Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Nikāya Giảng Giải - SỐNG ĐẸP – BỐ THÍ CÚNG DƯỜNG SAO CHO ĐÚNG

2026-03-03 00:52:51
Kinh Nikāya Giảng Giải

SỐNG ĐẸP – BỐ THÍ CÚNG DƯỜNG SAO CHO ĐÚNG?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tài sản của bậc Thánh PAGEREF _Toc130479467 \h 1

II.Năm sự cúng dường PAGEREF _Toc130479468 \h 3

1.Cúng dường cho cha mẹ PAGEREF _Toc130479469 \h 4

2.Cúng dường vợ chồng, con cái, người làm công PAGEREF _Toc130479470 \h 7

3.Cúng dường những người có công PAGEREF _Toc130479471 \h 9

4.Cúng dường các vị chư Thiên PAGEREF _Toc130479472 \h 11

5.Cúng dường các vị tu hành PAGEREF _Toc130479473 \h 13

III.Năm quả thiết thực của sự bố thí PAGEREF _Toc130479474 \h 16

IV.Nuôi dưỡng thiện pháp PAGEREF _Toc130479475 \h 21

Tài sản của bậc Thánh

Kính thưa các vị Phật tử, các bậc hiền trí, hôm nay theo dương lịch là ngày đầu tiên của năm mới, âm lịch thì còn ba tuần nữa. Đối với hàng cư sĩ tại gia, Đức Phật thường thuyết giảng nhiều phẩm hạnh của một bậc Hiền trí là như thế nào. Đặc biệt, trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật có rất nhiều bài kinh giảng về phương pháp bố thí, giúp chúng ta hiểu rõ ý nghĩa, lợi ích và sự thực hành như thế nào để việc bố thí có được công đức đúng, đầy đủ và trọn vẹn. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau nghe Thánh ngữ của Đức Phật giải thích về sự bố thí.

Bố thí là một pháp tu không phải chỉ đi cúng dường hay đi từ thiện là đủ; mà chúng ta cần phải niệm. Lục niệm bao gồm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên; trong đó có phần niệm bố thí tức là phải thường nghĩ nhớ đến việc bố thí. Cũng giống như niệm Phật là niệm về ơn đức của Thế Tôn; niệm Thí là là niệm về sự bố thí. Cho nên, không phải gặp những hoàn cảnh khổ đau, khốn khó thì mình giúp đỡ, cúng dường là xong, mà phải luôn tâm tâm niệm niệm về sự bố thí.

Đức Phật từng dạy rằng bố thí là tài sản của bậc Thánh, người nào có tâm niệm về sự bố thí, trao tặng cho người khác và thường xuyên thực hành điều này thì người đó đang có được tài sản của bậc Thánh. Tài sản của bậc Thánh được gọi là Thất Thánh Tài, bao gồm: Tín, Giới, Tàm, Quý, Văn, Thí, Tuệ, đây cũng là bảy tài sản của người đệ tử Phật. Như vậy, người thường xuyên nhớ nghĩ và thực tập Thất Thánh Tài là người được thừa kế tài sản của Đức Phật. Trong đó, Đức Phật định nghĩa về thí tài như sau:

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thí tài?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử với tâm từ bỏ cấu uế của xan tham, sống tại gia phóng xả, với bàn tay rộng mở, ưa thích xả bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích san sẻ vật bố thí. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thí tài.

(Tăng Chi Bộ Kinh III, 7. Chương Bảy Pháp, I. Phẩm Tài sản, bài kinh Các tài sản rộng thuyết)

Nghĩa là Thánh đệ tử đối với tâm từ bỏ cấu uế của xan tham, của sự bỏn xẻn, rít rắm, keo kiệt, Đức Phật gọi đó gọi là những cấu uế, dơ bẩn của tâm. Như ví dụ từ bài thơ dưới đây:

“Lụa là chất đống, nào có giúp ai

Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều;

Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.

Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai;

Kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí.

Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo;

Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.”

(Khóa Hư Lục –Trần Thái Tông)

Đức Phật dạy cho các Thánh đệ tử phải có tâm từ bỏ cấu uế xan tham. Tuy là sống tại gia nhưng phải buông bỏ bằng một tâm thí xả “với bàn tay rộng mở, ưa thích bố thí, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích san sẻ vật bố thí”. Người này vui với điều đó, thích điều đó, mong muốn được làm điều đó và thường nhớ nghĩ về sự bố thí. Và người luôn nhớ nghĩ về bố thí là người đó có tài sản của bậc Thánh; ngược lại, người cứ gom góp, tích lũy, chất chứa, “tiền vô như nước sông Đà, tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin” thì đây là người không có tài sản của bậc Thánh.

Khi có được tâm bố thí này thì rất nhiều điều đặc biệt đến với chúng ta. Minh Thành đi tu, bản thân không có gì, nhưng trong khả năng có thể, Minh Thành đều cố gắng giúp đỡ người khác. Sau đó tự động có người tiếp tục cúng dường để Minh Thành tiếp tục gieo trồng những thiện pháp đó, càng làm chừng nào, càng lớn chừng đó. Ngày trước, lên núi chỉ có một cái am tranh, giờ đã có nơi ổn định hơn để mọi người về tu tập nhưng Minh Thành vẫn tiếp tục cố gắng rất nhiều.

Trong mùa dịch vừa qua, một cô Phật tử thuê trọ ở gần chùa nhưng nợ 6 – 7 tháng tiền trọ bị chủ đuổi ra ngoài đường. Con của cô gần thi tốt nghiệp nhưng không có tiền đóng tiền học. Do không có tiền, người ta đòi quăng đồ ra ngoài, không cho con của cô ấy thi. Lúc đó là gần đến Tết, mà gia cảnh vô cùng điêu đứng, khốn đốn. Minh Thành thấy vậy nên nhờ có tài thí của chư vị nơi đây, âm thầm hỗ trợ gia đình cô ấy, giúp cho bé ở nhà học tiếp, vượt qua khó khăn mùa dịch. Đó là điển hình một trong nhiều chuyện bố thí khi mà ngồi kể ra thì không hết. Khi nhớ đến những thiện pháp đã làm thì đi thì tâm mình có sự hỷ lạc và người nhận được sự giúp đỡ cũng sẽ cảm thấy sự ấm áp, ngọt ngào.

