Tinh Hoa NIKAYA - Xuất Gia Phản Tỉnh 3
Tinh Hoa Nikāya
XUẤT GIA PHẢN TỈNH 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đời sống xuất gia cao thượng PAGEREF _Toc114058642 \h 1
II. Ba hạnh Sa-môn PAGEREF _Toc114058643 \h 2
III. Từ hòa – cung kính PAGEREF _Toc114058644 \h 7
IV. Nhắc nhở đời khất sĩ PAGEREF _Toc114058645 \h 9
V. Dặn dò tu học PAGEREF _Toc114058646 \h 13
I. Đời sống xuất gia cao thượng
Ngày đầu tiên các sư cô về đây do nhu cầu tu học thì con có nói tuy rằng chỉ có 10 người xuất gia thì cũng phải có khóa tu cho người xuất gia. Đời sống của người xuất gia là đời sống cao thượng, hiền thiện, thoát tục, ly trần, siêu dật ngoại. Nhiều khi con một mình đi thiền hành trên núi, chống gậy trúc đứng trên đồi cao nhìn đại ngàn thênh thang, mây bay, chim hót, mặt trời lên, có lúc con rưng nước mắt vì hạnh phúc, vì hỷ lạc và con nở nụ cười nhẹ.
Con để cảm giác toàn thân lan tỏa từ đỉnh đầu đến gót chân, sung mãn tràn ngập một cảm giác hỷ lạc an vui, tịnh lạc, con để cảm giác này lan ra khắp không gian, khắp bốn phương tám hướng, trên dưới. Một mình đứng trên đỉnh núi cầm gậy trúc nhìn trời mây, nghĩ rằng không biết trong quá khứ mình đã gieo được phước duyên gì, phước báu gì mà trong giờ phút này, trong kiếp sống này mình có thể thoát ra được những tục lụy, những phàm tục, những thói tục, những cái phàm tình thế sự, thế lợi, thế vật và thế tình. Con thầm biết ơn một cách sâu xa vô cùng tận đối với Đức Thế Tôn, đối với thánh pháp, đối với bốn đôi tám chúng hiền thánh Tăng là ruộng phước vô thượng ở trên đời và biết ơn sâu sắc đối với thánh giới.
Đời sống của người xuất gia cao thượng lắm! Đẹp lắm! Thù thắng lắm! Siêu việt lắm! Đây là một đời sống tối thượng trong tất cả nhân sinh, là sự sinh hoạt thoát tục. Hãy trân quý điều này, hãy nâng niu và tôn trọng đời sống này, hãy biết gìn giữ, bảo vệ, quý trọng. Nếu kiếp này không phải là kiếp cuối cùng, còn đời sau nữa thì con nguyện vĩnh viễn ở trong hình tướng của người xuất gia, không chọn hình tướng cư sĩ. Nếu kiếp này là kiếp cuối cùng là quá tuyệt vời, còn không thì con cũng nguyện cho đến khi lậu tận, thành tựu Chánh Giác là ở trong hình tướng của người xuất gia. Đẹp đẽ thay viên đảnh phương bào! Đẹp tuyệt diệu đầu tròn áo vuông! Một chiếc huỳnh y không vướng mùi tục lụy, giũ bỏ mái tóc yêu thương và khoác lên mình tấm Cà-sa, bước lên ngọn núi Linh Quy. Một mình trong am vắng, tình thương trải khắp đại ngàn. Còn niềm hạnh phúc nào bằng niềm hạnh phúc này? Phải hân hoan, hãy vui sướng, hãy hạnh phúc, hãy làm cho mình sanh khởi thật nhiều hỷ lạc trong hình tướng của người xuất gia, hãy làm cho mình sanh thật nhiều hỷ lạc trong sự học thánh pháp, hãy làm cho mình sanh thật nhiều hỷ lạc khi Tăng-ni hội tụ, đoàn kết cùng tu.
Vui thay, Phật ra đời!
Vui thay, Pháp được giảng!
Vui thay, Tăng hòa hợp!
Hòa hợp tu, vui thay
(Kinh Pháp Cú - Phẩm Phật Đà)
Mình phải ý thức thật là sâu sắc những nghi thức, ý thức thật là sâu sắc bản chất của người xuất gia, ý thức thật là sâu sắc sự cao quý, cao đẹp, thánh thượng của người xuất gia. Cho đến ngày giờ này, con ở trong chùa đến bạc đầu thì con mới thấy được giá trị thật sự của người xuất gia.
II. Ba hạnh Sa-môn
Chúng ta hằng tụng Căn bản trí, chúng ta thường tụng người xuất gia phải như thế nào. Người xuất gia mà không có ước muốn sắc bén thì không phải người xuất gia. Thế nào là ước muốn sắc bén?
“Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng định học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn
Ví như, này các Tỳ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò", nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo". Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỳ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo".
Do vậy, này các Tỳ-kheo, cần phải học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập”
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, 81.- Sa Môn).
Những lời này mình phải chiêm nghiệm 30 năm chứ không phải dễ, nghe đọc xong là rồi. Thế nào gọi là thọ trì? Thế nào gọi là tăng thượng?
Thọ là nhận, trì là giữ gìn. Khi mình được truyền giới, được trao giới, được trao học pháp từ các bậc tam sư thất chứng, giáo thọ A-xà-lê thì mình phải thọ nhận. Thọ nhận xong thì phải gìn giữ và phải tăng thượng. Cho nên không phải đọc xong là có thể hiểu dễ dàng.
Có 3 cấp độ: Thứ nhất là thọ; thứ hai thì trì; thứ ba là tăng thượng. Nhiều khi nhắc nhở mình giữ gìn oai nghi, giới hạnh mà mình không chịu, không bằng lòng. Đó là không thọ, bước đầu đã không thành tựu thì làm sao trì? Mình không nhận thì làm sao giữ? Cho nên nhắc 2-3 lần là khỏi nhắc nữa vì mình không chấp nhận học pháp. Trong giới luật không cho đi đánh đằng xa, không cho cười lớn tiếng, không cho ca hát mà mình không thọ nhận, người xuất gia mà cầm đàn ca hát cho cư sĩ nghe. Đây là điều đau xót vô cùng! Thật sự khi nhìn thấy những hình ảnh đó mà rưng nước mắt vì xót xa. Ca hát là đồng nghĩa với việc than khóc trong giới luật của bậc thánh, cười lớn đồng nghĩa với điên loạn trong giới luật của bậc thánh. Việc này đồng nghĩa với việc không có hộ trì căn, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn. Bây giờ có được bao nhiêu người gìn giữ việc này? Mấy người nghe cái này, gìn giữ cái này, truyền trao cái này?
Người xuất gia ơi hãy tỉnh đi! Có khi tu trong chùa suốt đời cũng chưa nghe những lời này. Xuất gia phải nên phản tỉnh, thật sự nhiều lúc con không muốn xuống núi giảng dạy nữa, con vào trường Phật học, giảng xong là con gục đầu đi ra vì đau lòng. Mình không thọ thì làm sao mình trì? Học pháp, giới pháp mình đã không nhận thì làm sao giữ? Mình thọ, mình trì mà còn sơ suất, xấu hổ, nhục nhã, nhìn lại nội tâm vẫn còn dục, tham, ái đầy rẫy chứ đừng nói không thọ, không trì rồi làm sao tăng thượng? Rồi cuối cùng người xuất gia chỉ còn hình thức, bên trong là sự trống rỗng, trống không mà Đức Phật gọi là vô tích sự.
Sự xuất gia của các ông là vô tích sự, là rỗng tuếch.
Mình đọc bài kinh này thì phải chiêm nghiệm. Sau khi mình thọ nhận những cái học pháp, thọ nhận những giới luật, những nội quy, những sự nhắc nhở của các thầy lớn, của các sư cô lớn, của các huynh đệ, các bạn đồng tu thì mình phải thọ nhận, tức là chấp nhận học pháp. Sau đó phải nâng niu gìn giữ như giữ đồ quý giá. Tiếp theo đó là làm cho thêm lên, cho tăng thượng lên, làm cho giới được thêm lớn lên, nâng cao giới học, nâng cao giới hành, nâng cao giới đức.
Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta thọ trì tăng thượng giới học. Đức Phật dùng từ sắc bén để diễn tả ước muốn, tức là ước muốn đó hết sức mạnh mẽ, quyết liệt. Đó là Dục Như Ý Túc. Mình phải làm cho ước muốn tiếp nhận, giữ gìn, phát huy cái giới đó mạnh mẽ, sắc bén, phát triển tăng trưởng quảng đại cho đến khi đi đến viên mãn giới. Còn đằng này sống vất vơ vất vưởng, sống lang thang, hết chạy chỗ này đến chạy chỗ kia, rồi bây giờ còn tổ chức đi chơi, cái dục lôi kéo mà không hay biết. Có khi tự hào là mình đi nhiều chỗ, còn ở yên là không chịu.
Ngồi thiền là không được, ở một mình cũng không được, cho nên trong mười điều quán sát của người xuất gia, mình có hoan hỷ khi ở trong ngôi nhà trống không? Nếu không hoan hỷ, vui vẻ khi ở trong căn nhà trống là mình đã thiếu cái chất của người xuất gia. Căn nhà trống có nghĩa là trống tivi, trống điện thoại, trống Facebook, Zalo, trống những trò tiêu khiển của dục để chuyên tâm hành trì. Thành ra, thật sự để người xuất gia nhận thức chính xác về bản chất của người xuất gia là cả một vấn đề, để người xuất gia tự hiểu được bổn phận, trách nhiệm của người xuất gia là cả một vấn đề chứ không phải chuyện đơn giản.
