc nước mắt đầy mặt, chấn động thân tâm, chỉ có dòng pháp này đánh vào tận cùng cảm thọ làm cho rung chuyển, sụp đổ, vỡ òa lên. Lúc xưa nghe thì đơ đơ, nghe 5 năm, 10 năm, 30 năm cũng vậy, nghe khổ thì nghe vậy thôi, nghe vô thường cũng vậy, lâu lâu thấy người ta chết thì buồn một chút rồi xong chuyện cũng như cũ, cái tôi cái ta còn y nguyên.
Trên đây là hạng người thứ ba đã chinh phục được kiêu mãn và phẫn nộ nhưng vẫn còn tham, phẫn nộ là cái thô của sân, kiêu mạn là cái thô của bản ngã, người này do không cảm thọ được pháp, không thấm thía được tri kiến bậc Thánh, lời dạy của Đức Phật, tâm không thoát ra được một khoảng thời gian nào cả nên sau khi chết đi về thối đọa chứ không đi về thù thắng.
Hạng thứ tư là đã chinh phục được kiêu mạn và phẫn nộ nhưng thỉnh thoảng tham vẫn khởi lên, tuy nhiên người này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Cho nên Đa văn Thánh đệ tử rất quan trọng, cái nghe pháp hằng ngày, thường xuyên tác ý thiền quán là quan trọng, người nào tu học nhiều thì cảm thọ sẽ chuyển đổi từ từ và nó rất nhạy cảm với pháp.
Tình thương sống trong ta,
Từ tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Từ tâm có trong ta.
Ta có nhiều tình thương
Tình thương cảm thân này
Tình thương cảm thọ này
Thọ này ta hiểu thương.
Chỉ vừa nói vài câu vậy thôi đã rưng nước mắt, trong người dâng lên sự ngọt ngào, thương yêu, một lòng bi mẫn, từ ái, đó là do cái thọ của mình được tu tập cho nên vừa chạm vào là rung động, đằng này pháp không thọ được nên cảm xúc chai cứng, thô kệch, chưa nhu nhuyến, chưa mềm mại, chưa dễ sử dụng. Học Nikāya chỉ toàn đánh vào cảm thọ, đánh liên tục để cảm thọ mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, ở Linh Quy có các sư bà, Ni sư quỳ lạy đại chúng một cách ngọt ngào, dễ thương, bình thường vì cảm thọ được tu tập nên nó mềm mại như cục bột, muốn nắn hình gì cũng được. Trong 9 pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất có một pháp an trú tâm như con bò đực bị cưa sừng nên hiền lành, lắng dịu.
Nay con xin tập hạnh tâm hiền,
Hiền lành, lắng dịu, chẳng phiền ai,
Dễ chịu, dễ thương và dễ mến,
Dễ bảo, dễ nghe pháp Thánh hiền.
Trong Linh Quy vừa mở thiền quán là nước mắt chảy ròng ròng, đó là cảm thọ được khai mở, được tu tập, được làm cho hiền lành, đó là sự diệu dụng của pháp hành Nikāya. Nếu mình không đi tới cảm thọ thì mình chỉ ở bên ngoài hình thức, suy tưởng thôi, ví dụ có làm lễ thì nhìn cung kính nhưng khi hết lễ thì trở về bình thường, còn đi vào cảm thọ thì cung kính trong tâm không mất đi vì thọ là chỗ quy tụ tất cả các pháp, nó là cái nhà kho của tâm, khi đã có thì mình giữ gìn kĩ lưỡng sẽ không mất đi, đó là sự khác biệt giữa tu chánh pháp và tu chưa đúng chánh pháp. Khi đã đi sâu vào cảm thọ thì nó sẽ làm chuyển biến cả một guồng máy, từ dữ trở thành hiền, từ ương ngạnh trở thành dễ dạy, dễ bảo, từ cứng cỏi, vênh váo trở thành tâm khiêm cung, khiêm hạ, hiền lành, từ cái đắng chát, chua cay thành cái ngọt ngào, mát mẻ. Đó là lý do pháp do Thế Tôn khéo thuyết, có hiệu quả tức thời.
"Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu" (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu (a). I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Có hiệu quả tức thời nghĩa là tu thấy cảm thọ thay đổi ngay lập tức, nhiều người mới lên chùa nhìn mặt rất khó, dữ nhưng đến giờ khi trình pháp là nước mắt đầm đìa, đó là đang trong giai đoạn chuyển biến, người ngoài nhìn thấy và tự thân người đó cũng nhìn thấy, trong sự trình pháp cũng nhìn thấy rõ. Có nhiều vị mới về xá con thì con cũng sợ nhưng bây giờ giống như sừng bị cưa gãy.
Hạng người tiếp theo là đã "chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên", cái này ở ngoài đời rất nhiều, khẩu hành khởi lên là lời nói thỉnh thoảng kiêu căng, ngạo mạn, thỉnh thoảng giận dữ lên, người này nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không chứng được tri kiến của bậc Thánh nên khi nhắm mắt ra đi hướng tới thối đọa, không hướng đến thù thắng. Người nào còn hung dữ cái miệng, cái miệng còn ta đây, còn vênh váo, kiêu căng cộng với việc học pháp không có cảm thọ, tâm không có những giây phút an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào thì nhắm mắt ra đi hướng về thối đọa.
