Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm Bạn Với Thiện 3

2026-03-03 00:52:12
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

LÀM BẠN VỚI THIỆN 3

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thế nào là làm bạn với thiện PAGEREF _Toc79399714 \h 1

1. Gần gũi và tránh xa PAGEREF _Toc79399715 \h 1

2. Cần và không cần PAGEREF _Toc79399716 \h 2

3.Làm bạn với thiện PAGEREF _Toc79399717 \h 4

II.Bốn lợi ích khi làm bạn với thiện PAGEREF _Toc79399718 \h 7

III.Huân tập Chánh Pháp PAGEREF _Toc79399719 \h 9

Thế nào là làm bạn với thiện

1. Gần gũi và tránh xa

Bài kinh “Cần Phải Thân Cận” nói về những người, những chỗ, những cái gì nên gần và phải xa, nội dung bài kinh này chỉ gói gọn trong hai từ, đó là “gần gũi” và “tránh xa”.

Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỳ-kheo: 'Này chư Hiền'. – 'Thưa Hiền giả'. Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta.

Chư Hiền là các vị hiền lành, đây cũng là lý do mình phải tu tâm hiền. Người tu là người hiền thiện, hiền lương, hiền đức, hiền hậu… Đặc biệt những người ở dưới bếp phải thật hiền, dù cho ở đâu cũng phải giữ tâm hiền.

Tôn giả Sàriputta nói như sau:

- Này chư Hiền, con người cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần phải thân cận hay không cần phải thân cận. 

Ở đây, khi biết được về một người như sau: 'Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị đoạn giảm. Các vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, không đi đến tu tập viên mãn'. Ðối với một người như vậy, này chư hiền, bất luận đêm hay ngày, không hỏi gì, cần phải bỏ đi, không được theo người ấy". (Tăng Chi Bộ, chương IX – Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, (VI) Cần Phải Thân Cận)

Nếu gần ai mà các pháp bất thiện thêm lớn lên, các pháp thiện bị tổn giảm thì mình phải bỏ đi không cần phải hỏi, không được theo người đó. Ở gần người nào mình càng tăng trưởng cái tham, vô minh, bản ngã thì không cần hỏi mà phải bỏ đi ngay bất luận ngày hay đêm.

"Ở đây, khi biết được một người như sau: 'Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện giảm thiểu, các pháp thiện tăng trưởng, những vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, đi đến tu tập viên mãn'. Này chư Hiền, đối với một người như vậy, sau khi tính toán, cần phải theo người ấy, không được bỏ đi". (Tăng Chi Bộ, chương IX – Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, (VI) Cần Phải Thân Cận)

Ngược lại nếu mình theo người nào mà các pháp bất thiện tổn giảm, pháp thiện tăng trưởng phát triển thì mình phải gần người đó, phải thân cận người đó.

2. Cần và không cần

"Này các Tỳ-kheo, có hai loại hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng cặn bã và hội chúng tinh ba. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng cặn bã? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỳ-kheo đi đến con đường dục, đi đến con đường sân, đi đến con đường si, đi đến con đường sợ hãi, này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng cặn bã.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng tinh ba? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỳ-kheo không đi đến con đường dục, không đi đến con đường sân, không đi đến con đường si, không đi đến con đường sợ hãi, này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng tinh ba". (Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)

Hội chúng nào đi đến con đường dục, sân, si, con đường sợ hãi là hội chúng cặn bã. Hội chúng nào lìa dục, sân, si, sợ hãi là hội chúng tinh ba. Mình lấy điều này làm chuẩn để nhìn một hội chúng vì đây là lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, những hội chúng nào lìa xa được dục, sân, si, sợ hãi thì đó mới đúng là hội chúng theo tinh thần Đức Phật dạy, còn tụ hội để tham muốn thêm, để sân hận, si mê, không thấy đúng, không chân chánh, tụ hội để sợ hãi thì đó không phải hội chúng tinh ba của Đức Phật. Còn ở bài kinh này ngài Xá-lợi-phất dạy chúng ta từ y áo, gường chõng, đồ ăn khất thực mình dùng cái nào mà tăng trưởng thêm bất thiện pháp thì không được dùng nữa.

