Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nhớ Mãi Không Quên

2026-03-03 00:52:52
Nhớ Mãi Không Quên

Thích Minh Thành

Ngày 07 tháng 11 năm 2021

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Biết ơn PAGEREF _Toc89546507 \h 1

II. Tâm hiền PAGEREF _Toc89546508 \h 5

III. Hòa kính PAGEREF _Toc89546509 \h 9

IV. Diệt tham sân si PAGEREF _Toc89546510 \h 17

I. Biết ơn

Kính bạch chư tôn đức, tăng ni và toàn thể quý nam nữ Phật tử, hôm nay chúng ta chiêm nghiệm những điều Đức Phật dạy mình cần phải nhớ, với chủ đề hôm nay là nhớ mãi không quên.

Trong Tăng Chi Bộ Kinh có hai bài kinh cần phải nhớ, một là bài Cần phải nhớ, hai là trong Tăng Chi Bộ Kinh tập ba.

Sáng nay trong giờ ngồi thiền, trong ý hành của Minh Thành sanh khởi lên những câu thơ:

“Nhớ mãi không quên

Nhớ ân nhớ nghĩa

Nhớ mãi không quên

Hiền thiện, từ bi

Nhớ mãi không quên

Sáu pháp hòa kính

Nhớ mãi không quên

Diệt tham sân si.”

Mong rằng những người học Phật chúng ta nhớ những câu này để nhắc nhở mình nhớ mãi không quên. Đây là lời nhắc nhở chính mình, là những pháp thành tựu một con người có đạo đức, Đức Phật gọi người đó là chân nhân.

Thứ nhất là chúng ta phải nhớ những người có ơn, có nghĩa, có tình với mình. Dù cho ơn rất nhỏ nhưng mình luôn khắc ghi, luôn nhớ, khi gặp thì mình luôn nhớ ân đức, ân nghĩa, ân tình, ân nặng, ơn sâu mà ân nhân của mình đã từng giúp cho mình.

Đức Thế Tôn gọi thế nào là bậc chân nhân, tức là con người thật sự là người? Đức Thế Tôn nói con người thật sự là người đó thì người đó phải là người biết ơn và nhớ ơn, nhưng Ngài chưa nói đến việc đền ơn, đáp nghĩa, biết ơn và nhớ ơn là đặc tính của một con người thật sự là người, là người có đạo đức, có nghĩa tình, người tri ơn, người nhớ ơn.

Vì vậy đây là điều mà người học Phật chúng ta dù là tại gia hay xuất gia, cư sĩ hay tu sĩ thì chúng ta không bao giờ để cho mình quên. Chúng ta phải nhớ ơn và biết ơn, đó là câu thứ nhất mà chúng ta thường chiêm nghiệm

“Nhớ mãi không quên

Nhớ ơn nhớ nghĩa”

Cha mẹ của chúng ta ân đức rất lớn nhưng nhiều khi làm cho mình buồn chút là mình quên hết ơn, quên hết công lao, tình nghĩa và khi quên hết đó thì mình trở thành người bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu.

Vậy nên nếu mình thường xuyên nuôi lớn tâm biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn đó thì mình sẽ không bao giờ trở thành con người bất nhân, bất nghĩa, bất hiếu, bất trung, không bao giờ trở thành con người vong ơn bội nghĩa. Nếu mình không trở thành con người vong ơn bội nghĩa, bất trung bất hiếu đó thì chắc chắn đời sau mình sẽ được làm người, đó gọi là chân nhân pháp.

Vì vậy, đặc tính rất quan trọng mà Đức Phật đã dạy chúng ta, thứ nhất là luôn phải biết ơn, nhớ ơn những người đã có ơn với mình, dù cho ở bất cứ trường hợp nào, hoàn cảnh nào, lúc nào, tình huống nào thì những người có ơn với mình tuyệt đối mình không quên.

Nếu mình muốn không quên, muốn nhớ mãi thì mình phải có sự nhắc nhở, tác ý, để tâm. Nên câu thứ nhất Minh Thành tự nhắc mình khi ngồi thiền:

“Nhớ mãi không quên,

Nhớ ơn nhớ nghĩa.”

