Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Giải Thoát Trí 3

2026-03-03 00:52:51
Tinh Hoa Nikāya

GIẢI THOÁT TRÍ 3

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Chiêm nghiệm khổ đau PAGEREF _Toc112602480 \h 1

II.Đạo lộ giải thoát PAGEREF _Toc112602481 \h 8

1.Cắt dòng tham ái PAGEREF _Toc112602482 \h 9

2.Con đường Bát chánh PAGEREF _Toc112602483 \h 11

3.Gia tài của Đức Phật PAGEREF _Toc112602484 \h 15

Chiêm nghiệm khổ đau

Chúng ta cùng nhau chiêm nghiệm trí tuệ đưa đến giải thoát tất cả khổ đau.

Đây là khổ, khổ là đây!

Hỡi này nhân thế có nhìn thấy chăng?

Thấy rồi hãy cố thoát ra,

Thoát mau, thoát lẹ, thoát xa chốn này.

Thoát ra khỏi cái vô thường,

Thoát ra khỏi cái con đường khổ đau.

Thoát ra mau, thoát ra mau!

Thoát thân năm uẩn, thoát đường trầm luân,

Thoát địa ngục, thoát súc sanh,

Thoát làm ngạ quỷ, thoát làm thây ma

Thoát thân kém phước bạc phần

Thoát cùi, ghẻ, lở, thoát nghèo, xin ăn

Thoát già, bệnh, chết, bất an

Thoát dòng sanh tử đầy tràn hiểm nguy

Thoát đời trôi dạt mông lung

Thoát dòng nước mắt tận cùng đau thương.

Đây là khổ, khổ là đây!

Thánh chuông vang động trời mây muôn loài

Cái gì sanh sẽ diệt thôi,

Cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan,

Càng tham ái càng đeo mang.

Xác càng chồng chết, nghiệp càng dây dưa.

Cười ở đây, khóc ở đây, chết cũng ở đây. Chỗ này có thể sau này là bàn thờ của Thích Minh Thành, có thể là bàn thờ của chính mình. Hôm qua có vài người khách đến hỏi Minh Thành bàn thờ bà Năm, "bàn thờ người phụ nữa đó là ai?", chỉ một câu thôi mà xót xa, thấm thía, nhức nhối, tất cả chúng ta "cái gì sanh sẽ diệt thôi, cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan".

Chúng ta sống trong sự không hiểu biết, không rõ biết, không Như lý giác sát, không tỉnh giác để quán sát đúng với sự thật cho nên "càng tham ái, càng đeo mang, xác càng chồng chất, nghiệp càng dây dưa". Do lòng tham ái, tham lam, tham muốn, tham dục, tham đắm mà chúng ta đang đeo mang rất nặng nề, phiền toái, bề bộn, phức tạp, phiền não, buồn rầu. Chúng ta đi tu nên phải bỏ hết tất cả những thứ ngoài đời nhưng vào chùa nếu không khéo lại nắm bắt những thứ trong chùa thì lại càng đeo mang, như vậy là không thấy rõ ly tham, đoạn ái là mục đích duy nhất của người xuất gia. Càng tham ái, càng đeo mang thì thân xác này sẽ chồng chất, hết đời này sanh ra rồi chết, tới đời khác sanh ra lại chết, cứ sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh chồng chất, nghiệp cứ dây dưa ràng buộc.

Có vô số những cảnh khổ trên cuộc đời này, có bé gái mười mấy tuổi phải nuôi người mẹ nằm bất động vì hỏa hoạn, người mẹ đau đớn tột cùng như bị ai đâm vào tim, hằng ngày đứa bé ấy phải chứng kiến mẹ mình đau quằn quại trên gường vì những miếng thịt rớt ra đầy hôi thối, lở loét, máu mủ. Có vị Phật tử kể lại quá trình nuôi mẹ, chính mắt vị này thấy giòi từ trong người sanh ra ở lưng vì người mẹ nằm bất động nhiều năm… Có vô vàn những ác nghiệp, những hậu quả thảm khốc oan nghiệt cay đắng của dòng luân hồi này, kiếp sống này.

