Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Soi Sáng Xuất Gia Nikāya - Bất biến tùy duyên

2026-03-03 00:52:51
Soi Sáng Xuất Gia Nikāya

BẤT BIẾN TÙY DUYÊN

-Thích Minh Thành-

Ngày 14 tháng 12 năm 2020

Mục Lục

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bất biến PAGEREF _Toc61623172 \h 1

II. Tùy duyên PAGEREF _Toc61623173 \h 2

III. Tùy pháp PAGEREF _Toc61623174 \h 4

IV. Sắc tưởng – sắc tư – sắc tập khởi PAGEREF _Toc61623175 \h 5

V. Chấp thủ PAGEREF _Toc61623176 \h 5

VI. Trở về nội tâm PAGEREF _Toc61623177 \h 8

VII. Những câu hỏi khác PAGEREF _Toc61623178 \h 10

I. Bất biến

Hai từ này trong kinh Nikāya không có, do những người sau đặt ra nhưng chúng ta hiện tại đang thông dụng nên mình phải lấy tinh thần của Đức Phật để ứng dụng. Mình phải hiểu bất biến trước sau đó mới hiểu được tùy duyên chứ chưa biết bất biến là gì thì làm sao mình có thể tùy duyên được? Cái gì bất biến? Ly tham là bất biến, tất cả những lời dạy của Đức Phật đưa đến chỗ rời xa sự tham muốn, đó là bất biến. Chúng ta học trong tạng Nikāya không chỗ nào Phật dạy phải cất chùa cho lớn, không có đi làm cái này làm cái kia mà Phật dạy “Nhất hướng nhàm chán, viễn ly, ly tham, đoạn tận, hướng đến từ bỏ” – đó là bất biến.

Tất cả sự tu học của chúng ta đang đi theo là một Thánh pháp ấn – là những con dấu để ấn định Chánh pháp của Đức Phật, nếu đi ra ngoài những điều này thì không phải Chánh pháp của Ngài. Nhất hướng là một mực, một bề nhàm chán. Tại sao mình nhàm chán? Vì nó vô thường, khổ não, bất tịnh, trống rỗng, vô ngã nên nhàm chán. Tại sao mình ly tham? Vì mình tham nó là khổ, bản chất của nó là biến đổi, tan nát, hủy hoại, hoại diệt mà bây giờ mình khổ hay không? Vậy nên mới ly tham, ly tham mới hết khổ, vì đạo Phật là diệt khổ chi đạo.

Tại sao mình phải đoạn tận? Đoạn tận cái gì? Đoạn tận tham, sân, si, đó gọi là cứu cánh phạm hạnh, tức sự tột cùng của đời sống tu hành, tức đoạn tận tham, sân, si. Cả một đời tu của mình học cái gì, tu cái gì để hướng tới mục đích đó? Chấm dứt hoàn toàn những tham dục, sân hận, si mê, bản ngã và hướng tới chỗ đoạn tận, hướng đến từ bỏ. Từ bỏ cái gì? Từ bỏ sanh tử luân hồi cũng có nghĩa từ bỏ ngũ uẩn. Vậy cái gì sanh tử, cái gì luân hồi, cái gì tham, sân, si. Từ bỏ đó là sự từ bỏ tham, sân, si, vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn, cũng có nghĩa từ bỏ ngũ uẩn, đó là Thánh pháp ấn – tức con dấu Chánh Pháp ấn định tất cả lời dạy của Như Lai, Thế Tôn. Đây là cái bất biến, không được thay đổi. Thay đổi cái này đồng nghĩa với Phật giáo biến chất, mất gốc. Phật giáo không còn là Phật giáo nữa nếu thay đổi điều này. Đây gọi là bất biến; đoạn tận tham, sân, si là bất biến. Không bao giờ thay đổi được điều đó.

Cái tham của mình, mình thấy được nhiều chưa? Dễ đoạn hay khó đoạn? Khi học nhận diện ngũ uẩn rồi mình mới thấy cái tham ái của mình ghê gớm lắm, không phải đơn giản như mình nghĩ. Tham ái của mình đầy dẫy trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Thọ do nhãn xúc sanh, tất cả những cảm thọ do sáu cơ quan – sáu căn của mình, mình ái đầy dẫy trong đó: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái.

Mình có yêu thích suy nghĩ của mình không? Hình bóng trong tâm mình có yêu thích không. Rồi những cảm giác trong đó, đó là pháp ái, ghê gớm, ái này trùm khắp sáu căn, sáu trần, sáu thức mười tám giới chứ không phải đơn giản như mình nghĩ ái là của nam nữ, đó là phàm phu pháp, ai cũng thấy, không cần học. Ái này trong tất cả mọi thứ ái mình đều bám chặt trong đó. Thành ra đoạn ái là Niết-bàn, chính là chỗ này đối với tất cả ngũ uẩn không còn yêu thích nữa, hướng đến sự nhàm chán, ly tham, không còn tham muốn nữa, chấm dứt, hướng đến sự từ bỏ để thoát ra khỏi ngũ uẩn. Đây là chỗ cao thâm nhất của Phật giáo – chỗ chứng ngộ của Đức Thế Tôn.