Nếu như người đó thật sự hiểu được một cách đầu đủ, trọn vẹn về bổn phận, trách nhiệm, về con đường, về việc mình phải làm thì người đó tối thiểu phải từ hướng Dự lưu đến Nhập lưu thánh quả thứ nhất. Nhưng chuyện này không khó nếu mình học đúng chánh pháp, còn nếu học không đúng thì không làm được. Vì vậy suốt cuộc đời của mình tu trong cái mù, trong cái vô minh, hướng ngoại, lấy dục lấy tham mà tưởng là công phu, lấy bản ngã để làm sự nghiệp.
Thành ra phải có một ước muốn sắc bén để tiếp nhận, giữ gìn, tăng trưởng, phát triển Giới – Định Tuệ. Tức là hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây để tâm vào giới, vào định, vào trong thánh tuệ. Làm cho nó tăng trưởng, phát triển, làm cho nó lớn mạnh từng ngày, từng giờ. Đó gọi là Tỳ-kheo đúng nghĩa Tỳ-kheo, Sa-môn hạnh. Sa-môn hạnh là điều mà người xuất gia phải làm, cái việc người tu phải làm, cái đức hạnh mà người tu sĩ phải thực hành, gọi là Sa-môn hạnh. Lúc nào cũng phải nhìn lại xem cái tâm được định nhiều chưa? Hay còn giao động khi xúc sanh thọ hay bị ái, sân, bản ngã.
Cảm thọ chưa được lắng dịu, chưa được an tịnh, nó liên tục làm cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức hiện hữu. Những chúng sanh là làm cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức hiện hữu liên tục trong thân tâm, lúc nào cũng có cảm giác, lúc nào cũng có hình bóng, lúc nào cũng có tính toán. Nếu những cảm giác, suy nghĩ, quán chiếu về thánh pháp thì phát huy, còn đằng này suy nghĩ theo lậu hoặc, cảm giác theo dục tham, vận hành theo bản ngã và vô minh.
Chứ không phải tu là để cái tâm im ru, có một thầy cứ nghĩ tu là để cho cái tâm yên định rồi bừng lên là giác ngộ, giống như con 10 năm về trước, bao nhiêu vọng tưởng khởi lên là buông bỏ rồi ngồi im ru, bất chợt bừng lên rồi hoát nhiên đại ngộ. Điều này hoàn toàn phi nhân quả, điều đó không thể xảy ra. Trong kinh Nikāya, Đức Phật đã từng nói trong giáo pháp của Như Lai không có chuyện cầu may, không có chuyện thình lình giác ngộ mà phải đi theo trình tự. Học rồi mình sẽ thấy thật sự người tu là như thế nào, vì người tu là ruộng phức vô thượng ở trên đời, còn ngược lại là kẻ nợ vĩ đại trên thế gian.
Cho nên đừng làm con lừa, nó không có màu sắc, không có tiếng, không có cái chân, mà phải thật sự là Tỳ-kheo trong hàng Tỳ-kheo, bò thì phải ra con bò chứ không phải con lừa lẫn lộn trong đó. Con dơi gọi là điểu thử Tăng, gặp đàn chim cũng gọi mình là chim, gặp chuột cũng gọi là chuột, mà nó không phải là chim, không phải là chuột.
Đó gọi là điểu thử Tăng, ông thầy chim chuột, chim không ra chim, chuột không ra chuột, hễ nó gặp chim thì đưa cánh ra bay gọi là chim, gặp chuột thì xếp cánh gọi là chuột. Đó là người không có một cái tâm, không có ước muốn thực tập giới hạnh, giới đức, giới pháp mà sống trong một đời sống ẩn dương nương Phật, qua ngày đoạn tháng, trơ trơ theo tham sân si, bản ngã để tìm danh tìm lợi. Đó không phải là đệ tử của Như Lai, dù cho ở trong chùa suốt đời thì cũng đọa lạc.
Hoặc gọi là lạm xí Tăng luân, nghĩa là lẫn lộn, làm cho ô uế trong Tăng đoàn. Cho nên mình đọc thì phải thấy hổ thẹn, xấu hổ, mình thấy phải phấn đấu và tiến lên. Đó là chất liệu của người xuất gia, phải có ước muốn hết sức sắc bén, luôn luôn khao khát, hi vọng, ước vọng chứ không phải tu là không còn muốn gì nữa. "Tôi tu là tôi không còn muốn gì nữa", có thật như vậy không? Phải ước muốn viên mãn giới, phải muốn tròn đầy đỉnh, phải muốn rực sáng thánh tuệ. Được như vậy thì người tu rất đẹp.
Con sẽ thực tập hạnh quỳ lạy diệt ngã đối với đại chúng và cung kính ruộng phước vô thượng trên đời, nhất là với các sư cô đã giữ giới hạnh, điều mà con còn chưa làm được.
III. Từ hòa – cung kính
Chất liệu của người xuất gia chúng ta là hòa hợp và cung kính. Đức Phật dạy khẩu nghiệp từ hòa, thân nghiệp từ hòa, ý nghiệp từ hòa. Hãy nhớ phân biệt cho kỹ từ và ái, hai cái này rất dễ lẫn lộn, nếu mình không có chánh tri kiến thì cái mà mình gọi là từ nhưng có ái trong đó mà mình không biết. Cho nên nam nữ là phân biệt, Tăng-ni là phải rõ ràng. Hòa nhưng kính chứ không phải lẫn lộn, không có trên dưới, không có trước sau, không có tôn ti trật tự.
Trong thanh quy đạo tràng Nikāya ghi rất kỹ điều này, còn nếu mình không để tâm vào trong giới, không nhìn sâu sắc thì cái mình cho là tốt thì chưa hẳn là tốt. Chính cái mình cho là tốt nó sẽ hủy hoại sự nghiệp đạo hạnh tu hành của mình, hãy coi chừng với những thủ đoạn tinh vi của dục, tham và ái, phải dùng kính hiển vi phóng đại trăm ngàn lần để kiểm tra xem nó là gì chứ đừng nghĩ theo kiểu hời hợt, đơn giản. Không nhận diện năm uẩn sâu sắc và thấu đáo thì giữa từ và ái sẽ lẫn lộn vào nhau, hoặc đó chỉ thuần túy là ái mà mình nghĩ là từ bi.
Nếu chưa thành tựu chánh tri kiến, chưa nhìn được bằng trí năm uẩn thì cái thương của mình đều là tham ái, chừng nào thấy được đó là tứ đại, năm uẩn, đó là bộ xương, giống như mình quán tử thi thì lúc đó thương mới gọi là từ. Phải tới mức độ sâu sắc như vậy chứ không phải cái từ bi của đạo Phật là đơn giản, không đơn thuần mà có thể trải được từ vô lượng tâm.
Khi đã học được dòng pháp này cộng thêm quán chiếu ngũ uẩn thì mình sẽ bất ngờ, những cái mình tu học hiểu trước nay đều không đúng, nó sẽ phanh phui hết tất cả, vén bức màn bí mật vô lượng kiếp vừa qua. Tâm thức của mình là một kho tàng bí mật, chỉ có thánh trí năm uẩn mới có chìa khóa mở được cánh cửa này và chỉ có ánh sáng của thánh tuệ Chánh Đẳng Chánh Giác mới có thể soi ánh mặt trời vào để mình nhìn ra được.
Ngoài ra tất cả đời sống của mình, từ suy nghĩ, cảm giác, tưởng tượng đến nhận thức chỉ toàn là vô minh và khát ái vận hành. Đây là chỗ hết sức sâu sắc, mình phải để tâm vào việc nhận diện năm uẩn, quán chiếu các cảm giác để nhìn ra ngũ uẩn, từ đó nhìn ra cơ chế vận hành và hoạt động của vô minh và tham ái. Nhìn ra được thì mình mới có thể từ từ thoát ra khỏi nó.
Tại sao mình có tấm thân này? Từ vô minh và khát ái mà biểu hiện thành. Cho nên đây là chỗ quán chiếu sâu sắc. Mình tập nhìn các cảm giác vận hành rồi mình sẽ thấy, thành ra Đức Phật dạy trong Tăng Chi Bộ kinh mười điều mà người xuất gia phải luôn luôn quán sát, mình phải học thuộc lòng. Rất tiếc là Minh Thành đã có tuổi, còn các thầy, các cô còn trẻ thì phải cố gắng học thuộc mười điều này. Rất tuyệt vời. Nếu lúc xưa con học được những cái này thì quá tuyệt vời, bây giờ phải là đệ tam quả rồi. Điều đầu tiên là mình phải quán sát như thế nào?
“Ta nay đi đến tình trạng là người không có giai cấp”
(Tăng Chi Bộ kinh, Chương X. Mười Pháp, V. Phẩm Mắng Nhiếc, (VIII) (48) Các Pháp).
Ở Ấn Độ có các giai cấp Bà-la-môn, là những người tu hành được mọi người tôn kính và vua chúa, sau đó là những người trung lưu làm ăn buôn bán, cuối cùng là giai cấp thấp nhất là nô lệ làm thuê. Bây giờ người xuất gia đi đến tình trạng không có giai cấp nào hết. Có một bài kinh mà Đức Phật nhắc nhở sách tấn các thầy Tỳ-kheo:
Ngoài đời người ta gọi các ông là đồ ăn xin, người chìa tay ra xin người ta là kẻ hèn hạ nhất trên cuộc đời này.