Buổi sáng Minh Thành đi thiền hành tập thể dục trong phòng ở lầu bốn chùa Bửu Liên, cách ba bốn mái nhà có con chó thò đầu ra cửa sổ sủa liên hồi, mình thấy thật là xót xa cho những tâm thức sân hận, kiếm chuyện, gây sự. Trước đó nó cũng là con người như chúng ta nhưng vì tâm sân hận, tức giận, gặp chuyện gì cũng sân si, chen ngang, sanh sự mà bây giờ phải mang cái thân lông lá, ai đi ngang cũng nhào ra sủa rồi cắn người ta. Quán chiếu như vậy sẽ thấy sợ hãi và đau lòng, có những chỗ mình đi vào nó ùa ra sủa rầm rầm làm mình sợ hãi không muốn đi vào nữa, đó là biểu hiện của nội tâm sân hận, gây sự rồi cuối cùng thành ra như vậy. Những cái tâm ác độc, thâm độc, mưu độc sanh ra làm con rắn kịch độc để phun nhả nọc độc nhưng trước đó nó cũng từng là con người. Những con lợn, trâu, bò vì ngu si, vô minh không tu trí tuệ, không chánh niệm tỉnh giác cho nên phải chịu những đời sống ăn rồi ngủ, ăn rồi bị cho vào lò mổ ngoài ra không biết gì khác nữa. Quán chiếu để thấy run sợ, hoảng sợ, từ đó thoát ra những cái tâm tham dục, sân hận, ngu si, bản ngã, đó đều là những bài học nhan nhản trước mắt mình.

Khóa tu chùa Hoằng Pháp vừa rồi người ta chụp hình Minh Thành trên đó trông giống hình thờ, đó là lúc nào cũng nhắc nhở bản thân phải niệm tử, niệm sự nguy hiểm, sự tác hại, sự oan nghiệt của vô thường, phải luôn luôn niệm sự đột ngột, đột biến và đột tử. Minh Thành tuy không đi vào bệnh viện, vào nghĩa trang nhưng mỗi ngày đều xem cái thất của mình là nghĩa trang, là lò thiêu, đừng bao giờ quên vì quên là sống buông lung ngay, sống trong vô minh, si mê ngay.

Chúng ta phải thường trú trong vô thường tưởng, thường trú trong nguy hại tưởng, tưởng chết, thường trú trong sự quán chiếu về khổ đau, có như vậy tâm mình mới quay lưng lại sự lòe loẹt của thế giới, không thấy mùi vị nào khác trong cuộc đời này ngoài pháp, bạn bè mấy chục năm nhưng chỉ khi nào mình đem cái lợi đến cho người ta thì họ mới nồng hậu với mình, khi không có lợi thì không muốn tiếp, không muốn trả lời. Cuộc đời này thật là vô nghĩa, vô tình, phải đem trí tuệ này đi vào da, vào thịt tới trong xương, thấm vào tủy để cho mình thấy bộ mặt thật sự của thế gian này để mình đừng ảo tưởng một hạnh phúc giả tạo, có vui cũng là những cái vui tạm bợ, mong manh, ảo tưởng. Gần đây ở Sài Gòn có rất nhiều vụ hỏa hoạn xảy ra làm chết cả ba đời trong một gia đình, người nhỏ nhất mới hai tuổi, ngoài Hà Nội cũng cháy nhà làm chết ba người, hết chết cháy lại đến chết chìm, chết vì bị giết hại.

Đây là khổ, khổ là đây!

Hỡi này nhân thế có nhìn thấy chăng?

Thấy rồi hãy cố thoát ra,

Thoát mau, thoát lẹ, thoát xa chốn này.

Khi nào hoàn toàn rõ biết sắc này là khổ, hoàn toàn rõ biết những cảm giác, những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ là khổ, những nhận thức là khổ thì đó gọi là kiến đế, thấy được chân lý. Chỉ cần thấy một chút vui trong cuộc đời này thì cái vui đó sẽ trói cột không thể giải thoát được. Hoặc thích một cái suy nghĩ nào đó thì chính suy nghĩ đó buộc mình lại trong ngũ uẩn, trong dòng tái sanh, mình còn dính mắc, chấp thủ vào cảm thọ nào đó thì chính cảm thọ đó đưa mình tái sanh, mình ưa thích cái tưởng nào đó, cho nó là tự ngã thì cái tưởng đó là nguyên nhân, là động cơ để mình tái thiết ngũ uẩn, tái lập khổ đau, tái sanh và tái diễn luân hồi.

Cho nên điều đặc biệt là thấy rồi phải cố thoát ra, thấy rồi không được ngã gục trong đó mà cần thoát ra ngay, đây là chỗ tối thượng của đạo Phật. Người ta ngoài đời khổ quá chịu không nổi thì tìm cách tự tử, uống thuốc ngủ, nhảy cầu, nhảy sông, đó là biểu hiện của sự bế tắc, còn trong đạo Phật thấy khổ phải cố thoát ra, đây là giải thoát trí, trí tuệ đưa đến thoát ra sự đau khổ, trí tuệ giải thoát tất cả khổ đau. Có vô số những cảnh khổ trong đời này để chúng ta quán chiếu.

Đây là khổ, khổ là đây!