Chúng ta nghĩ rằng để thoát ra khỏi tham ái ngũ uẩn này là cả một công trình vĩ đại không? Đâu phải chuyện đơn giản, đó là bất biến, làm gì cũng phải thấy như vậy, tu gì cũng phải thực tập như vậy.

II. Tùy duyên

Còn tùy duyên là tùy theo hoàn cảnh để mình thực hành những điều này, vậy mới tùy duyên, còn làm ngược những điều này không phải tùy duyên nữa. Ví dụ bây giờ người ta không cho đi khất thực, không phù hợp nên trong khi ăn mình Chánh quán thọ thực, điều này mình học rồi đúng không? Học cách ăn cơm của Đức Phật, đó là tùy duyên, tức mình không ôm bát đi khất thực được nhưng trong khi ăn mình Chánh quán, ăn không phải để vui đùa, ăn không phải để trang sức, ăn không phải để đam mê, để làm đẹp, để thỏa thích để hưởng thụ mà ăn để duy trì, thực hành đời sống phạm hạnh, để đạt đến những điều đó. Như vậy gọi là tùy duyên trong khi ăn cơm.

Hiện tại chúng ta quá tùy duyên nên thành tùy tiện, muốn làm gì làm, không còn y theo kinh điển, không còn căn cứ vô Thánh ngôn lượng của Đức Phật. Thánh ngôn lượng là lấy lời nói của Đức Phật làm sự đo lường, làm chuẩn tắc. Tùy duyên là sao? Ngày xưa, Đức Phật, các vị Thánh tăng ở dưới gốc cây, ở trong ngôi nhà trống tịnh thất, bờ rừng ven suối, bãi đất trống trong bãi tha ma, trong nghĩa địa. Tuy giờ mình ở trong phòng ốc nhưng không được phép coi đây là chùa của tôi, phòng của tôi trong suy nghĩ của mình, tẩy sạch suy nghĩ đó, đó gọi là tùy duyên. Ở trong đó nhưng mình không nghĩ rằng đó là của tôi, dầu cho mình là người xây dựng nên ngôi chùa đó chứ đừng nói chúng ở chỗ khác tới.

Con thưa các cô, cái này con nói các cô thấy hơi lạ chưa? Lạ chưa? Sao im re hết vậy, bất ngờ? Con xin thưa các cô, lúc con đứng trên cổng trời, lúc con chưa đi vào dòng pháp này nhưng con suy nghĩ rằng mình giống như những người khách đến đây tham quan, mình không phải là chủ. Đây không phải là mình, là của mình, là ngã, là ngã sở, điều đó cũng đúng thôi. Vì nó là tiền bạc của đàn na tín thí chứ đâu phải của mình mà mình tự nhiên mình nói đây là chùa của tôi, không có. Nếu mình nghĩ vậy là+ đang ăn cướp, ăn trộm. Chúng ta thấy sâu sắc không? Rõ ràng là tiền của đàn na tín thí mà, mình có cái gì đâu. Tại sao bây giờ gắn mạc lên nói, tôi trụ trì, này là của tôi?

Sai pháp, sai luật, không phải là cái nhìn của người xuất gia, mà cái này nói ra hết sức khó chấp nhận, nhưng sự thật nó là vậy. Tuy rằng mình là trụ trì, là người đứng ra thành lập nhưng mình luôn hướng về chỗ này thì đó là tùy duyên trụ trì, bất biến trong pháp ly tham. Cái này con thưa các cô dễ hay khó? Tu phải vậy, vậy mà còn chưa thể nhập Thánh quả chứ không phải bình thường đâu. Sự tu hành theo lời của Đức Phật sâu sắc lắm, rất thâm sâu, phải loại những suy nghĩ của phàm tình, phàm phu, vô minh, tham ái cho nên mình nhìn các vị hòa thượng đức độ thấy hay lắm. Cũng như kỳ đó con về thăm hòa thượng Phước Đức, ngài gặp con mà xưng con, con hết hồn. Có những cái mình học rất hay.

Con đi ra thăm hòa thượng phó pháp chủ ở ngoài bắc, bây giờ ngài viên tịch rồi, con vô ngài toàn xưng con, mà đó là phó pháp chủ chứ không phải bình thường. Những vị đức độ đạo hạnh như vậy họ làm gương sáng cho mình học hỏi. Vô thấy giường ngủ thảm thê, cũ xì, mặc áo sờn vai, rách mà là phó pháp chủ. Còn ngài pháp chủ đã một trăm lẻ ba, lẻ bốn tuổi rồi. Con có ra thăm và làm tôn túc pháp ngữ hỏi đạo ngài, bình dị, hết sức đơn giản, truy túc, bần tăng. Có mấy người nhỏ ở dưới thì khó gặp, thị giả hơi khó hơn.