Minh Thành thường làm những việc này trong âm thầm. Hơn nữa, tùy mỗi hoàn cảnh, nếu gửi tiền được thì mình sẽ gửi; nhiều người không nhận tiền thì mình mua hàng của họ để giúp đỡ… Ví dụ, khi đi trên đường gặp một bà cụ già bán nước, Minh Thành phát tâm bố thí nhưng bà cụ không chịu lấy, mua nước thì bà chịu. Nên mình sẽ tùy theo người, thời điểm và nơi chốn, cứ như vậy mà thực hành hạnh bố thí cúng dường. Nhờ đó, tâm bố thí sẽ càng lớn rộng, tình thương càng thêm bao la, những việc mình làm cũng thành tựu ngoài sức tưởng tượng.

Năm sự cúng dường

Đức Phật giáo hóa từ những người nghèo, những người thanh niên quậy phá; cho đến giảng dạy những vị đại tướng về sự bố thí. Chúng ta sẽ nghe Đức Phật dạy về năm sự cúng dường trong kinh Tăng Chi Bộ tập 2, bài kinh “Thanh niên Licchavi”:

Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Đại Lâm, tại giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Ngài đi sâu vào Đại Lâm, và ngồi xuống một gốc cây để nghỉ ban ngày.

Con đường đi khất thực của Đức Phật rất xa, rất mệt vì thời tiết ở Ấn Độ rất khắc nghiệt, cho nên, sau khi khất thực trở về, Ngài ngồi nghỉ dưới một gốc cây. Khi đó, có một số thanh niên đang cầm cung đi săn và dẫn theo một bầy chó. Lúc nhìn thấy Thế Tôn, “họ liền bỏ các cung được chuẩn bị sẵn sàng xuống, kéo đàn chó về một phía và đi đến Thế Tôn, rồi yên lặng, yên lặng chắp tay đứng hầu Thế Tôn”

Lúc bấy giờ, Mahànàma (thuộc dòng họ Thích, bà con của Đức Phật) đi ngang qua, khi thấy những thanh niên đó đang ngồi yên lặng, chắp tay hầu Đức Phật, Mahànàma bạch với Đức Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn, những thanh niên Licchavi này là hung bạo, thô ác, ngạo mạn. Các đồ vật được các gia đình gửi đi như mía, trái táo, bánh ngọt, kẹo đường, họ cướp giật và ăn; họ đánh sau hông các nữ nhân, thiếu nữ các gia đình; nhưng nay họ đứng yên lặng, yên lặng chắp tay hầu hạ Thế Tôn.

- Đối với thiện nam tử nào, này Mahànàma, năm pháp này được tìm thấy, dầu là vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hay là người thôn quê sống trên đất trại của người cha, hay là vị tướng trong quân đội hay là vị thôn trưởng ở làng, hay là vị tổ trưởng các tổ hợp, hay là những vị có quyền thế trong gia tộc, thời được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu. Thế nào là năm?

Cúng dường cho cha mẹ

Ở đây, này Mahànàma, thiện nam tử, với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cách tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường cha mẹ. Cha mẹ được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương mến người ấy: "Mong rằng (con ta) sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài!" Và này Mahànàma, với một thiện nam tử được cha mẹ thương tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu.”

(Tăng Chi Bộ Kinh II, 5. Chương Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, bài kinh Thanh niên Licchavi)

Chúng ta cứ tưởng dâng phẩm vật lên bàn thờ để cúng Phật, cúng Thầy là đủ nhưng lại quên rằng còn hai người hết sức quan trọng, đó chính là cha mẹ. Đức Phật nói rằng, ai nỗ lực, cố gắng, thu hoạch tài sản bằng mồ hôi bằng nước mắt, bằng sức mạnh của cánh tay, làm đúng pháp, được gọi là Chánh mạng. Năm nghề cần tránh làm vì sẽ gây thêm nghiệp xấu, Đức Phật gọi đó là tà mạng, bao gồm: không bán vũ khí, không bán thuốc độc, không bán rượu, không bán người, không bán thịt. Cho nên, đời sống chân chánh của cư sĩ là cần tránh làm năm nghề nghiệp trên, như vậy gọi là Chánh mạng, tức là sống đúng. Người tích lũy được tài sản do mồ hôi, do công sức của mình, thu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường cha mẹ.

Ngày xưa, việc đảnh lễ rất là bình thường. “Đảnh” có nghĩa là đỉnh đầu, “lễ” có nghĩa là lạy xuống, “đảnh lễ” tức là đem chỗ cao nhất của cơ thể mình để ở vị trí thấp nhất của người kia, như vậy mới được gọi là đảnh lễ. Khi Đức Phật còn tại thế, các vị thường đem đỉnh đầu chạm vào mũi chân của Đức Phật. Ngày xưa, việc đảnh lễ trong gia đình hết sức bình thường; nhưng bây giờ, càng ngày ác, bất thiện pháp càng sanh khởi, các pháp cung kính bị giảm thiểu dần; thậm chí các vị thường đợi tới khi cha mẹ chết rồi mới lạy. Chính vì vậy, vào ngày Vu Lan báo hiếu, Minh Thành thường cho con cái đảnh lễ, rửa chân, dâng trà cho cha mẹ. Khi đảnh lễ, phải đặt trán mình lên bàn chân của cha mẹ, như vậy mới đúng là đảnh lễ. Hơn nữa, khi chạm như vậy thì mới dễ sanh khởi cảm thọ, cảm xúc; còn lạy một cách hình thức, máy móc, nhanh lẹ, ngượng ngùng thì không thể phát sanh cảm thọ. Vì vậy, mỗi khi đảnh lễ, chúng ta cần lạy một cách cung kính, tôn trọng bằng cả một tấm lòng biết ơn sâu sắc. Hãy chạm đỉnh đầu của mình đến bàn chân của mẹ cha để cảm nhận được sự sần sùi, chai sạn, tiều tụy trên đôi chân ấy. Nhờ vậy, chúng ta mới cảm nhận được sự hy sinh, công đức, công ơn, ân nghĩa của hai đấng sinh thành. Những gì Minh Thành làm cũng đặt rất nhiều tâm ý vào đó để giúp quý vị tu học, chứ không phải chỉ là hình thức.

Nếu lúc nào cũng nuôi dưỡng tâm biết ơn, nhớ đến công đức hy sinh, nuôi dưỡng của cha mẹ thì đối với cha mẹ chúng ta không bao giờ có những ngôn ngữ, hành động hỗn hào, xất xược, tức giận, làm cha mẹ buồn lòng. Nhưng do mình không sống nhớ ơn nên khi có điều gì không vừa ý xảy ra thì mình lại bực bội, sân hận, trở nên bất hiếu, vong ân bội nghĩa rồi dễ lầm lạc vào con đường ngạ quỷ, súc sanh.