Chữ thối đọa này rất nhiều nghĩa, không chỉ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mà có thể người này trở lại làm người nhưng thấp kém, không còn được giống như đời này nữa. Ví dụ đời này sanh ra lành lặn mắt, tai, mũi, lưỡi, được tu hành nhưng đời sau không được tu, bị chột mắt, què chân hoặc đời sau sanh ra ở vùng biên giới, biên cương, sanh ra trong vùng dân tộc thiểu số, ngày xưa hay gọi là man ri mọi rợ, cà răng căng tai, có những dân tộc thiểu số đưa cả cái dĩa vào căng môi ra, cái dĩa lớn chừng nào thì người phụ nữ càng đẹp chừng đó, họ quan điểm cái đẹp rất lạ lùng, có thể đời sau mình rơi vào những vùng đó, đó là thối đọa nhưng cái này vẫn đỡ vì còn được làm người, xấu hơn là làm thú vật hoặc làm cô hồn, quỷ đói và tận cùng là xuống địa ngục.
Người nào biết nhân quả, nghiệp quả sẽ rất lo sợ lời nói, hành động, ý nghĩ của mình, cẩn thận, canh chừng từng chút một, đi cầu thang mà không cẩn thận là té ngã liền, có ai đảm bảo không bao giờ bị trượt chân, đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh còn dễ hơn cái trượt chân đó nữa, chỉ cần một ý niệm sanh khởi lên thôi, một cảm thọ sanh khởi lên thôi, một tư tưởng sanh khởi lên thôi là thối đọa ngay lập tức.
Hạng người cuối cùng là "chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên. Với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa", đó là nhờ họ nghe pháp, họ học pháp, họ có được sự cảm thọ của pháp, có sự tác động tâm ý, có sự thể nhập trí tuệ thấy biết mà Đức Phật truyền trao, tâm họ được thoát ra khỏi tham, sân, si, dục ái trong một khoảng thời gian ngắn, thoát ra khỏi những ganh tỵ, hơn thua, tật đố, nhỏ nhen, thoát ra khỏi những sự xảo trá, gian manh, hẹp hòi, có cái tâm khinh an, dễ chịu, nhẹ nhàng vì thế thực tập tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu là cực kì quan trọng, cái tâm đó là tuyệt đối quan trọng. Cái an tịnh trọn vẹn là cứu cánh Niết-bàn.
Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm.
Niệm “Bỏ hết đi, cảnh vô thường!”
Niệm “Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!”
Niệm “Ngũ uẩn này, không phải ta”
III. Không đo lường các hạng người
Mình lấy suy nghĩ của phàm phu mà mình suy lường lời nói của bậc Thánh, Đức Phật đã nói 2 vị đó sanh trong cõi trời Đâu-suất, chứng quả Dự Lưu nhưng cô cư sĩ đó lại nghi vấn, Đức Phật nói cái suy lường đó là đau khổ lâu dài vì không tin lời Đức Phật nói, không tin vào sự chứng ngộ của Đức Phật, với cái tâm hạn hẹp nhỏ bé, phàm tình, phàm phu. Ngài nói với một người hay đo lường như vậy thì không có hạnh phúc mà sẽ đau khổ lâu dài. Những người đi chùa một thời gian hoặc tu một thời gian mà không vừa ý họ là họ quay trở lại, họ mất lòng tin, có khi họ phỉ báng lại nữa, những cái này là đau khổ lâu dài, bất hạnh lâu dài cho nên phải rất cẩn thận.
Một người cảm thọ được chánh pháp, tin chánh pháp, thể nhập được cái thấy biết trong chánh pháp thì trong cảm thọ đó, trong lòng tin đó, trong cái thấy biết đó có một sức mạnh đẩy người này tiến về phía trước, đó là dòng pháp đưa người này về phía trước. Khi mình quăng vật gì đó xuống dòng sông thì vật đó sẽ trôi xuôi chiều theo dòng chảy, dòng chảy trong chánh pháp là ly tham, mình được rơi vào dòng chảy đó, mình cảm thọ được dòng chảy đó, mình tin theo dòng chảy đó, mình nghiêng về dòng chảy đó, mình nhập vào dòng chảy đó, mình đưa mình vào dòng chảy đó thì chắc chắn dòng chảy đó sẽ đưa mình về phía trước. Mình tinh cần, tinh tấn, mình nỗ lực, quyết tâm thì chắc chắn mình sẽ tiến lên.
Đừng có phê phán, đừng chỉ trích người khác trong khi chưa thể nhập được Thánh trí huệ, điều này hết sức nguy hiểm, "ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người", một khi Đức Phật đã nói như vậy rồi thì không thể khác được. Một người tịnh tín bất động tức là Nhập Lưu, là cái tâm tin lời Phật phải tuyệt đối 100%, còn người chưa Nhập Lưu thì cái tin chưa tới, có lúc tin cũng có khi không, khi mờ khi tỏ, còn người lúc nào cũng thấy y như vậy thì gọi là tịnh tín bất động, không lung lay, không lay chuyển. Thế Tôn nói sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ thì nó là như vậy, không thể đổi khác, từ chỗ thấy Đức Phật nói như vậy rồi mình mới bắt đầu vận dụng sự quán xét của mình theo lời Đức Phật dạy. Đức Phật nói người giữ giới phải quán ngũ uẩn là thuốc độc, là mũi tên, là hố than hừng, là kẻ giết người, một vị Tỳ-kheo hỏi một vị Tu-đà-hoàn phải quán ra sao thì Đức Phật nói cũng quán giống như vậy, ngũ uẩn là vô thường, là khổ, là ung nhọt, là mũi tên, chứng tới Nhị quả, Tam quả cũng tiếp tục quán giống như vậy, cho tới A-la-hán cũng quán như vậy vì quán như vậy sẽ được hiện tại lạc trú, sẽ được an vui, hoan hỉ trong giây phút hiện tại.