Như Lai ngài đã ngộ ra điều này

Và ngài thoát khỏi tái sanh

Như người thoát nạn, như tù thoát thân.

Thoát ra rồi chỉ mọi người

Con đường thoát tử mà ngài đã đi.

Bốn Thánh trí, bốn Thánh chuông

Bốn điều vi diệu, bốn viên thuốc thần

Bốn sự thật về nhân gian

Bốn cẩm nang để phá tan mê lầm

Trống bất tử vẫn ngân vang

Bốn Thánh trí vẫn còn đang hiện tiền.

Hãy dừng vọng niệm, lặng yên.

Lắng tâm nghe trí Thánh hiền nói lên.

Phải Như lý giác sát mọi thứ, Minh Thành thấy ông Năm bị hư một con mắt, chỉ còn thấy một bên thôi, Minh Thành thấy mẹ của cô Diệu Tính chào sư phụ nhưng lại xá cây cột vì mắt chỉ còn thấy một bóng mờ, chú Trí Hòa mới hơn hai mươi tuổi nhưng lại chuẩn bị hư một con mắt vì mang bệnh bẩm sinh. Mang cái gì là khổ cái đó, có con mắt là bệnh mắt, có con mắt là khổ với con mắt, có tai thì bệnh về tai, có mũi thì bệnh về mũi như viêm xoang, đau nhức, có bụng thì đói khát hoài rồi đến bệnh gan, bệnh tim, gai thắt lưng, đau cột sống, bệnh đường tiêu hóa… Có răng thì khổ về răng, đau nhức, ê ẩm, có người nhổ răng mà ảnh hưởng cả sinh mạng vì thế câu "đây là khổ" nghĩa là sắc thủ uẩn này là khổ. Chúng ta trình pháp khi ngồi thiền hoặc trình pháp lúc nghe pháp thì đủ các thể loại đau nhức, mệt mỏi, bệnh tật không ngồi được, đây chỉ là cái khổ của sắc thủ uẩn, ngoài ra còn thọ; tưởng; hành; thức, vậy mà ai nói khổ là không chịu, chỉ thấy "tôi đang vui", đó là vô minh. Đụng vào là giận, gặp chuyện là giận mà hễ ai nói giận là sân lên "tôi không có giận", đó là bản ngã, ta đây. Tham lên gặp gì là muốn cái đó, thấy gì là thích cái nấy mà người ta nói mình tham là sân lên "tôi không có tham", cho nên sự đau khổ của tất cả sự đau khổ chính là vô minh, không thấy biết được chính mình.

"Người ngu nghĩ mình ngu,

Nhờ vậy thành có trí.

Người ngu tưởng có trí,

Thật xứng gọi chí ngu".

(Kinh Pháp cú 05 – phẩm Ngu, kệ 63)

Vì thế câu "Đây là khổ, khổ là đây" cần thuộc lòng, nó là "thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú". Khi con cái quậy phá thì đọc lên "đây là khổ, khổ là đây", dâu rể kiếm chuyện thì đọc lên "đây là khổ, khổ là đây", đọc lên để nhàm chán, đời sau không muốn tiếp tục bị ràng buộc như thế nữa. Khi đau nhức, thậm chí có những cảm giác thống khổ, đau đớn kịch liệt thì niệm liên tục "đây là khổ, khổ là đây" để xả bỏ ly tham, cho đến tận cùng của sinh mạng cũng niệm "đây là khổ, khổ là đây" để từ bỏ, buông bỏ. Chỉ cần đói một chút hoặc khát một chút đã không chịu nổi, chính vì vậy mà trong bảy cách đoạn trừ phiền não có phần thọ dụng để đoạn trừ, có những thứ phải sử dụng nhưng nó chỉ là phương tiện chứ không phải thọ dụng để tham đắm trong đó.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ? Này các Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo như lý giác sát, thọ dụng y phục, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần truồng.

Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: 'Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn'.

Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loại bò sát, chỉ để giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.

Vị ấy như lý giác sát thọ dụng dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các cảm giác khổ thống đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Phải xem việc ăn, mặc, ở, thuốc men là phương tiện, phải xem nó là thấp kém, hạ liệt, phàm phu, đừng đặt nặng vào bốn cái đó mà hãy đặt nặng vào việc chứng nhập Khổ Thánh Đế, phải làm mọi cách để thấu đạt được "đây là khổ", hãy cứ để câu này thẩm thấu vào thân tâm để cảm giác khổ đó không bao giờ tan biến nữa mà nó luôn ở trong tim, trong cảm thọ của mình, không còn ưa thích, say đắm, ước mơ nữa vì thật sự đã thấy nó là khổ.

Như Lai ngài đã ngộ ra điều này

Và ngài thoát khỏi tái sanh

Như người thoát nạn, như tù thoát thân.