Con cái cần hiểu rằng, cha mẹ phải mang nặng đẻ đau, chín tháng mười ngày, nuôi con ba năm bú mớm, lo cho con ăn học rồi thành gia lập thất cho con. Thế nên, bổn phận của con cái là phải nuôi dưỡng, cung phụng khi cha mẹ lớn tuổi, nhất là khi bệnh hoạn hay già yếu. Cho nên, Đức Phật dạy rằng, con cái trong gia đình phải biết cung cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường cha mẹ (trong đó “cúng dường” tiếng Hán có nghĩa là “cung dưỡng” tức là cung cấp và nuôi dưỡng).

Cha mẹ được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương mến người ấy: "Mong rằng (con ta) sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài!" Và này Mahànàma, với một thiện nam tử được cha mẹ thương tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu.

Khi con cái hiếu thảo thì cha mẹ càng thêm thương yêu, cảm động và hạnh phúc khi có người con như vậy. Chỉ với một pháp Đức Phật dạy về lòng hiếu kính đối với cha mẹ nhưng đã mang lại rất nhiều lợi ích trong gia đình.

Hơn nữa, không phải mình là người cúng dường thì muốn sao cũng được, mà hãy ghi nhớ kỹ các từ “cung kính, đảnh lễ, tôn trọng, cúng dường”. Quý vị có tâm cúng dường đã là rất tốt nhưng Minh Thành muốn chỉ cách để phước báu của mọi người được viên mãn, tức là chúng ta cần phải có tâm cung kính, đảnh lễ, tôn trọng khi cúng dường. Khi các bậc chân tu thọ nhận thì đó là phước đức, phúc lạc, phúc báu, phúc lành, vô thượng phước điền cho chúng ta, chứ không phải các Ngài. Có nhiều Phật tử không hiểu, cúng dường xong thì muốn nhận những vài dòng để cảm ơn, khi đó chúng ta chỉ nhu nhuyến tạo phương tiện cho các vị. Còn khi hiểu sâu vào pháp thì phải mang tâm cung kính tuyệt đối thì phước báu mới được viên mãn. Trong “Kinh Phân Biệt Cúng Dường”, Đức Phật có dạy nếu cúng dường cho một vị tu hành giới đức có phước báu như thế nào; cúng dường cho các bậc bốn đôi tám chúng hiền thánh có phước báu ra sao; đối với một người đã thành tựu Chánh tri kiến trong Thánh Pháp, nếu mình cúng dường vị này thì phước báu không thể tưởng tượng nổi, giống như hư không, không tính đếm được.

Cho nên, nếu có thể, hãy quỳ xuống, nâng cao phẩm vật lên trán và bằng bằng tất cả tấm lòng dâng lên cúng dường. Khi Minh Thành đến Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan và đi khất thực chung quý thầy, vào lúc năm giờ sáng, có những cụ già sáu mươi, bảy mươi tuổi quỳ bên đường, chuẩn bị cơm để chờ quý sư đi ngang qua; thậm chí nhiều trẻ nhỏ cũng đứng chờ như vậy. Vì vậy, trong sự cúng dường này, không chỉ đối với, mà đối với cha mẹ cũng vậy, mỗi khi dâng trà, bưng cơm phải làm bằng tâm cung kính, hiếu thảo. Những vị làm đúng như lời Đức Phật dạy thì khi mạng chung sẽ được sanh cõi trời, lên Thiên giới.

Cúng dường vợ chồng, con cái, người làm công

Lại nữa, này Mahànàma, thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn... đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vợ con, người phục vụ, người làm công và vợ con người phục vụ người làm công. Vợ con, người phục vụ, người làm công và vợ con người phục vụ, người làm công và được người ấy cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương tưởng người ấy: "Mong rằng được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài!" Và này Mahànàma, một thiện nam tử được vợ con, người phục vụ, người làm công thương tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng không phải là giảm thiểu.

(Tăng Chi Bộ Kinh II, 5. Chương Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, bài kinh Thanh niên Licchavi)

Tiếp theo, Đức Phật dạy về sự cúng dường cho chồng vợ, con cái, người phục vụ, người làm công. Đầu tiên, đối với người làm công, mặc dù, họ vì đồng tiền, bát gạo phải đi làm cho mình để hưởng lương nhưng người làm có tình, có nghĩa với mình thì người này rất đáng quý. Những người làm công này có khi còn giúp đỡ, bên cạnh chúng ta hơn cả người thân. Có những lúc người thân giúp đỡ mình không kịp thì chính họ là người giúp đỡ mình. Nếu sống bằng một tấm lòng chân thành, bằng một tình thương, quan tâm thật sự, có tình có nghĩa thì chính những người này sẽ là người hộ vệ, hộ trì cho mình thoát khỏi những hiểm nguy, tai họa.

Ví dụ, khi đang bận đi công tác xa nhà, con mình ở nhà nghịch đốt lửa chơi mà không biết đó là nguy hiểm. Lúc đó, chính những người làm công ở nhà mới phát hiện và dập tắt đám lửa ấy, thử hỏi, ân đức đó tính được bằng tiền không? Nếu có hỏa hoạn thì con cái, tài sản, nhà cửa của mình còn nữa không? Như vậy, chúng ta phải hiểu rằng sự cúng dường, cung cấp, nuôi dưỡng ở đây bằng tình thương là thứ vô cùng quý báu. Không nên nghĩ đơn giản là “tiền trao cháo múc, không tiền trút cháo vô”, “bánh ích trao đi, bánh quy trao lại”, đây là chuyện chuyện tầm thường của người không biết tu. Còn người biết tu là người sống với nhau bằng cả trái tim, bằng cả tấm lòng thì sẽ được hưởng một kết quả vô lượng, bất khả tư nghì.

Vợ chồng đối với nhau cũng vậy, cần có sự cung kính, tôn trọng đảnh lễ với nhau. Vừa rồi, một gia đình Phật tử có dịp lên núi, Minh Thành cho hai người quỳ lạy, đảnh lễ nhau, gắn kết lại tình thân, sám hối trong nước mắt. Nguyện sống chan hòa, bao dung, hiểu và thương nhau hơn, đó là cách “đảnh lễ” lấy từ kinh tạng Nikāya. Lúc đầu, mới sống với nhau thì mình tôn trọng, giữ kẽ và giữ gìn tình cảm vợ chồng, nhưng sau 15 năm thì sự kính trọng ấy giảm xuống, phai nhòa tình thương, không còn sự quý trọng lẫn nhau. Thậm chí dùng những lời xúc phạm, tổn thương, phô bày tật xấu, tạo thành những nội kết, nỗi đau, tâm sự không thể nói ra. Đến khi tham gia khóa tu Thiền biết ơn ở Linh Quy Pháp Ấn thì quý vị mới có cơ duyên lành được đảnh lễ và sám hối giữa các thành viên trong gia đình. Minh Thành cho con lạy đảnh lễ cha mẹ và cha mẹ cũng sám hối các hành động chưa tốt của mình đã ảnh hưởng đến con. Nhiều người nghĩ là đứa con không có ơn với mình, rồi vì bản ngã là mẹ, là cha nên áp đặt con cái phải theo ý mình. Đến khi phát lồ được với nhau, cả nhà cùng ôm nhau khóc, thương nhau nhiều hơn, không khí gia đình trở nên ấm áp, hạnh phúc, ngọt ngào.