Con cũng nhắn nhủ với các ngài thị giả, hòa thượng hết sức đơn giản, bình , đức độ thành ra mình phải nhớ bất biến và tùy duyên này. Còn mấy cái của bây giờ con không nói, cũng không dám nói, chỉ căn cứ vô kinh Nikāya tu, tự hiểu, người trí tự mình giác hiểu, bậc trí tuệ không cần nói nhiều. Những gì đi trái ngược lại với cái này phải cẩn thận. Xin mời vị tiếp theo.

III. Tùy pháp

Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch thầy, con có một số thắc mắc, mong thầy giải đáp. Con có đọc trong cuốn Nghi thức tu học Nikāya của thầy tặng cho lớp con, có một số danh từ không hiểu lắm, con mong thầy chỉ cho con. Thứ nhất, con không hiểu lắm về bài: “Sự cúng dường tối thượng”, có hai câu là: “Vị Tỳ-kheo nào sống đúng Chánh Pháp và tùy pháp thì đó là sự cúng dường tối thượng đối với Như Lai”, con không hiểu danh từ “tùy pháp” này tức là sao. Đó là câu thứ nhất, câu hỏi thứ hai là trong niệm “Duyên sanh pháp” có từ “sắc tưởng” và “sắc tư”, con không hiểu lắm hai từ này. Trong bài kinh “Thủ chuyển”, có một câu Đức Thế Tôn nói rằng: “Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi”, con không hiểu từ “thức ăn” ở đây, thấy thầy có gạch dấu ở dưới nhưng thầy chưa giải thích, từ “thức ăn” đó là sao ạ? Cuối cùng, trong bài “Sợi dây tái sanh”, có câu: “Những gì chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú thiên chấp tùy miên vì với sắc thọ tưởng hành thức xúc pháp, đó gọi là sợi dây tái sanh”. Con không hiểu từ “chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú thiên chấp tùy miên” là gì? Đó là những thắc mắc của con khi con đọc cuốn sách này, mong thầy giải đáp ạ.

Sư phụ: Cô đưa cuốn đó lên để đại chúng được hiểu kỹ. Chắc là sẽ giải thích ngắn gọn thôi bởi vì chúng ta không có nhiều thời gian. Có làm dấu sẵn mấy chỗ đó không? Chữ “tùy pháp”, tức bất cứ ở chỗ nào mình cũng sống với pháp. “Cúng dường Như Lai bằng sự cúng dường tối thượng” là người đó sống đúng Chánh Pháp và tùy pháp. Chánh pháp ở đây tức Tứ Niệm Xứ, tức sự luôn luôn quán chiếu về thân thể, cảm giác, nội tâm và những gì đang có mặt trong tâm mình để mình tẩy sạch tham, sân, si, đó gọi là thực hành Chánh pháp. “Tùy pháp” là bất cứ ở chỗ nào mình cũng thực hành pháp, giống như mình nói “chỉ có nghiệp tùy thân” trong bài mình hay nghe cúng vong, tức mình đi đâu nghiệp nó cũng theo mình, chữ “tùy pháp” cũng vậy, ở đâu mình cũng thực hành pháp.

Mình có “tùy pháp” không? thấy chưa? Mình đâu có “tùy pháp”, tùy pháp là bất cứ lúc nào, ở đâu, mình cũng thực hành pháp, gọi là tùy pháp. Và người đó là người cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng, bất cứ lúc nào ở đâu cũng thực hành pháp, cũng soi rọi lại thân tâm mình để tẩy sạch ác bất thiện pháp, tham, sân, si, vô minh và bản ngã bất cứ ở đâu, chỗ nào, thời gian nào. Đó gọi là cúng dường với sự cúng dường tối thượng đối với Đức Như Lai, chứ không phải tối ngày đem vô chưng bông, đem chè, đem xôi, đem bánh hoài mà không tu. Đó là cúng dường tiểu mẫu giáo, sự cúng dường của trẻ con đối với Như Lai, Đức Phật không kêu mình làm điều đó, mà ngài dạy mình xoay lại thân tâm để nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, bản ngã.