Người thành tựu được Thánh trí huệ này là người thoát nạn.

"Tâm còn yêu thích thân trống rỗng thì còn đau khổ mãi nha tâm".

"Tâm còn ưa thích thân trống rỗng là tâm còn gặp nạn trong thân".

Tai nạn lớn nhất trong tất cả tai nạn là chúng ta bị sập bẫy thọ sanh, tái sanh, sập bẫy sanh tử, chúng ta đang bị ở tù, chúng ta là những kẻ chung thân, tử hình, khi vừa sanh ra chúng ta đã mang một bản án tử hình nhưng bản án này không cố định là ba năm, năm năm hay mười năm, hai mươi năm hay bốn mươi năm, bản án này không cố định mà bất thình lình, đột ngột xuất hiện, nhưng có mấy người lo lắng, suy nghĩ, sợ hãi về điều này? Chúng ta là những tù nhân, nô lệ cho lòng dục, lòng tham, lòng ái, nô lệ cho tâm sân hận, gắt gỏng, cộc cằn, nô lệ cho bóng đêm của vô minh, si ám, bản ngã, chúng ta nô lệ cho sắc thân tứ đại này, phải cung phụng ăn mặc, tắm rửa, ngủ nghỉ, cung phụng những thứ nó đòi hỏi. Chúng ta làm nô lệ để phụng sự, phục dịch cho đống vô thường, bất tịnh, nay còn mai mất, có thể tan rã bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, vậy mà kiêu căng, tự phụ, hơn thua, đấu đá, đâm chém, giết hại, khổ chồng thêm khổ, bệnh thêm bệnh, đau chất chồng thêm đau.

Đạo lộ giải thoát

Cho nên Đức Phật là người thoát nạn như người tù thoát thân. Ngài thoát ra rồi mới chỉ cho mọi người con đường thoát tử mà ngài đã đi, gọi là bất tử đạo lộ.

"Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)

Bốn Thánh trí, bốn Thánh chuông

Bốn điều vi diệu, bốn viên thuốc thần

Bốn sự thật về nhân gian

Bốn cẩm nang để phá tan mê lầm.

Trống bất tử vẫn ngân vang

Bốn Thánh trí vẫn còn đang hiện tiền.

Hãy dừng vọng niệm, lặng yên.

Lắng tâm nghe trí Thánh hiền nói lên.

Trí thứ nhất ngài phơi bày

Cái thân năm uẩn này là khổ đau.

Sanh, già, bệnh, chết nối nhau

Làm cho đau khổ không bao giờ dừng.

Trí thứ hai chỉ rõ

Bởi tâm chẳng tỏ tường năm uẩn

Nên tham ái đã sanh sôi

Nhận chìm vào cảnh nổi trôi luân hồi.

Chính tham ái với vô minh

Làm thân năm uẩn sản sinh không ngừng

Có sanh nên có khổ đau

Khổ đau sanh tử nối nhau liên hồi.

Cắt dòng tham ái

Vì tâm ngu mê, tâm chấp thủ si ám, không tỏ tường năm uẩn, cho rằng là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, cho là sạch đẹp, tốt, vui, cho là còn mãi cho nên tham ái sanh sôi nảy nở. Lòng tham, lòng muốn, lòng yêu thích, say đắm, khao khát sanh sôi nảy nở, làm ổ trong tứ đại này, làm tổ trong đống xương da, làm hang trong đống ruột gan phèo phổi, làm sào huyệt trong bộ xương trắng màu vỏ ốc này. Nó làm hang, làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt trong đống răng, tóc, lông, móng, gân, xương, da, thịt, tim gan, tỳ phế thận, phân và nước tiểu này. Nó làm đồn, làm căn cứ địa, bám chặt, dính chắc rồi đau khổ, sầu bi, ưu não trong thân năm uẩn này. Cái ngu nhất trong tất cả cái ngu chính là cho cái đống này là tôi, là của tôi, sự sập bẫy đau đớn nhất là tâm mê làm ổ, làm tổ trong đống da thịt, gân xương, mủ máu, phân và nước tiểu này.