Sống với sự “cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường” như vậy thì mọi người đều mến: chồng thương, con thương, anh chị em thương, người làm công thương, con của người làm công cũng thương tưởng… đến mình.

Vì vậy, chúng ta phải khắc ghi vào tim bốn từ “tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường”, đừng sống chung nhau mà khinh thường, nói những lời nặng nhẹ, xót xa, nặng nề, làm đối phương đau lòng, nhức nhối, làm khổ lẫn nhau.

Cho nên, đối với Tam bảo, cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh chị em… chúng ta đều phải sống với nhau trong sự “tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường”, tập sống thấu hiểu và thương yêu lẫn nhau hơn. Mình dành phần mà mình có, để riêng dành cho những người xung quanh. Thậm chí không chỉ lo lắng cho người làm công, mà nếu có thể, hãy dành những món quà trao tặng cho con cái của người làm công. Làm như vậy thì không những giúp đỡ được người khác, mà họ cũng nhớ ơn đối với chúng ta. Hãy ghi nhớ câu “Mình ăn thì hết, người ta ăn thì còn”, vì vậy, hãy sống sao cho đẹp, có tình nghĩa, có giá trị, có lợi ích với mọi người. Đừng nói trên trời trên mây, tụng niệm trên miệng thì giỏi mà trong tâm lại ích kỷ, nhỏ mọn, xan tham, bỏn xẻn, vô tình, bạc nghĩa. Bình thường sống vô tâm, không biết quan tâm, chăm sóc, tưới tẩm cho người khác thì đến khi hữu sự đừng hỏi sao không ai giúp đỡ mình?

Cúng dường những người có công

Lại nữa, này Mahànama, vị thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các người làm ruộng các chức sắc ở biên cương. Những người làm ruộng các chức sắc ở biên cương được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường... chờ đợi là sự tăng trưởng, không có giảm thiểu.

(Tăng Chi Bộ Kinh II, 5. Chương Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, bài kinh Thanh niên Licchavi)

Tại sao cúng dường cho những người làm nông rất quan trọng? Ngày xưa, nghề làm nông rất quan trọng, đây là bồ lúa, là chén cơm của mọi người. Còn những người có chức sắc ở biên cương là những người bảo vệ bờ cõi, đem lại sự an ổn, an lành, bình an, hòa bình cho mình. Thế nên, hãy nhớ tưởng, biết ơn, chia sẻ, cảm kích những công lao thầm lặng, giúp chúng ta có cuộc sống an ổn và cúng dường đến những con người tốt đẹp ấy. Chúng ta dễ thấy rằng, vào những ngày Tết cận kề, chúng ta có thời gian dọn dẹp, sắm sửa, trang trí mai đào để chào năm mới, còn những người lao công phải thầm lặng quét đường, dọn rác đến một, hai giờ đêm. Mấy ai nghĩ đến họ, mấy ai cảm nhận được nỗi khổ của họ, mấy ai thấu hiểu cảm xúc của họ? Có khi lúc tan làm cũng đã sang ngày mới, không biết ngày tết là gì. Rồi những người bác sỹ cấp cứu, bác sĩ phụ sản… rất nhiều những ngành nghề thầm lặng khác, chỉ khi có ảnh hưởng trực tiếp đến mình thì chúng ta mới thường nhớ nghĩ đến họ.

Mỗi dịp cuối năm, Minh Thành luôn chuẩn bị rất nhiều phần quà để tri ân, tạ ơn những người đã tạo thuận duyên cho mình được an ổn tu hành, hoằng pháp từ những ngày đầu trên núi cho đến bây giờ. Những việc làm này là thể theo lời Phật dạy, hơn nữa còn phù hợp với tình người, thể hiểu sự biết điều, hiểu chuyện của mình, mỗi khi hữu sự mới có người giúp đỡ chúng ta. Hơn nữa, không phải tặng quà cho có là xong, mà phải bằng tấm lòng, với sự tôn trọng, cung kính, cúng dường. Có những vị ở núi đã giúp đỡ Minh Thành hơn hai chục năm trước, từ khi chỉ có cái am tranh để ở tu tập, lúc nào Minh Thành cũng biết ơn và nhớ ơn của các vị. Như lời Đức Phật đã dạy, một bậc chân nhân là người biết ơn và nhớ ơn. Ngài nói rằng người biết ơn và nhớ ơn chính là những bậc hi hữu ở trên đời, đáng được cung kính, là bảo vật của thế gian.

Đa số chúng ta hiện giờ đều đang dần vô tâm, mau quên ơn. Trong những lúc nguy cấp, tai nạn có người giúp mình, đến khi được an ổn thì lại quên đi công ơn lớn lao ấy, khi nào gặp chuyện thì lại tìm đến. Người thế gian thường là như vậy, còn bậc chân nhân, Đức Phật gọi là “người thật sự là người” thì đời sau chắc chắn sẽ được sanh lên chư Thiên, chứ không thể rơi xuống thấp. Vì đây là người luôn sống trong tâm nhớ ơn, biết ơn đối với người có ơn với mình. Thế nên, cần có những buổi Thiền biết ơn để chúng ta nhớ lại ơn nghĩa của những người từng giúp đỡ mình. Đó cũng là lí do vì sao luôn có những ngày tri ân các ngành nghề: ngày nhà giáo, ngày thầy thuốc, ngày thương binh liệt sỹ… Tuy nhiên, những buổi lễ ấy có khi chỉ được tổ chức trên mặt hình thức, máy móc; điều quan trọng nhất là chúng ta phải có một tâm thật sự biết ơn, nhớ ơn, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, đúng dường thì mới đúng như giáo pháp mà Đức Phật dạy. Người như vậy sẽ càng thêm tăng trưởng trong pháp lành, không bao giờ giảm thiểu.