"Y áo, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?

Ở đây, sau khi biết được về y như sau: 'Nếu ta sử dụng y này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; y như vậy không nên sử dụng'. Ở đây, sau khi biết được về y như sau: 'Nếu ta sử dụng y này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; y như vậy nên sử dụng'". (Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)

Nếu mình sử dụng từng cái y, từng cái áo, từng bộ đồ mà bị tham đắm, dính mắc, ái trước trong đó thì không nên sử dụng, nếu dùng tấm y đó mà thiện pháp tăng trưởng thì hãy dùng. Những cái này mà mình không kĩ lưỡng, cẩn thận sẽ rất dễ bị dính vào đó.

"Ðồ ăn khất thực, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?

Ở đây, sau khi biết được về đồ ăn khất thực như sau: 'Nếu ta sử dụng đồ ăn khất thực này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; đồ ăn khất thực như vậy không nên sử dụng'. Ở đây, sau khi biết được về đồ ăn khất thực như sau: 'Nếu ta sử dụng đồ ăn khất thực này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; đồ ăn khất thực như vậy nên sử dụng'". (Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)

Những điều này mình thấy rất bình thường nhưng người tu kĩ lưỡng, có sự soi xét sâu sắc sẽ thấy không bình thường. Những món đồ nào ăn mà pháp ác lớn mạnh thì không ăn, còn đồ nào ăn mà pháp lành tăng trưởng thì hãy ăn.

"Sàng tọa, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?

Ở đây, sau khi biết được về sàng tọa như sau: 'Nếu ta sử dụng sàng tọa này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; sàng tọa như vậy không nên sử dụng'. Ở đây, sau khi biết được về sàng tọa như sau: 'Nếu ta sử dụng sàng tọa này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; sàng tọa như vậy nên sử dụng'". (Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)

Đối với sàng tọa, gường chõng, chỗ ở cũng giống vậy. Các vị Tỳ-kheo tán thán việc ở không có mái che, bây giờ mình có nhà ở mà nhiều khi còn chưa vừa lòng.

"Làng, thị trấn, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được tìm đến và không cần được tìm đến đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?

Ở đây, sau khi biết được về làng, thị trấn như sau: 'Nếu ta tìm đến làng, thị trấn này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; làng và thị trấn như vậy không nên được tìm đến'. Ở đây, sau khi biết được về làng, thị trấn như sau: 'Nếu ta tìm đến làng, thị trấn, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; làng, thị trấn như vậy cần được tìm đến".

Quốc độ, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được tìm đến và không cần được tìm đến đã được nói như vậy. Do duyên gì được nói đến?

Ở đây, sau khi biết được về quốc độ như sau: 'Nếu ta tìm đến quốc độ này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; quốc độ như vậy không nên được tìm đến'. Ở đây, sau khi biết được về quốc độ như sau: 'Nếu ta tìm đến quốc độ này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; quốc độ như vậy nên được tìm đến'". (Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)

Đối với làng mạc, thị trấn, quốc độ chúng ta cũng phải ân nhắc, kiểm tra xem nơi nào nên ở gần, nơi nào nên cách ly, tránh xa.

Làm bạn với thiện

Đức Phật cũng có giảng thích thế nào là làm bạn với thiện trong một bài kinh của Tăng Chi Bộ.

"Và này Byagghapajja, thế nào là làm bạn với thiện?

Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử sống tại làng hay tại thị trấn. Tại đấy có gia chủ hay con người gia chủ, những trẻ được nuôi lớn trong giới đức, hay những người lớn tuổi được lớn lên trong giới đức, đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ, vị ấy làm quen, nói chuyện, thảo luận.

Với những người đầy đủ lòng tin, vị ấy học tập với đầy đủ lòng tin.

Với những người đầy đủ giới đức, vị ấy học tập với đầy đủ giới đức.

Với những người đầy đủ bố thí, vị ấy học tập với đầy đủ bố thí.

Với những người đầy đủ trí tuệ, vị ấy học tập với đầy đủ trí tuệ.

