Kinh Nikāya Giảng Giải - Những Điều Vi Diệu Khi Phật Ra Đời - Kinh Vi Diệu 1, 2 Tăng Chi Bộ II
Kinh Nikāya Giảng Giải
Những Điều Vi Diệu Khi Phật Ra Đời
(Kinh Vi Diệu 1, 2 – Tăng Chi Bộ II)
Thích Minh Thành
Ngày 18 tháng 05 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn pháp vi diệu 1 PAGEREF _Toc201262848 \h 1
II. Bốn pháp vi diệu 2 PAGEREF _Toc201262849 \h 10
Buông bỏ PAGEREF _Toc201262850 \h 11
Khiêm hạ - an tịnh PAGEREF _Toc201262851 \h 13
I. Bốn pháp vi diệu 1
Đồng hoài niệm, hoài niệm lại sự xuất hiện của Đức Thế Tôn trên cuộc đời này. Sự hiện hữu của bậc toàn giác, đại giác, chánh giác, viên mãn giác. Một con người hy hữu, khó gặp trăm ngàn vạn kiếp. Bài kinh Vi Diệu số 1, Tăng Chi Bộ Kinh tập II.
“- Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có xuất hiện. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, khi Bồ-tát từ bỏ thân ở cõi trời Đâu-suất, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy, một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng, tối tăm, u ám, tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây?
Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ nhất xuất hiện.
2. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác, từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy, một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng, tối tăm u ám, tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”.
Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện.
3. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Như Lai chứng ngộ được vô thượng Chánh Đẳng Giác, khi ấy trong thế giới chư Thiên … (như kinh 127,2) …”Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”.
Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.
4. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Như Lai chuyển bánh xe pháp vô thượng, khi ấy trong thế giới chư Thiên…(như kinh số 127,2 …) “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện.”
(Tăng Chi Bộ Kinh II – kinh Vi Diệu 1)
Tất cả chúng ta từ đâu sanh ra đây, mình hoàn toàn không biết. Tại sao mình có mặt, mình hoàn toàn không hay. Sau khi mình nhắm mắt mình đi đâu, mình cũng chả có rành rõ. Đó là sống say, chết mộng ở trong cái vô minh, si mê, hôn ám trong dòng sống chết. Ngược lại, Bồ Tát từ bỏ thân ở cỏi trời Đâu Xuất, thì Ngài chánh niệm tĩnh giác nhập vào mẫu thai. Ở trong kinh diễn tả khi Bồ Tát giáng thần từ Đâu Xuất hạ phàm, thì toả ra cái ánh sáng. Mà ánh sáng này vượt xa rất là nhiều lần, không thể tính kể so với hào quang của chư thiên. Các vị trời khi xuất hiện thì hào quang cả một thành phố, sáng rực cả một vùng. Nhưng khi Bồ Tát xuất hiện thì cả 1 thế giới, không phải chỉ 1 tỉnh, 1 thành, 1 quốc độ. Mà cả thế giới đều bao phủ bằng ánh sáng hết.
Cái đó gọi là: “Một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người”. Tức là ánh sáng đó loài người ở nhân giới thấy, thiên giới thấy và ma giới cũng thấy được. Ở phạm thiên giới là các tầng trời cao cấp cũng tắm mình ở trong ánh đại quang minh, lúc Bồ Tát hạ phàm. Quý vị có thể dùng thọ, tưởng, hành của mình để quán tưởng cảnh lúc Bồ Tát giáng thần. Chưa bao giờ có ánh sáng mà nó lớn, nó rộng, nó đi hết tất cả thế giới, soi thấu tất cả thế giới nhưu vậy. Chỉ có khi Bồ Tát giáng thần, nhập mẫu thai.
Khoảnh khắc mà Ngài đi vào trong lòng mẹ, chúng ta nhớ đây là khoảnh khắc đi vào trong thai mẹ, không phải đản sanh, đó là thứ nhất. “Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác, từ bụng mẹ sanh ra”. Hồi nãy là nhập thai, bây giờ là xuất thai. Thì khi ấy một hào quang vi diệu, thần diệu như lúc nãy đã nói chiếu cùng khắp thiên giới, ma giới nhân giới, cùng khắp tất cả những chỗ âm u, u tối, trường dạ, hắc ám 1 màu đen đều sáng rực, bừng sáng, tỏa sáng hết. Đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ 2 xuất hiện, khi bậc A-la-hán bậc chánh đẳng giác, Như Lai xuất hiện ở đời này, đó là lần thứ 2 hào quang phổ chiếu.
Pháp vi diệu chưa từng có thứ 3 là lúc Bồ Tát hành đạo, lúc Bồ Tát vừa đại giác, chánh giác, toàn giác, viên mãn giác, vô thượng đạo, Phật đạo vô thượng được thành tựu. Chúng ta tụng bài “Phật Đạo Vô Thượng” đó phải không? Đó là lúc Bồ Tát nhìn thấy được từ vô minh, duyên hành, từ hành, duyên thức cho đến danh sắc lục nhập. Từ ái thủ hữu, rồi có sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Thì lúc đó Bồ Tát hoàn toàn thấu triệt dòng luân hồi sanh từ, giải mã. Tức là Bồ Tát quang sanh, minh sanh, tuệ sanh, trí sanh. Và thấu suốt hết dong luân hồi sanh tử, tại sao chúng sanh có mặt? Vì sao chúng sanh khổ đau? Và làm thế nào chúng sanh chấm dứt đau khổ? Và đi trên con đường nào, đạo lộ nào, phương pháp nào, cách thức nào, lối thoát nào.
Và Thế Tôn phát giác được con đường cũ, đạo lộ cũ, các bậc Như Lai ứng cúng, chánh đẳng giác thuở xưa đã đi qua, và nay Ta cũng đi trên con đường ấy. Và Ta nhìn thấy vô minh, hành, thức, danh, sắc, lục nhập, ái thủ hữu. Ta nhìn thấy sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Ta nhìn thấy được nguyên nhân của đau khổ, và đạo lộ thoát khỏi khổ đau. Bồ Tát chứng đắc từ từ sanh tử mình, chứng đắc túc mạng minh, sanh tử minh và lậu tận minh - tam minh được thành tựu viên mãn. Khi Như Lai chứng ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác, khi ấy trong chư thiên, hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của các vị trời. Chiếu cùng khắp vô lượng thế giới, hành tinh.
“Ánh sáng phổ chiếu thiên giới, ma giới, phạm thiên giới, quần chúng sa môn, bà la môn, Phật quang phổ chiếu chư thiên và loài người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng, tối tăm u ám, mặt trời mặt trăng không chiếu đến được, cũng có thể chiếu thấu ánh sáng soi vào”. Trong cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu, thắng xa uy lực của chư thiên hiện ra. Và chúng sanh tại ấy, nhờ hào quang ấy mà thấy nhau. Họ nói rằng: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây à”. “Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.”
Đó pháp vi diệu chưa từng có thứ ba, khi Bồ Tát thành chánh giác. Chúng ta dùng thọ, tưởng, hành của mình thiền quán, xuyên không, để có thể cảm nhận được lúc Bồ Tát thành chánh giác. Bởi vậy mình học cái này hồi mình mới thấy sợ, mình chỉ thấy được những con người trước mặt mình. Mà mình không biết có rất nhiều, vạn thức chúng sanh khác, trong nhiều thế giới khác. Cũng vì cái tâm hôn mê, tâm chấp thủ vào ngũ uẩn, cái tâm tham ái trong tứ đại, tâm dục, tâm sân, tâm bản ngã ngã. Mà phải rơi vào những đọa xứ, khổ thú, ác thú, những cảnh giới mà chúng ta không thể nào tưởng tượng nỗi. Mình nói nội cuộc đời này đi, mình chưa có vô những nhà tù chung thân.
Hay là những người họ ở tù, mà họ chờ ngày tiêm thuốc độc, chờ ngày xử bắn, mình nghe kể thôi đã khủng khiếp rồi. Ăn một chỗ, ị một chỗ và người ta còng cái chân trong chỗ chút xíu chừng 2, 3 mét vuông. Ăn ở đó, ngủ ở đó, đi ra ở ngay tại chỗ đó. Một tuần lễ đi ra gặp ánh sáng mặt trời 1, 2 lần, 1 tiếng, 2 tiếng đồng hồ thôi. Những người này thì họ sống trong hồi hợp, tại vì người không biết trước ngày nào tử hình. Đặc biệt những người họ làm ở trong đó, họ kể cho mình nghe, sợ lắm. Họ không có đêm nào ngủ yên hết, tại vì thường thường người ta dắt đi là nửa đêm, 1, 2, 3 giờ khuya. Mà học nghe gõ cửa kế bên, hay là mở cửa là trong tim họ đập thình thịch: “Không biết ngày nào tới xử mình”.
Họ sống trong thấp thỏm, lo sợ, hoảng hốt, kinh hoảng. Đó là mình mới nói những người tù chung thân, những người chờ án tử không thấy ánh sáng mặt trời. Chứ đừng nói chi ở đây: “Là những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng, tối tăm, u ám và ở đấy không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng”. Trong loài ngạ quỷ, bởi những cái tâm hắc ám, u ám, đen tối, họ phải sống trong bóng tối. Quý vị thấy không, nhiều khi con ở dưới thất mà con bước vô trong toilet, là con tắc kè nó chạy trốn liền à. Con chuột nó nghe tới mình, hoặc là những có gián nó thấy mình là nó chạy lẹ nó trốn. Nó sống trong những cái kẹt, hóc, cái xó, sống trong những chỗ u ám, dơ bẩn tăm tối.
Mình mới thấy đó là những loài súc sanh, còn ngã quỷ mà trong những cảnh đọa xứ là còn trăm lần, ngàn lần khổ hơn. Cho nên mình mới thấy rằng mình có phước báo, mình được làm người, được nghe chánh pháp. Mình tới giờ này mấy ngàn năm, mà mình còn được nghe chánh pháp tối thượng Nikāya, hạnh phúc không? Mà trong những ngày này, mình tưởng niệm sự xuất hiện của Đức Như Lai. Cho nên mình học cái này, để mình trân quý từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây, từng hơi thở. Từng câu tác ý, từng bài kinh, từng câu kinh, từng chữ trong kinh, từng q cái lạy, từng 1 khóa tu, mỗi một thời pháp, mỗi một thơi ngồi thiền. Là biết bao nhiêu là hiếm có, khó gặp, hy hữu công đức, phước bao, thiện pháp, thù thắng, tối thượng, vi diệu dễ gì mà được.
Quý vị nghĩ vô những cảnh này còn biết niệm Phật không? Ai đọc kinh Nikāya cho ngồi mà nghe? Ai thiền quán cho nghe? Ai giảng pháp cho nghe? Hình bóng đâu? Chư Tăng ở đâu? Làm sao nghe pháp? Làm sao thấy hình tượng của Phật, là cái tượng Phật thôi còn không nhìn thấy, có thấy gì đâu. Một màu đen, một màn đen, một bóng đen, một đêm đen. Ngay ở nhân giới đây, mà bậc đạo sư còn nói: “Thương đời quờ quạng giữa trời đêm”. Đừng nói chi mà ở ma giới, ngạ quỷ giới, súc sanh giới. Bởi vậy nhiều khi những khóa tu, mà con nhìn thấy loe ngoe không ai về là con xót lắm. Không phải vì con muốn cho đông, mà vì tình thương, vì từ tâm.
Vì đâu có ai ở đây nói pháp của Phật đâu, không có ai ở đây hết. Chỉ có những ngũ uẩn hướng về pháp, tôn kính pháp, quý trọng pháp, khát ngưỡng pháp, cầu học pháp, thực hành pháp. Để giảm khổ, để bớt khổ, để đi ra khỏi khổ đau. Quý vị học cái này, để mình trân quý quý vị ơi. Những giây phút này là hiếm có, khó gặp, hy hữu vô cùng tận. Không phải chỉ trong một kiếp người, mà là cả một dòng luân hồi vô thỷ. Người ta có nhiều thời gian để đi sân si, nhiều thời gian để họ nói chuyện thi phi, để họ ganh đua, giành giật, đố kỵ, hơn thua. Mà người ta không có thời gian để ngời im lặng, không có thời gian để lạy sám hối, để nghe pháp, để đánh phá những vô minh, tham ái. Họ có biết đâu mà đánh phá, ai chỉ đâu mà biết, mà có chỉ cũng không nghe, không chịu.