Cúng dường các vị chư Thiên

Lại nữa, này Mahànama, thiện nam tử với những tải sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn... đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường chư Thiên nhận lãnh các vật cúng tế. Chư Thiên nhận lãnh các vật cúng tế được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường... chờ đợi là sự tăng trưởng, không có giảm thiểu.

(Tăng Chi Bộ Kinh II, 5. Chương Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, bài kinh Thanh niên Licchavi)

Xung quanh chúng ta có rất nhiều vị chư Thiên, chư thần, hương linh chưa được siêu thoát, nhưng chúng ta không nhìn thấy được, do các vị ở một tầng thế giới khác. Có thể là chư Thiên, chư thần hoặc là ngạ quỷ, gọi là “hóa sanh” (sanh bằng sự biến hóa); còn con người của chúng ta được gọi là “thai sanh” (sanh ra từ bào thai). Các loài súc sanh khác thì có loài là noãn sanh (sanh ra từ trứng), có loài là thấp sanh (sanh ra từ những chỗ ẩm thấp).

Các vị hóa sanh cũng giống như là khi chúng ta nằm chiêm bao, thấy mình đi đến chỗ này, đến chỗ kia, gặp những biến cố, khó khăn; hoặc may mắn, thành công thì chúng ta khởi lên cảm thọ. Lúc đó, chúng ta cũng thấy những hình bóng của mình, cũng có cảm giác, suy nghĩ, có sự nhận thức rõ biết. Mặc dù chỉ thấy có bốn uẩn là thọ, tưởng, hành, thức đang vận hành nhưng thật ra cũng có sắc uẩn vi tế, không có thân vật lý nhưng tóm gọn lại cũng là ngũ uẩn. Ví dụ, mình mơ thấy mình được trúng số thì vẫn có cảm thọ vui mừng sanh khởi, có các hình bóng, suy nghĩ hiện lên và nhận thức rõ biết những điều đó. Các vị chư Thiên, chư thần, hương linh, ngạ quỷ sống y như mình nằm chiêm bao vậy. Các vị không có thân nên mình sờ vào không được, nhưng các vị có cảm giác, có suy nghĩ, có nhận thức, đó gọi là sắc giới.

Thế giới chúng ta đang sống là dục giới, động cơ mình được sanh ra đời là từ dục của cha mẹ. Khi lớn lên, mình cũng đi tìm dục và khi mình chết, mình cũng tiếp tục đi tìm dục. Người nào ít dục thì sẽ lên cao, được sống trong sắc giới, đây là cảnh giới của chư Thiên, có sắc uẩn rất vi tế; chỉ cần một vị chư Thiên xuất hiện là tỏa sáng khắp một vùng trời. Sắc giới là nơi rất đẹp, rất thanh tịnh, không có phân, nước tiểu, không có hôi thối như chúng ta; nơi đây có hương thơm ngạt ngào, ánh sáng chiếu rực. Còn loài ngạ quỷ thì sống trong hình tướng xấu xí, đói khổ, vì tâm tham lam, bỏn xẻn, keo kiệt nên có cái bụng như trống chầu, cổ thì nhỏ như cây kim, lúc nào cũng đói, lúc nào cũng khát. Chính vì vậy, Đức Phật mới giáo hóa chúng sanh về hạnh bố thí để tránh bị đọa vào các cõi khổ đau.

Nhìn lại những gì chúng ta tích lũy mấy chục năm qua, chắc chắn sẽ phạm vào tội sát sanh, nói dối, trộm cắp hoặc trộm cắp vi tế nhưng ta không hay biết. Cùng với bao nhiêu nghiệp ác mà cả đời đã tạo tác chỉ để chất chứa thêm tài sản nhưng lúc chết thì mình không đem theo được bất cứ thứ tài sản, lợi danh gì, chỉ có nghiệp ác chắc chắn phải nhận lấy. Nhờ có bố thí, cúng dường thì chúng ta có được một chút tư lương để đem theo. Cho nên, ngay hiện tại, nếu cứ tạo nghiệp để chất chứa tài sản, đến khi chết thì không đem theo được gì nhưng nghiệp thì mình sẽ phải lãnh đủ. Đức Phật từng thuyết giảng về thân chúng sanh dần sẽ già, bệnh, chết như ngôi nhà đang bốc cháy dữ dội, người có trí biết hành thiện, bố thí sẽ lựa những món đồ quan trọng lấy ra.

Cho nên, Đức Phật dạy rằng, cúng dường cho các chư Thiên thì các Ngài sẽ thương tưởng và gia hộ cho mình. Nói một cách đơn giản, cũng như giữa người và người, khi mình giúp đỡ, nhớ nghĩ đến một người thì lúc mình có chuyện họ cũng sẽ giúp đỡ mình. Còn một người mình không nhớ đến, không để tâm thương tưởng, nhớ nghĩ, lo lắng thì đến khi hữu sự thì họ có giúp mình ngay không. Cho nên, tất cả đều là nhân quả. Trong đạo tràng Nikāya, khi trải tâm từ, chúng ta cũng phải hướng tâm đến các vị, cầu mong các vị cũng tu tập được Chánh Pháp, cũng nhận được tâm từ này để sống trong tình thương rộng lớn. Các vị chư Thiên là những vị có phước nhiều nhưng cũng còn tham, sân, si, bản ngã, vô minh; chỉ trừ các vị Thánh đệ tử Thiên, tức là chư Thiên đã chứng Thánh quả thì mới gọi là Thánh đệ tử Thiên; còn lại chỉ là phàm phu Thiên. Tóm lại, chư Thiên có hai loại, đầu tiên là chư Thiên phàm phu – nhờ phước được sanh lên trời. Hai là chư Thiên đã thành tựu Chánh tri kiến do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng dạy. Vị này bước vào Thánh quả, lên Tịnh Cư Thiên – nơi các bậc Thánh đạt từ Thánh quả thứ ba (Bất Lai) cư trú, các vị ở đây là bất thối chuyển, người đời sau nói đây là Tịnh Độ. Thật ra, đây là nơi các vị thành tựu Bất Lai Thánh Quả, khi ở Tịnh Cư Thiên thì không còn trở lại thế gian. Những vị này tu tập rất thâm sâu, thấy được ngũ uẩn, phá được thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, sạch hết tham sân, đoạn được năm hạ phần kiết sử. Như vậy mới được gọi là Thánh đệ tử Thiên, các vị này tiếp tục tu sẽ đạt Niết-bàn, không còn phải trở lại thế gian.