Này Byagghapajja, đây gọi là làm bạn với thiện". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (IV) Dìghajanu, Người Koliya)

Mình thấy người đó thành tựu lòng tin đầy đủ trong khi mình chưa thành tựu lòng tin thì mình theo học người đó, đó gọi là làm bạn với thiện. Mình thấy vị đó đầy đủ giới đức trong khi mình chưa đầy đủ giới đức thì đi theo người đó học hỏi, gọi là làm bạn với thiện. Mình thấy người đó đầy đủ bố thí còn mình chưa đầy đủ bố thí thì mình theo người đó học để được đầy đủ bố thí, gọi là làm bạn với thiện. Mình thấy người đó có đầy đủ trí tuệ còn mình chưa đầy đủ trí tuệ thì mình theo vị đó học để đầy đủ trí tuệ, gọi là làm bạn với thiện. Trong huynh đệ, tỷ muội mình thấy người đó có những đức hạnh tốt lành thì mình theo học người đó, như vậy gọi là làm bạn với thiện, có những vị rất siêng học kinh nên thuộc rất nhiều kinh thì mình phải đi theo hỏi cách học để mình học thì đó là làm bạn với thiện.

"- Thật vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy là ác thân hữu, ác bằng hữu, ác bạn bè, thân cận, hầu hạ, tôn kính ác thân hữu, chấp nhận tà kiến của họ, sẽ làm cho viên mãn hành trì pháp, sự kiện này không xảy ra. Không viên mãn hành trì pháp, sẽ có thể làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này không xảy ra. Không viên mãn hữu học pháp, sẽ viên mãn các giới luật, sự kiện này không xảy ra. Không viên mãn các giới luật, sẽ từ bỏ dục tham, sắc tham, hay vô sắc tham, sự kiện này không xảy ra". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VII. Phẩm Chư Thiên, (III) Những Người Bạn)

Một người thân cận với bạn bè xấu ác và chấp nhận với tà kiến của những bạn bè xấu ác đó, chấp nhận cái thấy biết sai lầm của bạn bè xấu ác và tôn kính những bạn bè xấu đó mà để làm cho tròn đầy pháp hành trì thì điều đó không thể xảy ra. Ví dụ bạn A không xăm hình nhưng thấy bạn B xăm hình con này con kia nên thấy nể phục vì chịu đau hay quá để xăm, thế rồi lại thấy người C xăm nguyên con rồng lớn hết tấm lưng, rồi gặp người D xăm toàn thân nên những người kia thấy còn nể hơn, như vậy là tôn kính những điều xấu ác. Vì thế mới có ma đạo, tà đạo, họ làm sai nhưng được nhiều người tôn kính, như vậy để làm cho viên mãn hành trì pháp là không thể xảy ra, mà không tròn đầy viên mãn hành trì pháp thì không thể làm cho tròn đầy viên mãn hữu học pháp. Hữu học pháp là đạo lộ của bậc hữu học, từ hướng Dự Lưu cho đến A-la-hán gọi là hữu học pháp, địa vị còn phải học hỏi tu tập gọi là hữu học, còn bậc A-la-hán là vô học tức là không cần phải học hỏi gì thêm và không cần làm gì nữa. Nếu không tròn đầy pháp hữu học đó thì không thể nào viên mãn được giới luật, không viên mãn giới luật nhưng muốn từ bỏ dục tham, sắc tham, hay vô sắc tham, sự kiện này không xảy ra. Đây là cấp độ sâu sắc trong bài kinh Những người bạn, một người viên mãn tất cả giới luật thì người đó mới có thể từ bỏ được dục tham, sắc tham và vô sắc tham.