Và như thế là cứ sống ở trong trường dạ, đêm dài của vô minh, bóng đen, u ám, vô minh. Và cứ như vậy là: “Thương đời quờ quạng giữa trời đêm”, thương cuộc đời này mình phải thương mình, thương mình là thương cuộc đời. Ngũ uẩn này là mình, là đời sống, là thế gian, thế giới. Mình tập thương ngũ uẩn này, tập thương ngũ uẩn khác, tập cảm thông với tất cả ngũ uẩn, vì tất cả là quờ quạng giữa trời đêm. Và chỉ có sự xuất hiện của Như Lai mới có ánh sáng lớn, mới có hào quang lớn, mới có sự soi chiếu lớn cho cuộc đời này. Chúng ta mới thấy được lối thoát, thấy được con đường, thấy được lối ra, lối đi thật sự của đời sống này. Còn nếu không là chúng là quờ quạng, lầm lạc, loanh hoanh lẩn quẩn trong một vòng tròn mà không có lối thoát.
Một vòng tròn cứ sanh ra rồi dục, rồi ái, rồi sân, si, hơn thua, giành giật, cao thấp, xong rồi già, bệnh, chết. Mà cái đó là bình thường, chưa kể tai nạn, rồi sanh ra rồi tiếp tục. Rồi sanh ra, rồi tham sân si, đấu đá, giành giật rồi chết, rồi sanh. Mà cứ lên xuống, thăng trầm, loanh hoanh, luẩn quẩn, chìm đắm, trôi dạt không biết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp. Cho nên Đức Phật chứng được túc mạng minh, sanh tử minh, Ngài thốt lên: “Đây là khổ”. Dòng luân hồi này là khổ, những đời sống đầy tham, sân, si, dục ái là khổ. Những tâm đấu đá, đánh đấm, chiến tranh, tranh giành là khổ. Chỉ có một lối thoát – tám đúng của bậc thánh, mới đưa chúng sanh hết khổ.
“Còn ngoài bát chánh đạo ra, này các Tỳ-kheo, không có tứ thánh quả”. Ngoài còn đường tám đúng này ra, thì không có đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn, đệ tứ Sa-môn. Không bao giờ có những người tu hành chơn chánh, trừ khi những người này phải đi trên con đường chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí và chánh giải thoát. Thập giải thoát, thập thánh đạo, bát thánh đạo. Mà chúng ta là đang đi trên con đường đó, đang bước trên con đường đó. Chúng ta ngày đêm khắc ghi, ghi nhớ, nhắc nhở, lòng dặn lòng: “Tâm ơi tâm, không có điều gì quan trọng cho cuộc đời này hết. Chỉ có một điều này quan trong nhất, là tâm hãy thấy đúng về bản chất của thân tâm này.
Thấy thật đúng về bản chất của đời sống, sự sống, kiếp sống này. Nếu như tâm không nhìn thấy, là tâm tiếp tục chìm nổi, trôi dạt, lặn hụp, phiêu bạt trăm đời ngàn kiếp nha tâm”. Cho nên sự xuất hiện của Thế Tôn là sự xuất hiện của dự lưu quả, là sự xuất hiện của nhất lai quả, bất lai quả, vô sanh thánh quả. Là sự xuất hiện của sự thấy biết của bậc thánh, là sự xuất hiện suy nghĩ của bậc thánh. Là sự xuất hiện lời nói của bậc thánh, là sự xuất hiện làm đúng, sống đúng, siêng đúng, định đúng, quán đúng của bậc thánh. Sự xuất hiện của chánh trí tuệ của bậc thánh, chánh giải thoát. Sự xuất hiện của Như Lai là sự xuất hiện của tứ chánh cần, tứ niệm xứ, tứ như ý túc, tứ thần túc. Sự xuất hiện của 5 căn 5 lực, 7 giác chi, 8 thánh đạo.
Sự xuất hiện của Ngài là sự xuất hiện của đại quang, đại minh, đại thánh, đại trí. Là sự xuất hiện của con mắt lớn, hào quang lớn, quang minh lớn, đạo lộ lớn. Là sự xuất hiện của diệt khổ, của vô thượng, cao thượng, tối thượng, vi diệu, thù thắng. Mà không bất cứ ngôn ngữ nào có thể diễn tả được sự xuất hiện vi diệu, tối diệu, thần diệu, thánh diệu của Đức Thế Tôn trên cuộc đời này. Ngài đã đem lại ánh sáng cho cuộc đời này, Ngài đã đem lại bình mình cho nhân loại. Ngài đã đem lại bình minh cho vô minh, quang minh cho u minh. Còn có sự xuất hiện nào, bằng sự xuất hiện này nữa. Còn có sự xuất hiện nào, tối thượng hơn sự xuất hiện này nữa.
Thế Tôn đã phơi bày những gì bị che kính, đã đem đèn sáng vào trong bóng tối, để ai có mắt có thể nhìn thấy sắc. Thế Tôn là vị thầy chỉ đường, cho những người lạc hướng. Là bậc đại đạo sư, chỉ đường cho những kẻ lầm lạc, lạc lối, lạc hướng. Làm sao mà chúng con có thể cảm hết được những ân đức vỹ đại, vô lượng, vô biên của Thế Tôn. Ngài đã dựng lại những gì bị ngã đổ trên cuộc đời này, những con người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, say sưa, điên đảo. Ngài đã làm cho dựng đứng lại, những đạo đức bị ngã đổ trên cuộc đời này. Ngài đã giúp cho chúng sanh, được tề chỉnh ở trong thiện pháp, giới hạnh.
“Này Xá-lợi-phất, những ai nói một cách chân chánh sẽ nói như sau: Một vị hữu tình không bị si mê chi phối, đã sanh ra cuộc đời này. Vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh. Vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người.
Vị ấy sẽ nó về Ta một cách chân chánh như vậy: “Ta là một vị hữu tinh không bị si chi phối”. Ta đã sanh ra trên cuộc đời này, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho cuộc đời. Vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người.
Bạch Thế Tôn, như lời vua Tư-nặc, Basanadi đã nói: “Thế Tôn là vị đã thực hiện hạnh phúc cho đa số. Thế Tôn là bậc đem lại an vui, an lạc cho đa số. Thế Tôn là vị đã an lập thánh chanh lý cho đa số. Thế Tôn đã đưa chúng sanh, đã thiết lập cho chúng sanh một đạo lý chân chánh về giới hạnh, đức hạnh, đạo hạnh của một người. Về giới hạnh, đức hạnh, đạo hạnh của một vị trời. Thế Tôn đã an lập chân chánh lý về đức hạnh, giới hạnh, đạo hạnh, thiền định cho các bậc hiền giả. Thế Tôn đã thực hiện hạnh phúc cho đa số, đã làm an lạc cho đa số. Thế Tôn là vị an lập thánh, chánh lý cho đa số các bậc hiền trí, hiền thánh, cho các bậc A-la-hán, đệ tử của Ngài, từ cư sĩ, cho đến xuất gia.
Tức là chánh chơn pháp tánh là thiện pháp tánh. Bạch Thế Tôn, vì con thấy ý nghĩa, lợi ích này. Nên con đã dùng tất cả những cử chỉ, tận cùng sự cung kính. Con là vua, mà con dập đầu dưới chân của Thế Tôn. Con nâng chân của Thế Tôn, và con hôn lên bàn chân của Thế Tôn. Trong khi con 80 tuổi, và Thế Tôn 80 tuổi. Trong khi Thế Tôn là người Kosala, con cũng là người Kosala. Thế Tôn là dòng họ Sát đế lị, con cũng dòng họ Sát đế lị, Thế Tôn 80 tuổi con cũng 80 tuổi. Con đã đem hết tất cả tấm lòng chí thành, chí kính, cung kính tột đột cùng cực để con hành lễ đối với Thế Tôn.”
Thật là xúc động với những lời đế vương trình bày, với bậc pháp vương. Chúng ta thật là hạnh phúc biết bao nhiêu, khi được làm một người con thật sự của Đức Phật. Hơn 8 tỷ người trên trái đất này, bao nhiêu người quy y Tam Bảo. Vào bao nhiêu người, thật sự học hiểu giáo pháp của Đức Phật. Và bao nhiêu người thật sự tìm tới cội nguồn, lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Để mà hiểu được Đức Phật một cách chân chánh, cung kính Đức Phật một cách chân chánh. Thành tựu được chánh tính, chánh kiến đối với Đức Thế Tôn. Chúng ta hãy thưởng thức sự quý báu này. Hãy chiêm nghiệm sự lợi đắc, lợi ích, sự có được hiếm có trong dòng luân hồi sanh tử này.
Chúng làm cho sự hạnh phúc này, sự quý báu, sự hy hữu này nó lan tỏa cùng khắp châu thân chúng ta. Từng làn da, thớ thịt, tế bào, lỗ chân long, ngấm vào xương tủy của mình. Là lòng biết ơn vô tận, vô lượng, vô cùng, vô hạn, vô biên. Trong dòng luân hồi vô tận, trong kiếp người ngắn ngủi. Chúng ta là những con rùa mù 100 trăm năm từ dưới đáy biển nổi lên, mà trúng lúc bọng cây nổi trôi qua và chúng ta được chui vào. Và gió thuận chiều đưa bọng cây, và con rùa mù này vào trong đất liền. Con rùa mù dưới đáy biển 100 năm mới nổi lên 1 lần, tức là dòng lục đạo luân hồi, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Atula, thiên giới, nhân giới này.
Mà chúng ta may mắn, bởi vì tất cả các bậc chánh đẳng giác chỉ sanh ra ở thế giới của loài người. Các bậc chánh đẳng giác không sanh ra ở 5 thế giới kia, Phật không sanh ra. Thế Tôn, các bậc chánh đẳng giác quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ xuất hiện ở thế giới của loài người. Mà lúc Thế Tôn xuất hiện, chúng ta ở đâu không biết.
“Phật ở đời, con còn sa đọa
Nay được thân người, Phật Niết-bàn
Ảo não, buồn tủi phận mình nhiều nghiệp chướng
Chẳng gặp Như Lai kim sắc thân”
Lúc mà Thế Tôn xuất hiện, thuyết pháp, và các bậc thánh Tăng ngàn ngàn, vạn vạn, lớp lớp thành đạo quả. Thì lúc đó chúng con đang ở đâu? Chúng ta đang chìm đắm, trôi dạt, trôi lăn ở đâu. Hay là lúc đó chúng ta cũng là người, mà chúng ta vô cảm. Hoặc là chúng ta không đủ duyên, hay đủ duyên mà chúng ta không nghe lời. Và chúng ta trôi lăn cho đến 2568 năm, mà giờ này còn một chút ít may mắn, thù thắng, phước báo, đò chiều chuyến chót. Chúng ta vẫn còn nghe được thánh pháp, tạng kinh Nikāya, những lời dạy nguyên chất, nguyên gốc, nguyên thủy, nguyên bạch nguyên vẹn, toàn vẹn. Và chúng ta nắm cho chặt, giữ cho chắt, quyết chết cũng không bỏ ra những giáo pháp tối thượng này. Để chúng ta mới kịp đò chiều chuyến chót.
“Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Như Lai chuyển bánh xe pháp vô thượng, khi ấy trong thế giới chư Thiên…(như kinh số 127,2 …) “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện.”
Lúc đó hào quang cúng tỏa sáng, đây là bốn pháp vi diệu, tối thượng. Pháp thứ nhất là từ cung trời Đâu xuất, chánh niệm tỉnh giác nhập vào mẫu thai. Pháp thứ 2 là Bồ Tát chánh niệm tỉnh giác, từ bụng mẹ sanh ra. Từ lòng mẹ sanh ra Ngài chánh niệm tỉnh giác, Ngài biết Ngài đang làm cái gì. Pháp thứ 3 là chứng đắc chánh đẳng giác, dưới cội Bồ đề. Và pháp thứ 4 là chuyển vô thượng pháp luân, đây là 4 pháp chúng ta phải nhớ kỹ.
II. Bốn pháp vi diệu 2
Và 4 pháp vi diệu nữa trong bài kinh “Vi Diệu 2”. Hồi nãy là nói về hào quang, bây giờ là nói về sự giáo hóa.
“1. - Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích chấp giữ, thích thú chấp giữ, hoan hỷ chấp giữ, khi pháp không chấp giữ được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ nhất xuất hiện.
2. Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỷ kiêu mạn, khi pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện.
3. Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.