"-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheoỉ giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheoỉ giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.
-- Với Tỳ-kheoỉ đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheoỉ Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
-- Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
-- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác"
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Tại sao lại hoan hỉ? Vì nhìn vào cái ung nhọt này có vỡ ra thì vỡ thôi, cái thân vô thường này có bệnh chết cũng vui, vui vì thấy sự thật, vui vì sống trong sự thật, vui vì chứng đạt sự thật, chứng nhập sự thật, chứng đắc sự thật, chứng ngộ sự thật, vì thế thấy khổ nhưng vui chứ không phải thấy khổ rồi khổ. Tại sao thấy khổ nhưng vui? Vì mình thấy khổ rồi mình thoát ra khỏi cái khổ đó, không bị nó làm mình khổ nữa cho nên mình vui, đó là chỗ tuyệt diệu của các bậc Thánh, đó là khổ thánh trí, cái gì các ngài cũng thấy khổ nên không lao mình vào trong các cái khổ đó, các ngài không bị chìm đắm trong những cái khổ đó, các ngài thoát ra khỏi cái khổ đó. Mình biết cái đó là hố than hừng thì mình có nhào vô không? Mình có nhảy xuống không? Cái ngài biết nó là hố than hừng nên các ngài tránh xa không lại gần, từ bỏ không nắm lấy, thoát ra chứ không đi vào, quăng bỏ chứ không chấp thủ, không nắm giữ nên các ngài được hỷ lạc.
"Do vậy, này Ananda, chớ có là người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananada, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người"
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, II. Migasàlà)
Tự đào hố cho mình là người lấy sự đo lường của mình để đo lường những người khác, đo lường Thánh pháp, đo lường Đức Thế Tôn.
"Chỉ có ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người, hay là người như Ta"
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, II. Migasàlà)
Ngài là Chánh Biến Tri, Viên Mãn Giác, Thế Gian Giải, chỉ có ngài mới biết được tận cùng căn nguyên của các pháp, ngài là pháp chủ, là pháp bổn, là pháp nhãn, tất cả pháp đều từ ngài mới được nói lên, được trình bày, được hiển lộ, được thuyết giảng cho nên mình phải y giáo phụng hành, đi theo đạo lộ đó thì mình sẽ gặp Đức Phật và các bậc Thánh. Nếu mình đi theo suy nghĩ của mình là đi theo suy nghĩ của phàm tình, là tự đào hồ chôn mình, mình tin vào suy nghĩ của mình là mình tự đào hố chôn mình chứ mình không tin vào Thánh pháp, Thánh trí huệ, Thánh tri kiến của Đức Phật.
Cha và cậu của cô cư sĩ Migasala có người thành tựu giới, có người chưa thành tựu giới, có người thành tựu được tuệ nhưng người kia chưa thành tựu được tuệ đó cho nên một người thiếu một chút về giới, người kia thiếu một chút về tuệ. "Như vậy, này Ananda, cả hai người này đều có thiếu sót một chi phần", vì thế mình phải cố gắng tu cho đầy đủ tất cả các chi phần. Bài kinh hôm nay nói cho chúng ta biết phải tin vào lời của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya , hãy có sự tác động tâm ý để cảm thọ được chánh pháp, phải cố gắng để tâm mình có sự thoát ra trong một khoảng thời gian đối với tham, sân, si, dục ái, bản ngã và hãy cẩn thận đối với sự phán xét, phân biệt, đo lường đối với lời dạy của bậc Thánh./.
Nghiệp & Quả Báo 18
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Một thắc mắc về tái sanh của hai người PAGEREF _Toc139300894 \h 1
II. Sáu hạng người PAGEREF _Toc139300895 \h 5
III. Không đo lường các hạng người PAGEREF _Toc139300896 \h 10
I. Một thắc mắc về tái sanh của hai người
"Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của nữ tu sĩ Migasàlà; sau khi đến, ngồi trên ghế đã soạn sẵn. Ngồi xuống một bên, nữ cư sĩ Migasàlà thưa với Tôn giả Ananda:
Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): 'Cả hai sống Phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai? ' Puràna, thân phụ của con, thưa Tôn giả, sống Phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: 'Là bậc Dự lưu sanh với thân ở Tusità ( Ðâu-suất)'. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: 'Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità'. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): 'Cả hai sống Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai'?
- Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn.
Tôn giả Ananda sau khi nhận đồ ăn khất thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasàlà, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Rồi Tôn giả Ananda, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng con đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà, sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Nữ cư sĩ Migasàlà đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Migasàlà thưa với con: 'Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): 'Cả hai sống Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai'. Puràna thân phụ con, thưa Tôn giả, sống Phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: 'Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità'. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: 'Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità'. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai'? 'Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con nói với nữ cư sĩ Migasàlà: 'Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn'.
- Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người? Này Ananda, có sáu hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là sáu?