Cho nên tham ái sinh sôi nảy nở, mọc rễ thâm căn cố đế, tường đồng vách sắt, chấp thủ, đeo bám, buộc chặt trong cục thịt này, trong bao máu mủ này. Chính tham ái với vô minh đã làm thân năm uẩn sản sinh không ngừng. Vô minh là cha, tham ái là mẹ, kết hợp với nhau sanh ra thân ngũ uẩn này, vì vô minh không biết năm uẩn nên mới yêu thích, say đắm, hệ lụy. Cái khổ Đức Phật nhìn thấy không phải cái khổ như chúng ta nghĩ, cái khổ chúng ta là đói khát, không cơm ăn áo mặc, bị giật tiền, bị hãm hại, bỏ rơi, ngoại tình, bị sanh ra rồi vứt bỏ làm kẻ mồ côi… những thứ này chưa phải Khổ Thánh Đế mà chỉ là hạt cát, là những đợt sóng lăn tăn ngoài biển, còn bãi sa mạc thật sự là sanh tử, là tái sanh, đại dương của thống khổ là hữu ái, cái bị sanh, yêu thích trong hiện hữu, đó mới là cái khổ thâm sâu, là cái khổ mà bậc Thánh chứng ngộ. Cái khổ mà bậc Thánh thấy là cái khổ tái sanh, cái khổ tái tạo, tái tục, tái diễn, tái lập ra thân năm uẩn, không ngừng nghỉ trong thân ngũ uẩn, đó mới là đại khổ uẩn chính là sự tái sanh, tiếp tục một đời sống nữa.

"Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

-- "Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là sợi dây tái sanh, bạch Thế Tôn? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?

-- Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.

... đối với thọ... với tưởng... với các hành...

Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh". (Tương Ưng Bộ, tập III - Thiên Uẩn, chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Sợi Dây Tái Sanh)

Phàm dục gì, hỷ gì, tham gì đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì đó là sợi dây để đưa mình đến tái sanh. Tại sao có dục, tham, hỷ đối với ngũ uẩn? Vì thấy nó vui, khi chứng nhập Khổ Thánh Đế, thấy trọn vẹn thì dục, hỷ, tham tiêu tận, cái hỷ ái, hỷ tham, sự yêu thích, tham muốn được chấm dứt, an tịnh, lắng dịu, đoạn diệt. Khi hỷ tham được chấm dứt thì không còn nguyên nhân đưa đến đời sống kế tiếp nữa, nhân quả rất rõ ràng. Ví dụ Minh Thành không ưa thích căn nhà này nữa mà chỉ thấy ngao ngán, nhàm chán, không muốn cái nhà này có mặt ở đây nữa thì nó có tồn tại ở đây không? Chắc chắn là không, mình sẽ làm mọi cách cho nó không còn nữa bằng cách quăng bỏ, từ bỏ hoặc cho nó một mồi lửa. Cũng vậy, mình còn yêu, còn thích, còn muốn nó hiện hữu thì thân tứ đại này có mặt, khi hỷ ái đoạn tận thì nguyên nhân đưa đến đời sống khác không có mặt, được chấm dứt không còn tái sanh, không còn trở lui trạng thái tham sân si, sầu bi khổ ưu não nữa, đây là sự giải thoát triệt để cũng là sự chứng ngộ của Đức Phật.

Trí thứ ba đã sáng soi,

Khi nào năm uẩn được soi sáng rồi

Thì tham ái sẽ tiêu vong,

Luân hồi chấm dứt, khổ đau không còn.

Năm uẩn được soi sáng là thấy năm uẩn, biết năm uẩn, thấu rõ tính chất vô thường, đau khổ, vô ngã, phiền não của năm uẩn, thấy một cách tường tận, thấu đáo, liễu tri, tuệ tri, thắng tri, toàn tri, biết tất cả mọi khía cạnh, góc độ, ngõ ngách, tất cả những phương diện của ngũ uẩn đầy đủ, triệt để, hoàn toàn thì lúc đó tham ái sẽ tiêu vong. Nhìn bên ngoài cái bao đó có màu sắc sặc sỡ rất đẹp nhưng đến gần mở ra là một đống thịt bầy nhầy đã biến màu hoại sắc hôi thối, khi thấy rõ nó là dơ, là hôi thối thì lập tức từ bỏ một cách hoàn toàn triệt để. Cho nên chứng nhập trí bất tịnh thì tham ái sẽ tiêu vong, bây giờ có khi mình thấy bất tịnh, có khi lại thấy bất tịnh, chưa chứng nhập toàn phần trí bất tịnh mà chỉ là một phần giác, chưa được viên mãn cái minh, cái trí, cái tịnh cho nên hiện tại mình phải quán chiếu liên tục, nghe pháp, suy tư và nghiền ngẫm, những chuyện xảy ra xung quanh rồi mình thấy, mình nghe và cảm nhận, nghiền ngẫm cho đến một lúc thể nhập thì hoàn toàn chiến thắng, gọi là "khi nào năm uẩn được soi sáng rồi, tham ái sẽ tiêu vong". Nhưng điều quan trọng là cần xác quyết trong tâm trọn vẹn 100% thì chúng ta đã vào dòng trí tuệ, dù chưa phá hết nhưng cái thấy xác quyết nó là bất tịnh thì lúc đó chúng ta có cái thấy biết tịnh tín bất động đối với pháp, tức là lúc nào mình cũng tin tưởng điều đó chứ không thay đổi lòng tin, không thay đổi nhận thức đó. Chúng ta phải nghe, phải thiền, phải chiêm nghiệm, phải quán là vì lý do như vậy, phải làm cho đến khi nào chứng nhập, cho đến lúc nào triệt để hoàn toàn, hễ còn tham ái là nó còn dẫn mình đi, còn thấy vui sướng là còn tiếp tục bị lôi kéo.