4. Này các Tỳ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện.”
(Tăng Chi Bộ kinh – kinh Vi Diệu 2)
Chúng ta có hoan hỉ với pháp buông bỏ không, thích buông bỏ không? Tức chúng ta cũng được 1 phần, của sự hiếm có kỷ lục mầu nhiệm nay. Đại đa số là ưa thích, vui thích, hoan hỉ trong sự chấp thủ. Nhưng mà Thế Tôn ra đời lại thuyết pháp buông bỏ, từ bỏ, xả bỏ, nhưng mà chúng sanh lại khéo nghe, lắng tai, chánh trí và an trú tâm trong cái pháp buông bỏ, xả bỏ, từ bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ, giụt bỏ để mà tu tập pháp viễn ly, xả ly, xuất ly. Bây giờ nói đơn giản thôi là từ hôm qua tới bây giờ, chúng ta có bỏ nhà không ạ? “Dạ có”. Bỏ người thân trong hôm qua tới nay, có không? “Dạ có”. Bỏ tiền, không có lo lời lỗ, công chuyện gì hết trơn, cứ chuyên khéo nghe, lắng tai, chánh trí, an trú tâm vào pháp để thực hành.
Buông bỏ
Tức là chúng ta có được hưởng một chút nào, của sự vi diệu này không? “Dạ có”. Đó là sự vi diệu đó, chúng sanh thích nắm, ưa nắm, khoái nắm, mà Thế Tôn ra đời dạy: “Buông con, nắm khổ nha con, nắm là đau tay, mỏi tay, bệnh tay, bệnh tâm nha không con”. Trả lời: “Dạ đúng rồi, Thế Tôn nói đúng, con khổ, con bệnh, con đau, con sầu. Tại vì con nắm, cho nên tâm buông xả là tâm hạnh phúc”. Bây giờ quý vị nhớ Đức Phật dạy nè: “Gặp vui không ham, gặp bực không giận, chánh niệm tĩnh giác, trú xả”. Đây là bí kiếp mà quý vị nhớ thường niệm, một chữ thôi không buồn. Là lặp tức quý vị có được hiểu quả thiết thực, hiện tại, thu hoạch liền luôn.
Ngay chỗ quý vị niệm “buông”, thí dụ tự nhiên mình ra, mình thấy người kia nhìn với con mắt kỳ quá à. Mình nói: “Buông”, buông không có suy nghĩ, không có hình bóng gì hết đó, không có cảm thọ gì hết. Hình bóng trong tâm buông, cảm thọ trong tâm buông, suy nghĩ về ánh mắt đó buông. Mà buông nhẹ không, khỏe không, có hiệu quả liền không, chịu làm không. Rồi bây giờ mình nghe ai nói câu nói gì đó, mình: “Buông, buông”, được không? Một chữ này là vi diệu đó, nếu không có vi diệu thì Đức Phật đâu có dạy mình tứ vô lượng tâm: Từ, bi, hỷ, xả. Mà cái tâm từ, bi, hỷ, xả này mà quý vị chưa thành chánh kiến mà tu được từ, bi, hỷ, xả này là lên phạm thiên, lên các cõi trời rồi.
Mà có thêm chánh kiến nữa là thánh để tử thiên, đi đến thánh quả luôn. Một chữ thôi “buông”, tập đi, hành đi, làm đi rồi sẽ được. Hỏi giờ mấy chục năm được cái gì vậy? Được 1 chữ thôi “buông”. Ngon lành không? Một chữ một thôi à. Người ta được cái này, cái nọ, cái kia, thường người ta khổ với những cái đó. Mà mình được cái buông, cái buông nó đâu có làm cho mình khổ đâu, nó làm cho mình khỏe. Mà chỉ có thánh đệ tử mới biết được bí kiếp này, phàm phu không có biết đâu. Cả cuộc đời người ta kiếm cái nhà, kiếm chiếc xe, kiếm miếng đất, kiếm sổ hồng sổ đỏ, kiếm mấy cái miếng nhỏ nhỏ màu vàng. Nói sao cười? Đúng ý hả?
Kiếm mấy tờ xanh xanh có mấy chữ số, mà số 0 càng nhiều càng tốt. Mà ngộ ha, số 0 mà càng nhiều càng tốt, mà mình tu thì mình đi tìm cái buông. Vi diệu không? Buông được những cái đó là cái tâm mình khỏe, buông không phải là mình không có, chỗ này là chỗ đặc biệt. Mình vẫn sống trong gian đình, vẫn làm việc, vẫn phụng sự, đó là phương tiện đời sống mà. Không có tiền sao đi xe lại chùa, không có xe rồi cái gì chở tới. Nhưng mà cái tâm mình buông, không có làm nô lệ cho chiếc xe. Không làm nô lệ, đầy tớ cho đồng tiền, không có làm kẻ giữ nhà, canh nhà, ở đợ cho căn nhà đó. Mà tâm mình nhẹ nhàng sử dụng những cái này làm phương tiện, để mình đạt đến chỗ thoát ra, buông xả.
Được không? Chịu không? “Dạ chịu”. Đó là vi diệu như vậy đó. Một chữ này thôi mà quý vị lấy làm đề tài thiền quán, suốt 1 tuần lễ. Quý vị cứ việc hành một pháp này thâm sâu, cho nó thể nhập, thành tựu, chứng đạt một cái pháp đó. Thì quý vị khỏe vô cùng, mà phải thâm sâu, phải thực hành thường xuyên, phải an trú, phải như lý tác ý, phải sống được trong đó. Mình ăn trong đó, thở trong đó, ngủ chung với chữ xả, chữ buông đó. Ở chung, ăn, uống, suy nghĩ, cảm thọ, tư duy, hình bóng, ôm ấp giống như tương tư hồi xưa mới quen vậy đó. Sử dụng cái tâm ái đó, chuyển qua cái tâm tu. Gọi là: “Đạo niệm nhược đồng tình niệm thành Phật dĩ đa thời”, chữ cổ nói như vậy đó.
Đạo niệm mà nếu như đồng với tình niệm, thì giác ngộ từ lâu rồi. Nói trắng ra luôn đó, cái tâm tu mà giống như cái tâm đi kiếm tiền là giác ngộ lâu rồi. Nói vậy cho dễ hiểu đó, nói vậy mà còn không hiểu nữa là không biết nói tiếng gì nữa bây giờ, hết chữ nói luôn rồi đó. Cái tâm mà ham tiền, ham cái đẹp, cái vật chất, cái ngũ dục. Mà cái tâm đó mà đi tu, lấy cái tâm y như vậy, ham, thích, khoái, chạy đuổi, truy cầu như vậy mà đêm qua để mà tu. Để mà truy cầu tầm đạo, là giác ngộ lâu lắm rồi, nhập lưu lâu lắm rồi, chứng quả lâu lắm rồi. Được không? Ngồi im ru hết trơn vậy? Quý vị thấy không? Mình thấy mấy người đi làm ăn không? Năm phút, 10 phút, 3 phút, họ canh chừng giờ giấc, họ cứ canh đồng hồ hoài ha.
Họ mót từng chút, canh từ từng giờ, từng đồng, từng cắt, họ cứ để dành, tranh thủ kiếm tiền dữ lắm. Sao mình không tranh thủ kiếm trí tuệ? Sao mình không tranh thủ thực tập tâm từ bi? Sao mình không tranh thủ chứng đắt được cái tâm buông xả? Đó, chuyển cái tâm lại, đạo niệm nếu đồng tình niện, giác ngộ chân lý từ lâu, chứng ngộ được thánh quả từ lâu.
Khiêm hạ - an tịnh
Tiếp theo là:“Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện”.
Quần chúng họ ưa thích sôi động, sôi nổi, dao động. Họ thích thú dao động, họ hoan hỉ, học vui trong dao động. Quý vị thấy không? Tiệc tùng, thôi nôi, đầy tháng, đám giỗ, đám hỏi, sinh nhật, tiệc cưới này nọ kia. Là yêu thích, thích thú lắm, lại là có hương vị đủ thứ hết. Sắc, thanh, hương, vị, xúc, cái nào cũng có hết, hấp dẫn. Khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục hấp dẫn, khoái, thích cái đó. Còn vô ngồi thiền im ru bà rù, ngồi im ra, an tịnh. Vậy mà họ vẫn khoái, vẫn thích, vẫn ngồi đây được mấy chục người. Vẫn chịu buông bỏ những cái ồn ào, náo nhiệt, loạn động ở bên ngoài, chúng ta thấy không. Mà hồi Đức Thế Tôn còn tại thế, quý vị thấy những bài kinh là 1250 vị Tỳ-kheo đi chung với Phật.
Khi Đức Thế Tôn đi lên chư thiên thuyết pháp, là những bản kinh có mấy chục vạn thiên tử, thiên nhân nhập lưu hết trơn, sáu mươi mấy vạn. Mình nghe mình không thể tưởng tượng nổi. Có ông Phạm Chí này ổng lại với Đức Phật, này nọ kia với Đức Phật, Đức Phật thuyết pháp xong rồi 300 người xuất gia hết. Trong 7 ngày chứng thánh A-la-hán hết, 300 vị Phạm Chí, 7 ngày chứng quả A-la-hán. Khủng khiếp không? Tại vì những vị đó tu khổ hạnh, có cái tâm li dục gần gần tới rồi, Đức Phật điểm vô 1 cái rồi xong, chứng quả. Cho nên: “Quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỉ không an tịnh”. Tức là quần chúng ưa thích dao động, thích thú dao động, hoan hỉ trong dao động.
Nhưng mà khi Thế Tôn ra đời, Thế Tôn hướng dẫn pháp an tịnh, lắng dịu. Nhưng mà họ khéo nghe, lắng tai, trú tâm, để ý vào và thực tập pháp an tịnh đó. Đây là điều vi diệu chưa từng có, mà khi Đức Thế Tôn xuất hiện ở đời này, là điều vi diệu thứ 3 xuất hiện trên cuộc đời. Đó quý vị thấy không? Trong sự an tịnh, lắng dịu đó mình lợi ích biết bao nhiêu. Mình nhìn lại mình, mình xét lại mình, mình mới thấy ra được chính mình. Rồi mình mới điều chỉnh, sửa được chính mình. Mình mới có dạt dào những cảm xúc, cảm thọ tàm quý, cảm thọ ưu tư, ngọt ngào, dễ chịu, từ bi. Quý vị thấy bây giờ trên núi mấy trăm người, ngồi ngoài gốc cây, ngồi bên vườn trúc, ngồi ở trên Quán chiếu đường, cổng trời, im phăng phắt.
Mà ở đây bây giờ cũng im phăng phắt, im lặng. Trong sự an tịnh đó, ta gặp chính ta. Ta thấy được chính mình, ta hiểu được mình, ta sửa được mình, ta tu cho mình và chăm sóc mình. Trong sự an tịnh đó ta thương mình, ta thương người, ta thương hữu tình chúng sanh. Trong sự an tịnh đó ta hiểu Phật, ta cảm tin Phật, ta càng quý kính Phật và ta càng mạnh mẽ bước theo chân của Phật, từ sự an tịnh lắng dịu đó. Cho nên con rất mong muốn, chúng ta trong những ngày tu ở đây, tạo thành 1 nếp nhà Nikāya. Đừng có dao động, dao động ở ngoài mệt mỏi lắm, đi về đây cố gắng giữ sự im lặng tối đa có thể. Trừ công việc cần thiết trao đổi với nhau, rồi xong mình cứ an tịnh.
Mình tập sự an tịnh tối thượng, quý báu, hy hữu, hiếm có. Để mình hưởng trọn công đức, phước báo, lợi ích trong 3 ngày này. Chứ không thôi uổng lắm, mình về mình nói 3 ngày chứ không có được bao nhiêu, nếu mình không bằng tất cả tấm lòng để mình thực hiện. Phải cố gắng thực hiện sự an tịnh, lắng dịu này. “Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỷ kiêu mạn, khi pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có”. Khi mình tập cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, mình thấy rất là đẹp.
Trong khi ở ngoài người ta thích thú trong sự ta đây, vui sướng trong sự thể hiện, hoan hỉ trong sự vỗ ngực xưng tên. Mà ở đây chúng ta tu theo lời dạy của Đức Phật, không kiêu mạn. “Con chỉ là cái tấm dậm chân, con chỉ là nùi giẻ rách, con chỉ là bộ xương, nắm tro. Con chỉ là khói mây trong cuộc đời này, con chả là cái gì, chả là ai trong cuộc đời này. Trong con chỉ là vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã. Con không có hoan hỉ với cái ta, con không có thích thú với cái ta, con không có kiêu ngạo với cái ta. Con thấy cái ta là cái xấu xa, cái ta là cái thấp hèn, cái ta là cái nhỏ nhít, nhỏ bé. Và con hoan hỉ với sự nhiếp phục, chế ngự cái ta, con tập cúi đầu.