Cúng dường các vị tu hành

Lại nữa, này Mahànama, thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường các Samôn, Bà-la-môn. Các Sa-môn, Bà-la-môn được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên trong lòng thương tưởng người ấy: "Mong rằng được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài." Và này Mahànama, với một thiện nam tử được các Sa-môn, Bà-la-môn thương tưởng, được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu.

(Tăng Chi Bộ Kinh II, 5. Chương Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, bài kinh Thanh niên Licchavi)

Cũng vậy, đối với các bậc chân nhân, tu hành, chúng ta cần tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường các vị để tăng trưởng thiện pháp khi có được cơ duyên quý báu này xuất hiện.

Đối với vị thiện nam tử nào, này Mahànama, năm pháp này được tìm thấy, dầu là Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hay là người thôn quê sống trên đất của người cha, hay là vị tướng trong quân đội, hay là vị thôn trưởng ở làng, hay là vị tổ trưởng các tổ hợp, hay là những vị có quyền thế trong gia tộc, thời được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu.

Tóm lại, năm sự cúng dường quan trọng gồm:

Cúng dường cha mẹ

Cúng dường vợ chồng, con cái; những người làm công, vợ chồng, con cái của người làm công

Cúng dường người có ơn, đem lại cuộc sống yên bình

Cúng dường chư Thiên

Cúng dường các bậc tu hành

Người nào thường thực hành nă sự cúng dường này thì người này nhất định tăng trưởng trong thiện pháp không có giảm thiểu. Cho nên, trong Lục Niệm, chúng ta cũng cần nhớ niệm, tưởng niệm, quán niệm, tâm niệm về Niệm Thí, để thực hành hạnh bố thí, đây là hành trang để chúng ta mang theo sau khi chết, nếu không nhớ bố thí, cúng dường thì rất là uổng phí, vì chỉ đem theo những ác nghiệp và bất thiện pháp.

Cuối bài kinh, Đức Phật tuyên đọc bài kệ:

Mẹ cha lo phục vụ,

Vợ con thường thương tưởng,

Vì hạnh phúc nội nhân,

Cùng với kẻ tùng sự,

Vì hạnh phúc cả hai,

Lời hòa nhã, giữ giới,

Vì hạnh phúc bà con,

Vì hương linh đi trước,

Vì mạng sống hiện tại,

Vì Sa-môn, Phạm chí,

Thành người ban hạnh phúc.

Sống gia đình, đúng pháp,

Vị ấy làm thiện sự,

Được cúng dường tán thán,

Đời này họ được khen,

Đời sau sống hoan hỷ,

Trong cảnh giới chư Thiên.

(Tăng Chi Bộ Kinh II, 5. Chương Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, bài kinh Thanh niên Licchavi)

Một người biết phục vụ cha mẹ; biết thương tưởng vợ chồng, con cái; biết chăm lo hạnh phúc gia đình; biết thương mến những người làm việc chung; biết quý trọng bà con; biết nghĩ đến cửu huyền thất tổ nên làm lễ trai tăng, cúng dường, bố thí… thì đời này họ được mọi người xung quanh khen ngợi, đời sau được sanh cõi Trời. Bài kinh trên là lời Đức Phật giáo hóa cho nhóm thanh niên quậy phá.

Năm quả thiết thực của sự bố thí

Tiếp theo là lời Đức Phật dạy cho một vị đại tướng về kết quả thiết thực hiện tại của bố thí.

Một thời, Thế Tôn ở Vesàlì, tại Đại Lâm ở giảng đường có nóc nhọn. Rồi tướng quân Sìha đi đến thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tướng quân Sìha bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể trình bày cho con về quả thiết thực hiện tại của bố thí?

Thế Tôn đáp:

- Có thể được, này Sìha!

Đầu tiền, “Người bố thí, người thí chủ được quần chúng ái mộ và ưa thích, đây là quả của bố thí thiết thực hiện tại”.

Khi trao tặng, từ thiện hoặc cúng dường thì mình sẽ được mọi người thương mến, ái mộ; trong đó “ái” là thương, “mộ” là hâm mộ, ngưỡng mộ, tức là khi làm được việc làm tốt đẹp thì chúng ta được mọi người thương mến.

Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng, đồng thời cũng là sự bố thí, nhưng có những người dùng những lời nặng nề thì sự trao tặng đó không còn ý nghĩa. Khi cho đi dù chỉ là một tô phở, một tô cơm nhưng cầm trên tay bằng sự cung kính, tôn trọng, cúng dường thì khác biệt với người dùng những lời không tôn trọng, xúc phạm làm đau lòng người khác khi bố thí cho họ. Dù người ta ăn, người ta nhận vì nghèo nhưng trong lòng rất là buồn tủi, đau xót.

Cho nên, Đức Phật dạy rất nhiều về cách bố thí, đừng nghĩ rằng ai cho đi thì cũng được phước như nhau. Ví dụ như các vị có mười đồng, nếu biết làm ăn thì sẽ được thêm hai, ba chục đồng; nếu làm không khéo thì quý vị làm mười còn mười, hoặc chỉ còn có năm, thậm chí bố thí xong lại mất vốn, đứt vốn rồi mắc nợ. Việc làm ăn là vậy, không phải cứ làm nhiều là giàu. Cũng vậy, người bố thí đúng pháp mới có được công đức, phước báu viên mãn, to lớn, bằng không, không phải ai bố thì cũng nhận được phước báu. Cho nên, Đức Phật dạy về bảy loại tâm niệm khi bố thí, chứ không phải hình thức thôi là được. Điều quan trọng nhất là sự người tâm của người bố thí, sự dụng tâm thế nào thì kết quả sẽ tương ứng như vậy.

Thứ hai, “Bậc thiện, bậc Chân nhân thân cận người bố thí, người thí chủ. Này Sìha, bậc Thiện, bậc Chân nhân, thân cận người bố thí, người bố thí, người thí chủ”. Người biết bố thí sẽ được các bậc Hiền Thánh gần gũi, thân cận, được duyên lành gặp gỡ các vị chân tu, các bậc Hiền Thánh Tăng.