Và nếu lỡ người ân nhân của mình có lỗi lầm với mình thì mình cứ tác ý hoài, nhắc nhở ơn với người ta hoài thì có khả năng có thể bỏ qua lỗi lầm, sai sót đó. Vì tâm của mình hằng ngày được tưới tẩm, chăm sóc, bồi đắp những cảm giác, cảm thọ, cảm xúc, suy tư, nghĩ ngợi, tưởng nhớ, nhận thức về biết ơn và nhớ ơn. Vậy nên điều thứ nhất mà chúng ta tuyệt đối không quên, đối với người học Phật là căn bản đạo đức là biết ơn và nhớ ơn.

Nhớ mãi không quên, nhớ ơn cha, ơn mẹ, ơn thầy, ông bà, cô bác, anh em, chú dì…Nhớ ơn Phật tử đàn na, nhớ ơn bạn đạo khắp gần cùng xa. Thậm chí mình nhớ ơn cả bát nước, hạt gạo, con đường, cái áo, chiếc xe, cây bút, cuốn tập… Tất cả mọi thứ đều cần nhìn bằng đôi mắt biết ơn.

Khi mình cầm một ly nước uống với sự trân trọng, biết ơn, nhớ ơn thì sự uống nước đó là trong sự tỉnh thức, chánh niệm, thấy biết. Và sự uống nước đó như vậy, uống trong một tâm biết ơn, nhớ ơn, trân trọng, trân quý những giọt nước này, không phung phí, lãng phí, hoang phí.

Như vậy, trong tâm vừa sanh ra sự biết ơn, nhớ ơn và cũng sanh ra sự nuôi lớn tâm trân trọng, trân quý, trân kính, không lãng phí, không phung phí mà tiếp thêm phước, tạo phước, tích phước, tăng phước cho mình.

Nếu một người lãng phí, hoang phí thì người này mòn phước, tổn phước, mất phước, hết phước, người này trở về thiếu ăn thiếu mặc, thiếu xài, rơi vào cảnh khổ. Như việc phung phí cơm gạo, ông bà ta thường nói gạo là hạt ngọc, người khi giàu, có tiền ăn phủ phê, lãng phí, phung phí, hoang phí thì sau này nghèo phải đi xin ăn, đói không có cơm gạo ăn.

Vì vậy, tâm niệm thứ nhất này rất quan trọng, giúp cho chúng ta rất nhiều, trong thời gian ngắn nên Minh Thành cũng nói về tổng cương lĩnh, cốt lõi nên chúng ta đừng bao giờ xem thường những đức hạnh căn bản, nhỏ nhiễm này. Nếu không có nền móng, căn bản này thì không thể nào mình thành tựu những đức lớn. Nên hãy tập nhìn tất cả bằng ánh mắt biết ơn, nhớ ơn, nói lời tri ơn, suy nghĩ trong sự biết ơn, trong cảm thọ, hình bóng, tư tưởng, suy nghĩ, sự nhận thức của mình thường dẫn dắt nó đi vào lối, đạo lộ của sự biết ơn, nhớ ơn và mình nguyện đền đáp ơn. Như vậy đó là con người đạo đức, nghĩa tình mà Đức Thế Tôn gọi là bậc chân nhân.

Khi mình có tâm biết ơn, nhớ ơn mình trân trọng nó, không lãng phí từng giọt nước xà phòng, chung nước, ly trà, chén cơm, chiếc áo, cái khăn, mền đắp hay thậm chí là tấm giẻ lau chân.

Nhắc đến Minh Thành nhớ về Cố hòa thượng, Chủ tịch Thượng Trí Hạ Tịnh của chúng ta, chính Ngài Thị Giả nói lại cho Minh Thành câu chuyện: Ngài Thị Giả thấy Hòa Thượng đắp một chiếc mền hơn hai mươi năm. Khi đó Ngài xin Hòa thượng là bỏ đi nhưng Hòa Thượng nói là “Đừng bỏ, còn xài được!”

Một ngày Hòa Thượng đi đâu vắng, ở nhà lấy chiếc mền cũ đó giấu đem đi. Khi Hòa Thượng về thì thấy đã thay mền mới thì Hòa Thượng hỏi “Mền cũ đâu rồi con?”, Ngài thị giả báo là “Dạ, đã thay mền mới cho sư ông!” Hòa thượng nói “Vậy cũng được, cần cắt nó ra làm tấm lót chân! Đừng bỏ, lãng phí, phung phí!”

Qua đó chúng ta thấy, Ngài ấy là Hòa thượng lãnh đạo giáo hội, phiên dịch cả đại tạng kinh, gọi là Hán Tạng. Ngài ấy có công đức rất vĩ đại trong Phật giáo của chúng ta.