IV. Sắc tưởng – sắc tư – sắc tập khởi

Và chính nó là Đức Phật nói, mình phải thấy được điều đó, “sắc tưởng”, “sắc tư”, hình bóng của sắc pháp đó, sau khi mình đã tiếp xúc với nó rồi, còn lưu lại trong nội tâm mình rồi, gọi là “sắc tưởng”. Ví dụ mình tiếp xúc với một người đó, sau khi mình về chùa rồi mà hình bóng mình hiện lên trong tâm mình, đó là “sắc tưởng”, có thấy rõ chưa? Sau đó mình suy nghĩ về hình bóng đó, về con người đó, về hình bóng mà mình lưu lại trong tâm gọi là “sắc tư”, tư là suy tư. Con người, món đồ, hay con mèo, thú cưng, nhìn thấy rồi về nhớ, nhìn thấy thương quá. Giống như chú tiểu xuống núi thấy con cọp dễ thương, đó là “sắc tưởng”, “sắc tư”.

“Thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi”, thức ăn là thức ăn chứ không có nghĩa gì khác nữa. Vì có thức ăn nên thân thể này mới tồn tại, chứ cho nó bỏ đói thì nó còn sống nổi không? Nên thức ăn tập khởi thì sắc tập khởi, thân này có được là do thức ăn, tập là tập hợp, khởi là sanh khởi. Thân này là tập hợp của và sanh khởi ra của các thức ăn, không có thức ăn thì thân này không tồn tại, nó sẽ hoại diệt, chấp thủ phương tiện.

V. Chấp thủ

Tâm mình kiên trú trong chấp thủ phương tiện, chấp thủ là sự nắm chặt, phương tiện là những cái nó hỗ trợ cho sự nắm chặt đó.

Ví dụ giờ mẹ con qua đời rồi nhưng con vào phòng của mẹ ở, nhìn thấy cái giường, cái bếp của mẹ mình nấu ăn hồi xưa, trong lòng ra sao? Buồn, nhớ thương, những thứ đó là chấp thủ phương tiện, làm cho tâm luyến ái sanh khởi, và có khi mình không biết tu thì nước mắt mình tuôn. Ví dụ cầm cái di vật, nhìn di ảnh hay cầm món đồ gì của mẹ lên, những thứ đó là phương tiện để làm cho mình nắm chặt vô tâm luyến ái đó, mình sầu bi khổ ưu não. Đó là nói cái thương, nhớ người thân.

Bây giờ trong tình cảm nam nữ cũng vậy thôi. Ví dụ được tặng món đồ gì đó, lâu lâu lấy ra nhìn, phải không? Mỗi lần nhìn như vậy thọ, tưởng, hành vận hành; ái tăng trưởng theo món đồ đó mỗi lần nhìn nên có những món đồ để tới chết rồi chôn đem theo, nếu tiền mất, nhà mất không sao mà mất món đồ đó coi như đau khổ khủng khiếp, đó là chấp thủ phương tiện, thấy chưa? Ngay cả hình Phật hay tượng Phật mà mình khoái, mình thích, có nghe câu chuyện vui đó chưa?

Sư cô ở Nhật Bản có tượng Phật đẹp, nhỏ, cô để chỗ phòng cổ, mà trong ni xá thì mấy cô kia cũng ở chung, cũng có tượng Phật nhỏ như vậy, cũng có chưng bông nhỏ nhỏ. Bữa đó cổ đốt lọ trầm cúng Phật, loại trầm đó rất đặc biệt, nó là trầm hương xịn, mà cổ muốn cúng cho một mình tượng của cổ thôi, cổ không muốn cho trầm này bay qua mấy ông Phật kia hưởng nên cô gắn vô trầm một ống hút đưa thẳng vô mũi ông Phật của cổ, cổ cúng riết rồi mũi Phật đen thui. Bộ mới nghe câu chuyện này hả? Nghe rồi sao cười dữ vậy? Đó là sự chấp thủ phương tiện, chứ đừng tưởng đâu tượng Phật là tốt hết, cúng cho tượng Phật của mình thôi, không cho mấy tượng kia hưởng.

Đó là một chuyện, còn chuyện nữa. Có một ông nông dân vợ chết, mời thầy tới tụng, lúc nguyện, đáng lẽ “Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả”. Ông nói: dạ không, tất cả là cho hết, còn nhà hàng xóm kế bên là không cho, tất cả cho được thì cho hết nhưng nhà kế bên đừng hồi hướng cho nó. Thật ra trong đời sống của mình rất nhiều chấp thủ phương tiện mà mình không biết. Có câu chuyện chúng ta nghe kể là về con chó giữ hũ vàng, đời trước chết tức tưởi không kịp trăn trối cho con chỗ đó có chôn vàng mà chết bất đắc kỳ tử, đột tử nên đời sau đầu thai làm chó cứ giữ chỗ đó hoài như vậy rồi cuối cùng sau khi đào lên thấy hũ vàng nằm dưới đó. Đó là chấp thủ phương tiện.

