Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Xuất Gia Để Làm Gì

2026-03-03 00:52:51
Kinh Nikāya Giảng Giải

Xuất Gia Để Làm Gì?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chứng ngộ Tứ Thánh Đế PAGEREF _Toc162802569 \h 1

II. Khổ Thánh Đế PAGEREF _Toc162802570 \h 6

III. Kiết sử PAGEREF _Toc162802571 \h 11

IV. Cắt đứt sợi dây trói buộc PAGEREF _Toc162802572 \h 15

I. Chứng ngộ Tứ Thánh Đế

Kính bạch chư tôn đức, kính thưa toàn thể chư Tăng Ni sinh, kính thưa quý thầy cô. Đây là thời điểm rất thích hợp để chúng ta chuyên tâm vào pháp học và thực hành, hằng trăm năm, hàng nhiều trăm nay trên thế giới mới chứng kiến đại thảm họa toàn cầu như vậy cho nên chúng ta cần nắm bắt cơ hội này để toàn tâm toàn ý vào trong những lời dạy của Thế Tôn cũng như giành nhiều thời gian để chiêm nghiệm, quán chiếu, tư duy một cách sâu sắc về bản chất của đời sống, bản chất của thân tâm, bản chất của thế giới, bản tánh của vũ trụ vạn vật thì chúng ta mới có thể thể ngộ một cách sâu sắc những lời dạy mà chúng ta đã được học trong thời gian vừa qua.

Ngoài Đức Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác thì không một ai có thể chỉ cho mình thấy được cái khổ một cách toàn diện, chí có thấm cái khổ, chán khổ thì mới đi đến chỗ thoát khổ và đây là thời điểm thích hợp để chúng ta đi sâu vào nghiền ngẫm, suy tư, quán chiếu và triển khai thiền quán đối với trí tuệ về khổ đau mà Đức Thế Tôn chứng ngộ.

Nếu bỏ qua cơ hội này sẽ rất uổng, còn nếu biết nắm bắt cơ hội này thì có thể tham dự vào dòng Thánh trí tuệ của Dự Lưu. Thời điểm này giúp chúng ta an cư ở yên, giúp chúng ta độc cư ở một mình, giúp chúng ta nhập thất tỉnh thu, giúp chúng ta viễn ly, đây là thời điểm vô cùng thích hợp để chúng ta tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định và tăng thượng Thánh trí tuệ. Minh Thành xin giới thiệu những bài kinh quan trọng để quý thầy quý cô chiêm nghiệm, tư duy thêm, Minh Thành sẽ trích dẫn một số nội dung trong bài kinh nói về khổ và diệt khổ để chúng ta làm tư liệu tu tập trong thời điểm này.

Trong bài kinh Nalakapàna Thế Tôn có những lời rất tha thiết, chân thành, rất từ mẫn, từ ái đối với một số vị hoàng thất, vương tử, thiếu gia, trong đó có ngài A-na-luật-đà. Khi những vị này xuất gia thì Đức Phật có những lời khích lệ, sách tấn.

"-- Lành thay, lành thay, các Anuruddha. Này các Anuruddha, thật xứng đáng cho các Ông, những Thiện gia nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông có hoan hỉ trong Phạm hạnh. Này các Anuruddha, trong khi các Ông với tuổi trẻ tốt đẹp, trong tuổi thanh xuân, với tóc đen nhánh, có thể hưởng thụ các dục lạc, thời các Ông, này các Anuruddha, với tuổi trẻ tốt đẹp, trong tuổi thanh xuân, với tóc đen nhánh, lại xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này các Anuruddha, các Ông không vì mệnh lệnh của vua mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Các Ông không vì mệnh lệnh của kẻ ăn trộm mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Các Ông không vì nợ nần, không vì sợ hãi, không vì mất nghề sinh sống mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nhưng có phải với tư tưởng như sau: 'Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này' mà các Ông, này các Anuruddha, vì lòng tin, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?" (Trung Bộ Kinh, 68. Kinh Nalakapàna)

Đức Thế Tôn nhấn mạnh lý do chân chánh của sự xuất gia là do chúng ta ý thức sâu sắc đời sống này nhiều khổ đau, nhiều lo lắng, nhiều buộc ràng, nhiều bất an, nhiều sợ hãi, vì chúng ta ý thức sâu sắc đời sống này bị suy tàn, bị suy lão, bị suy vong của tuổi già, của sự chết chóc, của sự bệnh tật. Trong một bài kinh khác khi ngài Ananda thấy Đức Thế Tôn lúc đó tám mươi tuổi đang vén y để phơi nắng thì ngài Ananda hốt hoảng, chấn động, bàng hoàng vì màu da Thế Tôn không còn trong sáng như lúc xưa, mắt mờ, lưng còm về phía trước, ngài Ananda bàng hoàng trước hình ảnh Như Lai tám mươi tuổi bệnh tật. Thế Tôn đã nói sự thể là như vậy, tánh già nằm trong tuổi trẻ, tánh bệnh nằm trong sức khỏe và tánh chết nằm trong sự sống.