Con tập lễ lạy, con tập cúi lạy, con tập quỳ lạy, con tập mộp xuống lại. Để cho cái bản ngã này nó mòn, nó thấp, nó hạ, nó giảm và nó đi đến chỗ đoạn tận. Con thấy con hoan hỉ với pháp tu này, con thấy thích thú với hạnh tu này, con thấy con vui vẻ với pháp hành này. Con thấy con rất là ngọt ngào, mỗi khi được chắp tay, được cúi đầu, được xưng con, quỳ lạy, đảnh lễ. Con thấy con hạnh phúc, con xưng con với 1 người nhỏ hơn con, một người thấp hơn con. Con thấy tâm con thật là hiền ngoan, giống như con bò đực bị cưa 2 cái sừng. Mỗi giờ ăn cơm con an trú tâm của 1 người khấc sĩ, 1 người ăn xin, như Đức Thế Tôn và các bậc thánh hiền đã từng ăn xin.
Con bưng trong tay con 1 hột cơm, 1 chén cơm, 1 tô cơm, mà con thấy cái hạnh khất sĩ của Đức Thế Tôn và các bậc thánh Tăng. Và con cũng đi theo con đường đó, ở giữa cuộc đời này con cũng là 1 kẻ ăn xin. Xin vật chất hoặc là xin tình cảm, con cũng đều như vậy hết thôi. Và tất cả trên cuộc đời này, là những ân nhân cho con miếng ăn, cho con tình thương, con con những phương tiện như yếu. Mà con được tu, được học, được sống, được làm những việc giá trị, ý nghĩa, lợi ích trên cuộc đời này. Con là kẻ nhận tất cả những ân đức, và cuộc đời này là cả 1 cuộc đời ân nhân của con. Dù họ có thương hay ghét, có khen hay chê, có giúp hay hại, thuận hay nghịch, thì con đều cảm ơn hết.
Vì nhờ có như vậy, con mới thấy cuộc đời này khổ đau. Chứ ai mà cũng khen con, thì cái bản ngã, cái kiêu mạn của con càng tăng trưởng. Người ta phải chê, phải mắng, phải chửi, phải hủy nhục, để cho con nhìn thấy được sự thật về con. Để cho con bẻ gãy được kiêu mạn, đập tan được cái ngạo mạn, chặt được cái ngọn cờ kiêu mạn ở trong tâm con. Con nguyện cả 1 cuộc đời từ nay cho đến mạng chung, con sống 1 cuộc đời khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã. Con luôn luôn quay trở lại hộ trì các căn, nhìn thấy, khéo nhìn cái lỗi của mình. Con không có hướng tâm ra để nhìn lỗi ai nữa hết, con lo nhìn cái lỗi con còn không hết, con lo sửa lỗi con còn không đủ thời gian.
Thì con lo dòm ai, bắt bẻ ai trên cuộc đời này. Con nhìn thấy con xấu hổ, nhục nhã, tàm quý. Vì trong con còn nhiều vô minh, nhiều tham ái, nhiều ngã mạn, nhiều ngạo mạn, nhiều kiêu mạn, nhiều bản ngã. Và con thấy con đẹp trong cái hạnh này, con vui, con hạnh phúc trong cái hạnh này. Con thấy con thỏa mạn trong cái hạnh nhiếp phục bản ngã, diệt trừ bản ngã, đoạn tận bản ngã. Như thế tình thương của con đối với tất cả mọi người, lòng biết ở của con đối với hữu tình chúng sanh, tâm hiếu thảo của con đối với cha mẹ, ông bà. Càng ngày càng tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh, đầy ấp, sung mãn, tràn ngập trong tâm con.
Khi ánh mắt con nhìn cha mẹ, nhìn ông bà cô bác, nhìn chồng con cái, nhìn những người bạn. Là cả 1 cái tâm biết ơn, cảm ơn, nhớ ơn, và nguyện đền ơn, báo ơn. Khi con nhìn lên thánh tượng của Đức Thế Tôn, là cả 1 bầu trời của ân đức, hạnh đức, công đức, vô lượng đức hạnh. Từ Đức Thế Tôn, chánh pháp, chúng Tăng, cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị, vợ chồng, con cái, bạn bè. Cho đến tất cả những người làm công, nhân viên, tất cả những người con từng gặp đều là những ân nhân trên cuộc đời này tác thành cho con. Làm cho con có một cuộc sống đầy đủ những hương vị, trải nghiệm này. Có được những sự thấm thía cay đắng, mặn nồng, bùi ngọt trên cuộc đời này.
Con cảm ơn tất cả, con cung kính, con khiêm cung đối với tất cả. Con thật là thỏa mãn, con thật là đầy ắp, ngào ngạt với những niềm vui. Mà con tu cái pháp không kiêu mạn này, bẻ gãy cái tâm ngã mạn, kiêu mạng, ta đây này. Con thật là hoan hỉ và hạnh phúc, vui sướng biết bao nhiêu, khi con nhìn ra được cái bản ngã. Hạnh phúc biết bao nhiêu, khi con nhiếp phục cái bản ngã. Và tuyệt vời biết bao nhiêu, khi con bẻ gãy được cái bản ngã. Và cũng bắt cái bản ngã này phải quỳ xuống, cúi đầu, dập đầu, lạy dưới chân của thiên hạ. Con thấy từ ngày con biết lạy sám hối diệt ngã tới bây giờ, con thấy con đẹp ra, trẻ ra và nhỏ lại. Con trở thành một người rất là nhỏ bé, con trở thành một người rất là dễ thương.
Và con trở thành 1 người rất là ngoan hiền, dễ nghe, dễ bảo, dễ tu pháp thánh hiền. Được không? Ngày hôm qua có quý Phật tử đến nói: “Thầy ơi con đổi đời rồi thầy ơi”, con nói vậy thì tốt. Vị ấy nói tiếp: “Từ ngày con tu con thấy con hiền, con thấy sao mà con an tịnh lắng dịu. Và chồng con hoan hỉ, nở những nụ cười hạnh phúc vì sự tu tập của con. Con cũng hoan hỉ, hạnh phúc, nở những nụ cười vì sự tu tập hiền thiện của con”. Con nghe con mát ruột, còn hơn đem lại cho con cái tiệc lớn gì cũng không bằng hết trơn á. Có đáng tán thán không? Chiều nay chúng ta tiếp tục pháp đàm, trình bày về sự tu học, trải nghiệm của mình. Những gì được, những gì chưa được, chiều nay chúng ta tiếp tục pháp đàm nữa, trình bày sự tu học của mình.
Phải mạnh mẽ, nhiệt tình lên, đừng đợi con phải mời. Xông xáo lên, nhiệt tâm lên trong cái pháp. Chúng ta thấy được vậy chúng ta mới hoan hỉ, hân hoan. Chúng ta mới vui tu, vui học và vui hành đạo. Chúng ta thấy trở về chùa dự khóa tu, là có quý hơn tất cả những gì ở trên cuộc đời này. Ăn thôi nôi, đi ăn đầy tháng, đi ăn đám hỏi, đi ăn đám cưới, đi ăn đám ma, đi đám này nọ kia, đi du lịch. Bị vì tất cả những cái đó điều là vô nghĩa, làm sao bằng đi tu hiền trí. Làm sao bằng thấy vô thượng, nghe vô thượng, tu vô thượng, học vô thượng, lợi đắc vô thượng, phục vụ vô thượng. Tối thượng trong 6 vô thượng này, ý thức sâu sắc điều đó. Và cố gắng những khóa tu là phải sắp xếp có mặt trên từng cây số, nhất trí không?
Bất cứ thành phố ở Hà Nội, Nha Trang, ở núi rừng, bất cứ chỗ nào là sắp xếp có mặt trên từng cây số. Chết cũng không bỏ, chết thì bỏ cái thân mà không bỏ pháp. Quá hạnh phúc như vậy mà không hưởng, mà đi hưởng độc hả. Ngộ độc thực phẩm bữa giờ 300, 400, 700 kìa. Pháp vị không chịu hưởng, bây giờ hưởng ngộ độc thực phẩm phải không? Bây giờ chọn cái này? “Pháp vị thắng mọi vị, pháp hỷ thắng mọi hỷ, pháp thí thắng mọi thí, ái diệt thắng mọi khổ”. Tất cả hương vị trên cuộc đời này, không có hương vị nào bằng hương vị của chánh pháp. Tất cả niềm vui trên thế gian này, không có niềm vui nào bằng niềm vui thực hành pháp.
Tất cả sự bố thí, cúng dường trên cuộc đời này, không có sự bố thí, cúng dường nào bằng bố thí, cúng dường pháp. Từ những sự nếm hương vị pháp, hoan hỉ trong pháp, bố thí pháp đó, chúng ta đi hết ái diệt thắng mọi khổ. Chúng ta được đưa đến chỗ, lòng tham ái này sẽ được chấm dứt, hết khổ, đạt được Niết-bàn lạc tối thượng. Bẻ hãy được kêu mạn nào, sống được cái tâm an tịnh. Và cuối cùng Đức Phật dạy mình cái pháp vi diệu là:
“Này các Tỳ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện”.
Chúng sanh bị vô minh phong tỏa, chúng ta đâu có thấy sắc, tưởng, hành, thức. Họ nghĩ là 1 cái tôi, 1 cái ta, 1 cái bản ngã rất là lớn. Từ việc họ không thấy ngũ uẩn, họ mới ham thích ngũ uẩn. Từ họ ham thích ngũ uẩn, nên họ muốn chiếm hữu, nắm giữ ngũ uẩn. Và từ cái tâm chiếm hữu, nắm giữ ngũ uẩn này, nhưng mà ngũ uẩn thì biến đổi vô thường, bại hoại, trống rỗng cho nên họ sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ sống trong nước mắt, bất an, lo lắng, lo sợ, sợ hãi. Và Thế Tôn ra đời để nói cho họ biết là phải nhiếp phục cái vô minh nay, phải đánh phá những cái suy nghĩ là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
“Con ta, tài sản ta
Người ngu nghĩ như vậy
Tự ta, ta không có
Con đâu? Tài sản đâu?”
Phải nhiếp phục, đánh phá cái vô minh này, phải dẹp tan cái bóng tối trong nội tâm này. Để thấp lên ngọn đèn chánh trí, để bừng sáng lên trí tuệ, để làm cho mặt trời chân lý được xuất hiện trong tâm của mình. Xua tan những màn đêm âm u, những sự chấp thủ, chấp ngã, chắp chước, chắp chặt. Đánh tan, đánh phá, đánh vỡ, mà lên chánh trí, thánh trí. Sẽ thấy biết như thật về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Thấy biết như thật về tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Thấy biết như thật về khổ, về con đường diệt khổ. Thấy biết như thật về lậu hoặc, diệt trừ lậu hoặc, diệt trừ hôn mê. Làm cho cái tâm hôn mê đó nó thức tỉnh, bừng tỉnh, tỉnh ngộ. Đừng sống với tâm hôn mê, u mê, si mê, đam mê, cái tâm không thấy được khổ.
Cái tâm tưởng là vui, là sướng, là tôi, là ta, là còn hoài. Phải đánh thức được cái tâm đó, để cho nó thấy được vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Cái tâm này nó bừng tỉnh, sực tỉnh, đại giác một cách hoàn toàn để thoát ra bóng tối này. Và điều đó là điều vi diệu thứ 4, mà Đức Phật, bậc A-la-hán chánh đẳng giác xuất hiện trên đời này. Tuyên thuyết cho chúng sanh phá vô minh, khai trí tuệ. Chúng ta trong mùa Phật đản này, trong những thời khắc chúng ta tưởng nhớ Đức Thế Tôn, để làm cho mình sanh khởi lên tín tâm, mà có sanh khởi rồi thì lớn mạnh thêm tín tâm, thêm lòng tin vững chắc. Từ tín tâm biến thành tín lực, từ căn cứ, từ gốc rễ của lòng tin biến thành sức mạnh của lòng tin.
Và từ sức mạnh này đẩy mình đi đến sự thực hành, nỗ lực thực hành. Từ sự nỗ lực thực hành, tâm mình chuyên trú tập trung vào cái pháp để mình thực hành. Thì nó trở thành 1 trí tuệ “tín tấn niệm định tuệ”. Từ lòng tin sẽ có sự nỗ lực, từ sự nỗ lực mình sẽ có chánh niệm, mình sẽ nhớ. Từ sự nhớ mình sẽ tập trung tâm ý, từ sự tập trung tâm ý tâm yên định đó thì trí sáng. Chúng ta sẽ bừng chiếu, từng chói, bừng tỉnh. Đó là ngũ căn biến thành ngũ lực, năm căn biến thành năm lực. Chính sức mạnh này đưa chúng ta đi đến sự thật, đi đến thể nhập vào trí tuệ mà Đức Phật đã truyền trao. Đó là chúng ta vừa chiêm nghiệm 8 pháp vi diệu thù thắng chưa từng có, khi Như Lai xuất hiện ở đời.
Chúng ta đứng lên và làm lễ quy y cho các vị nào đã phát tâm.