Thành ra sự chấp thủ phương tiện này ghê gớm lắm nên cái nào thích quá đem cúng dường đi, đừng giữ hoài, cái nào sân quá nên xả bỏ nó đi. Mỗi lần mình nhìn nó, tham khởi lên, ái khởi lên, khởi lên, mỗi lần tiếp xúc với nó là sân khởi lên, bực mình khởi lên, nên người ta hận thù, đó là chấp thủ phương tiện – những phương tiện làm cho tâm bám chấp, chấp nhặt của mình ngày càng chắc, cứng, càng buộc, càng trói. Chiếc xe, cái áo, cái cặp của mình quảy, cái ba lô nhìn ra coi nó đâu mất tiêu, căn phòng mình ở… có phải chấp thủ phương tiện không?

Thành ra chỗ thâm sâu trong sự tu là phá hết tất cả, vì thấy được tính vô thường, bại hoại, tan hoại, tan nát, trống rỗng, vô ngã nên không có gì là tôi, không có gì là của tôi hết mình mới phá được chấp thủ phương tiện. Mà người này phải thường xuyên Như Lý Tác Ý, tác động tâm ý, quán chiếu thường xuyên nên con nói rồi mấy cô cười con, mấy thầy bên tăng sinh cũng cười con, không biết kỳ này vậy rồi Tỳ-kheo có gặp nhau không? Mà thiệt, mấy thầy cười, rồi dịch bùng lên, ở nhà hết trơn. Con nói rõ ràng, con nói tuần sau không biết có gặp nhau không ở thời đại này, rồi mọi người cười rộ lên, tuần sau thông báo nghỉ ở nhà hết.

Mà không phải một lần, tới mấy lần. Tức là sao? Mình phải trú trong vô thường tưởng, nguy hại tưởng, bất an tưởng, bất thưởng tưởng, tất cả sự vật hiện tại. Đừng nghĩ mình như vậy hoài, hãy an trú trong vô thường tưởng, cứ mỗi bữa gặp các cô con chia sẻ, con nghĩ đây là bữa cuối cùng để học pháp, chưa chắc gì có buổi tiếp theo, trong tâm con suy nghĩ như vậy, phải suy nghĩ như vậy trong sự tu học của mình mới phá được chấp thủ phương tiện. Nghĩ nó là vô thường, khổ đau, phiền não, là tan nát, hủy hoại, hoại diệt, chẳng có gì bền chắc, tất cả các hành là vô thường, bất an, không kiên cố, chữ hành ở đây bao gồm năm uẩn.

Nhìn cái gì cũng vậy, trong con mắt của mình, nhìn bất cứ cái gì nó đều tan hoại, tan nát trước mặt mình hết đó là cái nhìn của Chánh kiến như vậy mới phá được chấp thủ phương tiện còn không tâm thức mình bám trụ vô đó, luyến ái, dính mắc, tham đắm, chấp thủ vô đó. Đó là sự tuệ quán thâm sâu trong thiền tập. Ví dụ mình thấy người đó mình giận thì quán về bộ xương, người đang đối diện với mình là một bộ xương và mình cũng là một bộ xương, bộ xương này giận bộ xương kia.

Ví dụ như mình có tâm dính mắc, thương mến một người nào đó, mình mới quán đó là một đống bầy nhầy gan ruột, phân, nước tiểu, máu mủ. Đây là một đống phân, nước tiểu và đống phân, nước tiểu này lại muốn ôm ấp một đống phân, nước tiểu kia. Ôi chao! Quán như vậy, quán tới quán lui quán khi nào nó thâm nhập như vậy mới viễn ly, xuất ly được tham ái, sân hận. Phải quán như vậy, quán cho đến ngày thành tựu. Bây giờ mình gặp người kia mà mình đơ đơ, trơ trơ, thấy bình thường không có gì hết, mình cứ thấy có ta, có người lúc đó mình phải phá si mê đó bằng một cách quán trống rỗng, thân xác này là trống rỗng, trống rỗng là thân này, cát bụi, hoại diệt, tan nát, bất tịnh là thân này.

Phải phát khởi lên Như Lý Tác Ý, một Chánh Tri Kiến như vậy, một tư duy thâm sâu như vậy, phải phá si mê ngay lúc đó, cho rằng có người có ta, có ngang có bằng có hơn có thua, không có gì hết vì toàn tham, sân, si, vô minh và bản ngã, không có gì ở đây hết. Lúc mình khởi quán trí, tác ý lên như vậy nó phá vỡ si mê, khối si ám, vô minh tan biến ngay lập tức. Đó gọi là tùy pháp, là sự cúng dường tối thượng trong tất cả sự cúng dường đối với Như Lai. Mời vị tiếp theo.