Con đường Bát chánh

Trí thứ tư đã mở toang,

Cửa vào bất tử, đường vào vô sanh

Chính con đường Thánh tám ngành

Gọi là Chánh đạo, con đường thoát sanh.

Bát Chánh Đạo con đường thoát tử

Phương pháp này dẫn nhập vô sanh

Thánh nhân chỉ dẫn rành rành

Hành theo tám đúng thì sanh tử dừng.

Thấy biết đúng về thân năm uẩn

Khéo suy tư từ bỏ tham sân

Chánh tư duy nói lời chẳng phạm lỗi lầm

Thân hành trong sạch chẳng làm hại ai

Nuôi thân mạng bằng điều chân chánh

Sống siêng năng trong hộ trì căn

Thực hành chánh niệm thân tâm

Dùng kinh Niệm Xứ làm kim chỉ đường

Tâm tỉnh giác dần dà sanh khởi

Màn vô minh dần tháo gỡ ra

Hành theo Tứ Niệm Xứ kinh

Trí về năm uẩn phát sinh từ từ.

Nương hơi thở thực hành tỉnh giác

Năm ám si thanh lọc khỏi tâm

Bốn thiền tuần tự thực hành

Thân tâm ổn định dần theo bốn thiền.

Không dừng lại trên nhận thức mà từ lời nói, hành động, đời sống phải siêng năng và chánh niệm. Lúc nào nhìn thấy thân này là thân năm uẩn, không có của tôi, không có cái của tôi, mọi suy nghĩ hướng đến ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, suy nghĩ để lìa dục, mặc dù vẫn còn nhưng cứ hướng đến sự lìa xa, viễn ly, xuất ly, không an trú trong đó, không nằm trong đó, không làm tổ trong đó mà cái tâm hướng ra sự xuất ly thì cái suy nghĩ xuất ly tư duy đó là chánh tư duy, hãy cứ tác động tâm ý để đi ra khỏi những thứ này. Lời nói chẳng phạm lỗi lầm là chánh ngữ, nói lời thiện chứ không nói lời ác, nói lời đúng pháp không nói phi pháp, nói lời chánh ngữ không nói tà ngữ, nói đúng thời, đúng lời, nói lời từ tâm, nói đúng sự thật, có lợi ích về chánh pháp, không nói láo, nói lời thô ác, nói lưỡi đôi chiều, nói lời phù phiếm, hãy tập nói pháp còn không nói thì im lặng, trừ những công việc cần làm thì không nói chuyện vu vơ, không nói những chuyện vô tích sự không liên hệ đến mục đích, phí thời gian vô ích. "Thân hành trong sạch chẳng làm hại ai" là chánh nghiệp, không buôn bán vũ khí, buôn bán thịt, buôn người, không buôn bán những chất gây nghiện, rượu bia mà nuôi mạng sống một cách chân chánh, người xuất gia không làm những điều sai giới luật, không được kinh doanh, không mượn những hình thức của tôn giáo để mưu lợi, trục lợi, phải sống đời chân chánh của một người tu.

"Khả ái thay núi rừng,

Chỗ người phàm không ưa,

Vị ly tham ưa thích,

Vì không tìm dục lạc"

(Kinh Pháp cú 07 – phẩm A-la-hán, kệ 99)

Khả ái thay…

… núi đồi, tảng đá, bầu trời mênh mông thênh thang,

… những vườn trúc hoài niệm Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng ngày xưa,

… Linh Thứu sơn,

… những gốc cây Bồ-đề, những tàn cây bóng mát, những dòng suối,

… những tịnh thất nơi xa vắng,

… một hội chúng hiền thiện, an tịnh, lắng dịu. Những hội chúng hướng đến sự tẩy sạch tham sân si, vô minh, bản ngã. Những hội chúng hướng đến sự nhiếp phục và đoạn tận dục tham,

… đáng quý thay, đáng kính thay, đáng tôn trọng thay những nội tâm hiền thiện hướng đến sự trong sạch, thanh tịnh, hướng đến đời sống cao thượng, thánh thiện.