Đó là những tấm gương rất sáng, từ những việc nhỏ như vậy thì mình học, khi mà mình có tâm trân trọng với mọi sự vật, cho đến những người mình giao tiếp, chưa kể đến ông bà, cha mẹ, anh chị của mình thì đó là người mà Đức Thế Tôn gọi là chân nhân, là người sống thật. Đối với người sống vô ơn, bạc nghĩa, có trước không sau, có đầu không đuôi, đầu voi đuôi chuột, vắt chanh bỏ vỏ, qua cầu rút ván, ăn cháo đá bát, như vậy thì người này không có phước đức, không tình nghĩa thì nhân đạo người này không thành tựu, thì không thể nào tu hành đến thiên đạo, huống chi là Thánh đạo. Vậy nên điều căn bản này chúng ta nên nhớ thật kĩ.

“Nhớ mãi không quên

Nhớ ơn nhớ nghĩa

Nhớ mãi không quên,

Hiền thiện từ bi.”

II. Tâm hiền

Vào ngày đầu Minh Thành đã có chia sẻ về việc thực tập tâm hiền, mình phải nhớ người tu thì tâm phải thật hiền, trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên. Nếu bên trong phẫn nộ, phừng phực, phựt cháy, la lối lên thì kêu gọi “Hiền nha, ngoan nha, lắng dịu, an tịnh nha. Đừng nổi loạn!”

Mình phải thường nhắc, vì tất cả những điều này mà chúng ta dùng từ “nhớ mãi không quên”? Vì mình phải có sự chánh niệm, là sự nhớ đúng pháp, thất niệm là mất đi sự nhớ. Như vậy, chánh niệm là nhớ mình phải tu tâm hiền, tâm hòa, tâm kính, tu tâm thương yêu, thương xót.

Nên ý thứ hai nhớ mãi không quên là phải nhớ hiền thiện, hòa kính, từ bi. Vậy tại sao mình phải tu tâm hiền? Vì tâm mình dữ, mà tâm dữ là tâm sân. Đối với tâm nóng bức, bức xúc, nhiệt não, sân hận, dễ giận, dễ cáu gắt, cộc cằn, cao có, phẫn nộ thì tâm này đưa đến phát ra ngôn ngữ thô bạo, hung dữ, ác độc, sân, si… Khi nó phát ra ngôn ngữ như vậy và làm theo hành động, tập khí, thói quen của tức giận thì nó tạo ra nghiệp. Nghiệp dội ngược lại như ném trái bóng vào bức tường thì dội lại. Khi đó gọi là quả báo.

Những ý nghĩ, cảm xúc, suy tư bên trong là một sự dữ dằn, sự hung hăn, hung bạo, hung tợn, hung tàn, hung dữ, hung hãn… Nếu mình không thấy, không biết, không nhiếp phục mà bất thình lình, khi mình không thường tu tâm hiền, không tu cảm thọ an tịnh, lắng dịu nên khi gặp duyên, gặp cảnh đúng trường hợp thì trong này bùng cháy, phựt ra, lan, đốt, thiêu hủy hết. Như vậy là một đóm lửa nhỏ thêu đốt cả cánh rừng công đức của chúng ta.

Có thể người đó lo cho người kia suốt cuộc đời nhưng chỉ cần người này nói một câu hay hành động làm bừng, bốc lên là có thể xảy ra án mạng. Như vậy, muốn giữ được phước và đức, muốn giữ được cái ân, nghĩa tình thì phải tu tập một cảm giác an tịnh, lắng dịu, hiền thiện. Như vậy mới có thể làm giảm bớt cảm xúc hung hãn, hung hăng, phẫn nộ, cộc cằn, hung dữ, hung bạo, hung tàn. Đừng nói “Thầy ơi con hiền lắm!” mà hãy đợi đụng chuyện thì mới biết được. Cảm thọ, cảm giác bên trong ngủ ngầm, chờ thời, đúng lúc thì bên trong bừng, bốc, cháy, lan ra cả xóm làng, người thân.

Như trên mặt báo có các vụ án anh giết em, vợ giết chồng, con giết cha, giết mẹ… Tất cả đó nói lên cảm thọ, cảm giác, cảm xúc không được tu tập và do không thấy, không biết nên không thể tu tập.