VI. Trở về nội tâm

Phật tử: Dạ, Mô Phật, thầy cho con hỏi về pháp hành, trong pháp tu tập về ngũ uẩn thầy có dạy phần nhận diện ngũ uẩn, con thấy mình áp dụng cái đó trong tu tập hằng ngày khi mình muốn nhận diện ngũ uẩn thì lúc nào mình cũng phải hướng tâm vào trong nội tâm của mình, những dòng suy nghĩ của mình để pháp nào khởi lên mình nhận diện mình biết nó nhưng con thấy trong quá trình áp dụng vào đời sống hằng ngày con thấy rất nhiều những vướng mắc khó áp dụng. Ví dụ như khi con ở chung với một người, người ta tranh chấp với con, làm cho niệm sân của con khởi lên, lúc đó con quay lại nhìn niệm sân con thấy từ từ nó lặn mất nhưng khi mình sống trong chùa con thấy mình cũng không thể nào sống như thế được. Khi mình quay lại nhìn thì con thấy làm cho đối tượng đang tranh chấp với mình người ta rất tức giận. Ví dụ mình mở miệng ra nói lại người ta một câu, người ta tức một, nhưng khi mình cứ im như thế không nói gì con thấy người ta rất tức giận, tức giống như bốc hỏa lên đầu. Trong cuộc sống hằng ngày mình phải áp dụng như thế nào cho linh động trong khi mình sống với rất nhiều người, mình không thể lúc nào cũng im im như thế được, người ta nghĩ rằng mình khinh người, khinh thường người ta. Con xin phép thầy chia sẻ chỉnh lại cho con ạ.

Sư phụ: Con xin thưa quý sư cô là mình đi tu để làm hài lòng thiên hạ hay mình tu để giải thoát? Đó là bất biến, không được tối ngày dòm mặt người ta, phải quay trở lại vào nội tâm mình, đừng sống quá lệ thuộc vào ngoại cảnh, phải chú trọng, soi chiếu thân tâm của mình, tẩy sạch ác bất thiện pháp, đây là chuyện quan trọng nhất, phải nhớ điều đó. Còn phần thứ yếu thứ hai, đây là một sự khéo léo của mình, cái đó tự mình phải biết lúc nào nên nói và lúc nào nên im chứ mình đừng có lầm lầm lì lì, người ta nhìn còn thấy bực mình hơn nữa. Cái đó là sự khéo léo của mình thôi, còn sự tu mình cứ việc tu, chứ không lẽ vì người đó mình nói ra người ta còn giận hơn.

Ví dụ đã ghét rồi nói giống gì cũng ghét, im cũng ghét mà nói cũng ghét, mà có khi nói còn kiếm chuyện hơn nữa. Thành ra thà im còn hơn nói, mà nếu nói phải khéo, nhưng cái đó cũng không cần thiết nữa. Tại vì sao? Vì khi mình hóa giải được sân hận trong đây, trải được tâm từ, trong mình mình có một cảm giác, cảm thọ rất mát mẻ, dễ chịu, giống như máy điều hòa, quạt máy, khi đến gần người ta sẽ cảm nhận được. Còn nếu như im mà trong này của mình là sân khí lan tỏa và lại gần bếp lửa, thành ra cứ tu cho nó trở thành máy điều hòa đi, nhất trí không? Cứ tu cho thành máy điều hòa, đừng lo rằng người ta đến không cảm nhận được sự mát mẻ của mình, chỉ sợ mình không phải máy điều hòa mà là bếp lửa thôi, cho nên cứ việc tu, đừng quan trọng người quá, nhìn mặt người hoài chúng ta tu không được, cứ an trú trong pháp rồi tự động nó sẽ giải quyết hết tất cả mọi vấn đề, đây là bí kíp của Chánh pháp.

Thái tử Tất Đạt Đa không ngồi dưới cội bồ đề suy nghĩ mai mốt mình thành đạo rồi mình sẽ độ ai trước, kế hoạch mình hoằng pháp ra sao, không có, ngài cứ lo ngài thành đạo, rồi sau khi thành đạo rồi tất cả mọi thứ tùy duyên mà ứng hóa, nhiếp hóa, hóa độ. Cứ lo làm sao để tâm mình hoàn toàn lắng dịu và diệt tận hoàn toàn tâm sân hận, tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển, nuôi dưỡng lòng từ của mình thành kiên cố, thành căn cứ địa, thành thành quách vững chắc kiên trú thì không sợ gì hết. Tất cả chúng sanh, thậm chí người sân hận với mình đến sẽ cảm nhận được lòng từ của mình bao trùm lấy người đó.

Về lên mạng coi bài “Trải tâm từ rộng lớn”, “Từ vô lượng tâm”, thực tập thật nhiều tâm từ này, thực tập tâm từ quan trọng lắm, phải thực tập tâm từ trước và sau khi ngủ, ít nhất ngày hai lần. Hoặc trưa trải tâm từ hai đến ba lần, ngày nào cũng trải tâm từ. Mà trải tâm từ có phương pháp phải về thực tập mới được chứ không phải tự động muốn trải sao thì trải, phải có sự hướng dẫn của Đức Phật và các bậc thầy mình mới làm cho cảm thọ của tình thương dào dạt và sung mãn lên được. Phải làm cho cảm thọ sanh khởi, cố gắng thực tập.