(Nghi thức quy y)
Những Điều Vi Diệu Khi Phật Ra Đời
(Kinh Vi Diệu 1, 2 – Tăng Chi Bộ II)
Thích Minh Thành
Ngày 18 tháng 05 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn pháp vi diệu 1 PAGEREF _Toc201262848 \h 1
II. Bốn pháp vi diệu 2 PAGEREF _Toc201262849 \h 10
Buông bỏ PAGEREF _Toc201262850 \h 11
Khiêm hạ - an tịnh PAGEREF _Toc201262851 \h 13
I. Bốn pháp vi diệu 1
Đồng hoài niệm, hoài niệm lại sự xuất hiện của Đức Thế Tôn trên cuộc đời này. Sự hiện hữu của bậc toàn giác, đại giác, chánh giác, viên mãn giác. Một con người hy hữu, khó gặp trăm ngàn vạn kiếp. Bài kinh Vi Diệu số 1, Tăng Chi Bộ Kinh tập II.
“- Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có xuất hiện. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, khi Bồ-tát từ bỏ thân ở cõi trời Đâu-suất, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy, một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng, tối tăm, u ám, tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây?
Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ nhất xuất hiện.
2. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác, từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy, một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng, tối tăm u ám, tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”.
Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện.
3. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Như Lai chứng ngộ được vô thượng Chánh Đẳng Giác, khi ấy trong thế giới chư Thiên … (như kinh 127,2) …”Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”.
Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.
4. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Như Lai chuyển bánh xe pháp vô thượng, khi ấy trong thế giới chư Thiên…(như kinh số 127,2 …) “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện.”
(Tăng Chi Bộ Kinh II – kinh Vi Diệu 1)
Tất cả chúng ta từ đâu sanh ra đây, mình hoàn toàn không biết. Tại sao mình có mặt, mình hoàn toàn không hay. Sau khi mình nhắm mắt mình đi đâu, mình cũng chả có rành rõ. Đó là sống say, chết mộng ở trong cái vô minh, si mê, hôn ám trong dòng sống chết. Ngược lại, Bồ Tát từ bỏ thân ở cỏi trời Đâu Xuất, thì Ngài chánh niệm tĩnh giác nhập vào mẫu thai. Ở trong kinh diễn tả khi Bồ Tát giáng thần từ Đâu Xuất hạ phàm, thì toả ra cái ánh sáng. Mà ánh sáng này vượt xa rất là nhiều lần, không thể tính kể so với hào quang của chư thiên. Các vị trời khi xuất hiện thì hào quang cả một thành phố, sáng rực cả một vùng. Nhưng khi Bồ Tát xuất hiện thì cả 1 thế giới, không phải chỉ 1 tỉnh, 1 thành, 1 quốc độ. Mà cả thế giới đều bao phủ bằng ánh sáng hết.
Cái đó gọi là: “Một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người”. Tức là ánh sáng đó loài người ở nhân giới thấy, thiên giới thấy và ma giới cũng thấy được. Ở phạm thiên giới là các tầng trời cao cấp cũng tắm mình ở trong ánh đại quang minh, lúc Bồ Tát hạ phàm. Quý vị có thể dùng thọ, tưởng, hành của mình để quán tưởng cảnh lúc Bồ Tát giáng thần. Chưa bao giờ có ánh sáng mà nó lớn, nó rộng, nó đi hết tất cả thế giới, soi thấu tất cả thế giới nhưu vậy. Chỉ có khi Bồ Tát giáng thần, nhập mẫu thai.
Khoảnh khắc mà Ngài đi vào trong lòng mẹ, chúng ta nhớ đây là khoảnh khắc đi vào trong thai mẹ, không phải đản sanh, đó là thứ nhất. “Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác, từ bụng mẹ sanh ra”. Hồi nãy là nhập thai, bây giờ là xuất thai. Thì khi ấy một hào quang vi diệu, thần diệu như lúc nãy đã nói chiếu cùng khắp thiên giới, ma giới nhân giới, cùng khắp tất cả những chỗ âm u, u tối, trường dạ, hắc ám 1 màu đen đều sáng rực, bừng sáng, tỏa sáng hết. Đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ 2 xuất hiện, khi bậc A-la-hán bậc chánh đẳng giác, Như Lai xuất hiện ở đời này, đó là lần thứ 2 hào quang phổ chiếu.
Pháp vi diệu chưa từng có thứ 3 là lúc Bồ Tát hành đạo, lúc Bồ Tát vừa đại giác, chánh giác, toàn giác, viên mãn giác, vô thượng đạo, Phật đạo vô thượng được thành tựu. Chúng ta tụng bài “Phật Đạo Vô Thượng” đó phải không? Đó là lúc Bồ Tát nhìn thấy được từ vô minh, duyên hành, từ hành, duyên thức cho đến danh sắc lục nhập. Từ ái thủ hữu, rồi có sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Thì lúc đó Bồ Tát hoàn toàn thấu triệt dòng luân hồi sanh từ, giải mã. Tức là Bồ Tát quang sanh, minh sanh, tuệ sanh, trí sanh. Và thấu suốt hết dong luân hồi sanh tử, tại sao chúng sanh có mặt? Vì sao chúng sanh khổ đau? Và làm thế nào chúng sanh chấm dứt đau khổ? Và đi trên con đường nào, đạo lộ nào, phương pháp nào, cách thức nào, lối thoát nào.
Và Thế Tôn phát giác được con đường cũ, đạo lộ cũ, các bậc Như Lai ứng cúng, chánh đẳng giác thuở xưa đã đi qua, và nay Ta cũng đi trên con đường ấy. Và Ta nhìn thấy vô minh, hành, thức, danh, sắc, lục nhập, ái thủ hữu. Ta nhìn thấy sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Ta nhìn thấy được nguyên nhân của đau khổ, và đạo lộ thoát khỏi khổ đau. Bồ Tát chứng đắc từ từ sanh tử mình, chứng đắc túc mạng minh, sanh tử minh và lậu tận minh - tam minh được thành tựu viên mãn. Khi Như Lai chứng ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác, khi ấy trong chư thiên, hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của các vị trời. Chiếu cùng khắp vô lượng thế giới, hành tinh.
“Ánh sáng phổ chiếu thiên giới, ma giới, phạm thiên giới, quần chúng sa môn, bà la môn, Phật quang phổ chiếu chư thiên và loài người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng, tối tăm u ám, mặt trời mặt trăng không chiếu đến được, cũng có thể chiếu thấu ánh sáng soi vào”. Trong cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu, thắng xa uy lực của chư thiên hiện ra. Và chúng sanh tại ấy, nhờ hào quang ấy mà thấy nhau. Họ nói rằng: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây à”. “Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.”
Đó pháp vi diệu chưa từng có thứ ba, khi Bồ Tát thành chánh giác. Chúng ta dùng thọ, tưởng, hành của mình thiền quán, xuyên không, để có thể cảm nhận được lúc Bồ Tát thành chánh giác. Bởi vậy mình học cái này hồi mình mới thấy sợ, mình chỉ thấy được những con người trước mặt mình. Mà mình không biết có rất nhiều, vạn thức chúng sanh khác, trong nhiều thế giới khác. Cũng vì cái tâm hôn mê, tâm chấp thủ vào ngũ uẩn, cái tâm tham ái trong tứ đại, tâm dục, tâm sân, tâm bản ngã ngã. Mà phải rơi vào những đọa xứ, khổ thú, ác thú, những cảnh giới mà chúng ta không thể nào tưởng tượng nỗi. Mình nói nội cuộc đời này đi, mình chưa có vô những nhà tù chung thân.
Hay là những người họ ở tù, mà họ chờ ngày tiêm thuốc độc, chờ ngày xử bắn, mình nghe kể thôi đã khủng khiếp rồi. Ăn một chỗ, ị một chỗ và người ta còng cái chân trong chỗ chút xíu chừng 2, 3 mét vuông. Ăn ở đó, ngủ ở đó, đi ra ở ngay tại chỗ đó. Một tuần lễ đi ra gặp ánh sáng mặt trời 1, 2 lần, 1 tiếng, 2 tiếng đồng hồ thôi. Những người này thì họ sống trong hồi hợp, tại vì người không biết trước ngày nào tử hình. Đặc biệt những người họ làm ở trong đó, họ kể cho mình nghe, sợ lắm. Họ không có đêm nào ngủ yên hết, tại vì thường thường người ta dắt đi là nửa đêm, 1, 2, 3 giờ khuya. Mà học nghe gõ cửa kế bên, hay là mở cửa là trong tim họ đập thình thịch: “Không biết ngày nào tới xử mình”.
Họ sống trong thấp thỏm, lo sợ, hoảng hốt, kinh hoảng. Đó là mình mới nói những người tù chung thân, những người chờ án tử không thấy ánh sáng mặt trời. Chứ đừng nói chi ở đây: “Là những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng, tối tăm, u ám và ở đấy không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng”. Trong loài ngạ quỷ, bởi những cái tâm hắc ám, u ám, đen tối, họ phải sống trong bóng tối. Quý vị thấy không, nhiều khi con ở dưới thất mà con bước vô trong toilet, là con tắc kè nó chạy trốn liền à. Con chuột nó nghe tới mình, hoặc là những có gián nó thấy mình là nó chạy lẹ nó trốn. Nó sống trong những cái kẹt, hóc, cái xó, sống trong những chỗ u ám, dơ bẩn tăm tối.
Mình mới thấy đó là những loài súc sanh, còn ngã quỷ mà trong những cảnh đọa xứ là còn trăm lần, ngàn lần khổ hơn. Cho nên mình mới thấy rằng mình có phước báo, mình được làm người, được nghe chánh pháp. Mình tới giờ này mấy ngàn năm, mà mình còn được nghe chánh pháp tối thượng Nikāya, hạnh phúc không? Mà trong những ngày này, mình tưởng niệm sự xuất hiện của Đức Như Lai. Cho nên mình học cái này, để mình trân quý từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây, từng hơi thở. Từng câu tác ý, từng bài kinh, từng câu kinh, từng chữ trong kinh, từng q cái lạy, từng 1 khóa tu, mỗi một thời pháp, mỗi một thơi ngồi thiền. Là biết bao nhiêu là hiếm có, khó gặp, hy hữu công đức, phước bao, thiện pháp, thù thắng, tối thượng, vi diệu dễ gì mà được.
Quý vị nghĩ vô những cảnh này còn biết niệm Phật không? Ai đọc kinh Nikāya cho ngồi mà nghe? Ai thiền quán cho nghe? Ai giảng pháp cho nghe? Hình bóng đâu? Chư Tăng ở đâu? Làm sao nghe pháp? Làm sao thấy hình tượng của Phật, là cái tượng Phật thôi còn không nhìn thấy, có thấy gì đâu. Một màu đen, một màn đen, một bóng đen, một đêm đen. Ngay ở nhân giới đây, mà bậc đạo sư còn nói: “Thương đời quờ quạng giữa trời đêm”. Đừng nói chi mà ở ma giới, ngạ quỷ giới, súc sanh giới. Bởi vậy nhiều khi những khóa tu, mà con nhìn thấy loe ngoe không ai về là con xót lắm. Không phải vì con muốn cho đông, mà vì tình thương, vì từ tâm.
Vì đâu có ai ở đây nói pháp của Phật đâu, không có ai ở đây hết. Chỉ có những ngũ uẩn hướng về pháp, tôn kính pháp, quý trọng pháp, khát ngưỡng pháp, cầu học pháp, thực hành pháp. Để giảm khổ, để bớt khổ, để đi ra khỏi khổ đau. Quý vị học cái này, để mình trân quý quý vị ơi. Những giây phút này là hiếm có, khó gặp, hy hữu vô cùng tận. Không phải chỉ trong một kiếp người, mà là cả một dòng luân hồi vô thỷ. Người ta có nhiều thời gian để đi sân si, nhiều thời gian để họ nói chuyện thi phi, để họ ganh đua, giành giật, đố kỵ, hơn thua. Mà người ta không có thời gian để ngời im lặng, không có thời gian để lạy sám hối, để nghe pháp, để đánh phá những vô minh, tham ái. Họ có biết đâu mà đánh phá, ai chỉ đâu mà biết, mà có chỉ cũng không nghe, không chịu.