… đáng tôn kính thay những cuộc đời từ bỏ viễn ly, xả ly năm dục trưởng dưỡng ở đời, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình với một lòng tin trong sạch, thanh tịnh,

… đáng quý thay, đáng kính trọng.

Thật là hy hữu hiếm có, thật là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Đẹp và rất đẹp một đời sống chánh mạng của người xuất gia, đời sống viễn ly nơi xa vắng của người thoát tục, đời sống ly tham của Sa-môn hạnh được truyền thừa từ dòng Thánh pháp chân chính, cao tột, tối thượng của tôn giả Go-ta-ma, của bậc A-la-hán Chánh Biến Tri, Vô Thượng Sĩ. Thật là hy hữu hiếm có, quý báu, thù thắng! Phải nắm bắt, phải nắm giữ, phải thọ trì, phải thực tập bằng cả trái tim, cả sinh mạng. Chúng ta hãy thọ trì…

… pháp viễn ly này,

… pháp tránh xa hội chúng này,

… thiền định,

… sự tịch tịnh an lạc, lắng dịu này,

… một đời sống trong sạch, hiền thiện, cao thượng, thánh thiện này từ Đức Thế Tôn truyền trao cho chúng ta.

Cao quý, cao thượng, cao tột, cao vời, cao siêu là đời sống Sa-môn hạnh. Hãy sống siêng năng trong sự hộ trì căn, tiết độ trong ăn uống, chánh niệm tỉnh giác, không thể rơi xuống và đừng để mình rơi xuống, đừng bao giờ để mình rơi xuống, mệt mỏi quá thì dừng lại nghĩ, bớt mệt thì lại tiếp tục lên đường. Chúng ta hãy nhớ hình ảnh Đường Tăng vẫn bước tới trước dù có gục ngã, mất mạng cũng không lùi lại phía sau cho nên chúng ta cũng phải bước về phía trước, dù cho chết cũng không lùi lại phía sau. Hãy bước về phía trước, hãy bước lên núi, hãy bước vào rừng thông, hãy bước lên tịnh thất, hãy tiến lên và tăng thượng trong Thánh pháp này. Đừng sống một đời nhu nhược, hèn hạ, thấp kém hạ liệt mà hãy đứng dậy lên đường, hãy dấn thân vào những lời dạy của Đức Phật. Tinh cần, tinh tấn, nhiếp phục, thu nhiếp các căn, đoạn tận các phiền não, tham sân si, tu tập Tứ Niệm Xứ và hộ trì các thiện pháp, phải giữ gìn đừng để mất các thiện pháp đó, phải thường tác ý đủ mọi cách để mình sanh ra những cảm thọ hân hoan, hỷ lạc, vui sướng trong pháp, làm mình sanh ra những cảm thọ thấu suốt tận cùng sự đau khổ để nhàm chán, để thoát ra, phát huy mạnh mẽ những dòng cảm thọ thanh lọc tâm cấu nhiễm, thanh lọc tâm cấu uế, thanh lọc tâm dơ bẩn, rác bẩn này, nuôi dưỡng, tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển để có chân đứng trong pháp và luật này chứ đừng để mình rơi xuống vực sâu, thực hành chánh niệm thân tâm.

Gia tài của Đức Phật

"Thực hành chánh niệm thân tâm, dùng kinh Niệm Xứ làm kim chỉ đường", thân – thọ – tâm – pháp phải nắm thật vững những yếu nghĩa cốt lõi trong kinh Tứ Niệm Xứ, trong pháp hành niệm hơi thở, niệm tứ đại, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn của một tử thi, niệm ba cảm thọ, thấy rõ tham sân si, dùng tâm từ bi hóa giải sân hận, dùng bất tịnh quán điều trị tham dục, dùng tinh cần, tinh tấn, trí tuệ đánh phá cảm giác si ám, trơ trơ. Nhìn lại nội tâm có sân hay không sân, có tham hay không tham, có si hay không si, tâm hữu hạn hay tâm vô lượng, tâm rộng lớn hay tâm nhỏ hẹp. Tu tập tâm bao dung, bao la, rộng lớn, vô lượng, từ vô lượng, bi vô lượng, hỷ vô lượng, xả vô lượng.