Phật tử: Thầy cho phép con hỏi câu hỏi thứ hai, là trong quá trình tu tập, khi quay lại để quan sát những niệm khởi trong tâm mình, con thấy nó rất nhiều những niệm khởi liên tục, không có sự ngừng, không gián đoạn. Nhiều khi con bị mất ngủ, quan sát xong rồi thức hoài, có khi thức tới ba ngày ba đêm cũng không ngủ. Thầy chỉ cho con cách để mình xử lý.

Sư phụ: Người ta nói thiệt mà làm gì xúc động dữ vậy? Ngồi xuống đi, không nhìn thấy kết quả của sự tu hành, nay còn có ba mươi ký thôi. Rất tốt, chúng ta phải tùy hỷ, hoan hỷ đối với sư cô. Chúng ta phải biết linh động, uyển chuyển sự chỉ và quán, phải nhớ linh động. Nếu lúc nào tâm mình nó phấn khởi nhiều quá, lúc đó mình phải tác ý an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, tu chỉ, không tu quán nữa. Mình tác ý hướng vô lồng ngực của mình, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, làm cho nó đình chỉ tất cả mọi hoạt động lại, nên nếu mình quán nhiều quá thì đầu mình sẽ trong trạng thái hưng phấn, phấn khởi hoài, tỉnh hoài, ngủ không được, lúc đó mình phải tu chỉ, đình chỉ để nó an tịnh, lắng dịu thì mình ngủ lại.

Nếu như mình ít ngủ hoặc không ngủ mà mình vẫn khỏe, có mệt không hay sao? Nhưng mình vẫn phải điều tiết, có một thời gian ngủ, ít thôi cũng được, đừng chú trọng, ngủ nhiều không sao hết, nếu nó khỏe, không sao hết, đừng sợ vì Đức Thế Tôn và các bậc Thánh tăng, các vị Tỳ-kheo thời xưa ngủ rất ít, cực kỳ ít, những bậc cao tăng thời nay cũng vậy. Bữa trước mình học bài kinh đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm phải không, cho nên ngủ vừa đủ thôi, mà nhớ phải bảo đảm được sức khỏe, nếu không mình ngủ thiếu thì ban ngày mình trong trạng thái si rất nhiều, đờ đẫn.

Cho nên mình nhớ khi tâm mình hưng phấn quá, căng thẳng quá, tỉnh quá, nó tỉnh khô, tỉnh queo hoài như vậy, mà mình muốn nó ngủ mà ngủ hoài không được mình sẽ đưa tâm vào trạng thái chỉ, đừng quán nữa, bằng cách an tịnh, lắng dịu, an trú cảm giác toàn thân làm cho nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Niệm câu hướng vào lồng ngực, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, cái này là lá bùa hộ mệnh, khi mình giận lên cũng nhớ niệm ba câu đó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Lúc nào mình bực bội cũng hướng vô an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, huấn luyện cảm giác của mình.

VII. Những câu hỏi khác

Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch thầy cho con hỏi là ví dụ như một người cả đời giữ giới, khi chết con nghe các vị tôn túc giảng nên cống hiến nội tạng cho khoa học. Nhưng người tu cả đời giữ giới rồi, khi chết mà cống hiến nội tạng như vậy người ta sẽ thảy nguyên một con người vô bình phocmon mà trong đó có cả nam lẫn nữ, con nghĩ như vậy thì người tu có nên cống hiến nội tạng không ạ?

Sư phụ: Theo trong kinh thì thời đó chưa có vụ này, bây giờ chúng ta thấy rằng là do tâm nguyện của người đó, còn vấn đề chết rồi thì mình không nói lúc đó bị phạm giới, không phải. Lúc đó tất cả thọ, tưởng, hành, thức của mình đâu còn nữa, chỉ là cái xác vô tri, nhưng nếu tâm nguyện của người đó muốn làm thiện pháp thì cái này tốt, còn cái này trong kinh không nói, không khuyến khích mình. Nhưng phần giới mình không nghĩ rằng như vậy là phạm, vì lúc đó đâu còn những cảm giác nghĩ tưởng nhận thức gì nữa. Nên người đó nếu tâm nguyện muốn hiến thì hiến.