"Thật vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy là thiện thân hữu, thiện bằng hữu, thiện bạn bè, thân cận, hầu hạ, tôn kính thiện thân hữu, chấp nhận chánh kiến của họ, sẽ làm cho viên mãn hành trì pháp, sự kiện này có thể xảy ra. Sau khi viên mãn hành trì pháp, sẽ có thể làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này có thể xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn hữu học pháp, sẽ làm cho viên mãn các giới luật, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn các giới luật sẽ từ bỏ dục tham, sắc tham, hay vô sắc tham, sự kiện này có xảy ra". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VII. Phẩm Chư Thiên, (III) Những Người Bạn)

Nghĩa là từ nơi thân cận với thiện tri thức, thầy lành bạn tốt sẽ làm cho người đó viên mãn pháp hành trì, viên mãn pháp hữu học, viên mãn giới luật và từ bỏ dục tham, sắc tham và vô sắc tham, tức là từ bỏ sự tham đắm trong ba cõi.

Bốn lợi ích khi làm bạn với thiện

"Này các Tỳ-kheo, với Tỳ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, thời được chờ đợi như sau: sẽ giữ giới, sẽ sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp.

Này các Tỳ-kheo, với Tỳ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, thời được chờ đợi như sau: Câu chuyện này có khả năng đoạn giảm, đưa đến tâm rộng mở, như luận về ít dục... những câu chuyện như vậy, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Này các Tỳ-kheo, với Tỳ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, thời được chờ đợi như sau: sẽ sống tinh cần tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện... trong các thiện pháp. Này các Tỳ-kheo, với Tỳ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, thời được chờ đợi như sau: sẽ có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh và diệt, với Thánh thể nhập đi đến con đường chơn chánh đoạn tận khổ đau". (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, (I) (1) Chánh Giác)

Trong bài kinh “Chánh Giác”, Đức Phật nói làm bạn với thiện sẽ có bốn lợi ích lớn.

Thứ nhất sẽ giữ được giới vì những bạn lành đều giúp mình tăng thượng giới, họ sẽ khuyến khích, sách tấn, khích lệ mình giữ gìn oai nghi, giới hạnh từ đó giới hạnh, đạo hạnh, đức hạnh của mình càng ngày càng được tăng trưởng, phát triển viên mãn.

Thứ hai là sẽ nghe được những câu chuyện, đề tài về ít dục, viễn ly, câu chuyện về giới, định, tuệ, về giải thoát, giải thoát tri kiến, những câu chuyện về ly tham, từ bỏ.

Thứ ba là sống tinh cần, tinh tấn để thành tựu các thiện pháp, sáng sớm chúng ta tu học từ 4h – 8h còn nếu giờ này ở nhà mình ngủ, như vậy làm bạn với thiện mình được tinh cần tinh tấn, mỗi ngày tu học như vậy mình tích lũy được một chút. Buổi sáng mình thức dậy trong tiếng đại hồng chung vang dội núi rừng, y áo trang nghiêm tiến lên thiền đường để trùng tiên lại Thánh điển, Thánh ngôn, Thánh trí, Thánh pháp, đọc lên những lời của bậc Thánh nhân, âm ba vang dội núi rừng và trong đó là sự tỉnh thức chánh niệm kèm theo cảm nhận, cảm xúc chấn động thân tâm. Sau đó mình ngồi thiền quán, thiền định, có những lời thống thiết, bi thương, có những lời đánh mạnh vào chấp ngã, có khi hùng tráng, có lúc lại da diết, tha thiết, có lúc nước mắt trào dâng và cũng có lúc được nở nụ cười mãn nguyện. Chúng ta tu là phải có những cảm xúc đó chứ lên tu mà ngồi cho có, tu như vậy một thời gian cũng chán nản bỏ tu, tu cho có hình thức bên ngoài chứ nội hàm bên trong là trống rỗng như thây ma, ngược lại tu phải có cảm xúc, có sự rung động. Ngồi thiền xong là đến pháp thoại, pháp đàm để nhắc nhở bản thân liên tục, tu một ngày tám tiếng hoặc mười tiếng, đó là làm bạn với thiện sẽ được tinh cần, tinh tấn để đoạn trừ bất thiện pháp và làm tăng trưởng thiện pháp, thiện pháp nào chưa sanh khởi thì làm cho sanh khởi, pháp thiện đã sanh thì làm cho tăng trưởng phát triển, pháp ác đã sanh thì diệt tận, pháp ác nào chưa sanh thì không cho nó sanh, vì thế trong mùa an cư chúng ta học Bát Chánh Đạo rất nhiều, chúng ta sử dụng nó rất nhiều ngay cả trong thời tụng kinh.