"Lúc bấy giờ, Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư đứng dậy, ngồi sưởi ấm lưng trong ánh nắng phương Tây.

Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, với tay xoa bóp chân tay cho Thế Tôn, thưa rằng:

-- Thật kinh hoàng thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ dị thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, màu da Thế Tôn nay không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời (sithilàni), nhăn nheo, thân được thấy còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

-- Sự thể là vậy, này Ananda, tánh già nằm trong tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống. Như vậy, màu da không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời, nhăn nheo, thân còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

-- Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống! Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da. Hình bóng trước khả ý, nay già đã phá tan! Ai sống được trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (b), V. Phẩm Về Già, I. Già)

Vì chúng ta ý thức một cách sâu sắc sự già nua, sự bệnh tật, sự chết chóc và trong đó đầy rẫy sự bất an, lo lắng, sợ hãi. Bây giờ người với người gặp nhau là lo lắng, chưa bao giờ chúng ta thấy cái khổ hiện bày ra tràn khắp, biến mãn toàn cầu. Chúng ta ý thức một cách sâu sắc mọi sự hiện hữu trong đời sống này đều dẫn đến vô thường, biến hoại, tan rã, hoại diệt.

Các pháp đều được Thế Tôn dùng từ "các hành", các hành này chính là sự vận hành của năm thủ uẩn, sự vận hành của sắc, sự vận hành của các cảm giác, cảm thọ, sự vận hành của những hình bóng, sự vận hành của các suy nghĩ trong tâm và sự vận hành của sự nhận thức rõ biết. Như vậy sự vận hành của vũ trụ, vạn vật từ hữu tình đến vô tình đều ở trong trạng thái đổi dời, biến đổi và tan hoại. Trong sự tan hoại, đổi dời đó cộng với việc con người bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, bị bóng đêm của tâm thức u ám bao phủ nên người ta nghĩ nó thường trú, thường còn, thường hằng nên người ta yêu thích, tham đắm, say mê, bám chấp vào đó, vậy là từ vô minh có ra tham ái, luyến ái, dục ái, hỷ ái.

Chính sự yêu thích, tham đắm do không thấy không biết đó cho nên sanh ra những lòng tham quá độ rồi tạo ra biết bao ác nghiệp, sanh khởi ra lòng sân hận thiêu cháy, hủy hoại lẫn nhau. Chính vì không thấy bản chất của khổ, của sự biến hoại các hành nên người ta tranh đấu, giành giật, đấu đá, hãm hại nhau, nên dòng nhân quả nghiệp báo, mê hoặc và tạo nghiệp cứ xoay vòng, từ khổ này đi đến khổ khác, từ sự lo lắng này đi đến lo lắng khác, từ sợ hãi này đến sợ hãi khác, đó là một vòng luẩn quẩn mà Thế Tôn dùng từ "đại khổ uẩn", nghĩa là một tổ hợp khổ đau to lớn và vĩ đại, đó là thân ngũ uẩn này, như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

Chúng ta xuất gia vì mục đích có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này, chúng ta với lòng tin trong sạch, với lòng tin trong sáng, tha thiết, chân thành mà từ bỏ gia đình, sống không gia đình để cầu mong có thể thấy được, có thể chứng đắc được, có thể đạt được sự chấm dứt toàn bộ tổ hợp đau khổ to lớn này. Đó là lý do và mục đích của sự xuất gia.

"-- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, III. Thiện Nam Tử (1))

Tất cả những người trai lành gái tốt, tất cả những người nam nữ hiền thiện nào thuở xưa đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình thì tất cả những vị ấy đều vì mục đích muốn thấy được sự thật về đau khổ, thấy được nguyên nhân khổ của bậc Thánh, cầu mong dập tắt đau khổ và thực hành con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ đó. Đó là trong thời quá khứ, sau đây là trong thời vị lai.

" Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, này các Tỳ-kheo, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, III. Thiện Nam Tử (1))

Tất cả những người nào xuất gia chân chánh về sau này (tương lai) thì đều nhằm mục đích chứng ngộ bốn sự thật của bậc Thánh, tức là Tứ Thánh Đế. Sau đây là hiện tại.

"Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các Tỳ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, III. Thiện Nam Tử (1))

Như vậy là tất cả người tu dù là thuở xưa, tương lai hay hiện nay đều nhằm mục đích chứng ngộ bốn Thánh đế, nói đơn giản là muốn thực chứng sự thật về đau khổ.

"Thế nào là bốn?

Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, III. Thiện Nam Tử (1))

Bốn Thánh đế đó là khổ, nguyên nhân của sự đau khổ, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến đoạn tận khổ đau.

"Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... sẽ chơn chánh xuất gia... tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, III. Thiện Nam Tử (1))

Do vậy một cố gắng cần phải làm để rõ biết đây là khổ, một cố gắng cần phải làm để rõ biết đây là nguyên nhân của khổ, một cố gắng cần phải làm để rõ biết đây là sự chấm dứt khổ (khổ diệt) và một cố gắng cần phải làm để rõ biết đây là con đường đưa đến khổ diệt. Đến đây chúng ta đã thấy rõ nguyên nhân và mục đích của sự xuất gia là để thật sự thấy, thật sự biết, thật sự chứng ngộ được khổ đau, thấy được sự dập tắt đau khổ và thực hành viên mãn, trọn vẹn con đường diệt khổ. Như vậy cái khổ này chúng ta cần phải cố gắng để thấy được nó, chúng ta xuất gia học hết trường này đến lớp kia, học hết bằng này đến cấp nọ nhưng chúng ta đã thực sự thấy được khổ chưa hay là chỉ đọc cho biết? Chúng ta chỉ học trên ngôn ngữ, trên khái niệm, trên suy tư, nhận thức chứ chúng ta chưa thật sự thấy khổ vì nếu thật sự đã thấy khổ thì thấp nhất phải là bậc Dự Lưu Tu-đà-hoàn, còn nếu thấy khổ viên mãn, triệt để thì sạch hết tham, sân, si, lậu tận.

Chúng ta thấy trong kinh Đức Thế Tôn nhấn mạnh rất nhiều lần câu "một cố gắng cần phải làm để rõ biết:'Ðây là Khổ'... Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". Chữ "đây" là chỉ thân xác này, chữ "đây" là cảm giác này là khổ, chữ "đây" là những hình bóng trong tâm (tưởng uẩn), chữ "đây" là những suy nghĩ (hành uẩn), chữ "đây" là sự nhận thức rõ biết và có sáu thức. Cái thấy biết trong vô minh, sai lầm, cái thấy biết trong mê muội, si ám là khổ cho nên chữ "đây là khổ" nghĩa là sắc là khổ, thọ là khổ, tưởng là khổ, hành là khổ và thức là khổ. Chữ "đây" chính là năm uẩn, tổ hợp của hình hài này đầy rẫy bất an, bệnh tật, những lo lắng sợ hãi, dù có thấy khổ đi nữa thì cũng chỉ thấy phớt ngoài da.

II. Khổ Thánh Đế

Chúng ta thấy người đó bệnh, chết hoặc thiếu ăn, thiếu mặc, đói lạnh cơ hàn thì đó chỉ là một phần nhỏ của sắc uẩn mà thôi, chỉ là một phần nhỏ khổ bên ngoài của sắc pháp thôi. Trong kinh Nikāya chỉ cho chúng ta thấy cái khổ nằm trong tất cả thân tâm vũ trụ vạn vật. Những cảm giác thúc giục trong tâm là khổ, chúng ta phải tập nhận diện các cảm thọ vui, khổ và không vui không khổ rồi chúng ta sẽ thấy chỗ trú ẩn của tham, sân, si.

Trong cảm thọ vui sướng, khoan khoái lúc nào cũng có dục tham trong đó, trong cảm giác bực bội, bức xúc lúc nào cũng có sân, trong cảm giác trơ trơ lúc nào cũng có si, không thấy rõ thọ là thọ, không thấy rõ duyên sanh, duyên khởi của các cảm thọ do tiếp xúc mà chỉ thấy một cái ta, một cái tôi to tướng rằng "tôi sướng" ,"tôi khổ" hay là "tôi bình thường", lúc nào cũng thấy có "tôi" trong đó chứ không thấy lúc đó sắc; thọ; tưởng; hành; thức như thế nào, chỉ thấy một tổ hợp to tướng của bản ngã ta, tôi, tao, mi, tớ. Đó là sống trong si ám và vô minh.