- Ở đây, này Ananda, có người khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỉ sống chung. Vị ấy nghe Pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập vào tri kiến, không chứng đắc thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
Ở đây, này Ananda, có người khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỉ sống chung. Vị ấy nghe Pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập vào tri kiến, có chứng đắc thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi về thối đọa. Ở đây, này Ananda, những kẻ đo lường đo lường như sau: 'Những pháp ấy của vị này là như vậy, những pháp ấy của vị kia là như vậy; làm sao trong những hạng người này, có người hạ liệt, có người là thắng diệu? Và do sự đo lường ấy, này Ananda, đối với những người đo lường là không hạnh phúc, là đau khổ lâu dài. Ở đây, này Ananda, hạng người này, khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỉ sống chung. Vị này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, thể nhập được vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này, này Ananda, so sánh với hạng người trước là tiến bộ hơn, là thắng diệu hơn. Vì cớ sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có là người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananda, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người. Chỉ có ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người, hay là người như Ta.
Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên; với người này, nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên; với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, có chứng được thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa...
Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên; với người này, nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên. Với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, Này Ananda, những kẻ đo lường đo lường như sau: 'Những pháp ấy của vị này là như vậy; những pháp ấy của vị kia là như vậy. Làm sao trong những hạng người là hạ liệt, có người là thắng diệu?' Và sự đo lường ấy, này Ananda, đối với những người đo lường là không hạnh phúc, là đau khổ lâu dài.
Ở đây, này Ananda, hạng người này khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỉ sống chung. Vị này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, thể nhập được vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này, này Ananda, so sánh với hạng người trước là tiến bộ hơn, là thắng diệu hơn. Vì cớ sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananda, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người này hay là người như Ta.
Và này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà, lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể biết sự thắng liệt giữa các người? Này Ananda, có sáu hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Giới như thế nào, này Ananda, Puràna được thành tựu, giới ấy Isidatta chưa thành tựu. Do vậy ở đây, Puràna có sanh thú khác với sanh thú của Isidatta. Tuệ như thế nào, này Ananda, Isidatta được thành tựu, tuệ ấy Puràna chưa thành tựu. Do vậy ở đây, Isidatta có sanh thú khác với sanh thú của Puràna. Như vậy, này Ananda, cả hai người này đều có thiếu sót một chi phần"
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, II. Migasàlà)
Hôm nay chúng ta học bài kinh Migasala trong Tăng Chi Bộ, tập III. Ngài Ananda đi đến nơi ở của cư sĩ Magasala thì vị cư sĩ này hỏi ngài Anan có hai người, một người sống phạm hạnh tức là không sinh hoạt vợ chồng, một người sống không phạm hạnh tức là còn sinh hoạt vợ chồng, nhưng sau khi chết thì cả hai người đều cùng sanh đến nơi tốt đẹp là cõi trời Đâu-suất và được Đức Phật nói rằng hai vị này đều là bậc Dự Lưu, là Thánh quả thứ nhất.
Trong hai người này thì một người là cha, một người là cậu của cô cư sĩ này, cha của cô này sống phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mạng chung thì Thế Tôn nói rằng đó là bậc Dự Lưu sanh ở cõi Đâu-suất, còn cậu của cô này thì "tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità". Cô cư sĩ này nghi vấn nên mới hỏi ngài Ananda, ngài trả lời rằng Đức Thế Tôn trả lời như vậy là như vậy.
"- Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn", câu này có nghĩa rằng Đức Thế Tôn trả lời như vậy là đúng như vậy, nếu đọc trong kinh văn sẽ hơi khó hiểu. Sau câu hỏi đó thì ngài Ananda quay về nói lại cho Thế Tôn nghe xong thì ngài giải thích có sáu hạng người, nhưng trước khi giải thích Thế Tôn có câu quở trách rằng đem trí tuệ của đàn bà để nhìn hình tướng bên ngoài, đó là sự ngu si, tức là Đức Phật đã nói như vậy rồi mà vẫn không tin lời của người, hỏi tại sao lại như vậy.
Nói theo cách thông thường là đàn bà, còn nói sâu sắc một chút là phàm phu làm sao có thể hiểu biết được sự thù thắng và hạ liệt giữa con người với con người. Nghe câu này giống như Đức Phật có sự phân biệt giai cấp nhưng sau này mình sẽ học nhiều bài kinh Đức Phật nói về đặc tính của phụ nữ, mình sẽ biết tại sao phụ nữ không trở thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, tại sao phụ nữ không trở thành chuyển luân vương, tại sao không thành ma vương, đều do nhân quả của nghiệp chứ không phải ngài kì thị nam nữ, với lại văn hóa thời đó sử dụng câu nói như vậy. Khổng Tử cũng hay nói đàn bà với con nít, nghĩa là xã hội ngày xưa phụ nữ ít được học, thậm chí bây giờ có những nước phụ nữ ra đường phải bịt mặt, bị nhiều thiệt thòi.
Ở Ấn Độ phân biệt giai cấp rất khủng khiếp, khi con qua đó thì chú tài xế không được ngồi ăn cơm chung với mình mà phải ngồi riêng, trải qua 2600 năm mà giai cấp vẫn còn rất rõ rệt vì vậy thời đó Đức Thế Tôn cho phụ nữ xuất gia, thành lập Ni chúng là cả một vấn đề bị công kích, chỉ trích, hãm hại rất khủng khiếp. Sau đây Đức Phật đưa ra 6 hạng người là sáu nguyên nhân tại sao mình chỉ nhìn thấy bề ngoài, hình tướng bên ngoài còn những cái sâu sắc bên trong, nhân duyên, phước đức của người đó mình không biết được.