Thứ tư, khi "làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, thời được chờ đợi như sau: Câu chuyện này có khả năng đoạn giảm, đưa đến tâm rộng mở, như luận về ít dục…", bàn luận về định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, bàn luận về xả ly, ly tham, từ bỏ. Giao thiệp với thiện, làm bạn với thiện mình mới nói những câu chuyện về ít muốn biết đủ, những câu chuyện tăng thượng giới đức, thiền định, những câu chuyện về tri kiến giải thoát.

"Những câu chuyện như vậy, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức". (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, (I) (1) Chánh Giác)

Chúng ta lên ngồi được nghe Chánh Pháp, vậy mà có khi lại còn thấy chán thì đó là mình không biết làm bạn với thiện. Ngày xưa Minh Thành nghe pháp một ngày tám tiếng trong suốt mười năm. Cho nên nếu nói chuyện thì hãy nói về những đề tài này để lợi lạc được sanh khởi, hãy bàn luận về pháp, bàn luận về việc làm sao để tăng thượng đời sống thanh tịnh, phạm hạnh, làm sao để tăng trưởng nội tâm an tịnh thiền định, làm sao để tăng trưởng trí tuệ thấy sự sanh diệt của ngũ uẩn, thấy sự sanh diệt của tham, sân, si, vô minh, bản ngã.

Lợi ích cuối cùng là "có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh và diệt, với Thánh thể nhập đi đến con đường chơn chánh đoạn tận khổ đau". Thánh thể nhập là sự thể nhập của bậc Thánh, đó là trí vô ngã, ly tham, từ bỏ, chấm dứt và thành tựu trí sanh diệt của ngũ uẩn.

Huân tập Chánh Pháp

Thông thường, khi những nhận thức, cảm giác, nghĩ tưởng sanh khởi lên mình có thấy nó sanh diệt không hay nó sanh khởi lên là mình nói tôi nghĩ, tôi có cảm giác, tôi có nhận thức? Có quán thọ trên các thọ không? Có quán tâm trên tâm, quán thân trên thân, quán pháp trên các pháp không? Các tưởng, các hành, các tầm sanh khởi lên mình có thấy nó là pháp sanh diệt không hay cái nào sanh khởi cũng cho là tôi? Để thấy được ngũ uẩn là cả một công phu tu tập. Còn chúng ta nói là nhận diện ngũ uẩn nhưng thật chất là nhận ngũ uẩn làm mình chứ không có nhận diện được nó, mình cứ nhận những cảm giác, nghĩ, tưởng là mình.

Khi tập tác ý từ từ thì mình sẽ quen vì hay làm cái gì sẽ quen nấy nhưng cái quen tác ý đó là thiện pháp. Giống như nghe hoài một bài nhạc thì sẽ có ngày giai điệu, lời ca tự động sanh khởi trong ý hành. Cũng vậy mình học kinh, nghe kinh tác ý thì lâu lâu sanh khởi những câu kinh trong đầu là bình thường, nhưng khi thiền chỉ, thiền định thì bị trở ngại. Lúc đó phải thực tập ba pháp và hướng vào thọ; tưởng; hành niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu". Thực hành ba pháp là điều căn bản phải thực hành cho nhuần nhuyễn thì đó chính là định tâm trên thân. Bây giờ do duyên bên ngoài tiếp xúc nhiều vì còn trẻ phải đi học, phải tiếp xúc nên định rất khó cho nên cần có thời gian thực tập. Điều chánh yếu bây giờ là cần tu về chánh kiến và tu về tác ý để quét rác nội tâm còn định tu được bao nhiêu hay bấy nhiêu chứ không cần vội vì Thánh chánh định là bước cuối cùng của Bát Chánh Đạo. Phương pháp bây giờ thứ nhất cần nghe pháp thật nhiều, thứ hai cần tư duy cho nhiều về chánh tri kiến, thứ ba là tác ý thật nhiều, còn phần chỉ và định thì tập được bao nhiêu hay bấy nhiêu, lúc nào phần tác ý ảnh hưởng đến thiền chỉ làm dao động nhiều thì thực hành ba pháp và an tịnh, lắng dịu, dễ chịu.