Và như thế là cứ sống ở trong trường dạ, đêm dài của vô minh, bóng đen, u ám, vô minh. Và cứ như vậy là: “Thương đời quờ quạng giữa trời đêm”, thương cuộc đời này mình phải thương mình, thương mình là thương cuộc đời. Ngũ uẩn này là mình, là đời sống, là thế gian, thế giới. Mình tập thương ngũ uẩn này, tập thương ngũ uẩn khác, tập cảm thông với tất cả ngũ uẩn, vì tất cả là quờ quạng giữa trời đêm. Và chỉ có sự xuất hiện của Như Lai mới có ánh sáng lớn, mới có hào quang lớn, mới có sự soi chiếu lớn cho cuộc đời này. Chúng ta mới thấy được lối thoát, thấy được con đường, thấy được lối ra, lối đi thật sự của đời sống này. Còn nếu không là chúng là quờ quạng, lầm lạc, loanh hoanh lẩn quẩn trong một vòng tròn mà không có lối thoát.
Một vòng tròn cứ sanh ra rồi dục, rồi ái, rồi sân, si, hơn thua, giành giật, cao thấp, xong rồi già, bệnh, chết. Mà cái đó là bình thường, chưa kể tai nạn, rồi sanh ra rồi tiếp tục. Rồi sanh ra, rồi tham sân si, đấu đá, giành giật rồi chết, rồi sanh. Mà cứ lên xuống, thăng trầm, loanh hoanh, luẩn quẩn, chìm đắm, trôi dạt không biết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp. Cho nên Đức Phật chứng được túc mạng minh, sanh tử minh, Ngài thốt lên: “Đây là khổ”. Dòng luân hồi này là khổ, những đời sống đầy tham, sân, si, dục ái là khổ. Những tâm đấu đá, đánh đấm, chiến tranh, tranh giành là khổ. Chỉ có một lối thoát – tám đúng của bậc thánh, mới đưa chúng sanh hết khổ.
“Còn ngoài bát chánh đạo ra, này các Tỳ-kheo, không có tứ thánh quả”. Ngoài còn đường tám đúng này ra, thì không có đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn, đệ tứ Sa-môn. Không bao giờ có những người tu hành chơn chánh, trừ khi những người này phải đi trên con đường chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí và chánh giải thoát. Thập giải thoát, thập thánh đạo, bát thánh đạo. Mà chúng ta là đang đi trên con đường đó, đang bước trên con đường đó. Chúng ta ngày đêm khắc ghi, ghi nhớ, nhắc nhở, lòng dặn lòng: “Tâm ơi tâm, không có điều gì quan trọng cho cuộc đời này hết. Chỉ có một điều này quan trong nhất, là tâm hãy thấy đúng về bản chất của thân tâm này.
Thấy thật đúng về bản chất của đời sống, sự sống, kiếp sống này. Nếu như tâm không nhìn thấy, là tâm tiếp tục chìm nổi, trôi dạt, lặn hụp, phiêu bạt trăm đời ngàn kiếp nha tâm”. Cho nên sự xuất hiện của Thế Tôn là sự xuất hiện của dự lưu quả, là sự xuất hiện của nhất lai quả, bất lai quả, vô sanh thánh quả. Là sự xuất hiện của sự thấy biết của bậc thánh, là sự xuất hiện suy nghĩ của bậc thánh. Là sự xuất hiện lời nói của bậc thánh, là sự xuất hiện làm đúng, sống đúng, siêng đúng, định đúng, quán đúng của bậc thánh. Sự xuất hiện của chánh trí tuệ của bậc thánh, chánh giải thoát. Sự xuất hiện của Như Lai là sự xuất hiện của tứ chánh cần, tứ niệm xứ, tứ như ý túc, tứ thần túc. Sự xuất hiện của 5 căn 5 lực, 7 giác chi, 8 thánh đạo.
Sự xuất hiện của Ngài là sự xuất hiện của đại quang, đại minh, đại thánh, đại trí. Là sự xuất hiện của con mắt lớn, hào quang lớn, quang minh lớn, đạo lộ lớn. Là sự xuất hiện của diệt khổ, của vô thượng, cao thượng, tối thượng, vi diệu, thù thắng. Mà không bất cứ ngôn ngữ nào có thể diễn tả được sự xuất hiện vi diệu, tối diệu, thần diệu, thánh diệu của Đức Thế Tôn trên cuộc đời này. Ngài đã đem lại ánh sáng cho cuộc đời này, Ngài đã đem lại bình mình cho nhân loại. Ngài đã đem lại bình minh cho vô minh, quang minh cho u minh. Còn có sự xuất hiện nào, bằng sự xuất hiện này nữa. Còn có sự xuất hiện nào, tối thượng hơn sự xuất hiện này nữa.
Thế Tôn đã phơi bày những gì bị che kính, đã đem đèn sáng vào trong bóng tối, để ai có mắt có thể nhìn thấy sắc. Thế Tôn là vị thầy chỉ đường, cho những người lạc hướng. Là bậc đại đạo sư, chỉ đường cho những kẻ lầm lạc, lạc lối, lạc hướng. Làm sao mà chúng con có thể cảm hết được những ân đức vỹ đại, vô lượng, vô biên của Thế Tôn. Ngài đã dựng lại những gì bị ngã đổ trên cuộc đời này, những con người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, say sưa, điên đảo. Ngài đã làm cho dựng đứng lại, những đạo đức bị ngã đổ trên cuộc đời này. Ngài đã giúp cho chúng sanh, được tề chỉnh ở trong thiện pháp, giới hạnh.
“Này Xá-lợi-phất, những ai nói một cách chân chánh sẽ nói như sau: Một vị hữu tình không bị si mê chi phối, đã sanh ra cuộc đời này. Vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh. Vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người.
Vị ấy sẽ nó về Ta một cách chân chánh như vậy: “Ta là một vị hữu tinh không bị si chi phối”. Ta đã sanh ra trên cuộc đời này, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho cuộc đời. Vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người.
Bạch Thế Tôn, như lời vua Tư-nặc, Basanadi đã nói: “Thế Tôn là vị đã thực hiện hạnh phúc cho đa số. Thế Tôn là bậc đem lại an vui, an lạc cho đa số. Thế Tôn là vị đã an lập thánh chanh lý cho đa số. Thế Tôn đã đưa chúng sanh, đã thiết lập cho chúng sanh một đạo lý chân chánh về giới hạnh, đức hạnh, đạo hạnh của một người. Về giới hạnh, đức hạnh, đạo hạnh của một vị trời. Thế Tôn đã an lập chân chánh lý về đức hạnh, giới hạnh, đạo hạnh, thiền định cho các bậc hiền giả. Thế Tôn đã thực hiện hạnh phúc cho đa số, đã làm an lạc cho đa số. Thế Tôn là vị an lập thánh, chánh lý cho đa số các bậc hiền trí, hiền thánh, cho các bậc A-la-hán, đệ tử của Ngài, từ cư sĩ, cho đến xuất gia.
Tức là chánh chơn pháp tánh là thiện pháp tánh. Bạch Thế Tôn, vì con thấy ý nghĩa, lợi ích này. Nên con đã dùng tất cả những cử chỉ, tận cùng sự cung kính. Con là vua, mà con dập đầu dưới chân của Thế Tôn. Con nâng chân của Thế Tôn, và con hôn lên bàn chân của Thế Tôn. Trong khi con 80 tuổi, và Thế Tôn 80 tuổi. Trong khi Thế Tôn là người Kosala, con cũng là người Kosala. Thế Tôn là dòng họ Sát đế lị, con cũng dòng họ Sát đế lị, Thế Tôn 80 tuổi con cũng 80 tuổi. Con đã đem hết tất cả tấm lòng chí thành, chí kính, cung kính tột đột cùng cực để con hành lễ đối với Thế Tôn.”
Thật là xúc động với những lời đế vương trình bày, với bậc pháp vương. Chúng ta thật là hạnh phúc biết bao nhiêu, khi được làm một người con thật sự của Đức Phật. Hơn 8 tỷ người trên trái đất này, bao nhiêu người quy y Tam Bảo. Vào bao nhiêu người, thật sự học hiểu giáo pháp của Đức Phật. Và bao nhiêu người thật sự tìm tới cội nguồn, lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Để mà hiểu được Đức Phật một cách chân chánh, cung kính Đức Phật một cách chân chánh. Thành tựu được chánh tính, chánh kiến đối với Đức Thế Tôn. Chúng ta hãy thưởng thức sự quý báu này. Hãy chiêm nghiệm sự lợi đắc, lợi ích, sự có được hiếm có trong dòng luân hồi sanh tử này.
Chúng làm cho sự hạnh phúc này, sự quý báu, sự hy hữu này nó lan tỏa cùng khắp châu thân chúng ta. Từng làn da, thớ thịt, tế bào, lỗ chân long, ngấm vào xương tủy của mình. Là lòng biết ơn vô tận, vô lượng, vô cùng, vô hạn, vô biên. Trong dòng luân hồi vô tận, trong kiếp người ngắn ngủi. Chúng ta là những con rùa mù 100 trăm năm từ dưới đáy biển nổi lên, mà trúng lúc bọng cây nổi trôi qua và chúng ta được chui vào. Và gió thuận chiều đưa bọng cây, và con rùa mù này vào trong đất liền. Con rùa mù dưới đáy biển 100 năm mới nổi lên 1 lần, tức là dòng lục đạo luân hồi, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Atula, thiên giới, nhân giới này.
Mà chúng ta may mắn, bởi vì tất cả các bậc chánh đẳng giác chỉ sanh ra ở thế giới của loài người. Các bậc chánh đẳng giác không sanh ra ở 5 thế giới kia, Phật không sanh ra. Thế Tôn, các bậc chánh đẳng giác quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ xuất hiện ở thế giới của loài người. Mà lúc Thế Tôn xuất hiện, chúng ta ở đâu không biết.
“Phật ở đời, con còn sa đọa
Nay được thân người, Phật Niết-bàn
Ảo não, buồn tủi phận mình nhiều nghiệp chướng
Chẳng gặp Như Lai kim sắc thân”
Lúc mà Thế Tôn xuất hiện, thuyết pháp, và các bậc thánh Tăng ngàn ngàn, vạn vạn, lớp lớp thành đạo quả. Thì lúc đó chúng con đang ở đâu? Chúng ta đang chìm đắm, trôi dạt, trôi lăn ở đâu. Hay là lúc đó chúng ta cũng là người, mà chúng ta vô cảm. Hoặc là chúng ta không đủ duyên, hay đủ duyên mà chúng ta không nghe lời. Và chúng ta trôi lăn cho đến 2568 năm, mà giờ này còn một chút ít may mắn, thù thắng, phước báo, đò chiều chuyến chót. Chúng ta vẫn còn nghe được thánh pháp, tạng kinh Nikāya, những lời dạy nguyên chất, nguyên gốc, nguyên thủy, nguyên bạch nguyên vẹn, toàn vẹn. Và chúng ta nắm cho chặt, giữ cho chắt, quyết chết cũng không bỏ ra những giáo pháp tối thượng này. Để chúng ta mới kịp đò chiều chuyến chót.
“Lại nữa, này các Tỳ-kheo, khi Như Lai chuyển bánh xe pháp vô thượng, khi ấy trong thế giới chư Thiên…(như kinh số 127,2 …) “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện.”
Lúc đó hào quang cúng tỏa sáng, đây là bốn pháp vi diệu, tối thượng. Pháp thứ nhất là từ cung trời Đâu xuất, chánh niệm tỉnh giác nhập vào mẫu thai. Pháp thứ 2 là Bồ Tát chánh niệm tỉnh giác, từ bụng mẹ sanh ra. Từ lòng mẹ sanh ra Ngài chánh niệm tỉnh giác, Ngài biết Ngài đang làm cái gì. Pháp thứ 3 là chứng đắc chánh đẳng giác, dưới cội Bồ đề. Và pháp thứ 4 là chuyển vô thượng pháp luân, đây là 4 pháp chúng ta phải nhớ kỹ.
II. Bốn pháp vi diệu 2
Và 4 pháp vi diệu nữa trong bài kinh “Vi Diệu 2”. Hồi nãy là nói về hào quang, bây giờ là nói về sự giáo hóa.
“1. - Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích chấp giữ, thích thú chấp giữ, hoan hỷ chấp giữ, khi pháp không chấp giữ được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ nhất xuất hiện.
2. Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỷ kiêu mạn, khi pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện.
3. Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.
4. Này các Tỳ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện.”
(Tăng Chi Bộ kinh – kinh Vi Diệu 2)
Chúng ta có hoan hỉ với pháp buông bỏ không, thích buông bỏ không? Tức chúng ta cũng được 1 phần, của sự hiếm có kỷ lục mầu nhiệm nay. Đại đa số là ưa thích, vui thích, hoan hỉ trong sự chấp thủ. Nhưng mà Thế Tôn ra đời lại thuyết pháp buông bỏ, từ bỏ, xả bỏ, nhưng mà chúng sanh lại khéo nghe, lắng tai, chánh trí và an trú tâm trong cái pháp buông bỏ, xả bỏ, từ bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ, giụt bỏ để mà tu tập pháp viễn ly, xả ly, xuất ly. Bây giờ nói đơn giản thôi là từ hôm qua tới bây giờ, chúng ta có bỏ nhà không ạ? “Dạ có”. Bỏ người thân trong hôm qua tới nay, có không? “Dạ có”. Bỏ tiền, không có lo lời lỗ, công chuyện gì hết trơn, cứ chuyên khéo nghe, lắng tai, chánh trí, an trú tâm vào pháp để thực hành.