II. Sáu hạng người
Người thứ nhất là "khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỉ sống chung". Khéo tự chế ngự nghĩa là khi muốn nói điều gì, muốn la lối nhưng kiềm chế lại, mình muốn có những hành động cho hả dạ nhưng kiềm chế lại không cho phát ra, mình có những ý nghĩ "nói như vậy là đụng chạm tôi, xúc chạm tôi" nhưng mình nhiếp phục lại, không tiếp tục nghĩ nữa, đó là tự chế ba nghiệp, tự chế suy nghĩ, tự chế lời nói, tự chế hành động. Chính mình khéo léo tự chế ngự suy nghĩ, lời nói, hành động của mình, dễ chung sống, ai cũng hoan hỉ sống chung nhưng "nghe Pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập vào tri kiến, không chứng đắc thời giải thoát".
Nghe pháp không có tác động, không có cảm thọ gì cả, cứ đơ đơ ra, nghe nói về khổ mà không thấy khổ gì cả, nói vô thường lại không thấy vô thường mà chỉ thấy bình thường, nghe nói bản ngã thì bảo không có bản ngã gì cả cho nên không thể nhập vào tri kiến, tức là không thể nhập được sự thấy biết của bậc Thánh, không thấy được cái sân hận này nó nguy hiểm, tác hại như thế nào.
Đức Phật nói nó là thuốc độc nhưng mình "không được, tôi phải giận mới đúng", tức là mình không có một chút thể nhập nào trong cái thấy biết mà Đức Phật truyền trao cho mình, nghe pháp không có tác động gì cả, học cũng không có tác động gì cả, không thể nhập được tri kiến cho nên không chứng đắc thời giải thoát.
Thời giải thoát ở đây là giải thoát một khoảng thời gian, ví dụ có lúc tâm mình nhẹ tênh, không có tham, sân, si trong khoảng thời gian nghe pháp hay ngồi thiền, lúc đó mình không có năm triền cái thì gọi là thời giải thoát, tức là thoát ra khỏi tham, sân, si tạm thời, trong một khoảng thời gian nào đó. Nhưng người này lại không có được điều đó vì họ không cảm pháp, không thể nhập được cái thấy biết của Đức Phật nói nên tâm không thoát ra được tham, sân, si, vô minh, dục ái dù chỉ trong một khoảng thời gian, nó cứng ngắc, trơ trơ ra cho nên sau khi chết thì "Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng",
Nhìn bề ngoài thấy cũng khéo léo tự kiềm chế bản thân, dễ sống, dễ nuôi, mọi người ở chung cũng vui nhưng nghe pháp không thọ được, không thể nhập được cái thấy biết của Đức Phật truyền trao, tâm không thoát được tham, sân, si, bản ngã dù chỉ trong khoảng thời gian ngắn cho nên sau khi nhắm mắt ra đi thì người này hướng về thối đọa do tâm không thể nhập vào tri kiến, không thể nhập vào cái thấy biết về vô thường, khổ, vô ngã, về tai họa, trống rỗng, khổ đau, không cảm thọ được, không thấm thía được, không tuôn trào nước mắt, không chấn động thân tâm, không rung chuyển các chấp thủ, nghe thì nghe nhưng xong thì thôi cho nên sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa chứ không hướng về thù thắng.
Hạng người thứ hai là khi nghe pháp thì người này có sự tác động tâm ý, đó là cách tác ý, học nhiều, có tác động tâm ý vào lời dạy của Đức Phật, có thấm thía, có sự cảm động, chấn động, vỡ òa ra một sự thật, nào giờ tưởng mình giỏi lắm nhưng giờ thấy mình chưa giỏi, nào giờ tưởng mình tốt lắm nhưng giờ mình ra thấy mình chưa tốt, nào giờ tưởng mình hiền lắm nhưng khi nhận diện ngũ uẩn và nhìn sâu vào thì thấy mình chưa hiền, đó là bắt đầu có sự cảm động, có sự tác động, rung chuyển, đó là bài kinh thủ chuyển, các chấp thủ của mình bị rung chuyển.
Do người này có sự cảm động, chấn động như vậy cho nên người này có thể nhập vào cái thấy biết mà Đức Phật truyền trao, chính vì có thể nhập vào cái thấy biết nên có một khoảng thời gian tâm người này thoát ra khỏi tham, sân, si, thoát ra khỏi bản ngã, có thể quỳ lạy bất kì người nào, nhìn thấy lỗi lầm của mình, nhìn thấy cái tôi ta của mình nên thấy nhục nhã, tàm quý, hổ thẹn, trào dâng nước mắt nên dập đầu xuống, mình thoát ra bản ngã vênh váo, kiêu căng, cống cao ngã mạn trong một khoảng thời gian thì gọi là thời giải thoát. Người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, đi đến thù thắng không đi đến thối đọa. Do cái thọ là tổng hành dinh, là cái kho của tâm, bây giờ chạm tới thọ tức là rung chuyển được tâm mê, tâm vô minh, tham ái, chấp thủ thì người này sẽ hướng đến việc thanh lọc tâm cấu nhiễm cho nên sau khi nhắm mắt ra đi sẽ hướng về thù thắng, không hướng đến thối đọa.