Kính bạch thầy, thầy có thể giải thích cho con hiểu rõ hơn về từ bi trong đạo Phật? Cái này mất thời gian lắm, mà chúng ta không còn nhiều thời gian nên cô về trên trang Linhquyphapan có những bài như “Trải tâm từ rộng lớn”, “Từ vô lượng tâm”, “Tâm từ vi diệu”, hóa giải oan gia trái chủ, những bài hết sức quan trọng. Bài “Thương chính mình”, bài nào có chữ từ bi và tình thương mình cố gắng nghe vì từ bi trong đạo Phật không giống như chúng ta hiểu. Trong Nikāya nói không phải giống như bây giờ mình nghĩ, phải thương mình trước, sau đó mới trải thương người được. Nếu mình không biết thương mình thì mình sẽ không thể trải được tâm từ thật sự, mà đó phần nhiều là ái chứ không phải từ bi.

“Con thấy mọi người hay nói rằng phụng sự chúng sanh là thiết thực, cúng dường chư Phật, mong thầy hãy giải thích rõ cho con câu nói trên”. Câu này không có trong kinh Nikāya, mấy người sau nói, câu hồi nãy là kinh Nikāya. Người nào dưới sự thực hành Chánh pháp, tùy pháp, đó là sự cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Cô muốn hỏi hả? Chuyền micro cho cô.

Phật tử: kính bạch thầy cùng huynh đệ cho con xin hỏi một câu, đó là kinh “Thừa tự” Đức Phật dạy rằng chúng Tỳ-kheo hãy thừa tự Chánh pháp của Ngài chứ đừng thừa tự tài vật. Trong trường hợp đó con phải hiểu là mình nên diệt trừ tâm tham hay thừa tự các pháp nào khác ạ?

Sư phụ: Con thấy đại chúng rất phấn khởi trong những câu hỏi, con thấy kỳ sau chúng ta làm một bữa hỏi tối hậu, các cô cứ về ghi sẵn. Thừa tự pháp chứ đừng thừa tự tài vật, chữ thừa tự ở đây là thừa kế, thừa kế chữ tự là tiếp nối cho nên mình thừa kế tài vật, Đức Phật có nói trong bài kinh đó: “Nếu ta và các ông thừa kế tài vật người ta sẽ khinh khi chê cười thầy trò chúng ta, các ông thừa tự pháp”. Thừa tự pháp là thừa tự Ba mươi bảy phẩm trợ đạo của Đức Phật, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, ngũ căn ngũ lực, thất bồ đề phần, thừa tự Thánh trí năm uẩn, Thánh trí lậu hoặc mà mình đang học, thừa tự những lời Đức Phật giảng trong kinh Nikāya. Tức mình nghe, suy tư, quán chiếu và thực tập, thực chứng, chứng nhập, chứng ngộ những lời dạy đó chính là sự thừa kế Chánh pháp của Đức Phật.

Nên chúng ta mới để ý thấy câu hỏi khi nãy con trả lời chưa xong, gọi là phụng sự chúng sanh là thiết thực cúng dường chư Phật, điều này làm cho chúng ta, nếu mình hiểu không chính xác thì tối ngày mình chạy ra ngoài làm cho thiên hạ. Chính điều này làm mình đặt tâm sai hướng, mình không nhiếp phục được tham, sân, si trong này mà cứ lo làm ngoài kia, làm ngoài kia tăng trưởng thêm tham, sân, si. Các bậc Thánh nhân đã nhiếp phục và đoạn tận được tham, sân, si nên các ngài làm thì làm nhưng tâm vẫn bất động và các ngài làm nhưng không phải do muốn làm. Muốn làm là dục, các ngài làm là do nhân duyên lúc đó người ta cần thiết các ngài làm chỗ đó.

Mình đọc trong kinh Nikāya, Đức Phật lại lò gốm, có thầy đó lại hỏi pháp, Đức Phật nói. Hay trên đường ngài đi khất thực có một ông cứ chặn lại hỏi, ông nói chưa giờ này đi khất thực, ông hỏi tới ba lần Đức Phật mới nói. Tức Đức Phật nói pháp là do có nhân duyên chứ không phải là Đức Phật hay các vị Thánh tăng muốn làm cái này muốn làm cái kia, các ngài hoàn toàn không còn dục nữa. Tức nhân duyên lúc đó cần thì Đức Phật nói trong trường hợp nào đó, nhớ kỹ điều đó. Nên nếu mình học không chính xác, tối ngày mình cứ hướng ngoại, cứ chạy làm cái này cái kia mà trong này việc cần làm mình không làm, việc cần làm: nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, điều đó mới chấm dứt đau khổ.

Nên làm đã như vậy cuối cùng thấy chán quá, nghỉ làm, xong nghỉ ở nhà một mình buồn chán nữa, lại đi làm, rồi lại chán, nghỉ làm, rồi đi làm thấy chán nên nghỉ làm, đi làm một hồi mệt chán lại nghỉ làm. Cứ lòng vòng lẩn quẩn như vậy hoài không có lối thoát, kiến bò miệng chén, còn các ngài làm như vậy không phải vì dục mà vì nhân duyên.