Phần tác ý rất quan trọng nên cần tập để trở thành thói quen, mình la rầy, quở trách bản thân thường xuyên để chuyển hướng vô minh, tham ái sâu dày của mình. Mình buồn ngủ nhưng rầy la không nghe, tuy biết là bất thiện pháp, là triền cái và có ý muốn đánh đuổi nhưng làm không được cho nên tác ý cần phải mạnh mẽ, muốn mạnh thì phải hiểu pháp, muốn hiểu pháp thì phải nghe nhiều. Cho nên, Đa văn Thánh đệ tử là bậc nghe nhiều, thiền quán nhiều. Khi buồn ngủ cần thiền quán tác ý thật mạnh mẽ, chứ còn buồn ngủ mà để im hoặc nói vài câu nhẹ nhàng là mình sẽ gục ngã. Thế nên, phải cực kì thiện xảo và khéo léo vì muốn điều phục tâm không phải chuyện dễ dàng, muốn thành tựu cứu cánh phạm hạnh là một điều rất khủng khiếp.

Vì vậy, điều đầu tiên là cần thành tựu được chánh kiến, hoặc tối thiểu phải là hướng Dự Lưu, tức là tâm xác quyết hướng về sự viễn ly, ly tham, từ bỏ, không bao giờ lay chuyển được nữa thì mới tu được. Còn cái biết của mình chứ xác quyết, lúc thì nhận ra ngũ uẩn này cũng vô thường, khổ, vô ngã, nhưng lúc lại thấy thích thú, khoan khoái trong đó, như vậy là cứ do dự nên rất nguy hiểm. Cho nên, chúng ta cần thiền quán, nghe pháp liên tục để mình trực chỉ một đường duy nhất để tiến thẳng nhanh chóng, không cho phân vân, do dự sanh ra:

Nếu ngươi không tu ngươi cứ biến

Trong thất mình ta lòng tịnh thanh.

Phải làm sao để tư tưởng xác quyết một đường duy nhất, dù cho các lậu hoặc, phiền não vẫn còn quậy phá mình nhưng cần xác quyết hướng đi không thay đổi. Cho nên trong giai đoạn này cần tu tập Đa văn, tu tập về chánh kiến, tu tập về Như lý tác ý, chánh tư duy và lấy những cái này làm chính chứ không phải thiền định làm chính. Vì dù cho có thiền định nhưng chánh kiến không thành tựu thì khi mất định sẽ trở về tham ái, vô minh với ngũ uẩn. Cho nên chánh kiến quyết định tất cả mà muốn chánh kiến phải Như lý tác ý, muốn tác ý mạnh mẽ, đầy đủ thì phải nghe pháp thường xuyên để huân tập những lời pháp vào đầu.

Minh Thành thường lấy ví dụ một hồ nước rộng lớn rất dơ bẩn nên không thể một mình làm sạch hồ được. Vì thế, ngày nào cũng phải đổ nước sạch vào bất kể ngày đêm, sáng trưa chiều tối để làm loãng chất bẩn, làm hoài như vậy thì nước sạch sẽ thay thế chất bẩn thì lúc này mình sẽ dễ dàng làm sạch hồ nước. Đó là chúng ta dùng chánh pháp để phá tà kiến, dùng chánh tư duy để phá tà tư duy, dùng Thánh trí để phá mê tình, dùng chánh giác để phá si ám, tà mê.

Như vậy, cần huân tập thường xuyên Chánh Pháp vì nếu mình buông lơi là trở về phạm trù của mê lầm, vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã. Vì vậy, cần đặt bản thân vào pháp liên tục, chánh niệm tỉnh giác, Như lý tác ý, suy tư, quán chiếu về pháp để nhắc nhở bản thân thường xuyên thì đến một lúc nào đó sẽ thấy hỷ lạc trong pháp, hân hoan, hạnh phúc, thích thú trong pháp.

./.