Mình phải thường quán chiếu như vậy, đó là giai cấp của người xuất gia, mỗi khi kiêu ngạo, kênh kiệu, ta đây, mỗi khi cho rằng xuất gia là cao thượng là phải tác ý thường trực trong thân tâm "giai cấp hèn hạ nhất trong cuộc đời này là đồ ăn xin, đồ ăn mày". Khi nãy mình nói đời sống xuất gia là thánh thiện, bây giờ sao nói xuất gia là kẻ đi ăn xin? Khi bản ngã sanh khởi là dùng cái này để đánh phá bản ngã, còn khi tu tập trong giới hạnh đúng đắn, thanh tịnh, cao thượng thì đó thật sự là thánh thiện, còn đi theo bản ngã thì không còn cao thượng nữa mà là thấp hèn. Phải nhìn từ nhiều góc độ để mình đối trị cái tâm của mình. Chỗ tử huyệt của người xuất gia chính là bản ngã, vì người xuất gia không học cái này, sự cung kính, đảnh lễ, cúng dường là của người Phật tử. Với họ, quan niệm như vậy là đúng nhưng với tự thân mình thì phải quán chiếu:
IV. Nhắc nhở đời khất sĩ
Học đạo trước cần phải học nghèo
Nghèo rồi đạo thể mới được thân
Từ xưa Cổ đức xưng: “Bần đạo”
Đạo dụng lại đồng với kẻ nghèo
(Thiền sư Long Nha)
Hai chữ khất sĩ nghĩa là kẻ ăn xin, nói thẳng là đồ ăn xin, đồ ăn mày. Con nói thì sẽ có những người có sinh ra cảm giác khó chịu, nếu có những người thấp hơn mình nói câu này thì mình dễ chịu hay khó chịu? Cái bản ngã khó chịu, mình phải tập nghe điều này cho quen. Do người Phật tử cung kính, tôn trọng thì trở thành nề nếp quen trong cuộc đời, mà cái này là thế gian pháp. Còn xuất thế gian pháp là người tu phải thành tựu được cái trí vô ngã mới bước vô cánh cửa chánh tri kiến đầu tiên.
Cho nên khi thấy người ta cung kính, thấy người ta khom người lễ lạy, thấy người ta chắp tay, thấy người ta cúng dường thì mình tưởng là mình ngon, mình cho rằng cao, mình cho rằng mình lớn, mình cho rằng mình là một bậc gì đó. Chỗ này chính là tử huyệt, đời tu của mình coi như sụp đổ mãi mãi và vĩnh viễn, không có ngày cất đầu lên nếu không phá được tư tưởng đó. Mình phải tâm tâm niệm niệm "cái đồ ăn mày", "cái đồ ăn xin", bưng chén cơm ăn thì phải quán "Đó là bình bát". "Đây là những thứ mày được người ta bố thí. Đây là thứ mày được người ta cho. Đây là đồ ăn thừa của người khác cho. Mày đừng có vênh váo, mày đừng có lên mặt, mày đừng có cao ngạo".
Mỗi khi cầm bát, múc cơm là phải tác ý như vậy, mỗi khi đắp y lên là tác ý "Ngày xưa đây là vải rách trong nghĩa trang". Như vậy mới đánh vào được cái tôi, cái ta, cái bản ngã, cái phô trương khoe khoang. Phải đập vỡ tất cả những thứ bậc, địa vị, tên gọi: Một vị thầy, một vị sư cô, một vị trụ trì, một vị sư phụ, một vị thượng tọa, đại đức, Hòa thượng,…
Phải phá tan, phá nát hết tất cả những thứ này để không còn một giai cấp nào. Đây là điều phải luôn quán sát thứ nhất của người xuất gia. Nhiều khi con nói mà có một số người không biết họ tưởng con bị gì, con đứng ở Quán Chiếu Đường trong tâm vừa sanh khởi lên "mình là người khai sơn, tạo tự, xây dựng lên ngôi chùa này" là con liền tác ý, đánh tan ý hành này "mày là một du khách, không khác gì với những người khách đi tham quan", "mày cũng như bao nhiêu du khách lại đây tham quan", "mày là kẻ ăn xin, kẻ ăn mày thì tiền đâu mà xây cất", "tiền của ai mà mày xây cất ngôi chùa này để mày làm trụ trì", "tỉnh ra đi, đừng ngu mê nữa".
Sau đó con đứng ở vị trí của một du khách tại Cổng Trời, chính vì vậy con mới có thể ở trong thất đóng cửa độc cư. Nếu nghĩ mình là chủ thì làm sao mình nhập thất nổi? Ngoài đây xây dựng ra sao con còn không biết, khi ra ngoài thấy mọi người làm trật thì cũng không sao, không để cho cái tâm mình bị giao động. Như nhà vệ sinh phía sau, lúc đầu con dặn dò làm sát bờ vách đất, chạy theo bờ vách đất, che ra cái mái là xong cái nhà vệ sinh.
Hôm đó có một chú chụp hình gửi con xem, khi thấy làm khác với những gì con dặn thì cảm thọ trong con bị biến động là con tác ý mạnh mẽ ngay lập tức "Mày lấy nhà vệ sinh làm sự nghiệp tu hành hay mày phải lấy sự nhiếp phục cái tâm, bản ngã, sân hận làm đạo hạnh?", "mày chọn toa-lét hay chọn cái thân tâm được an tịnh?". Khi con tác ý mạnh như vậy thì cảm thọ tan biến luôn, đến khi con ra thất thì thấy cũng được, không có gì lớn lao.
Dù cho mình sống ngay trong căn nhà của mình, ngay trong căn phòng của mình, ngay trong tịnh thất của mình nhưng mình phải biết rằng tất cả những cái đó là dùng tạm, ngay cả cái thân này cũng là tạm bợ. Biết được như vậy mình sẽ có cảm giác bình an kì diệu giữa cuộc đời này vì tất cả đều là đồ dùng tạm, không có gì là tôi, không có gì là của tôi. Phải làm cho trí huệ này thẩm thấu trong máu thịt, trong xương tủy của mình để chứng nhập được trí huệ đó. Phải tác ý liên tục, quán chiếu thường trực, phải đi đến chỗ không còn giai cấp. Không còn giai cấp thì làm gì có trụ trì? Không giai cấp thì làm gì có địa vị sư phụ?
Cho nên khi mọi người quỳ lạy gọi sư phụ là con nhìn lại thân tâm ngay xem có cảm thọ xấu sanh khởi không, nếu có là đánh đuổi ngay, làm đến như vậy nhưng cũng có khi sơ suất để sót, cũng có lúc thấy ngọt ngào, dễ chịu khi nghe gọi sư phụ. Thế là phải tác ý ngay "mày chết đi, không có ai ở đây hết", "cái đồ hèn hạ, cái đồ ăn xin". Khi đã thoát ra khỏi những cái cung kính, đảnh lễ, tôn trọng thì cái tâm có cảm thọ lắng dịu, và khi người ta mắng nhiếc thì cũng giống vậy, cái tâm cũng nhẹ giống như khi mình được khen.
Mình nhiếp phục sự chạy theo lời khen được thì khi bị nói nặng mình cũng nhiếp phục được cảm thọ ngay lúc đó, không bị sân hận, không ưa thích, khoan khoái giữa cái khen và cái chê. Không bị giao động quá nhiều mà chỉ bị giao động nhẹ thôi, chứ chưa đến bất động tâm giải thoát. Tu như vậy thì từng giây từng phút rất thú vị. Thấy ở một mình chứ trong nội tâm là đánh trận ngàn binh thiên tướng, thấy ngồi im re vậy chứ là Tọa Bồ-đề tòa, Đại phá ma quân. "Ta nay đi đến tình trạng là người không có giai cấp" tức là đi đến trí tuệ vô ngã.
Có khi mình sẽ nghĩ "Sao tu khổ quá vậy? Phải có khen, thưởng chút gì chứ?", nếu như vậy thì mình cứ trôi nổi, thăng trầm mãi thôi. Trong cái trôi nổi đó hễ khen là sẽ bị dính mắc tham, dục, ái. Chê là mình sân hận, chê mạnh là sẽ xảy ra đánh nhau rồi tương lai sẽ đi đến tù tội hoặc là rất dễ đi đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cái khổ trong sự tu hành đưa đến vĩnh viễn không còn khổ, còn cái kia thấy vui nhưng đưa đến vô số, vô lượng vô biên khổ, không có ngày cùng tận, còn cái khổ này đi đến chỗ diệt khổ. Đây là chỗ tuyệt diệu của Diệt Khổ Chi Đạo.
Thành ra mình lạy để thực tập đi đến tình trạng không có giai cấp, ở ngoài người ta có thể gọi là sư cô, là thầy, đại đức, thượng tọa, Hòa thượng, còn mình nhìn vô nội tâm phải là trống rỗng, trống không, nhìn vào chỉ thấy lá lách, dạ dày, phân, nước tiểu, máu mủ hiện ra.
Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: "Ðời sống của ta tùy thuộc vào người khác". Tại sao đời sống của mình phụ thuộc vào người khác? Vì phải xin sự bố thí, cúng dường, sự phát tâm của Đàn-na tín thí. Hoàn toàn đời sống của mình không trồng mà có gạo ăn, không có dệt mà có vải mặc, không nấu nướng mà có người dâng cơm tận miệng, không đổ giọt mồ hôi nào mà có người xây chùa, xây phòng cho ở. Tất cả những cái đó là đời sống của ta tùy thuộc vào người khác. Con đã nói "không có đồng bạc nào xây thì làm gì có chùa mà trụ trì? Tất cả những cái này là của người ta".