Buông bỏ
Tức là chúng ta có được hưởng một chút nào, của sự vi diệu này không? “Dạ có”. Đó là sự vi diệu đó, chúng sanh thích nắm, ưa nắm, khoái nắm, mà Thế Tôn ra đời dạy: “Buông con, nắm khổ nha con, nắm là đau tay, mỏi tay, bệnh tay, bệnh tâm nha không con”. Trả lời: “Dạ đúng rồi, Thế Tôn nói đúng, con khổ, con bệnh, con đau, con sầu. Tại vì con nắm, cho nên tâm buông xả là tâm hạnh phúc”. Bây giờ quý vị nhớ Đức Phật dạy nè: “Gặp vui không ham, gặp bực không giận, chánh niệm tĩnh giác, trú xả”. Đây là bí kiếp mà quý vị nhớ thường niệm, một chữ thôi không buồn. Là lặp tức quý vị có được hiểu quả thiết thực, hiện tại, thu hoạch liền luôn.
Ngay chỗ quý vị niệm “buông”, thí dụ tự nhiên mình ra, mình thấy người kia nhìn với con mắt kỳ quá à. Mình nói: “Buông”, buông không có suy nghĩ, không có hình bóng gì hết đó, không có cảm thọ gì hết. Hình bóng trong tâm buông, cảm thọ trong tâm buông, suy nghĩ về ánh mắt đó buông. Mà buông nhẹ không, khỏe không, có hiệu quả liền không, chịu làm không. Rồi bây giờ mình nghe ai nói câu nói gì đó, mình: “Buông, buông”, được không? Một chữ này là vi diệu đó, nếu không có vi diệu thì Đức Phật đâu có dạy mình tứ vô lượng tâm: Từ, bi, hỷ, xả. Mà cái tâm từ, bi, hỷ, xả này mà quý vị chưa thành chánh kiến mà tu được từ, bi, hỷ, xả này là lên phạm thiên, lên các cõi trời rồi.
Mà có thêm chánh kiến nữa là thánh để tử thiên, đi đến thánh quả luôn. Một chữ thôi “buông”, tập đi, hành đi, làm đi rồi sẽ được. Hỏi giờ mấy chục năm được cái gì vậy? Được 1 chữ thôi “buông”. Ngon lành không? Một chữ một thôi à. Người ta được cái này, cái nọ, cái kia, thường người ta khổ với những cái đó. Mà mình được cái buông, cái buông nó đâu có làm cho mình khổ đâu, nó làm cho mình khỏe. Mà chỉ có thánh đệ tử mới biết được bí kiếp này, phàm phu không có biết đâu. Cả cuộc đời người ta kiếm cái nhà, kiếm chiếc xe, kiếm miếng đất, kiếm sổ hồng sổ đỏ, kiếm mấy cái miếng nhỏ nhỏ màu vàng. Nói sao cười? Đúng ý hả?
Kiếm mấy tờ xanh xanh có mấy chữ số, mà số 0 càng nhiều càng tốt. Mà ngộ ha, số 0 mà càng nhiều càng tốt, mà mình tu thì mình đi tìm cái buông. Vi diệu không? Buông được những cái đó là cái tâm mình khỏe, buông không phải là mình không có, chỗ này là chỗ đặc biệt. Mình vẫn sống trong gian đình, vẫn làm việc, vẫn phụng sự, đó là phương tiện đời sống mà. Không có tiền sao đi xe lại chùa, không có xe rồi cái gì chở tới. Nhưng mà cái tâm mình buông, không có làm nô lệ cho chiếc xe. Không làm nô lệ, đầy tớ cho đồng tiền, không có làm kẻ giữ nhà, canh nhà, ở đợ cho căn nhà đó. Mà tâm mình nhẹ nhàng sử dụng những cái này làm phương tiện, để mình đạt đến chỗ thoát ra, buông xả.
Được không? Chịu không? “Dạ chịu”. Đó là vi diệu như vậy đó. Một chữ này thôi mà quý vị lấy làm đề tài thiền quán, suốt 1 tuần lễ. Quý vị cứ việc hành một pháp này thâm sâu, cho nó thể nhập, thành tựu, chứng đạt một cái pháp đó. Thì quý vị khỏe vô cùng, mà phải thâm sâu, phải thực hành thường xuyên, phải an trú, phải như lý tác ý, phải sống được trong đó. Mình ăn trong đó, thở trong đó, ngủ chung với chữ xả, chữ buông đó. Ở chung, ăn, uống, suy nghĩ, cảm thọ, tư duy, hình bóng, ôm ấp giống như tương tư hồi xưa mới quen vậy đó. Sử dụng cái tâm ái đó, chuyển qua cái tâm tu. Gọi là: “Đạo niệm nhược đồng tình niệm thành Phật dĩ đa thời”, chữ cổ nói như vậy đó.
Đạo niệm mà nếu như đồng với tình niệm, thì giác ngộ từ lâu rồi. Nói trắng ra luôn đó, cái tâm tu mà giống như cái tâm đi kiếm tiền là giác ngộ lâu rồi. Nói vậy cho dễ hiểu đó, nói vậy mà còn không hiểu nữa là không biết nói tiếng gì nữa bây giờ, hết chữ nói luôn rồi đó. Cái tâm mà ham tiền, ham cái đẹp, cái vật chất, cái ngũ dục. Mà cái tâm đó mà đi tu, lấy cái tâm y như vậy, ham, thích, khoái, chạy đuổi, truy cầu như vậy mà đêm qua để mà tu. Để mà truy cầu tầm đạo, là giác ngộ lâu lắm rồi, nhập lưu lâu lắm rồi, chứng quả lâu lắm rồi. Được không? Ngồi im ru hết trơn vậy? Quý vị thấy không? Mình thấy mấy người đi làm ăn không? Năm phút, 10 phút, 3 phút, họ canh chừng giờ giấc, họ cứ canh đồng hồ hoài ha.
Họ mót từng chút, canh từ từng giờ, từng đồng, từng cắt, họ cứ để dành, tranh thủ kiếm tiền dữ lắm. Sao mình không tranh thủ kiếm trí tuệ? Sao mình không tranh thủ thực tập tâm từ bi? Sao mình không tranh thủ chứng đắt được cái tâm buông xả? Đó, chuyển cái tâm lại, đạo niệm nếu đồng tình niện, giác ngộ chân lý từ lâu, chứng ngộ được thánh quả từ lâu.
Khiêm hạ - an tịnh
Tiếp theo là:“Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện”.
Quần chúng họ ưa thích sôi động, sôi nổi, dao động. Họ thích thú dao động, họ hoan hỉ, học vui trong dao động. Quý vị thấy không? Tiệc tùng, thôi nôi, đầy tháng, đám giỗ, đám hỏi, sinh nhật, tiệc cưới này nọ kia. Là yêu thích, thích thú lắm, lại là có hương vị đủ thứ hết. Sắc, thanh, hương, vị, xúc, cái nào cũng có hết, hấp dẫn. Khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục hấp dẫn, khoái, thích cái đó. Còn vô ngồi thiền im ru bà rù, ngồi im ra, an tịnh. Vậy mà họ vẫn khoái, vẫn thích, vẫn ngồi đây được mấy chục người. Vẫn chịu buông bỏ những cái ồn ào, náo nhiệt, loạn động ở bên ngoài, chúng ta thấy không. Mà hồi Đức Thế Tôn còn tại thế, quý vị thấy những bài kinh là 1250 vị Tỳ-kheo đi chung với Phật.
Khi Đức Thế Tôn đi lên chư thiên thuyết pháp, là những bản kinh có mấy chục vạn thiên tử, thiên nhân nhập lưu hết trơn, sáu mươi mấy vạn. Mình nghe mình không thể tưởng tượng nổi. Có ông Phạm Chí này ổng lại với Đức Phật, này nọ kia với Đức Phật, Đức Phật thuyết pháp xong rồi 300 người xuất gia hết. Trong 7 ngày chứng thánh A-la-hán hết, 300 vị Phạm Chí, 7 ngày chứng quả A-la-hán. Khủng khiếp không? Tại vì những vị đó tu khổ hạnh, có cái tâm li dục gần gần tới rồi, Đức Phật điểm vô 1 cái rồi xong, chứng quả. Cho nên: “Quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỉ không an tịnh”. Tức là quần chúng ưa thích dao động, thích thú dao động, hoan hỉ trong dao động.
Nhưng mà khi Thế Tôn ra đời, Thế Tôn hướng dẫn pháp an tịnh, lắng dịu. Nhưng mà họ khéo nghe, lắng tai, trú tâm, để ý vào và thực tập pháp an tịnh đó. Đây là điều vi diệu chưa từng có, mà khi Đức Thế Tôn xuất hiện ở đời này, là điều vi diệu thứ 3 xuất hiện trên cuộc đời. Đó quý vị thấy không? Trong sự an tịnh, lắng dịu đó mình lợi ích biết bao nhiêu. Mình nhìn lại mình, mình xét lại mình, mình mới thấy ra được chính mình. Rồi mình mới điều chỉnh, sửa được chính mình. Mình mới có dạt dào những cảm xúc, cảm thọ tàm quý, cảm thọ ưu tư, ngọt ngào, dễ chịu, từ bi. Quý vị thấy bây giờ trên núi mấy trăm người, ngồi ngoài gốc cây, ngồi bên vườn trúc, ngồi ở trên Quán chiếu đường, cổng trời, im phăng phắt.
Mà ở đây bây giờ cũng im phăng phắt, im lặng. Trong sự an tịnh đó, ta gặp chính ta. Ta thấy được chính mình, ta hiểu được mình, ta sửa được mình, ta tu cho mình và chăm sóc mình. Trong sự an tịnh đó ta thương mình, ta thương người, ta thương hữu tình chúng sanh. Trong sự an tịnh đó ta hiểu Phật, ta cảm tin Phật, ta càng quý kính Phật và ta càng mạnh mẽ bước theo chân của Phật, từ sự an tịnh lắng dịu đó. Cho nên con rất mong muốn, chúng ta trong những ngày tu ở đây, tạo thành 1 nếp nhà Nikāya. Đừng có dao động, dao động ở ngoài mệt mỏi lắm, đi về đây cố gắng giữ sự im lặng tối đa có thể. Trừ công việc cần thiết trao đổi với nhau, rồi xong mình cứ an tịnh.
Mình tập sự an tịnh tối thượng, quý báu, hy hữu, hiếm có. Để mình hưởng trọn công đức, phước báo, lợi ích trong 3 ngày này. Chứ không thôi uổng lắm, mình về mình nói 3 ngày chứ không có được bao nhiêu, nếu mình không bằng tất cả tấm lòng để mình thực hiện. Phải cố gắng thực hiện sự an tịnh, lắng dịu này. “Này các Tỳ-kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỷ kiêu mạn, khi pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có”. Khi mình tập cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, mình thấy rất là đẹp.
Trong khi ở ngoài người ta thích thú trong sự ta đây, vui sướng trong sự thể hiện, hoan hỉ trong sự vỗ ngực xưng tên. Mà ở đây chúng ta tu theo lời dạy của Đức Phật, không kiêu mạn. “Con chỉ là cái tấm dậm chân, con chỉ là nùi giẻ rách, con chỉ là bộ xương, nắm tro. Con chỉ là khói mây trong cuộc đời này, con chả là cái gì, chả là ai trong cuộc đời này. Trong con chỉ là vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã. Con không có hoan hỉ với cái ta, con không có thích thú với cái ta, con không có kiêu ngạo với cái ta. Con thấy cái ta là cái xấu xa, cái ta là cái thấp hèn, cái ta là cái nhỏ nhít, nhỏ bé. Và con hoan hỉ với sự nhiếp phục, chế ngự cái ta, con tập cúi đầu.
Con tập lễ lạy, con tập cúi lạy, con tập quỳ lạy, con tập mộp xuống lại. Để cho cái bản ngã này nó mòn, nó thấp, nó hạ, nó giảm và nó đi đến chỗ đoạn tận. Con thấy con hoan hỉ với pháp tu này, con thấy thích thú với hạnh tu này, con thấy con vui vẻ với pháp hành này. Con thấy con rất là ngọt ngào, mỗi khi được chắp tay, được cúi đầu, được xưng con, quỳ lạy, đảnh lễ. Con thấy con hạnh phúc, con xưng con với 1 người nhỏ hơn con, một người thấp hơn con. Con thấy tâm con thật là hiền ngoan, giống như con bò đực bị cưa 2 cái sừng. Mỗi giờ ăn cơm con an trú tâm của 1 người khấc sĩ, 1 người ăn xin, như Đức Thế Tôn và các bậc thánh hiền đã từng ăn xin.