Khi thực tập nhìn lại các cảm thọ rồi dục ái sẽ được thấy, được biết, những cảm thọ sân, khó chịu, bực tức được nhìn thấy bằng con mắt pháp, bằng con mắt trí tuệ khi nhận diện năm uẩn, nhận diện cảm thọ. Không còn cách nào khác ngoài thực tập nhận diện năm uẩn rồi bắt đầu soi rọi lại thân tâm thì mới hiểu chữ "tự giác" có nghĩa như thế nào. Tự giác có nghĩa là tự thấy, tự biết thân tâm ngũ uẩn đang hoạt động như thế nào, giác ngộ tự thân nghĩa là nhận biết chính mình, nếu không quay lại nhìn các cảm thọ, những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ thì làm sao thấy biết chính mình.

Cứ chạy theo sắc; thanh; hương; vị; xúc, đánh giá cái này đẹp, cái kia tốt, cái nọ xấu thì chỉ hướng ngoại, sáu căn đuổi theo sáu trần thì làm sao thấy được tự thân, làm sao thành tựu được chánh kiến về ngũ uẩn, về lậu hoặc cho nên sự tu lúc này là quay lại nhìn vào bên trong, nhận diện các cảm thọ, các cảm xúc cảm giác đó. Khi nhận diện rồi thì thật sự chính mình sẽ thấy, sẽ biết, Đức Thế Tôn gọi là "đến để mà thấy", thấy những cảm giác trong tâm là những cảm giác thúc giục (dục), thúc giục muốn ăn, muốn đi ra ngoài dù đang có dịch bệnh, nếu mình không thấy, không nhiếp phục, không đoạn tận thì nó dắt mình đi. Những cảm giác trong tâm là những cảm giác đòi hỏi, ao ước, thèm thuồng, khát khao mà Đức Thế Tôn dùng từ rất sâu sắc là "khát ái", nghĩa là khao khát được yêu thương và khao khát được ở trong sự yêu thích, thèm muốn trong đó, đòi hỏi ở trong đó, thúc giục trong đó, mong chờ trong đó, hi vọng, ước mơ, chờ đợi, ảo tưởng trong đó và điên đảo tưởng trong đó.

Chúng ta phải nhận diện được các tưởng uẩn là những hình bóng trong tâm, chính những hình bóng này thúc giục làm khổ chúng ta, nó thúc giục chúng ta phải đi, phải nói, phải tìm, phải kiếm, phải thực hiện như thế nào để đạt được những tham muốn, đó là khổ trong cảm thọ chứ không phải chỉ khổ ngoài thân. Sự thúc giục trong tâm làm mình khổ, sự thèm muốn làm mình khổ, sự đòi hỏi làm mình khổ, sự ước mơ, hi vọng, khao khát, truy tầm, tìm kiếm làm thân tâm không được yên bình, không được tĩnh lặng, không được tự do, nó trói cột và sai khiến mình, nó áp đảo làm mình đứng ngồi không yên, đi đứng không được thảnh thơi, không được an nhiên mà đi trong sự thúc giục, mắt tìm kiếm sắc nhưng đau khổ hơn là các dục, các cảm giác này không bao giờ thỏa mãn, không bao giờ toại nguyện, đó là nguồn gốc của đau khổ, có bao nhiêu cũng không thấy đủ, đó là đau khổ sâu sắc trong cảm thọ, hết hình bóng này đến hình bóng kia, hết nghĩ cái này đến nghĩ cái khác nhưng đều ở trong tham muốn, đòi hỏi, nóng giận, hơn thua, nghĩ cái tôi, cái ta, bản ngã, đó chỉ khi nào quay lại nhận diện năm uẩn mới phát hiện ra nội tâm cấu uế, rác bẩn, nếu không nhìn vào trong nhận diện đúng theo năm uẩn thì mình sẽ không thấy rõ được thân tâm chính mình.

Mình hướng ra ngoài làm được chút việc thiện rồi mình tự mãn nhưng quay vào thì đó là một nội tâm khuyết tật, một nội tâm nghèo nàn, thiếu thốn, đòi hỏi, thèm muốn. Tâm không được bình an mà bị dục hành hạ, sai khiến, dẫn dắt, tâm bị những ham muốn đó giày vò, làm mình ray rứt, bức xúc với những cảm giác của si mê, vô minh, tức giận, bản ngã, của sự đúng sai, danh lợi. Lúc nào trong tâm cũng bất an, hết suy nghĩ này đến suy nghĩ nọ, hết cảm giác này đến cảm giác khác, hết hình bóng này đến hình bóng khác hiện ra trong tâm. Mình không được yên bình, đi đứng không ung dung, tự tại mà tất bật, bận rộn, hết dự định này đến dự định khác, hết dự án này đến dự án khác, có biết bao sự tính toán, nghĩ ngợi, mong muốn và đòi hỏi. Khi việc này còn chưa xong, việc kia còn dang dở thì thần chết bất ngờ đến nơi.