Của thập phương bá tánh làm lại cho thập phương bá tánh, còn mình là bần Tăng, vô sở hữu. Chữ Tăng đúng ra là Tăng đoàn nhưng gọi quen rồi thành ra vậy, là một ông thầy nghèo, người tu là người nghèo. Không có chất chứa, tích góp gì hết, con chỉ thấy thương cho những người khi họ nói đất ở đây rộng, chùa đẹp. Bây giờ còn thêm chuyện chùa giàu, chùa nghèo, thầy đó giàu quá, sư cô giàu quá. Con nghe chỉ thấy xót xa, nhiều khi giống như xát muối, xát chanh vào vết thương. Tại sao người xuất gia có thể phát biểu như vậy?
V. Dặn dò tu học
Tại sao có vấn đề chùa giàu, chùa nghèo? Họ hoàn toàn không biết bản chất thật sự của người tu, họ ở trong vô minh như vậy thì làm sao đi đến minh? Tất cả đời sống của mình đều phụ thuộc vào người khác, từ giọt nước, chén cơm manh áo, từng viên gạch, từng cái ghế, từng cái chuông, cái mõ cho đến từng cuốn kinh sách. Mình thỉnh cuốn kinh mà lỡ có ai thấy hay lấy cuốn kinh đọc, lấy mà không hỏi mà ngay cuốn mình thích thì tâm mình sẽ như thế nào? "Cuốn kinh đó là của tôi" hay sao?
Mình vẫn có khả năng đi thỉnh quyển khác, mình tùy hỷ cho người khác học pháp, đó là quy y pháp, là tôn kính pháp, là tùy hỷ pháp, là chia sẻ pháp. Không những không có tâm sân, không có tâm chấp là của tôi mà còn phát sanh ra thiện pháp công đức, tùy hỷ sự học pháp của huynh đệ, của người khác. Cái này làm dễ hay khó? Phải tập làm cho được, không những kinh sách mà tất cả những vật dụng khác trong đời sống sinh hoạt đều có thể thí xả, vì nó không phải của mình. Làm được những điều này thì rất tuyệt vời.
Báo Giác Ngộ có đăng tin Phật giáo nguyên thủy của bên Úc, chùa của các sư Nam tông bị cháy vì Úc đang cháy rừng, đám cháy lan tới chùa của sư, tìm đủ mọi cách dập lửa mà dập không nổi vì vụ cháy rất lớn, cháy dữ dội. Người ta phỏng vấn thì sư rất bình an, nói chuyện một cách nhẹ nhàng, không có khóc than vì thường ngày đã thực tập quán chiếu. Còn mình bình thường ráng gom góp mà lỡ cháy rụi thì lúc đó mình ra sao? Mỗi lần nghe Phật tử nói tội nghiệp sư cô hay thầy là con thấy nhục.
Phải thực tập, thực hành tích tập vô thường tượng, luôn luôn thực hành tích tập bất tịnh tượng, luôn luôn thực hành tích tập nguy hại tượng, luôn luôn thực hành và tích tập ly tham tượng. Phải thường thường thực hành để thấy tính chất tiêu vong, bại hoại của sắc uẩn này. Phải quán tưởng đến mức có thể chút nữa đất rung động, sụp xuống làm mình lọt xuống, chôn mình dưới đó. Ở miền Trung có chỗ bị động đất mà nào giờ chỗ đó chưa từng bị như thế nay lại bị. Nguy hại tượng là quán tưởng sự nguy hiểm, tác hại của những thứ này. Phải học và quán thì mới hiểu được, mới cảm động, rúng động để mình thấy tất cả mọi cái đều không phải của mình. Con trông coi chùa Bửu Liên và Linh Quy mà con không biết đến đồng bạc, tiền con giao hết nhưng lại thấy nhẹ nhàng.
Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: "Nay cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi!". Cái này là cả một đề tài quán chiếu và tu học suốt cả cuộc đời, những điều này là những điều vô giá. Đúng ra người xuất gia phải hơn cả phong cách của hoàng thất. Dù cho có là thái tử, hoàng tử hay vua thì phong cách cũng không thể so sánh với oai nghi, sự chánh niệm và tỉnh giác của người xuất gia nếu đó đúng mức là người xuất gia. Cho nên vua Ba-tư-nặc có vẻ nhiều khi ganh tị với Đức Phật và các vị Tỳ-kheo.
“Bạch Thế Tôn, con có bao nhiêu là sơn hào hải vị, lầu vàng điện ngọc, bao nhiêu thực phẩm bổ dưỡng được con hưởng thụ đầy đủ nhưng con thấy các vị Tỳ-kheo ngày ăn 1 bữa, ngủ dưới gốc cây đơn sơ chỉ có tấm y mà mặt mũi hồng hào, thần sắc tươi nhuận, dáng vẻ phong thái đỉnh đạc, dung nghi.”
Thậm chí chư Thiên cũng còn so bì với các thầy Tỳ-kheo vì giới đức, giới hạnh, oai nghi làm cho thân tâm an tịnh, lắng dịu, chánh niệm tỉnh giác, thư thới, thông thả trong thiền tịnh. Cho nên mình đi thiền hành là tập đi trong chánh niệm, khi đã tập đi được trong chánh niệm trong thiền đường thì mình mở rộng thực tập ở ngoài thiền đường vì người xuất gia đi là phải khác với người phàm phu. Cái ăn của người xuất gia không thể giống với cái ăn của người đời.
Cái nói cũng vậy, tất cả cử chỉ, oai của mình phải ở trong Thân Hành Niệm. Mình phải học niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động. Thân Hành Niệm là tuyệt đối quan trọng, đây là hương vị của bất tử. Khi mới tu vào thì thấy rụt rè, e dè, xấu hổ, mắc cỡ như cô dâu mới vào nhà chồng, khi đã ở một thời gian thì cô dâu nói với chồng, với cha chồng "Ông thì biết cái gì", thậm chí trong kinh nói cô dâu mới về còn e dè với ngay cả người làm công, tới khi ở một thời gian thì quát mắng, khinh thường.
Cũng vậy, ở trong chùa một thời gian là không còn trên trước gì nữa, ngay cả Phật tử cũng ở giống như nhà của mình, giống như chùa của mình luôn, quyền hành thiên hạ nắm trong tay. Thành ra cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi! là điều hết sức quan trọng, cái đi đứng, ngồi, nằm, cử chỉ hành động phải được kiểm soát, được xem xét, huấn luyện. Đó gọi là nghệ thuật, đi cũng có nghệ thuật, ngồi cũng có nghệ thuật, nghe pháp cũng có nghệ thuật, ăn cũng có nghệ thuật vì nếu không có nghệ thuật thì sanh ra dục, tham, ái, sân si, còn khi có nghệ thuật thì tẩy được tham dục ái, sân si, quán chiếu được tính vô thường, bại hoại của tứ đại.
Cái nào cũng có nghệ thuật trong đó, mà đó là nghệ thuật của chánh niệm, của tỉnh giác, của sự thay đổi và làm mới thân tâm mình. Đây chính là thọ trì và tăng thượng giới. Mình nói "Nào giờ tôi đi như vậy, nói như vậy quen rồi, tôi sửa không được", nếu vậy là không có thọ, đã không thọ nhận thì không có trì, càng không có tăng thượng.
Không chịu sửa, không chịu thay đổi, không chịu chỉnh đốn. Có nhiều người ở trong chùa tới già mà không có oai nghi, tế hạnh gì hết, ngồi tréo chân, nhịp đùi hút thuốc thì còn gì người tu nữa? Sư cô thì xắn tay áo, nói huyên thuyên, mới bước vào cổng chùa đã nghe la lối, nói chuyện vang vọng, cười đùa dưới bếp. Chính vì mình làm như vậy cho nên người Phật tử mất niềm tin, mất sự tín tâm, mất sự cung kính.
Mình không có chất của người tu, mình chỉ khác cái đầu với cái áo, còn ngoài ra bên trong không có gì khác hết, những tập khí, thói quen, giang san dễ đổi bản tánh khó dời, không chịu thay đổi mà ai góp ý là giận, sư phụ nói cũng buồn nữa, chứ đừng nói chi huynh đệ, rồi bỏ đi chùa khác, tìm chỗ nào cho khỏe, khỏi ai nói gì nữa. Rồi trở thành du Tăng, vất vơ vất vưởng, đi lang thang. Thật là khổ! Đau lòng lắm!
Cho nên cử chỉ, oai nghi của mình phải thay đổi. Phải để tâm vào để thay đổi. Mình nhìn mình rõ hơn ai hết, không cần ai nhìn mình. Mình xem cái tật, cái bệnh mình chỗ nào là trị ngay chỗ đó là nhanh nhất. Trong Tứ Niệm Xứ, khi đi đứng, nói năng đều tỉnh giác, đắp y- ôm bát đều tỉnh giác, đại tiểu tiện đều tỉnh giác. Đó là chỗ cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi. Minh Thành thường nói có 3 cấp độ của người tu:
Thứ nhất là thay da đổi thịt; thứ hai là thay xương đổi cốt; thứ ba là siêu phàm nhập thánh. Oai nghi, cử chỉ bên ngoài mà thay đổi thì gọi là thay da đổi thịt, đây là lớp đầu tiên mà mình làm không được thì làm sao bước qua lớp thứ 2? Kế đó là sự Như lý tác ý, quán chiếu, nhận diện năm uẩn, đánh phá dục, tham, ái, vô minh bên trong thì gọi là thay xương đổi cốt. Thay xương đổi cốt xong là siêu phàm nhập thánh, đây là kết quả sau cùng.