Thứ ba, “Người bố thí, người thí chủ được tiếng đồn tốt đẹp truyền đi. Này Sìha, người bố thí, người thí chủ được tiếng đồn tốt đẹp truyền đi”. Những tiếng hay, tiếng lành, tiếng thơm, tiếng đồn tốt đẹp về người bố thí sẽ được truyền đi. Ví như Ngài Cấp Cô Độc nhờ công đức bố thí, thường xuyên giúp đỡ, cung cấp thức ăn cho những người nghèo khó, vô gia cư, neo đơn; sau đó ông được chứng Thánh quả, sanh lên tầng trời cao, đến nay chỉ mới trải qua 26 ngày ở đó, trong khi ở thế gian đã hơn 2.600 năm, chúng ta trải qua sanh tử vô lượng kiếp. Như vậy, Ngài Cấp Cô Độc có công đức bố thí, có tâm cung kính Đức Phật nên sau đó được nghe Chánh Pháp. Một lần, nghe tin sắp được thăm Đức Phật, tối đó Ngài không ngủ được, nhiều lần thức dậy đợi trời sáng; khi sắp yết kiến Đức Phật, từ xa đang đi đến thì Đức Phật đã gọi tên ông. Lúc sắp chết, ông được Ngài Xá Lợi Phất và các vị Thánh Tăng đến giảng pháp, nhờ đó ông chứng Thánh quả cao. Điều này nhờ rất nhiều vào sự bố thí, cúng dường và lòng tin của ông dành cho Tam bảo.

Thứ tư, “Người bố thí, người thí chủ đi đến hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn. Vị ấy đi đến với tự tín, không có do dự hoang mang”. Vị thí chủ này đi với tự tín, không có do dự, hoang mang khi đến các hội chúng của vua chúa, của những người tu hành, Sa-môn, của người giàu có hay gia chủ. Bởi vì người này lúc bình thường luôn đem tình thương đến cho mọi người nên không có tâm bất an, không có điều gì giấu diếm. Ngược lại, một người nếu làm việc không tốt thì luôn bất an, dao động, không yên, sợ bị phát giác. Vì vậy, khi cho đi với tâm hiền thiện chúng ta sẽ rất hoan hỷ, hạnh phúc, ngọt ngào. Đi đến chúng hội nào cũng vậy, tâm mình luôn được bình an, tịnh tín, không lo lắng, sợ hãi, không do dự, hoang mang.

Thứ năm, “Người bố thí, người thí chủ, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi lành, Thiên giới.”

---

Ðược nói vậy, tướng quân Sìha bạch Thế Tôn:

- Bốn quả bố thí thiết thực hiện tại này, bạch Thế Tôn, được Thế Tôn nói đến, con không nhờ chúng đi đến lòng tin Thế Tôn. Con biết được chúng.

Bạch Thế Tôn, con là người bố thì, là thí chủ được quần chúng ái mộ ưa thích.

Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, người thí chủ được bậc thiện, bậc Chân nhân thân cận với con.

Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, người thí chủ. Tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi về con:” Tướng quân Sìha là người bố thí, là người làm việc, là người hộ trì chúng Tăng.”

Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Con đi đến hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn. Con đi đến với lòng tự tín, không do dự hoang mang.

Bốn quả bố thí hiện tại này, bạch Thế Tôn, được Thế Tôn nói đến, con không nhờ chúng đi lòng tin Thế Tôn. con biết được chúng. Nhưng bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn nói với con: “Người bố thí, này Sìha, người thí chủ sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi lành, Thiên giới.” Ðiều này con không được biết, ở đây con đi đến lòng tin Thế Tôn.

- Sự kiện là vậy, này Sìha! Sự kiện là vậy, này Sìha! Người bố thí, người thí chủ, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới.

(Tăng Chi Bộ Kinh II, 5. Chương Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, bài kinh Đại Tướng Sìha)

Bốn quả bố thí thiết thực hiện tại đầu tiên, tự thân tướng quân đã thấy được. Còn quả thứ năm “sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi lành, cõi trời” thì ông chưa biết nhưng vì tin kính Đức Phật, nên tướng quân sẽ tin vào điều đó.

Ở đây, Đức Phật nhấn mạnh, người biết bố thí cúng dường, đến khi thân hoại mạng chung có thể được sanh lên thiện thú và thiên giới. Tùy theo mức độ bố mà có thể sanh lại vào cõi người với sự giàu có, sắc đẹp, thọ mạng, quyền uy hoặc sanh lên cõi Trời với đầy đủ phước báo, dung sắc, tuổi thọ, oai lực thần thông của chư Thiên.

Người cho được ái mộ,

Ðược nhiều người thân cận,

Ðược tiếng đồn tốt đẹp,

Danh xưng được tăng trưởng.

Không hoang mang do dự,

Ði vào giữa hội chúng,

Với tâm đầy tự tín,

Là người không xan tham.

Do vậy người có trí,

Thường thường làm bố thí,

Nhiếp phục uế, xan tham,

Tìm cầu chơn an lạc.

Ðược an trú lâu ngày,

Trên cõi trời Thập Tam

Họ sống vui hoan hỷ,

Ðồng bạn với chư Thiên.

Sanh duyên đã làm xong

Thiện hạnh đã làm xong,

Mệnh chung sanh chư Thiên,

Ðược sống và thọ hưởng,

Tại rừng Nan-da-na

Tại đấy họ hoan hỷ,

Họ vui thích, thoải mái,

Thọ hưởng năm dục lạc,

Ðối với lời thuyết giảng

Bậc Vô trước Thế Tôn,

Các đệ tử Thiện Thệ,

Sống hoan hỷ Thiên giới.

(Tăng Chi Bộ Kinh II, 5. Chương Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, bài kinh Đại Tướng Sìha)

Nuôi dưỡng thiện pháp

Trước giờ, chúng ta cứ nghĩ bố thí là đem cho người những người bên ngoài, một là đem cho từ thiện, hai là cúng dường Tam bảo; nhưng sau khi được nghe lời Đức Phật dạy trong Nikāya, chúng ta biết có năm sự cúng dường. Trước hết là gia đình, đối tượng căn bản, cốt lõi nhất chính cha mẹ, đây là người đã sanh thành dưỡng dục chúng ta; nếu để cha mẹ thiếu thốn, bệnh tật mà lại lo cúng chùa, giúp người thì đây là điều sót của người làm con. Mặc dù cũng có phước báu nhưng phước này không đầy đủ, không có căn bản.

Vì vậy, Đức Phật dạy rất kỹ về năm đối tượng chúng ta phải biết tôn trọng, cung kính, cúng dường. Thứ nhất là cúng dường cha mẹ - người có công ân lớn nhất khi đã khổ cực, lao tâm khổ tứ khi sinh thành, dưỡng dục quý vị. Thứ hai, cúng dường cho vợ chồng, con cái, cộng sự đồng nghiệp đã hỗ trợ, đồng hành, thân cận với mình. Thứ ba là cúng dường cho các vị đã hi sinh thầm lặng, đã ngã xuống để giúp mình có được cuộc sống bình an và tươi đẹp. Có những việc rất đơn giản như đem nước cho người lao công đang quét dọn trước nhà mình. Khi có tâm thì rất nhiều việc mình có thể làm, đây đều là những hành động rất đẹp ở ngoài đời và trong đạo cũng rất tuyệt vời. Thế nên, chúng ta hãy tập quan tâm, hiểu thương, tôn trọng, cung kính, cúng dường cho những vị đã chăm sóc, lo lắng cho mình.