Thù thắng là đi lên, thối đọa là đi lùi lại và rơi xuống, muốn đi lên thì nghe pháp phải có sự tác động tâm ý, học nhiều phải có tác động tâm ý và thể nhập vào trí tuệ của Đức Phật, phải thẩm thấu, thấm thía trí tuệ vô thường, khổ, vô ngã, cái bất an, tai họa thì sau khi chết mình sẽ hướng tới thù thắng. Bây giờ đừng hỏi sau khi chết mình ra sao, Đức Phật đã dạy rồi, chỉ cần làm theo thôi.
Hạng người thứ ba là "chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên", phẫn nộ là sự giận dữ thô thiển, kiêu mạn là bản ngã to lớn thể hiện ra bên ngoài rất thô, hai cái này đều là thô, là sự giận dữ và ta đây biểu hiện ra thân hành. Thỉnh thoảng các tham dục, tham ái, tham lam khởi lên, người này khi học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát.
Nghe pháp không có cảm giác, không có khoảng thời gian tâm thoát ra được những cái tham, sân, si, những dục ái, những vô minh, hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng. Đó là đã nhiếp phục được cái thô về kiên mạn và phẫn nộ nhưng sau khi nhắm mắt ra đi người này vẫn thối đọa là do không thọ được pháp, cái pháp không đi vào trong cảm thọ, nó không có chân đứng, không có sự thiết lập, không có sự thọ trì cất giữ trong cảm thọ.
Khi chưa vào dòng pháp Nikāya thì nghe phất phơ, nghe rồi gió thổi bay hết, lâu lâu nghe ai nhắc thì nhớ lại chút ít, không có chuyện khóc nước mắt đầy mặt, chấn động thân tâm, chỉ có dòng pháp này đánh vào tận cùng cảm thọ làm cho rung chuyển, sụp đổ, vỡ òa lên. Lúc xưa nghe thì đơ đơ, nghe 5 năm, 10 năm, 30 năm cũng vậy, nghe khổ thì nghe vậy thôi, nghe vô thường cũng vậy, lâu lâu thấy người ta chết thì buồn một chút rồi xong chuyện cũng như cũ, cái tôi cái ta còn y nguyên.
Trên đây là hạng người thứ ba đã chinh phục được kiêu mãn và phẫn nộ nhưng vẫn còn tham, phẫn nộ là cái thô của sân, kiêu mạn là cái thô của bản ngã, người này do không cảm thọ được pháp, không thấm thía được tri kiến bậc Thánh, lời dạy của Đức Phật, tâm không thoát ra được một khoảng thời gian nào cả nên sau khi chết đi về thối đọa chứ không đi về thù thắng.
Hạng thứ tư là đã chinh phục được kiêu mạn và phẫn nộ nhưng thỉnh thoảng tham vẫn khởi lên, tuy nhiên người này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Cho nên Đa văn Thánh đệ tử rất quan trọng, cái nghe pháp hằng ngày, thường xuyên tác ý thiền quán là quan trọng, người nào tu học nhiều thì cảm thọ sẽ chuyển đổi từ từ và nó rất nhạy cảm với pháp.
Tình thương sống trong ta,
Từ tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Từ tâm có trong ta.
Ta có nhiều tình thương
Tình thương cảm thân này
Tình thương cảm thọ này
Thọ này ta hiểu thương.
Chỉ vừa nói vài câu vậy thôi đã rưng nước mắt, trong người dâng lên sự ngọt ngào, thương yêu, một lòng bi mẫn, từ ái, đó là do cái thọ của mình được tu tập cho nên vừa chạm vào là rung động, đằng này pháp không thọ được nên cảm xúc chai cứng, thô kệch, chưa nhu nhuyến, chưa mềm mại, chưa dễ sử dụng. Học Nikāya chỉ toàn đánh vào cảm thọ, đánh liên tục để cảm thọ mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, ở Linh Quy có các sư bà, Ni sư quỳ lạy đại chúng một cách ngọt ngào, dễ thương, bình thường vì cảm thọ được tu tập nên nó mềm mại như cục bột, muốn nắn hình gì cũng được. Trong 9 pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất có một pháp an trú tâm như con bò đực bị cưa sừng nên hiền lành, lắng dịu.
Nay con xin tập hạnh tâm hiền,
Hiền lành, lắng dịu, chẳng phiền ai,
Dễ chịu, dễ thương và dễ mến,
Dễ bảo, dễ nghe pháp Thánh hiền.
Trong Linh Quy vừa mở thiền quán là nước mắt chảy ròng ròng, đó là cảm thọ được khai mở, được tu tập, được làm cho hiền lành, đó là sự diệu dụng của pháp hành Nikāya. Nếu mình không đi tới cảm thọ thì mình chỉ ở bên ngoài hình thức, suy tưởng thôi, ví dụ có làm lễ thì nhìn cung kính nhưng khi hết lễ thì trở về bình thường, còn đi vào cảm thọ thì cung kính trong tâm không mất đi vì thọ là chỗ quy tụ tất cả các pháp, nó là cái nhà kho của tâm, khi đã có thì mình giữ gìn kĩ lưỡng sẽ không mất đi, đó là sự khác biệt giữa tu chánh pháp và tu chưa đúng chánh pháp. Khi đã đi sâu vào cảm thọ thì nó sẽ làm chuyển biến cả một guồng máy, từ dữ trở thành hiền, từ ương ngạnh trở thành dễ dạy, dễ bảo, từ cứng cỏi, vênh váo trở thành tâm khiêm cung, khiêm hạ, hiền lành, từ cái đắng chát, chua cay thành cái ngọt ngào, mát mẻ. Đó là lý do pháp do Thế Tôn khéo thuyết, có hiệu quả tức thời.
"Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu" (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu (a). I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Có hiệu quả tức thời nghĩa là tu thấy cảm thọ thay đổi ngay lập tức, nhiều người mới lên chùa nhìn mặt rất khó, dữ nhưng đến giờ khi trình pháp là nước mắt đầm đìa, đó là đang trong giai đoạn chuyển biến, người ngoài nhìn thấy và tự thân người đó cũng nhìn thấy, trong sự trình pháp cũng nhìn thấy rõ. Có nhiều vị mới về xá con thì con cũng sợ nhưng bây giờ giống như sừng bị cưa gãy.
Hạng người tiếp theo là đã "chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên", cái này ở ngoài đời rất nhiều, khẩu hành khởi lên là lời nói thỉnh thoảng kiêu căng, ngạo mạn, thỉnh thoảng giận dữ lên, người này nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không chứng được tri kiến của bậc Thánh nên khi nhắm mắt ra đi hướng tới thối đọa, không hướng đến thù thắng. Người nào còn hung dữ cái miệng, cái miệng còn ta đây, còn vênh váo, kiêu căng cộng với việc học pháp không có cảm thọ, tâm không có những giây phút an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào thì nhắm mắt ra đi hướng về thối đọa.
Chữ thối đọa này rất nhiều nghĩa, không chỉ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mà có thể người này trở lại làm người nhưng thấp kém, không còn được giống như đời này nữa. Ví dụ đời này sanh ra lành lặn mắt, tai, mũi, lưỡi, được tu hành nhưng đời sau không được tu, bị chột mắt, què chân hoặc đời sau sanh ra ở vùng biên giới, biên cương, sanh ra trong vùng dân tộc thiểu số, ngày xưa hay gọi là man ri mọi rợ, cà răng căng tai, có những dân tộc thiểu số đưa cả cái dĩa vào căng môi ra, cái dĩa lớn chừng nào thì người phụ nữ càng đẹp chừng đó, họ quan điểm cái đẹp rất lạ lùng, có thể đời sau mình rơi vào những vùng đó, đó là thối đọa nhưng cái này vẫn đỡ vì còn được làm người, xấu hơn là làm thú vật hoặc làm cô hồn, quỷ đói và tận cùng là xuống địa ngục.
Người nào biết nhân quả, nghiệp quả sẽ rất lo sợ lời nói, hành động, ý nghĩ của mình, cẩn thận, canh chừng từng chút một, đi cầu thang mà không cẩn thận là té ngã liền, có ai đảm bảo không bao giờ bị trượt chân, đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh còn dễ hơn cái trượt chân đó nữa, chỉ cần một ý niệm sanh khởi lên thôi, một cảm thọ sanh khởi lên thôi, một tư tưởng sanh khởi lên thôi là thối đọa ngay lập tức.
Hạng người cuối cùng là "chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên. Với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa", đó là nhờ họ nghe pháp, họ học pháp, họ có được sự cảm thọ của pháp, có sự tác động tâm ý, có sự thể nhập trí tuệ thấy biết mà Đức Phật truyền trao, tâm họ được thoát ra khỏi tham, sân, si, dục ái trong một khoảng thời gian ngắn, thoát ra khỏi những ganh tỵ, hơn thua, tật đố, nhỏ nhen, thoát ra khỏi những sự xảo trá, gian manh, hẹp hòi, có cái tâm khinh an, dễ chịu, nhẹ nhàng vì thế thực tập tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu là cực kì quan trọng, cái tâm đó là tuyệt đối quan trọng. Cái an tịnh trọn vẹn là cứu cánh Niết-bàn.
Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm.
Niệm “Bỏ hết đi, cảnh vô thường!”
Niệm “Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!”
Niệm “Ngũ uẩn này, không phải ta”
III. Không đo lường các hạng người
Mình lấy suy nghĩ của phàm phu mà mình suy lường lời nói của bậc Thánh, Đức Phật đã nói 2 vị đó sanh trong cõi trời Đâu-suất, chứng quả Dự Lưu nhưng cô cư sĩ đó lại nghi vấn, Đức Phật nói cái suy lường đó là đau khổ lâu dài vì không tin lời Đức Phật nói, không tin vào sự chứng ngộ của Đức Phật, với cái tâm hạn hẹp nhỏ bé, phàm tình, phàm phu. Ngài nói với một người hay đo lường như vậy thì không có hạnh phúc mà sẽ đau khổ lâu dài. Những người đi chùa một thời gian hoặc tu một thời gian mà không vừa ý họ là họ quay trở lại, họ mất lòng tin, có khi họ phỉ báng lại nữa, những cái này là đau khổ lâu dài, bất hạnh lâu dài cho nên phải rất cẩn thận.
Một người cảm thọ được chánh pháp, tin chánh pháp, thể nhập được cái thấy biết trong chánh pháp thì trong cảm thọ đó, trong lòng tin đó, trong cái thấy biết đó có một sức mạnh đẩy người này tiến về phía trước, đó là dòng pháp đưa người này về phía trước. Khi mình quăng vật gì đó xuống dòng sông thì vật đó sẽ trôi xuôi chiều theo dòng chảy, dòng chảy trong chánh pháp là ly tham, mình được rơi vào dòng chảy đó, mình cảm thọ được dòng chảy đó, mình tin theo dòng chảy đó, mình nghiêng về dòng chảy đó, mình nhập vào dòng chảy đó, mình đưa mình vào dòng chảy đó thì chắc chắn dòng chảy đó sẽ đưa mình về phía trước. Mình tinh cần, tinh tấn, mình nỗ lực, quyết tâm thì chắc chắn mình sẽ tiến lên.