Chúng ta có rất nhiều gia tài Đức Phật để lại, cả một kho báu tại sao chúng ta không sử dụng khéo léo, uyển chuyển, linh hoạt tùy lúc, tùy thời để làm cho tâm sắc bén, tinh vi, tinh minh, rộng lớn, tất cả đều do chúng ta biết sử dụng gia tài Phật để lại hay không. Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ-đề phần, Bát Thánh Đạo cần được sử dụng nhuần nhuyễn, tinh vi, khéo léo, linh động tùy thời, tùy trường hợp, tùy tâm của mình. Cốt lõi của kinh Tứ Niệm Xứ cũng là cốt lõi của cả tạng kinh Nikāya, thực hành chánh niệm, thấy tâm mình nhỏ hẹp là phải tu tâm rộng mở ngay, thấy tâm bất lạc, buồn rầu thì tu tâm hỷ lạc ngay, thấy tâm si ám là dùng Thánh trí đánh phá ngay. Phải đối trị, phải nhận diện năm uẩn mới thấy được trạng thái như thế nào từ đó mới dùng phương pháp thích hợp cho hiệu quả nhưng phải có sự tha thiết mong muốn đi trên con đường này, phải có sự nỗ lực, tinh tấn, để tâm thật nhiều vào bên trong, có sự khéo léo, thiện xảo tư duy để làm nhanh, lẹ, tiến mau thì đó là Tứ Như Ý Túc.

Chúng ta không được trơ trơ hoặc chỉ tu một pháp, thấy buồn là chết trong cảm thọ buồn đó luôn, thấy si là buông luôn. Chính mình làm chỗ dựa cho mình là ngay đây, chính mình làm ngọn đèn cho mình là ngay đây, vì chỉ có mình biết mình chứ người khác không thể biết được. Trong người mình có thọ; tưởng; hành gì thì người khác không biết được, nếu mình không nói ra, nếu lúc đó mình không thắp đèn, không mồi lửa, không đứng lên bằng đôi chân của mình thì ai giúp mình đứng, ai thắp đèn, ai đốt đuốc, ai soi sáng cho mình? Đây cũng là ý nghĩa của câu kinh:

"Tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác". (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Đó là khéo léo vận dụng Tứ Niệm Xứ, tất cả những gia tài của Phật để lại, những vũ khí, binh khí, pháp khí chúng ta có được trong sự tu học từ trước đến nay, khi tu là phải sử dụng tất cả. Một người thợ mộc phải có rất nhiều dụng cụ để mài, gọt, đục, đẽo, đủ các loại máy móc, bên cạnh đó là đôi tay, khối óc, kinh nghiệm để làm việc; còn người trí điều phục tâm mình.

"Người trị thủy dẫn nước,

Kẻ làm tên nắn tên,

Người thợ mộc uốn ván,

Bậc tự điều, điều thân".

(Kinh Pháp cú 10 – phẩm Hình Phạt, kệ 145)

Thợ tên thì làm ra những mũi tên, thợ mộc uốn gỗ và người trí thì lo điều phục tâm. Đừng để tâm mình ương ngạnh, khó nói, cứng đầu, đừng để tâm mình khó bảo, khó dạy, đừng để tâm mình nổi loại đưa mình xuống vực sâu. "Tâm tỉnh giác dần dà sanh khởi, màn vô minh dần tháo gỡ ra", sự tỉnh giác chánh niệm dần dần theo sự thực hành Tứ Niệm Xứ được sanh khởi thì vô minh dần dần được tháo gỡ. "Hành theo Tứ Niệm Xứ kinh, trí về năm uẩn phát sinh từ từ", tất cả phải có thời gian, phải có sự bền bỉ hành trì liên tục vì "dục tốc bất đạt", muốn nhanh, muốn mau thì hư chuyện, đó chỉ là dục, là tham. "Nương hơi thở thực hành tỉnh giác, năm ám si thanh lọc khỏi tâm", năm ám si là năm triền cái sẽ được thanh lọc khỏi tâm từ từ. "Bốn thiền tuần tự thực hành, thân tâm ổn định dần theo bốn thiền", chúng ta đã cầm được bản đồ để đi đến Niết-bàn, chúng ta đã có được bản chỉ đường, bây giờ chúng ta chỉ đi theo bản chỉ đường đó thì chỉ có càng ngày càng dần đến đích cho nên chúng ta phải vui mừng lên, hân hoan lên vì không phải dễ trong thời đại này mà chúng ta gặp được Thánh pháp. Cho nên hãy đầu tư, phải để tâm vào, dành thời gian thật nhiều vào tu học, không hề uổng phí, mà rất xứng đáng. Sau này chúng ta sẽ ngồi mỉm cười hạnh phúc vì đã đem hết tâm lực, trí lực, sức lực, hạnh lực, nguyện lực để dấn thân vào con đường vô thượng, an tịnh, tối thắng đạo lộ, con đường bất tử này sẽ được chứng nhập trong nay mai. Hãy cảm thấy thích thú, hân hoan trong sự tu tập, trong sự học pháp, không có gì khác vui sướng bằng tu học. Ngày đêm siêng năng tu tập thiện pháp, ngày đêm siêng năng tu học Thánh pháp.

./.