Hơn thế nữa, hành động đảnh lễ đối với ông bà, vợ chồng, con cái cũng rất quan trọng. Đặc biệt, những người hiểu đạo nên thường phát lồ, lạy sám hối, xin lỗi nhau; các vị cùng nhau nhìn lại bản ngã, lỗi lầm do tham, sân, si, vô minh, bản ngã đã gây ra cho đối phương, sau đó lạy sám hối, cho bản ngã được hạ xuống, cái tôi được thấp xuống; đồng thời cảm ơn người khác đã “chịu đựng” bản ngã, tập khí của mình. Ở trước Tam Bảo cúi đầu xin lỗi để hạ thấp bản ngã, cái tôi này xuống, để gia đình sống với nhau trong an vui, an lành, thông cảm, hiểu thương nhau. Hãy quỳ xuống lạy, lấy trán chạm vào chân người đối diện, đảnh lễ ba lần. Sau đó, người kia cũng nhận ra lỗi lầm của bản thân và quỳ sám hối lại. Hình ảnh này vô cùng cao đẹp, nếu ở nhà còn ngại chưa thực hành được thì có thế đến chùa, đứng trước Tam Bảo mà thực hành.

Bất kì ai trong gia đình cũng vậy, nếu có sự bất hòa, hiểu lầm, nội kết bên trong mà không giải quyết được thì hãy tìm về Tam bảo. Đừng để khi sắp ra đi, nằm trên giường bệnh, nhớ lại những sai lầm đã qua thì lại đau khổ và hối hận. Có những người khi gần ra đi; thọ, tưởng, hành, thức trong suốt mấy chục năm cuộc đời quay lại như một cuốn phim. Nếu đó là cảnh thiện thì chúng ta sẽ mỉm cười rồi ra đi nhẹ nhàng. Ngược lại, có những người trừng trợn, đau khổ, chết không nhắm mắt được vì những lỗi lầm, ác nghiệp đã qua. Cho nên, thiện nghiệp và ác nghiệp rất quan trọng trong cuộc đời này.

Vì vậy, hãy tu tập để sống một đời sống thiện lành, để tâm mình được nhẹ nhàng và chúng ta sẽ được sanh vào những cảnh giới tốt đẹp; ngược lại, nếu sống với một tâm đầy rẫy những ác nghiệp nặng nề thì chúng ta chắc chắn sẽ bị đọa xuống những cảnh giới khổ đau. Cho nên, đi xuống hay đi lên là do chúng ta chọn! Để được đi lên thì ngay hiện tại hãy giải quyết nội kết trong tâm đối với mọi người. Nếu giận cha mẹ thì phải quỳ lạy, sám hối và hiếu thảo với cha mẹ. Vợ chồng có sự gút mắc với nhau thì hãy thực tập sám hối diệt bản ngã.

Còn làm không được thì mời quý vị lên núi vào Tết năm nay mùng 3 đến mùng 9 là khóa tu xuất gia gieo duyên 7 ngày. Nếu lên được hết gia đình thì chùa sẽ tổ chức thiền biết ơn: thứ nhất là để mình nhìn nhận lại lỗi và sám hối bằng cả tâm chân thành; thứ hai là cảm ơn trong thời gian qua, mọi người đã lo lắng, giúp đỡ cho mình; thứ ba là phát nguyện từ nay về sau mình sẽ sống sao cho đẹp, cho đầy hiểu và thương.

Hãy dành thời gian xem lại những video về thiền biết ơn để sanh khởi lên nhiều cảm xúc hiền thiện, biết ơn, nhớ ơn; vì tâm chúng ta ngày càng vô cảm, do bị cuốn theo cuộc sống đầy rẫy tham vọng, tiền tài, danh lợi, hơn thua, đúng sai, thị phi, vô minh, bản ngã, sầu, bi, khổ, ưu não; mất dần những cảm giác ngọt ngào, dễ thương, ấm áp. Cho nên, giờ đây, chúng ta cần tu tập để dâng trào lên những cảm giác hiền hậu, hiền lương, hiền lành, hiền hòa, hiền đức để mình đi theo các bậc Hiền Thánh. Hãy ghi nhớ và luôn tưới tẩm tăng trưởng, phát triển, nuôi dưỡng những cảm thọ này để làm sao đức hạnh hiền thiện này bám sâu vào trong thân tâm mình, hiền từ bên trong ra đến bên ngoài; từng gương mặt, lời nói, cử chỉ của mình được “ngọt như đường cát, mát như đường phèn”, giống như một dòng sữa bổ dưỡng, thơm tho, mát dịu, thanh lương. Tu là phải hiền lành, hiền thiện như vậy; đừng tu mấy chục năm mà người khác nhìn vào là muốn chạy trốn, vì họ thấy mình hung dữ, sân si, bản ngã. Tu như thế rất là uổng phí.

Cho nên, tu là cần thay đổi, phải bằng tất cả tấm lòng chân thật của mình mà tu, nhất định phải làm thay đổi cuộc đời mình trong giáo pháp này. Không phải dễ mà mình gặp được Chánh pháp; bây giờ chúng ta gặp được mà không chịu cố gắng thay đổi thì đến khi nhắm mắt trên giường, chuẩn bị ra đi sẽ rất hối hận, đau khổ vì trước kia không lo tu tập, đến lúc ra đi không biết mình sẽ về đâu.

Ngược lại, nhờ vào những thiệp pháp đã làm như cúng dường, giúp đỡ người khác bằng tất cả tấm lòng; đến khi viên mãn cuộc đời, mình chỉ còn lại nụ cười mãn nguyện mà ra đi. Bởi lẽ, cả cuộc đời đã đem hết cả tấm lòng để làm những việc thiện lành, thiện pháp, công đức; cả cuộc đời đã cố gắng tu hành phước huệ trang nghiêm, lánh dữ tìm lành, tu hành theo Chánh pháp. Nhờ vậy, trong những ngày cuối cùng cuộc đời, chúng ta sẽ vui vẻ với những điều lành, hạnh phúc với những việc thiện và mỉm cười với những công đức đã làm trong kiếp sống này. Thật không còn điều gì đẹp hơn nữa!

./.