./.
XUẤT GIA PHẢN TỈNH 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đời sống xuất gia cao thượng PAGEREF _Toc114058642 \h 1
II. Ba hạnh Sa-môn PAGEREF _Toc114058643 \h 2
III. Từ hòa – cung kính PAGEREF _Toc114058644 \h 7
IV. Nhắc nhở đời khất sĩ PAGEREF _Toc114058645 \h 9
V. Dặn dò tu học PAGEREF _Toc114058646 \h 13
I. Đời sống xuất gia cao thượng
Ngày đầu tiên các sư cô về đây do nhu cầu tu học thì con có nói tuy rằng chỉ có 10 người xuất gia thì cũng phải có khóa tu cho người xuất gia. Đời sống của người xuất gia là đời sống cao thượng, hiền thiện, thoát tục, ly trần, siêu dật ngoại. Nhiều khi con một mình đi thiền hành trên núi, chống gậy trúc đứng trên đồi cao nhìn đại ngàn thênh thang, mây bay, chim hót, mặt trời lên, có lúc con rưng nước mắt vì hạnh phúc, vì hỷ lạc và con nở nụ cười nhẹ.
Con để cảm giác toàn thân lan tỏa từ đỉnh đầu đến gót chân, sung mãn tràn ngập một cảm giác hỷ lạc an vui, tịnh lạc, con để cảm giác này lan ra khắp không gian, khắp bốn phương tám hướng, trên dưới. Một mình đứng trên đỉnh núi cầm gậy trúc nhìn trời mây, nghĩ rằng không biết trong quá khứ mình đã gieo được phước duyên gì, phước báu gì mà trong giờ phút này, trong kiếp sống này mình có thể thoát ra được những tục lụy, những phàm tục, những thói tục, những cái phàm tình thế sự, thế lợi, thế vật và thế tình. Con thầm biết ơn một cách sâu xa vô cùng tận đối với Đức Thế Tôn, đối với thánh pháp, đối với bốn đôi tám chúng hiền thánh Tăng là ruộng phước vô thượng ở trên đời và biết ơn sâu sắc đối với thánh giới.
Đời sống của người xuất gia cao thượng lắm! Đẹp lắm! Thù thắng lắm! Siêu việt lắm! Đây là một đời sống tối thượng trong tất cả nhân sinh, là sự sinh hoạt thoát tục. Hãy trân quý điều này, hãy nâng niu và tôn trọng đời sống này, hãy biết gìn giữ, bảo vệ, quý trọng. Nếu kiếp này không phải là kiếp cuối cùng, còn đời sau nữa thì con nguyện vĩnh viễn ở trong hình tướng của người xuất gia, không chọn hình tướng cư sĩ. Nếu kiếp này là kiếp cuối cùng là quá tuyệt vời, còn không thì con cũng nguyện cho đến khi lậu tận, thành tựu Chánh Giác là ở trong hình tướng của người xuất gia. Đẹp đẽ thay viên đảnh phương bào! Đẹp tuyệt diệu đầu tròn áo vuông! Một chiếc huỳnh y không vướng mùi tục lụy, giũ bỏ mái tóc yêu thương và khoác lên mình tấm Cà-sa, bước lên ngọn núi Linh Quy. Một mình trong am vắng, tình thương trải khắp đại ngàn. Còn niềm hạnh phúc nào bằng niềm hạnh phúc này? Phải hân hoan, hãy vui sướng, hãy hạnh phúc, hãy làm cho mình sanh khởi thật nhiều hỷ lạc trong hình tướng của người xuất gia, hãy làm cho mình sanh thật nhiều hỷ lạc trong sự học thánh pháp, hãy làm cho mình sanh thật nhiều hỷ lạc khi Tăng-ni hội tụ, đoàn kết cùng tu.
Vui thay, Phật ra đời!
Vui thay, Pháp được giảng!
Vui thay, Tăng hòa hợp!
Hòa hợp tu, vui thay
(Kinh Pháp Cú - Phẩm Phật Đà)
Mình phải ý thức thật là sâu sắc những nghi thức, ý thức thật là sâu sắc bản chất của người xuất gia, ý thức thật là sâu sắc sự cao quý, cao đẹp, thánh thượng của người xuất gia. Cho đến ngày giờ này, con ở trong chùa đến bạc đầu thì con mới thấy được giá trị thật sự của người xuất gia.
II. Ba hạnh Sa-môn
Chúng ta hằng tụng Căn bản trí, chúng ta thường tụng người xuất gia phải như thế nào. Người xuất gia mà không có ước muốn sắc bén thì không phải người xuất gia. Thế nào là ước muốn sắc bén?
“Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng định học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn
Ví như, này các Tỳ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò", nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo". Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỳ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo".
Do vậy, này các Tỳ-kheo, cần phải học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập”
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, 81.- Sa Môn).
Những lời này mình phải chiêm nghiệm 30 năm chứ không phải dễ, nghe đọc xong là rồi. Thế nào gọi là thọ trì? Thế nào gọi là tăng thượng?
Thọ là nhận, trì là giữ gìn. Khi mình được truyền giới, được trao giới, được trao học pháp từ các bậc tam sư thất chứng, giáo thọ A-xà-lê thì mình phải thọ nhận. Thọ nhận xong thì phải gìn giữ và phải tăng thượng. Cho nên không phải đọc xong là có thể hiểu dễ dàng.
Có 3 cấp độ: Thứ nhất là thọ; thứ hai thì trì; thứ ba là tăng thượng. Nhiều khi nhắc nhở mình giữ gìn oai nghi, giới hạnh mà mình không chịu, không bằng lòng. Đó là không thọ, bước đầu đã không thành tựu thì làm sao trì? Mình không nhận thì làm sao giữ? Cho nên nhắc 2-3 lần là khỏi nhắc nữa vì mình không chấp nhận học pháp. Trong giới luật không cho đi đánh đằng xa, không cho cười lớn tiếng, không cho ca hát mà mình không thọ nhận, người xuất gia mà cầm đàn ca hát cho cư sĩ nghe. Đây là điều đau xót vô cùng! Thật sự khi nhìn thấy những hình ảnh đó mà rưng nước mắt vì xót xa. Ca hát là đồng nghĩa với việc than khóc trong giới luật của bậc thánh, cười lớn đồng nghĩa với điên loạn trong giới luật của bậc thánh. Việc này đồng nghĩa với việc không có hộ trì căn, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn. Bây giờ có được bao nhiêu người gìn giữ việc này? Mấy người nghe cái này, gìn giữ cái này, truyền trao cái này?
Người xuất gia ơi hãy tỉnh đi! Có khi tu trong chùa suốt đời cũng chưa nghe những lời này. Xuất gia phải nên phản tỉnh, thật sự nhiều lúc con không muốn xuống núi giảng dạy nữa, con vào trường Phật học, giảng xong là con gục đầu đi ra vì đau lòng. Mình không thọ thì làm sao mình trì? Học pháp, giới pháp mình đã không nhận thì làm sao giữ? Mình thọ, mình trì mà còn sơ suất, xấu hổ, nhục nhã, nhìn lại nội tâm vẫn còn dục, tham, ái đầy rẫy chứ đừng nói không thọ, không trì rồi làm sao tăng thượng? Rồi cuối cùng người xuất gia chỉ còn hình thức, bên trong là sự trống rỗng, trống không mà Đức Phật gọi là vô tích sự.
Sự xuất gia của các ông là vô tích sự, là rỗng tuếch.
Mình đọc bài kinh này thì phải chiêm nghiệm. Sau khi mình thọ nhận những cái học pháp, thọ nhận những giới luật, những nội quy, những sự nhắc nhở của các thầy lớn, của các sư cô lớn, của các huynh đệ, các bạn đồng tu thì mình phải thọ nhận, tức là chấp nhận học pháp. Sau đó phải nâng niu gìn giữ như giữ đồ quý giá. Tiếp theo đó là làm cho thêm lên, cho tăng thượng lên, làm cho giới được thêm lớn lên, nâng cao giới học, nâng cao giới hành, nâng cao giới đức.
Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta thọ trì tăng thượng giới học. Đức Phật dùng từ sắc bén để diễn tả ước muốn, tức là ước muốn đó hết sức mạnh mẽ, quyết liệt. Đó là Dục Như Ý Túc. Mình phải làm cho ước muốn tiếp nhận, giữ gìn, phát huy cái giới đó mạnh mẽ, sắc bén, phát triển tăng trưởng quảng đại cho đến khi đi đến viên mãn giới. Còn đằng này sống vất vơ vất vưởng, sống lang thang, hết chạy chỗ này đến chạy chỗ kia, rồi bây giờ còn tổ chức đi chơi, cái dục lôi kéo mà không hay biết. Có khi tự hào là mình đi nhiều chỗ, còn ở yên là không chịu.
Ngồi thiền là không được, ở một mình cũng không được, cho nên trong mười điều quán sát của người xuất gia, mình có hoan hỷ khi ở trong ngôi nhà trống không? Nếu không hoan hỷ, vui vẻ khi ở trong căn nhà trống là mình đã thiếu cái chất của người xuất gia. Căn nhà trống có nghĩa là trống tivi, trống điện thoại, trống Facebook, Zalo, trống những trò tiêu khiển của dục để chuyên tâm hành trì. Thành ra, thật sự để người xuất gia nhận thức chính xác về bản chất của người xuất gia là cả một vấn đề, để người xuất gia tự hiểu được bổn phận, trách nhiệm của người xuất gia là cả một vấn đề chứ không phải chuyện đơn giản.