Đừng có phê phán, đừng chỉ trích người khác trong khi chưa thể nhập được Thánh trí huệ, điều này hết sức nguy hiểm, "ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người", một khi Đức Phật đã nói như vậy rồi thì không thể khác được. Một người tịnh tín bất động tức là Nhập Lưu, là cái tâm tin lời Phật phải tuyệt đối 100%, còn người chưa Nhập Lưu thì cái tin chưa tới, có lúc tin cũng có khi không, khi mờ khi tỏ, còn người lúc nào cũng thấy y như vậy thì gọi là tịnh tín bất động, không lung lay, không lay chuyển. Thế Tôn nói sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ thì nó là như vậy, không thể đổi khác, từ chỗ thấy Đức Phật nói như vậy rồi mình mới bắt đầu vận dụng sự quán xét của mình theo lời Đức Phật dạy. Đức Phật nói người giữ giới phải quán ngũ uẩn là thuốc độc, là mũi tên, là hố than hừng, là kẻ giết người, một vị Tỳ-kheo hỏi một vị Tu-đà-hoàn phải quán ra sao thì Đức Phật nói cũng quán giống như vậy, ngũ uẩn là vô thường, là khổ, là ung nhọt, là mũi tên, chứng tới Nhị quả, Tam quả cũng tiếp tục quán giống như vậy, cho tới A-la-hán cũng quán như vậy vì quán như vậy sẽ được hiện tại lạc trú, sẽ được an vui, hoan hỉ trong giây phút hiện tại.
"-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheoỉ giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheoỉ giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.
-- Với Tỳ-kheoỉ đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheoỉ Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
-- Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
-- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác"
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Tại sao lại hoan hỉ? Vì nhìn vào cái ung nhọt này có vỡ ra thì vỡ thôi, cái thân vô thường này có bệnh chết cũng vui, vui vì thấy sự thật, vui vì sống trong sự thật, vui vì chứng đạt sự thật, chứng nhập sự thật, chứng đắc sự thật, chứng ngộ sự thật, vì thế thấy khổ nhưng vui chứ không phải thấy khổ rồi khổ. Tại sao thấy khổ nhưng vui? Vì mình thấy khổ rồi mình thoát ra khỏi cái khổ đó, không bị nó làm mình khổ nữa cho nên mình vui, đó là chỗ tuyệt diệu của các bậc Thánh, đó là khổ thánh trí, cái gì các ngài cũng thấy khổ nên không lao mình vào trong các cái khổ đó, các ngài không bị chìm đắm trong những cái khổ đó, các ngài thoát ra khỏi cái khổ đó. Mình biết cái đó là hố than hừng thì mình có nhào vô không? Mình có nhảy xuống không? Cái ngài biết nó là hố than hừng nên các ngài tránh xa không lại gần, từ bỏ không nắm lấy, thoát ra chứ không đi vào, quăng bỏ chứ không chấp thủ, không nắm giữ nên các ngài được hỷ lạc.
"Do vậy, này Ananda, chớ có là người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananada, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người"
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, II. Migasàlà)
Tự đào hố cho mình là người lấy sự đo lường của mình để đo lường những người khác, đo lường Thánh pháp, đo lường Đức Thế Tôn.
"Chỉ có ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người, hay là người như Ta"
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, II. Migasàlà)
Ngài là Chánh Biến Tri, Viên Mãn Giác, Thế Gian Giải, chỉ có ngài mới biết được tận cùng căn nguyên của các pháp, ngài là pháp chủ, là pháp bổn, là pháp nhãn, tất cả pháp đều từ ngài mới được nói lên, được trình bày, được hiển lộ, được thuyết giảng cho nên mình phải y giáo phụng hành, đi theo đạo lộ đó thì mình sẽ gặp Đức Phật và các bậc Thánh. Nếu mình đi theo suy nghĩ của mình là đi theo suy nghĩ của phàm tình, là tự đào hồ chôn mình, mình tin vào suy nghĩ của mình là mình tự đào hố chôn mình chứ mình không tin vào Thánh pháp, Thánh trí huệ, Thánh tri kiến của Đức Phật.
Cha và cậu của cô cư sĩ Migasala có người thành tựu giới, có người chưa thành tựu giới, có người thành tựu được tuệ nhưng người kia chưa thành tựu được tuệ đó cho nên một người thiếu một chút về giới, người kia thiếu một chút về tuệ. "Như vậy, này Ananda, cả hai người này đều có thiếu sót một chi phần", vì thế mình phải cố gắng tu cho đầy đủ tất cả các chi phần. Bài kinh hôm nay nói cho chúng ta biết phải tin vào lời của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya , hãy có sự tác động tâm ý để cảm thọ được chánh pháp, phải cố gắng để tâm mình có sự thoát ra trong một khoảng thời gian đối với tham, sân, si, dục ái, bản ngã và hãy cẩn thận đối với sự phán xét, phân biệt, đo lường đối với lời dạy của bậc Thánh./.