"Người nhặt các loại hoa,

Ý đắm say tham nhiễm,

Các dục chưa thỏa mãn,

Ðã bị chết chinh phục".

(Kinh Pháp Cú 04 - Phẩm Hoa, kệ 48)

Cái sâu sắc mà Đức Phật chỉ cho chúng ta là cái tham muốn, thúc giục, khao khát ở bên trong mới là khổ, cái sâu sắc trong nguyên nhân của khổ mà Đức Phật muốn chỉ cho chúng ta chính là những cảm giác thúc giục, đòi hỏi, thèm muốn, ước mơ, trông chờ mà Thế Tôn dùng từ "khát ái", vui thích đi tìm cái này cái kia để rồi tiếp tục tái sanh, ngay trong hiện tại đã đau khổ vì lúc nào nội tâm cũng ở trong trạng thái muốn thêm, không thấy đủ rồi nó dẫn dắt thân, miệng, ý để đạt được những mong muốn đó, cứ chạy mãi không bao giờ thấy đủ, túi tham không đáy rồi cuối cùng thành tích, thành quả suốt mấy chục năm tranh đấu, giành giật, hơn thua là một hủ cốt, là một đống tro tàn, là một nấm mồ, là một chiếc quan tài, thành quả của tham, sân, si, dục, ái, bản ngã suốt đời là những thứ đó.

Thật là đau thương!

Thật là xót xa!

Thật là tội nghiệp cho chính mình!

Chúng ta từ bỏ cha mẹ, phủi mái tóc xuống đất, theo thầy học đạo, chúng ta mong cầu điều gì? Phải tâm tâm niệm niệm, giờ giờ khắc khắc tự tác động tâm ý nhắc nhở bản thân vì nếu không chúng ta rất dễ rơi vào cạm bẫy của dục lạc, tuy là hình thức người tu nhưng không có sự cố gắng nỗ lực, nghiêm khắc với bản thân, không ý thức sâu sắc bổn phận và trách nhiệm của người xuất gia thì chúng ta rất dễ dàng đi vào những lối tẻ, rơi vào những cạm bẫy của ác ma, dễ dàng rớt xuống đầm lầy của tham muốn, dục vọng, danh lợi. Chúng ta sẽ bị dính sáu thứ bụi trần thế gian làm chúng ta lún sâu trong đầm lầy của tham dục, bị đốt cháy trong ngọn lửa của sân hận và chúng bị tám cơn gió được, mất, vinh, nhục, danh lợi thổi trong vũ bão.

"- Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?

Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, lạc và khổ.

Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (V).Tùy Chuyển Thế Giới (1))

Nếu chúng ta không thành tựu trong chánh tri kiến và thấy biết chân xác, đúng đắn về nguyên nhân và mục đích của sự xuất gia tu hành này thì chúng ta rất dễ dàng bị những thứ tầm thường, phàm phu, bị những thứ nhỏ nhặt, nhỏ bé trong chùa làm chúng ta mất đi chí lớn. Đại đức gì là? Phạm hạnh là gì? Cần nhắc nhở chính mình trong mọi thời mọi khắc một cách sâu sắc vì quên đi chính là thất niệm, còn chánh niệm tức là nhớ.

Thất niệm là mất đi sự chánh niệm, nghĩa là quên, quên quán thân trên thân, quên nhìn lại thân thể, quên nhìn lại những cảm thọ, cảm xúc, quên nhìn lại nội tâm của mình bằng trí huệ của Đức Phật đã được hướng dẫn, quên nhìn lại các pháp đang sanh khởi, đang vận hành trong tâm, ngược lại nhớ thì gọi là chánh niệm, niệm là nhớ, chánh là đúng, chánh niệm là nhớ đúng những pháp mà Đức Phật dạy để mình quán chiếu.

Nhớ thân xác này là tứ đại đất, nước, gió, lửa, nhớ thân xác này có chín lỗ dơ bẩn. Ở đây Minh Thành muốn đưa ra những bài kinh gốc, y cứ vào kinh luận để chư Tăng Ni có tài liệu chiêm nghiệm. Chúng ta phải học thuộc hoặc phải đọc kinh thường xuyên để nhớ nội dung kinh thì chúng ta mới có tư liệu, vốn liếng để quán chiếu hoặc khi đụng chuyện thì lấy kinh ra ứng dụng, nếu không mình chỉ nhớ và suy tư theo phàm phu nên mình không đủ trí tuệ để đánh phá vô minh, tập khí, thói quen, nghiệp lực của mình.

"Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V). Một Ung Nhọt)

Qua đây chúng ta thấy được rằng cái khổ xuất phát từ tham ái, tham dục, trong những cảm giác, nghĩ tưởng thúc giục bên trong. Thân này chỉ là con rối nhưng những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong thúc giục, đòi hỏi, dẫn dắt, sai khiến. Sau đây là một bài kinh rất đặc biệt nói về kiết sử.

III. Kiết sử

" Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasii, tại Isipatana, vườn Lộc Uyển.

Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika nói với Tôn giả Sàriputta:

-- Thưa Hiền giả, có phải con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt?... Có phải ý là kiết sử của các pháp hay các pháp là kiết sử của ý?" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, V. Kotthika)

Nói dễ hiểu thì ngài Kotthika này hỏi ngài Xá-lợi-phất rằng con mắt là sự trói buộc của các sắc hay các sắc là sự trói buộc của con mắt cho nên kiết sử nghĩa là trói buộc và sai khiến. Con mắt trói cột sắc hay sắc trói cột con mắt, lỗ tai trói cột âm thanh hay âm thanh trói cột lỗ tai, lỗ mũi này trói cột mùi hay mùi trói cột lỗ mũi? Cái nào trói cột cái nào? Cái lưỡi trói cột món ăn hay món ăn trói cột cái lưỡi, thân này trói cột những sự xúc chạm êm ái, mịn màng hay sự xúc chạm trơn láng đó trói cột thân? Cái ý trói cột những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm hay những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng đó trói cột sự để ý đó?

Nếu mình không biết kiết sử là gì thì làm sao mình đoạn tận kiết sử trong khi tu là để cắt đứt những sự trói buộc. Bây giờ mình không biết cái nào buộc cái nào thì làm sao cắt được cái buộc đó? Sau đây chúng ta sẽ nghe câu trả lời đầy trí tuệ của tôn giả tướng quân chánh pháp chí thượng thanh văn Xá-lợi-phất, đây là bậc Thánh Tăng có thể thay thế Đức Thế Tôn hướng dẫn chánh pháp cho Thánh chúng trong thời kì Như Lai còn tại thế.

"-- Này Hiền giả Kotthika, con mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử... Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, V. Kotthika)

Con mắt không trói buộc sắc đẹp, sắc đẹp cũng không trói buộc con mắt, lỗ tai không trói buộc tiếng hay và tiếng hay cũng không trói buộc tai, mùi thơm không trói buộc mũi và mũi cũng không trói buộc mùi thơm, cái lưỡi không trói buộc với món ăn ngon và món ăn ngon cũng không trói buộc cái lưỡi, thân không trói buộc sự xúc chạm êm ái và sự xúc chạm êm ái cũng không trói buộc thân, những cảm giác, nghĩ tưởng không trói buộc ý và ý cũng không trói buộc thọ; tưởng; hành. Vậy thì trói buộc nằm ở đâu? "Ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử", do duyên cả hai tiếp xúc khởi lên sự tham muốn, sự ưa thích thì ở đó có sự trói buộc, có sự sai khiến.

"Ví như, này Hiền giả, một con bò đen và một con bò trắng bị cột lại bởi sợi dây hay cái ách. Nếu có người nói con bò đen là kiết sử của con bò trắng, hay con bò trắng là kiết sử của con bò đen, thời nói vậy có phải nói một cách chơn chánh không?

-- Thưa không.

-- Này Hiền giả, con bò đen không phải là kiết sử của con bò trắng. Và con bò trắng cũng không phải là kiết sử của con bò đen. Do sợi dây hay cái ách cột lại, cái ấy ở đây là kiết sử". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, V. Kotthika)

Sợi dây hoặc là cái ách mới trói cột hai con bò chứ bản thân hai con bò không thể trói cột với nhau. Như vậy con mắt với sắc đẹp không trói cột nhau mà sự ham thích, yêu thích, khoan khoái mới là sự trói cột.

"-- Do duyên cả hai, này các Tỳ-kheo, thức hiện hữu. Này các Tỳ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện hữu?

Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức. Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỳ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được? Này các Tỳ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỳ-kheo, đây gọi là nhãn xúc. Nhãn xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỳ-kheo, nhãn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ trở thành thường còn được? Do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, X. Cả Hai)

Chữ "cả hai" ở đây là do duyên có con mắt, có các sắc khởi lên sự rõ biết các sắc, gọi là nhãn thức, ba pháp này hội tụ với nhau tạo ra nhãn xúc, tức là sự tiếp xúc của con mắt, khi tiếp xúc thì sanh khởi ra cảm thọ, đó là thọ do nhãn xúc sanh, tức là cảm giác dễ chịu, ham thích là từ con mắt tiếp xúc sắc đẹp rồi có sự nhận thức dễ thương, ưa thích, chính cái này là sự trói buộc. Hòa Thượng hiệu trưởng hay nói "hoa bất mê nhân, nhân tự mê. Tửu bất túy nhân, nhân tự túy" nghĩa là sắc đẹp không tự nhiên làm người mê muội, chỉ có người tự mình mê đắm trong sắc đẹp. Rượu không tự nhiên làm say người, chỉ có người tự làm mình say, đó là sự ưa thích đóa hoa, ưa thích chai rượu và sự ưa thích đó là kiết sử, là sự trói cột, là sự sai khiến.

Nó sai khiến mình phải đi tìm, nó sai khiến mình phải đi kiếm, nó sai khiến mình phải truy tầm, phải tầm cầu, nó sai khiến mình phải theo đuổi, sau đó là tranh giành, đấu tranh, cạnh tranh rồi đau khổ, tất cả cũng chỉ vì dục tham, chính sự ham muốn đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc, đó là năm dục trưởng dưỡng, những sắc đẹp, tiền của, âm thanh, mùi vị và những sự xúc chạm êm ái là năm thứ nuôi lớn lòng tham muốn của chúng sanh, đó là cái bị tham dục, là con bò và những ý nghĩ, cảm giác, suy tính yêu thích là cái tham dục, là sợi dây.

"Này Hiền giả, cũng vậy, con mắt cũng không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử... Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

Này Hiền giả, nếu con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt, thời Phạm hạnh này đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể tuyên bố. Vì rằng, này Hiền giả, con mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc cũng không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử. Do vậy, Phạm hạnh đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể tuyên bố... Này Hiền giả, nếu ý là kiết sử của các pháp, hay các pháp là kiết sử của ý, thời Phạm hạnh này đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể tuyên bố. Vì rằng, ý không phải là kiết sử của các pháp, hay các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử. Do vậy, Phạm hạnh đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể tuyên bố.

Này Hiền giả, Thế Tôn có mắt. Với con mắt, Thế Tôn thấy sắc. Tham dục không có nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát là tâm Thế Tôn... Này Hiền giả, Thế Tôn có ý. Với ý, Thế Tôn biết pháp. Tham dục không có nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát là tâm Thế Tôn". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, V. Kotthika)

Thế Tôn cũng có mắt, cũng có các sắc là đối thượng nhưng bên trong là sự tham muốn đối với sắc không có, tâm Thế Tôn là tâm khéo thoát ra khỏi các sắc. Thế Tôn cũng có ngửi, có nghe, có xúc chạm, có nhận thức nhưng tham dục không có ở nơi Thế Tôn, ham muốn đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc ở nơi tâm Thế Tôn.

"Này Hiền giả, với pháp môn này cần phải hiểu biết như vậy. Mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử... Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, V. Kotthika)

Trước nay chúng ta nói kiết sử trên từ ngữ và hiểu trên sự trừu tượng, còn bây giờ chúng ta được tôn giả Xá-lợi-phất chỉ ra nó nằm ở đâu. Nó không phải nằm ở nơi căn, trần hay thức mà nó nằm trong cảm giác, nghĩ tưởng về sự tham muốn của chúng ta, chính cảm giác, nghĩ tưởng này trói cột chúng ta. Bây giờ mình có vàng đem cất kĩ nhưng bị mất mà mình không hay biết, đến khi biết ra thì đau khổ. Như vậy vàng đó không phải là thứ trói cột nhưng cái suy nghĩ vàng đó của mình, là đồ quý, chính những cảm thọ, nghĩ tưởng đó là sợi dây trói buộc mình, đó chính là kiết sử, nó buộc chặt tâm mình, nó sai khiến mình.

IV. Cắt đứt sợi dây trói buộc

Bây giờ làm cách nào để cắt đứt sợi dây trói cột này?

"-- Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỳ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammam): Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.

Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc... thọ... tưởng... các hành, biến tri thức.

Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, XI. Thiện Nam Tử Khổ)

Đối với những người bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ gia đình, bỏ tuổi trẻ, bỏ sắc đẹp, tài sản, sự nghiệp, bỏ tất cả để cạo tóc đi tu với lòng tin chân thành tìm cầu giải thoát thì đây chính là phương pháp thích hợp, thuận lợi cho người này để đưa đến sự giải thoát, sự thoát ra. Phương pháp đó là sống nhàm chán nhiều đối với sắc tướng, hình hài, vật chất, nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, chùa chiền, lúc nãy chúng ta đọc bài kinh Một ung nhọt để thấy sự bất tịnh thật nhiều để chúng ta nhàm chán nó, trong bài kinh khác thì Đức Phật nói hãy tác ý con mắt này là vô thường, hãy tác ý thân xác này là bệnh tật, là ốm đau, là bệnh hoạn, là chỗ tai họa, hiểm ngay, hãy suy tư, hãy nghĩ thật nhiều tài sản này, vật chất này là thứ tan nát, hủy hoại, vô thường, bất tịnh, đáng nhàm chán, đáng từ bỏ, đáng thoát ra.

"-- Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý mắt, và hãy như thật chánh quán con mắt là vô thường. Này các Tỳ-kheo, do như lý tác ý con mắt và như thật chánh quán con mắt là vô thường, Tỳ-kheo nhàm chán đối với con mắt. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.

Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý tai... mũi... lưỡi... thân...

Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý và như thật chánh quán ý là vô thường. Này các Tỳ-kheo, do như lý tác ý và như thật chánh quán ý là vô thường, Tỳ-kheo nhàm chán đối với ý. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, I. Phẩm Duyệt Hỷ Tiêu Tận, III. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (3))

Cần phải nhớ câu "Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức", đây là câu rất quan trọng. Muốn nhàm chán nó thì phải thấy được bản chất của nó là biến đổi, là bại hoại, phải thấy bản chất của thân này là món đồ gốm, là thứ đễ nát, dễ vỡ, dễ tan hoại. Bây giờ có khi chỉ cần ho một cái thôi là có nguy cơ thân này gặp nguy hiểm vì dịch bệnh dễ lây lan cho nên cần tác ý thật nhiều, suy tư, nghiền ngẫm thật nhiều.

Hãy sống nhàm chán thật nhiều với cảm giác, dù đó là cảm giác vui, cảm giác vui này cũng làm mình khổ, trói buộc mình vì mình nhớ nhung, mong muốn có được cảm giác đó rồi mình bị nó trói cột, vì thế cái thọ không phải là sợi dây mà chính ý nghĩ yêu thích cảm giác đó mới là sợi dây buộc chặt. Sợi dây trói buộc chúng ta chính là ý nghĩ, nghĩ tưởng ưa thích, ham muốn, ham dục, tham ái đó cho nên hãy quán chiếu tính vô thường, biến hoại của các cảm giác để nhàm chán nó, dù là cảm giác vui cũng là vô thường chứ đừng nói gì đến cảm giác khổ hay là cảm giác không vui không khổ.

Những hình bóng, nghĩ tưởng cũng phải thấy nó là vô thường, sự chấp thủ vào đó cho rằng nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi là khổ. Không có một tự ngã bên trong năm uẩn này, loại bỏ chấp ngã ra từng suy nghĩ, khi có suy nghĩ về bản thân mình thì tác ý "đây không phải là tôi, không phải của tôi, đây chỉ là sắc tưởng vô thường thôi", tức là hình bóng của sắc chất còn lưu lại trong tâm sau khi mình tiếp xúc thì hình bóng đó cũng là vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng, không có hình bóng nào là tôi, là của tôi ở đây cả. Phải tác ý, suy tư như vậy để gỡ ra từng hình bóng chấp ngã, gỡ trong từng suy nghĩ chấp ngã, gỡ ra từng cảm giác chấp ngã, chặt đứng từng sợi dây kiết sử trói chặt trong năm uẩn.

Như vậy sự xuất gia này có thành tích, có thành công, có thành quả, sự xuất gia này có thành đạt, đem lại lợi ích cho tự thân, cho tha nhân, cho cha mẹ, cho bà con huyết thống, đem lại lợi ích cho những Đàn-na tín thí đã vì lòng tin, cung kính, đảnh lễ, cúng dường chúng ta thì chúng ta bằng tâm từ, bằng sự không ngừng cố gắng nỗ lực để thực hiện đúng lời Đức Phật dạy để thật sự thấy khổ, thật sự thấm khổ, thật sự chán khổ và thật sự thoát ra khỏi khổ thì mình mới giúp được người khác bớt khổ và hết khổ. Còn bản thân mình đầy rẫy bất an, những tham muốn, sân hận, bản ngã thì làm sao giúp người khác đi đến an ổn, mát mẻ, vô ngã được.

Đó là những lời Minh Thành thành tâm cúng dường pháp bảo đến các thầy, các cô trong mùa dịch. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật./.