Nếu như người đó thật sự hiểu được một cách đầu đủ, trọn vẹn về bổn phận, trách nhiệm, về con đường, về việc mình phải làm thì người đó tối thiểu phải từ hướng Dự lưu đến Nhập lưu thánh quả thứ nhất. Nhưng chuyện này không khó nếu mình học đúng chánh pháp, còn nếu học không đúng thì không làm được. Vì vậy suốt cuộc đời của mình tu trong cái mù, trong cái vô minh, hướng ngoại, lấy dục lấy tham mà tưởng là công phu, lấy bản ngã để làm sự nghiệp.
Thành ra phải có một ước muốn sắc bén để tiếp nhận, giữ gìn, tăng trưởng, phát triển Giới – Định Tuệ. Tức là hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây để tâm vào giới, vào định, vào trong thánh tuệ. Làm cho nó tăng trưởng, phát triển, làm cho nó lớn mạnh từng ngày, từng giờ. Đó gọi là Tỳ-kheo đúng nghĩa Tỳ-kheo, Sa-môn hạnh. Sa-môn hạnh là điều mà người xuất gia phải làm, cái việc người tu phải làm, cái đức hạnh mà người tu sĩ phải thực hành, gọi là Sa-môn hạnh. Lúc nào cũng phải nhìn lại xem cái tâm được định nhiều chưa? Hay còn giao động khi xúc sanh thọ hay bị ái, sân, bản ngã.
Cảm thọ chưa được lắng dịu, chưa được an tịnh, nó liên tục làm cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức hiện hữu. Những chúng sanh là làm cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức hiện hữu liên tục trong thân tâm, lúc nào cũng có cảm giác, lúc nào cũng có hình bóng, lúc nào cũng có tính toán. Nếu những cảm giác, suy nghĩ, quán chiếu về thánh pháp thì phát huy, còn đằng này suy nghĩ theo lậu hoặc, cảm giác theo dục tham, vận hành theo bản ngã và vô minh.
Chứ không phải tu là để cái tâm im ru, có một thầy cứ nghĩ tu là để cho cái tâm yên định rồi bừng lên là giác ngộ, giống như con 10 năm về trước, bao nhiêu vọng tưởng khởi lên là buông bỏ rồi ngồi im ru, bất chợt bừng lên rồi hoát nhiên đại ngộ. Điều này hoàn toàn phi nhân quả, điều đó không thể xảy ra. Trong kinh Nikāya, Đức Phật đã từng nói trong giáo pháp của Như Lai không có chuyện cầu may, không có chuyện thình lình giác ngộ mà phải đi theo trình tự. Học rồi mình sẽ thấy thật sự người tu là như thế nào, vì người tu là ruộng phức vô thượng ở trên đời, còn ngược lại là kẻ nợ vĩ đại trên thế gian.
Cho nên đừng làm con lừa, nó không có màu sắc, không có tiếng, không có cái chân, mà phải thật sự là Tỳ-kheo trong hàng Tỳ-kheo, bò thì phải ra con bò chứ không phải con lừa lẫn lộn trong đó. Con dơi gọi là điểu thử Tăng, gặp đàn chim cũng gọi mình là chim, gặp chuột cũng gọi là chuột, mà nó không phải là chim, không phải là chuột.
Đó gọi là điểu thử Tăng, ông thầy chim chuột, chim không ra chim, chuột không ra chuột, hễ nó gặp chim thì đưa cánh ra bay gọi là chim, gặp chuột thì xếp cánh gọi là chuột. Đó là người không có một cái tâm, không có ước muốn thực tập giới hạnh, giới đức, giới pháp mà sống trong một đời sống ẩn dương nương Phật, qua ngày đoạn tháng, trơ trơ theo tham sân si, bản ngã để tìm danh tìm lợi. Đó không phải là đệ tử của Như Lai, dù cho ở trong chùa suốt đời thì cũng đọa lạc.
Hoặc gọi là lạm xí Tăng luân, nghĩa là lẫn lộn, làm cho ô uế trong Tăng đoàn. Cho nên mình đọc thì phải thấy hổ thẹn, xấu hổ, mình thấy phải phấn đấu và tiến lên. Đó là chất liệu của người xuất gia, phải có ước muốn hết sức sắc bén, luôn luôn khao khát, hi vọng, ước vọng chứ không phải tu là không còn muốn gì nữa. "Tôi tu là tôi không còn muốn gì nữa", có thật như vậy không? Phải ước muốn viên mãn giới, phải muốn tròn đầy đỉnh, phải muốn rực sáng thánh tuệ. Được như vậy thì người tu rất đẹp.
Con sẽ thực tập hạnh quỳ lạy diệt ngã đối với đại chúng và cung kính ruộng phước vô thượng trên đời, nhất là với các sư cô đã giữ giới hạnh, điều mà con còn chưa làm được.
III. Từ hòa – cung kính
Chất liệu của người xuất gia chúng ta là hòa hợp và cung kính. Đức Phật dạy khẩu nghiệp từ hòa, thân nghiệp từ hòa, ý nghiệp từ hòa. Hãy nhớ phân biệt cho kỹ từ và ái, hai cái này rất dễ lẫn lộn, nếu mình không có chánh tri kiến thì cái mà mình gọi là từ nhưng có ái trong đó mà mình không biết. Cho nên nam nữ là phân biệt, Tăng-ni là phải rõ ràng. Hòa nhưng kính chứ không phải lẫn lộn, không có trên dưới, không có trước sau, không có tôn ti trật tự.
Trong thanh quy đạo tràng Nikāya ghi rất kỹ điều này, còn nếu mình không để tâm vào trong giới, không nhìn sâu sắc thì cái mình cho là tốt thì chưa hẳn là tốt. Chính cái mình cho là tốt nó sẽ hủy hoại sự nghiệp đạo hạnh tu hành của mình, hãy coi chừng với những thủ đoạn tinh vi của dục, tham và ái, phải dùng kính hiển vi phóng đại trăm ngàn lần để kiểm tra xem nó là gì chứ đừng nghĩ theo kiểu hời hợt, đơn giản. Không nhận diện năm uẩn sâu sắc và thấu đáo thì giữa từ và ái sẽ lẫn lộn vào nhau, hoặc đó chỉ thuần túy là ái mà mình nghĩ là từ bi.
Nếu chưa thành tựu chánh tri kiến, chưa nhìn được bằng trí năm uẩn thì cái thương của mình đều là tham ái, chừng nào thấy được đó là tứ đại, năm uẩn, đó là bộ xương, giống như mình quán tử thi thì lúc đó thương mới gọi là từ. Phải tới mức độ sâu sắc như vậy chứ không phải cái từ bi của đạo Phật là đơn giản, không đơn thuần mà có thể trải được từ vô lượng tâm.
Khi đã học được dòng pháp này cộng thêm quán chiếu ngũ uẩn thì mình sẽ bất ngờ, những cái mình tu học hiểu trước nay đều không đúng, nó sẽ phanh phui hết tất cả, vén bức màn bí mật vô lượng kiếp vừa qua. Tâm thức của mình là một kho tàng bí mật, chỉ có thánh trí năm uẩn mới có chìa khóa mở được cánh cửa này và chỉ có ánh sáng của thánh tuệ Chánh Đẳng Chánh Giác mới có thể soi ánh mặt trời vào để mình nhìn ra được.
Ngoài ra tất cả đời sống của mình, từ suy nghĩ, cảm giác, tưởng tượng đến nhận thức chỉ toàn là vô minh và khát ái vận hành. Đây là chỗ hết sức sâu sắc, mình phải để tâm vào việc nhận diện năm uẩn, quán chiếu các cảm giác để nhìn ra ngũ uẩn, từ đó nhìn ra cơ chế vận hành và hoạt động của vô minh và tham ái. Nhìn ra được thì mình mới có thể từ từ thoát ra khỏi nó.
Tại sao mình có tấm thân này? Từ vô minh và khát ái mà biểu hiện thành. Cho nên đây là chỗ quán chiếu sâu sắc. Mình tập nhìn các cảm giác vận hành rồi mình sẽ thấy, thành ra Đức Phật dạy trong Tăng Chi Bộ kinh mười điều mà người xuất gia phải luôn luôn quán sát, mình phải học thuộc lòng. Rất tiếc là Minh Thành đã có tuổi, còn các thầy, các cô còn trẻ thì phải cố gắng học thuộc mười điều này. Rất tuyệt vời. Nếu lúc xưa con học được những cái này thì quá tuyệt vời, bây giờ phải là đệ tam quả rồi. Điều đầu tiên là mình phải quán sát như thế nào?
“Ta nay đi đến tình trạng là người không có giai cấp”
(Tăng Chi Bộ kinh, Chương X. Mười Pháp, V. Phẩm Mắng Nhiếc, (VIII) (48) Các Pháp).
Ở Ấn Độ có các giai cấp Bà-la-môn, là những người tu hành được mọi người tôn kính và vua chúa, sau đó là những người trung lưu làm ăn buôn bán, cuối cùng là giai cấp thấp nhất là nô lệ làm thuê. Bây giờ người xuất gia đi đến tình trạng không có giai cấp nào hết. Có một bài kinh mà Đức Phật nhắc nhở sách tấn các thầy Tỳ-kheo:
Ngoài đời người ta gọi các ông là đồ ăn xin, người chìa tay ra xin người ta là kẻ hèn hạ nhất trên cuộc đời này.