Con bưng trong tay con 1 hột cơm, 1 chén cơm, 1 tô cơm, mà con thấy cái hạnh khất sĩ của Đức Thế Tôn và các bậc thánh Tăng. Và con cũng đi theo con đường đó, ở giữa cuộc đời này con cũng là 1 kẻ ăn xin. Xin vật chất hoặc là xin tình cảm, con cũng đều như vậy hết thôi. Và tất cả trên cuộc đời này, là những ân nhân cho con miếng ăn, cho con tình thương, con con những phương tiện như yếu. Mà con được tu, được học, được sống, được làm những việc giá trị, ý nghĩa, lợi ích trên cuộc đời này. Con là kẻ nhận tất cả những ân đức, và cuộc đời này là cả 1 cuộc đời ân nhân của con. Dù họ có thương hay ghét, có khen hay chê, có giúp hay hại, thuận hay nghịch, thì con đều cảm ơn hết.
Vì nhờ có như vậy, con mới thấy cuộc đời này khổ đau. Chứ ai mà cũng khen con, thì cái bản ngã, cái kiêu mạn của con càng tăng trưởng. Người ta phải chê, phải mắng, phải chửi, phải hủy nhục, để cho con nhìn thấy được sự thật về con. Để cho con bẻ gãy được kiêu mạn, đập tan được cái ngạo mạn, chặt được cái ngọn cờ kiêu mạn ở trong tâm con. Con nguyện cả 1 cuộc đời từ nay cho đến mạng chung, con sống 1 cuộc đời khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã. Con luôn luôn quay trở lại hộ trì các căn, nhìn thấy, khéo nhìn cái lỗi của mình. Con không có hướng tâm ra để nhìn lỗi ai nữa hết, con lo nhìn cái lỗi con còn không hết, con lo sửa lỗi con còn không đủ thời gian.
Thì con lo dòm ai, bắt bẻ ai trên cuộc đời này. Con nhìn thấy con xấu hổ, nhục nhã, tàm quý. Vì trong con còn nhiều vô minh, nhiều tham ái, nhiều ngã mạn, nhiều ngạo mạn, nhiều kiêu mạn, nhiều bản ngã. Và con thấy con đẹp trong cái hạnh này, con vui, con hạnh phúc trong cái hạnh này. Con thấy con thỏa mạn trong cái hạnh nhiếp phục bản ngã, diệt trừ bản ngã, đoạn tận bản ngã. Như thế tình thương của con đối với tất cả mọi người, lòng biết ở của con đối với hữu tình chúng sanh, tâm hiếu thảo của con đối với cha mẹ, ông bà. Càng ngày càng tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh, đầy ấp, sung mãn, tràn ngập trong tâm con.
Khi ánh mắt con nhìn cha mẹ, nhìn ông bà cô bác, nhìn chồng con cái, nhìn những người bạn. Là cả 1 cái tâm biết ơn, cảm ơn, nhớ ơn, và nguyện đền ơn, báo ơn. Khi con nhìn lên thánh tượng của Đức Thế Tôn, là cả 1 bầu trời của ân đức, hạnh đức, công đức, vô lượng đức hạnh. Từ Đức Thế Tôn, chánh pháp, chúng Tăng, cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị, vợ chồng, con cái, bạn bè. Cho đến tất cả những người làm công, nhân viên, tất cả những người con từng gặp đều là những ân nhân trên cuộc đời này tác thành cho con. Làm cho con có một cuộc sống đầy đủ những hương vị, trải nghiệm này. Có được những sự thấm thía cay đắng, mặn nồng, bùi ngọt trên cuộc đời này.
Con cảm ơn tất cả, con cung kính, con khiêm cung đối với tất cả. Con thật là thỏa mãn, con thật là đầy ắp, ngào ngạt với những niềm vui. Mà con tu cái pháp không kiêu mạn này, bẻ gãy cái tâm ngã mạn, kiêu mạng, ta đây này. Con thật là hoan hỉ và hạnh phúc, vui sướng biết bao nhiêu, khi con nhìn ra được cái bản ngã. Hạnh phúc biết bao nhiêu, khi con nhiếp phục cái bản ngã. Và tuyệt vời biết bao nhiêu, khi con bẻ gãy được cái bản ngã. Và cũng bắt cái bản ngã này phải quỳ xuống, cúi đầu, dập đầu, lạy dưới chân của thiên hạ. Con thấy từ ngày con biết lạy sám hối diệt ngã tới bây giờ, con thấy con đẹp ra, trẻ ra và nhỏ lại. Con trở thành một người rất là nhỏ bé, con trở thành một người rất là dễ thương.
Và con trở thành 1 người rất là ngoan hiền, dễ nghe, dễ bảo, dễ tu pháp thánh hiền. Được không? Ngày hôm qua có quý Phật tử đến nói: “Thầy ơi con đổi đời rồi thầy ơi”, con nói vậy thì tốt. Vị ấy nói tiếp: “Từ ngày con tu con thấy con hiền, con thấy sao mà con an tịnh lắng dịu. Và chồng con hoan hỉ, nở những nụ cười hạnh phúc vì sự tu tập của con. Con cũng hoan hỉ, hạnh phúc, nở những nụ cười vì sự tu tập hiền thiện của con”. Con nghe con mát ruột, còn hơn đem lại cho con cái tiệc lớn gì cũng không bằng hết trơn á. Có đáng tán thán không? Chiều nay chúng ta tiếp tục pháp đàm, trình bày về sự tu học, trải nghiệm của mình. Những gì được, những gì chưa được, chiều nay chúng ta tiếp tục pháp đàm nữa, trình bày sự tu học của mình.
Phải mạnh mẽ, nhiệt tình lên, đừng đợi con phải mời. Xông xáo lên, nhiệt tâm lên trong cái pháp. Chúng ta thấy được vậy chúng ta mới hoan hỉ, hân hoan. Chúng ta mới vui tu, vui học và vui hành đạo. Chúng ta thấy trở về chùa dự khóa tu, là có quý hơn tất cả những gì ở trên cuộc đời này. Ăn thôi nôi, đi ăn đầy tháng, đi ăn đám hỏi, đi ăn đám cưới, đi ăn đám ma, đi đám này nọ kia, đi du lịch. Bị vì tất cả những cái đó điều là vô nghĩa, làm sao bằng đi tu hiền trí. Làm sao bằng thấy vô thượng, nghe vô thượng, tu vô thượng, học vô thượng, lợi đắc vô thượng, phục vụ vô thượng. Tối thượng trong 6 vô thượng này, ý thức sâu sắc điều đó. Và cố gắng những khóa tu là phải sắp xếp có mặt trên từng cây số, nhất trí không?
Bất cứ thành phố ở Hà Nội, Nha Trang, ở núi rừng, bất cứ chỗ nào là sắp xếp có mặt trên từng cây số. Chết cũng không bỏ, chết thì bỏ cái thân mà không bỏ pháp. Quá hạnh phúc như vậy mà không hưởng, mà đi hưởng độc hả. Ngộ độc thực phẩm bữa giờ 300, 400, 700 kìa. Pháp vị không chịu hưởng, bây giờ hưởng ngộ độc thực phẩm phải không? Bây giờ chọn cái này? “Pháp vị thắng mọi vị, pháp hỷ thắng mọi hỷ, pháp thí thắng mọi thí, ái diệt thắng mọi khổ”. Tất cả hương vị trên cuộc đời này, không có hương vị nào bằng hương vị của chánh pháp. Tất cả niềm vui trên thế gian này, không có niềm vui nào bằng niềm vui thực hành pháp.
Tất cả sự bố thí, cúng dường trên cuộc đời này, không có sự bố thí, cúng dường nào bằng bố thí, cúng dường pháp. Từ những sự nếm hương vị pháp, hoan hỉ trong pháp, bố thí pháp đó, chúng ta đi hết ái diệt thắng mọi khổ. Chúng ta được đưa đến chỗ, lòng tham ái này sẽ được chấm dứt, hết khổ, đạt được Niết-bàn lạc tối thượng. Bẻ hãy được kêu mạn nào, sống được cái tâm an tịnh. Và cuối cùng Đức Phật dạy mình cái pháp vi diệu là:
“Này các Tỳ-kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy, khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu chưa từng có thứ tư xuất hiện. Này các Tỳ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện”.
Chúng sanh bị vô minh phong tỏa, chúng ta đâu có thấy sắc, tưởng, hành, thức. Họ nghĩ là 1 cái tôi, 1 cái ta, 1 cái bản ngã rất là lớn. Từ việc họ không thấy ngũ uẩn, họ mới ham thích ngũ uẩn. Từ họ ham thích ngũ uẩn, nên họ muốn chiếm hữu, nắm giữ ngũ uẩn. Và từ cái tâm chiếm hữu, nắm giữ ngũ uẩn này, nhưng mà ngũ uẩn thì biến đổi vô thường, bại hoại, trống rỗng cho nên họ sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ sống trong nước mắt, bất an, lo lắng, lo sợ, sợ hãi. Và Thế Tôn ra đời để nói cho họ biết là phải nhiếp phục cái vô minh nay, phải đánh phá những cái suy nghĩ là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
“Con ta, tài sản ta
Người ngu nghĩ như vậy
Tự ta, ta không có
Con đâu? Tài sản đâu?”
Phải nhiếp phục, đánh phá cái vô minh này, phải dẹp tan cái bóng tối trong nội tâm này. Để thấp lên ngọn đèn chánh trí, để bừng sáng lên trí tuệ, để làm cho mặt trời chân lý được xuất hiện trong tâm của mình. Xua tan những màn đêm âm u, những sự chấp thủ, chấp ngã, chắp chước, chắp chặt. Đánh tan, đánh phá, đánh vỡ, mà lên chánh trí, thánh trí. Sẽ thấy biết như thật về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Thấy biết như thật về tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Thấy biết như thật về khổ, về con đường diệt khổ. Thấy biết như thật về lậu hoặc, diệt trừ lậu hoặc, diệt trừ hôn mê. Làm cho cái tâm hôn mê đó nó thức tỉnh, bừng tỉnh, tỉnh ngộ. Đừng sống với tâm hôn mê, u mê, si mê, đam mê, cái tâm không thấy được khổ.
Cái tâm tưởng là vui, là sướng, là tôi, là ta, là còn hoài. Phải đánh thức được cái tâm đó, để cho nó thấy được vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Cái tâm này nó bừng tỉnh, sực tỉnh, đại giác một cách hoàn toàn để thoát ra bóng tối này. Và điều đó là điều vi diệu thứ 4, mà Đức Phật, bậc A-la-hán chánh đẳng giác xuất hiện trên đời này. Tuyên thuyết cho chúng sanh phá vô minh, khai trí tuệ. Chúng ta trong mùa Phật đản này, trong những thời khắc chúng ta tưởng nhớ Đức Thế Tôn, để làm cho mình sanh khởi lên tín tâm, mà có sanh khởi rồi thì lớn mạnh thêm tín tâm, thêm lòng tin vững chắc. Từ tín tâm biến thành tín lực, từ căn cứ, từ gốc rễ của lòng tin biến thành sức mạnh của lòng tin.
Và từ sức mạnh này đẩy mình đi đến sự thực hành, nỗ lực thực hành. Từ sự nỗ lực thực hành, tâm mình chuyên trú tập trung vào cái pháp để mình thực hành. Thì nó trở thành 1 trí tuệ “tín tấn niệm định tuệ”. Từ lòng tin sẽ có sự nỗ lực, từ sự nỗ lực mình sẽ có chánh niệm, mình sẽ nhớ. Từ sự nhớ mình sẽ tập trung tâm ý, từ sự tập trung tâm ý tâm yên định đó thì trí sáng. Chúng ta sẽ bừng chiếu, từng chói, bừng tỉnh. Đó là ngũ căn biến thành ngũ lực, năm căn biến thành năm lực. Chính sức mạnh này đưa chúng ta đi đến sự thật, đi đến thể nhập vào trí tuệ mà Đức Phật đã truyền trao. Đó là chúng ta vừa chiêm nghiệm 8 pháp vi diệu thù thắng chưa từng có, khi Như Lai xuất hiện ở đời.
Chúng ta đứng lên và làm lễ quy y cho các vị nào đã phát tâm.
(Nghi thức quy y)