Mình phải thường quán chiếu như vậy, đó là giai cấp của người xuất gia, mỗi khi kiêu ngạo, kênh kiệu, ta đây, mỗi khi cho rằng xuất gia là cao thượng là phải tác ý thường trực trong thân tâm "giai cấp hèn hạ nhất trong cuộc đời này là đồ ăn xin, đồ ăn mày". Khi nãy mình nói đời sống xuất gia là thánh thiện, bây giờ sao nói xuất gia là kẻ đi ăn xin? Khi bản ngã sanh khởi là dùng cái này để đánh phá bản ngã, còn khi tu tập trong giới hạnh đúng đắn, thanh tịnh, cao thượng thì đó thật sự là thánh thiện, còn đi theo bản ngã thì không còn cao thượng nữa mà là thấp hèn. Phải nhìn từ nhiều góc độ để mình đối trị cái tâm của mình. Chỗ tử huyệt của người xuất gia chính là bản ngã, vì người xuất gia không học cái này, sự cung kính, đảnh lễ, cúng dường là của người Phật tử. Với họ, quan niệm như vậy là đúng nhưng với tự thân mình thì phải quán chiếu:
IV. Nhắc nhở đời khất sĩ
Học đạo trước cần phải học nghèo
Nghèo rồi đạo thể mới được thân
Từ xưa Cổ đức xưng: “Bần đạo”
Đạo dụng lại đồng với kẻ nghèo
(Thiền sư Long Nha)
Hai chữ khất sĩ nghĩa là kẻ ăn xin, nói thẳng là đồ ăn xin, đồ ăn mày. Con nói thì sẽ có những người có sinh ra cảm giác khó chịu, nếu có những người thấp hơn mình nói câu này thì mình dễ chịu hay khó chịu? Cái bản ngã khó chịu, mình phải tập nghe điều này cho quen. Do người Phật tử cung kính, tôn trọng thì trở thành nề nếp quen trong cuộc đời, mà cái này là thế gian pháp. Còn xuất thế gian pháp là người tu phải thành tựu được cái trí vô ngã mới bước vô cánh cửa chánh tri kiến đầu tiên.
Cho nên khi thấy người ta cung kính, thấy người ta khom người lễ lạy, thấy người ta chắp tay, thấy người ta cúng dường thì mình tưởng là mình ngon, mình cho rằng cao, mình cho rằng mình lớn, mình cho rằng mình là một bậc gì đó. Chỗ này chính là tử huyệt, đời tu của mình coi như sụp đổ mãi mãi và vĩnh viễn, không có ngày cất đầu lên nếu không phá được tư tưởng đó. Mình phải tâm tâm niệm niệm "cái đồ ăn mày", "cái đồ ăn xin", bưng chén cơm ăn thì phải quán "Đó là bình bát". "Đây là những thứ mày được người ta bố thí. Đây là thứ mày được người ta cho. Đây là đồ ăn thừa của người khác cho. Mày đừng có vênh váo, mày đừng có lên mặt, mày đừng có cao ngạo".
Mỗi khi cầm bát, múc cơm là phải tác ý như vậy, mỗi khi đắp y lên là tác ý "Ngày xưa đây là vải rách trong nghĩa trang". Như vậy mới đánh vào được cái tôi, cái ta, cái bản ngã, cái phô trương khoe khoang. Phải đập vỡ tất cả những thứ bậc, địa vị, tên gọi: Một vị thầy, một vị sư cô, một vị trụ trì, một vị sư phụ, một vị thượng tọa, đại đức, Hòa thượng,…
Phải phá tan, phá nát hết tất cả những thứ này để không còn một giai cấp nào. Đây là điều phải luôn quán sát thứ nhất của người xuất gia. Nhiều khi con nói mà có một số người không biết họ tưởng con bị gì, con đứng ở Quán Chiếu Đường trong tâm vừa sanh khởi lên "mình là người khai sơn, tạo tự, xây dựng lên ngôi chùa này" là con liền tác ý, đánh tan ý hành này "mày là một du khách, không khác gì với những người khách đi tham quan", "mày cũng như bao nhiêu du khách lại đây tham quan", "mày là kẻ ăn xin, kẻ ăn mày thì tiền đâu mà xây cất", "tiền của ai mà mày xây cất ngôi chùa này để mày làm trụ trì", "tỉnh ra đi, đừng ngu mê nữa".
Sau đó con đứng ở vị trí của một du khách tại Cổng Trời, chính vì vậy con mới có thể ở trong thất đóng cửa độc cư. Nếu nghĩ mình là chủ thì làm sao mình nhập thất nổi? Ngoài đây xây dựng ra sao con còn không biết, khi ra ngoài thấy mọi người làm trật thì cũng không sao, không để cho cái tâm mình bị giao động. Như nhà vệ sinh phía sau, lúc đầu con dặn dò làm sát bờ vách đất, chạy theo bờ vách đất, che ra cái mái là xong cái nhà vệ sinh.
Hôm đó có một chú chụp hình gửi con xem, khi thấy làm khác với những gì con dặn thì cảm thọ trong con bị biến động là con tác ý mạnh mẽ ngay lập tức "Mày lấy nhà vệ sinh làm sự nghiệp tu hành hay mày phải lấy sự nhiếp phục cái tâm, bản ngã, sân hận làm đạo hạnh?", "mày chọn toa-lét hay chọn cái thân tâm được an tịnh?". Khi con tác ý mạnh như vậy thì cảm thọ tan biến luôn, đến khi con ra thất thì thấy cũng được, không có gì lớn lao.
Dù cho mình sống ngay trong căn nhà của mình, ngay trong căn phòng của mình, ngay trong tịnh thất của mình nhưng mình phải biết rằng tất cả những cái đó là dùng tạm, ngay cả cái thân này cũng là tạm bợ. Biết được như vậy mình sẽ có cảm giác bình an kì diệu giữa cuộc đời này vì tất cả đều là đồ dùng tạm, không có gì là tôi, không có gì là của tôi. Phải làm cho trí huệ này thẩm thấu trong máu thịt, trong xương tủy của mình để chứng nhập được trí huệ đó. Phải tác ý liên tục, quán chiếu thường trực, phải đi đến chỗ không còn giai cấp. Không còn giai cấp thì làm gì có trụ trì? Không giai cấp thì làm gì có địa vị sư phụ?
Cho nên khi mọi người quỳ lạy gọi sư phụ là con nhìn lại thân tâm ngay xem có cảm thọ xấu sanh khởi không, nếu có là đánh đuổi ngay, làm đến như vậy nhưng cũng có khi sơ suất để sót, cũng có lúc thấy ngọt ngào, dễ chịu khi nghe gọi sư phụ. Thế là phải tác ý ngay "mày chết đi, không có ai ở đây hết", "cái đồ hèn hạ, cái đồ ăn xin". Khi đã thoát ra khỏi những cái cung kính, đảnh lễ, tôn trọng thì cái tâm có cảm thọ lắng dịu, và khi người ta mắng nhiếc thì cũng giống vậy, cái tâm cũng nhẹ giống như khi mình được khen.
Mình nhiếp phục sự chạy theo lời khen được thì khi bị nói nặng mình cũng nhiếp phục được cảm thọ ngay lúc đó, không bị sân hận, không ưa thích, khoan khoái giữa cái khen và cái chê. Không bị giao động quá nhiều mà chỉ bị giao động nhẹ thôi, chứ chưa đến bất động tâm giải thoát. Tu như vậy thì từng giây từng phút rất thú vị. Thấy ở một mình chứ trong nội tâm là đánh trận ngàn binh thiên tướng, thấy ngồi im re vậy chứ là Tọa Bồ-đề tòa, Đại phá ma quân. "Ta nay đi đến tình trạng là người không có giai cấp" tức là đi đến trí tuệ vô ngã.
Có khi mình sẽ nghĩ "Sao tu khổ quá vậy? Phải có khen, thưởng chút gì chứ?", nếu như vậy thì mình cứ trôi nổi, thăng trầm mãi thôi. Trong cái trôi nổi đó hễ khen là sẽ bị dính mắc tham, dục, ái. Chê là mình sân hận, chê mạnh là sẽ xảy ra đánh nhau rồi tương lai sẽ đi đến tù tội hoặc là rất dễ đi đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cái khổ trong sự tu hành đưa đến vĩnh viễn không còn khổ, còn cái kia thấy vui nhưng đưa đến vô số, vô lượng vô biên khổ, không có ngày cùng tận, còn cái khổ này đi đến chỗ diệt khổ. Đây là chỗ tuyệt diệu của Diệt Khổ Chi Đạo.
Thành ra mình lạy để thực tập đi đến tình trạng không có giai cấp, ở ngoài người ta có thể gọi là sư cô, là thầy, đại đức, thượng tọa, Hòa thượng, còn mình nhìn vô nội tâm phải là trống rỗng, trống không, nhìn vào chỉ thấy lá lách, dạ dày, phân, nước tiểu, máu mủ hiện ra.
Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: "Ðời sống của ta tùy thuộc vào người khác". Tại sao đời sống của mình phụ thuộc vào người khác? Vì phải xin sự bố thí, cúng dường, sự phát tâm của Đàn-na tín thí. Hoàn toàn đời sống của mình không trồng mà có gạo ăn, không có dệt mà có vải mặc, không nấu nướng mà có người dâng cơm tận miệng, không đổ giọt mồ hôi nào mà có người xây chùa, xây phòng cho ở. Tất cả những cái đó là đời sống của ta tùy thuộc vào người khác. Con đã nói "không có đồng bạc nào xây thì làm gì có chùa mà trụ trì? Tất cả những cái này là của người ta".
Của thập phương bá tánh làm lại cho thập phương bá tánh, còn mình là bần Tăng, vô sở hữu. Chữ Tăng đúng ra là Tăng đoàn nhưng gọi quen rồi thành ra vậy, là một ông thầy nghèo, người tu là người nghèo. Không có chất chứa, tích góp gì hết, con chỉ thấy thương cho những người khi họ nói đất ở đây rộng, chùa đẹp. Bây giờ còn thêm chuyện chùa giàu, chùa nghèo, thầy đó giàu quá, sư cô giàu quá. Con nghe chỉ thấy xót xa, nhiều khi giống như xát muối, xát chanh vào vết thương. Tại sao người xuất gia có thể phát biểu như vậy?
V. Dặn dò tu học
Tại sao có vấn đề chùa giàu, chùa nghèo? Họ hoàn toàn không biết bản chất thật sự của người tu, họ ở trong vô minh như vậy thì làm sao đi đến minh? Tất cả đời sống của mình đều phụ thuộc vào người khác, từ giọt nước, chén cơm manh áo, từng viên gạch, từng cái ghế, từng cái chuông, cái mõ cho đến từng cuốn kinh sách. Mình thỉnh cuốn kinh mà lỡ có ai thấy hay lấy cuốn kinh đọc, lấy mà không hỏi mà ngay cuốn mình thích thì tâm mình sẽ như thế nào? "Cuốn kinh đó là của tôi" hay sao?
Mình vẫn có khả năng đi thỉnh quyển khác, mình tùy hỷ cho người khác học pháp, đó là quy y pháp, là tôn kính pháp, là tùy hỷ pháp, là chia sẻ pháp. Không những không có tâm sân, không có tâm chấp là của tôi mà còn phát sanh ra thiện pháp công đức, tùy hỷ sự học pháp của huynh đệ, của người khác. Cái này làm dễ hay khó? Phải tập làm cho được, không những kinh sách mà tất cả những vật dụng khác trong đời sống sinh hoạt đều có thể thí xả, vì nó không phải của mình. Làm được những điều này thì rất tuyệt vời.
Báo Giác Ngộ có đăng tin Phật giáo nguyên thủy của bên Úc, chùa của các sư Nam tông bị cháy vì Úc đang cháy rừng, đám cháy lan tới chùa của sư, tìm đủ mọi cách dập lửa mà dập không nổi vì vụ cháy rất lớn, cháy dữ dội. Người ta phỏng vấn thì sư rất bình an, nói chuyện một cách nhẹ nhàng, không có khóc than vì thường ngày đã thực tập quán chiếu. Còn mình bình thường ráng gom góp mà lỡ cháy rụi thì lúc đó mình ra sao? Mỗi lần nghe Phật tử nói tội nghiệp sư cô hay thầy là con thấy nhục.
Phải thực tập, thực hành tích tập vô thường tượng, luôn luôn thực hành tích tập bất tịnh tượng, luôn luôn thực hành tích tập nguy hại tượng, luôn luôn thực hành và tích tập ly tham tượng. Phải thường thường thực hành để thấy tính chất tiêu vong, bại hoại của sắc uẩn này. Phải quán tưởng đến mức có thể chút nữa đất rung động, sụp xuống làm mình lọt xuống, chôn mình dưới đó. Ở miền Trung có chỗ bị động đất mà nào giờ chỗ đó chưa từng bị như thế nay lại bị. Nguy hại tượng là quán tưởng sự nguy hiểm, tác hại của những thứ này. Phải học và quán thì mới hiểu được, mới cảm động, rúng động để mình thấy tất cả mọi cái đều không phải của mình. Con trông coi chùa Bửu Liên và Linh Quy mà con không biết đến đồng bạc, tiền con giao hết nhưng lại thấy nhẹ nhàng.
Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: "Nay cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi!". Cái này là cả một đề tài quán chiếu và tu học suốt cả cuộc đời, những điều này là những điều vô giá. Đúng ra người xuất gia phải hơn cả phong cách của hoàng thất. Dù cho có là thái tử, hoàng tử hay vua thì phong cách cũng không thể so sánh với oai nghi, sự chánh niệm và tỉnh giác của người xuất gia nếu đó đúng mức là người xuất gia. Cho nên vua Ba-tư-nặc có vẻ nhiều khi ganh tị với Đức Phật và các vị Tỳ-kheo.
“Bạch Thế Tôn, con có bao nhiêu là sơn hào hải vị, lầu vàng điện ngọc, bao nhiêu thực phẩm bổ dưỡng được con hưởng thụ đầy đủ nhưng con thấy các vị Tỳ-kheo ngày ăn 1 bữa, ngủ dưới gốc cây đơn sơ chỉ có tấm y mà mặt mũi hồng hào, thần sắc tươi nhuận, dáng vẻ phong thái đỉnh đạc, dung nghi.”
Thậm chí chư Thiên cũng còn so bì với các thầy Tỳ-kheo vì giới đức, giới hạnh, oai nghi làm cho thân tâm an tịnh, lắng dịu, chánh niệm tỉnh giác, thư thới, thông thả trong thiền tịnh. Cho nên mình đi thiền hành là tập đi trong chánh niệm, khi đã tập đi được trong chánh niệm trong thiền đường thì mình mở rộng thực tập ở ngoài thiền đường vì người xuất gia đi là phải khác với người phàm phu. Cái ăn của người xuất gia không thể giống với cái ăn của người đời.
Cái nói cũng vậy, tất cả cử chỉ, oai của mình phải ở trong Thân Hành Niệm. Mình phải học niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động. Thân Hành Niệm là tuyệt đối quan trọng, đây là hương vị của bất tử. Khi mới tu vào thì thấy rụt rè, e dè, xấu hổ, mắc cỡ như cô dâu mới vào nhà chồng, khi đã ở một thời gian thì cô dâu nói với chồng, với cha chồng "Ông thì biết cái gì", thậm chí trong kinh nói cô dâu mới về còn e dè với ngay cả người làm công, tới khi ở một thời gian thì quát mắng, khinh thường.
Cũng vậy, ở trong chùa một thời gian là không còn trên trước gì nữa, ngay cả Phật tử cũng ở giống như nhà của mình, giống như chùa của mình luôn, quyền hành thiên hạ nắm trong tay. Thành ra cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi! là điều hết sức quan trọng, cái đi đứng, ngồi, nằm, cử chỉ hành động phải được kiểm soát, được xem xét, huấn luyện. Đó gọi là nghệ thuật, đi cũng có nghệ thuật, ngồi cũng có nghệ thuật, nghe pháp cũng có nghệ thuật, ăn cũng có nghệ thuật vì nếu không có nghệ thuật thì sanh ra dục, tham, ái, sân si, còn khi có nghệ thuật thì tẩy được tham dục ái, sân si, quán chiếu được tính vô thường, bại hoại của tứ đại.
Cái nào cũng có nghệ thuật trong đó, mà đó là nghệ thuật của chánh niệm, của tỉnh giác, của sự thay đổi và làm mới thân tâm mình. Đây chính là thọ trì và tăng thượng giới. Mình nói "Nào giờ tôi đi như vậy, nói như vậy quen rồi, tôi sửa không được", nếu vậy là không có thọ, đã không thọ nhận thì không có trì, càng không có tăng thượng.
Không chịu sửa, không chịu thay đổi, không chịu chỉnh đốn. Có nhiều người ở trong chùa tới già mà không có oai nghi, tế hạnh gì hết, ngồi tréo chân, nhịp đùi hút thuốc thì còn gì người tu nữa? Sư cô thì xắn tay áo, nói huyên thuyên, mới bước vào cổng chùa đã nghe la lối, nói chuyện vang vọng, cười đùa dưới bếp. Chính vì mình làm như vậy cho nên người Phật tử mất niềm tin, mất sự tín tâm, mất sự cung kính.
Mình không có chất của người tu, mình chỉ khác cái đầu với cái áo, còn ngoài ra bên trong không có gì khác hết, những tập khí, thói quen, giang san dễ đổi bản tánh khó dời, không chịu thay đổi mà ai góp ý là giận, sư phụ nói cũng buồn nữa, chứ đừng nói chi huynh đệ, rồi bỏ đi chùa khác, tìm chỗ nào cho khỏe, khỏi ai nói gì nữa. Rồi trở thành du Tăng, vất vơ vất vưởng, đi lang thang. Thật là khổ! Đau lòng lắm!
Cho nên cử chỉ, oai nghi của mình phải thay đổi. Phải để tâm vào để thay đổi. Mình nhìn mình rõ hơn ai hết, không cần ai nhìn mình. Mình xem cái tật, cái bệnh mình chỗ nào là trị ngay chỗ đó là nhanh nhất. Trong Tứ Niệm Xứ, khi đi đứng, nói năng đều tỉnh giác, đắp y- ôm bát đều tỉnh giác, đại tiểu tiện đều tỉnh giác. Đó là chỗ cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi. Minh Thành thường nói có 3 cấp độ của người tu:
Thứ nhất là thay da đổi thịt; thứ hai là thay xương đổi cốt; thứ ba là siêu phàm nhập thánh. Oai nghi, cử chỉ bên ngoài mà thay đổi thì gọi là thay da đổi thịt, đây là lớp đầu tiên mà mình làm không được thì làm sao bước qua lớp thứ 2? Kế đó là sự Như lý tác ý, quán chiếu, nhận diện năm uẩn, đánh phá dục, tham, ái, vô minh bên trong thì gọi là thay xương đổi cốt. Thay xương đổi cốt xong là siêu phàm nhập thánh, đây là kết quả sau cùng.
./.