Vì vậy, trong sự tu học của Đức Phật dạy trong kinh Nikāya là luôn luôn quay về nhìn lại cảm thọ, cảm xúc, cảm giác của mình, luôn luôn nhắc nhở phải an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, hiền hòa và phải luôn luôn, thường thường không quên, nên mới gọi là nhớ mãi không quên, là nhớ mãi, nhắc mãi, để ý mãi. Như vậy gọi là chánh niệm, nhớ đúng lời Phật dạy, đúng thiện pháp, Thánh pháp. Nếu mình quên thì bên trong thói quen phừng lên, phẫn nộ, đốt cháy, thiêu rụi, phóng hỏa, như vậy là khổ mình khổ người, hại mình hại người, tổn thương cho mình tổn thương cho người, hủy hoại chính mình và hủy hoại người.

“Nhớ mãi không quên

Hiền thiện từ bi”

Từ bi là xót thương, tức nhớ mãi không quên xót thương cho chính mình và cho mọi người xung quanh tất cả chúng ta, đều là những nạn nhân của tham dục, tham muốn, tham vọng, tham lam, tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài. Tham ăn, tham chơi, chính bị tham những điều đó nên đau khổ trong lòng, bị ràng buộc, hệ lụy trong đó, bị sai khiến, sai sử, làm nô lệ cho tâm tham đó.

Vì vậy, mình phải xót thương mình là nạn nhân của lòng tham, là nạn nhân của tâm sân, cảm giác thiêu cháy đó thì mình là nạn nhân, người bị hại, là nạn nhân của tâm u tối, mê mờ vô minh, không thấy không biết, không thành tựu trí tuệ. Mình xót thương cho mình là nạn nhân của bản ngã, của một cái tôi, cái ta, của một sự hơn thua, tranh đấu, ganh tị, đố kỵ, cao thấp, giành giựt nhau.

Từ việc mình thấy rõ mình là nạn nhân của vô minh, tham, sân, si, bản ngã, hơn thua thì mình xót thương cho mình và kêu gọi tâm mình “Giảm tham lại dùm, đã khổ vì mày quá rồi. Giảm sân lại, đốt vừa vừa thôi, không lẽ cứ đốt nhà hoài hay sao? Mày đã đốt thân ta tiều tụy từ trẻ đến già thì giờ đốt vào lò thiêu nữa hay sao? Hãy dập tắt, an tịnh, lắng dịu đi, mát mẻ, thanh lương đi, hiền dịu, từ ái, phải biết thương mình đi. Mình mới thật sự là người đáng thương nhất hành tinh.”

Khoan vội nói thương người này người kia nhiều mà mình chưa biết thương mình thì mình chưa thể thương người ta được. Thương chỉ nói trên miệng, chỉ là ái kiến chứ chưa phải là thương thật sự của từ bi trong đạo Phật. Thương từ bi trong đạo Phật là phải thấy rõ được bản chất của đời sống này là khổ, thấy rõ được nguyên nhân làm cho khổ là tham, sân, si, vô minh, bản ngã, thấy được con đường chấm dứt những thứ đó, những cảm xúc tham muốn, những cảm giác nóng bức, sân hận, chấm dứt những cảm giác u ám, si mê, ta đây, bản ngã.

Chấm dứt những cái đó mới là hết khổ, thấy thấu đáo về những điều đó và luôn tâm niệm nhớ mãi không quên, thường nhắc nhở mình, huấn luyện, dẫn dắt, chỉ dẫn, cho nhớ hoài những cái đó để không quên thì đó mới gọi là thương mình.

Còn nếu cứ hơn thua với người khác, cứ lo tham muốn, đấu đá, tranh giành, giành giựt, đánh đá nhau thì đó không phải là thương mình. Đó chỉ là hại mình. Chúng ta nhìn thấy hằng ngày trên báo chí hở chút là đánh, đập, đâm, hở chút chém thì cuối cùng có phải là chính mình hại mình? Có phải tự mình giết mình, tự mình giam mình, chôn mình, bắn mình. Như vậy Đức Thế Tôn gọi đó là ngu si, hại mình hại người, làm khổ mình làm khổ người, giết mình giết người, chôn mình chôn người, giam hãm, giam cầm mình chung thân.

Gần đây như bao nhiêu vụ án, anh em ruột chỉ có con đường đi chung nhưng giành giật, cuối cùng đâm nhau, người vào tù, người chết. Giờ thì hối hận đã muộn màng, một người nằm dưới lòng đất, người phải vào tù. Đó là cùng chung huyết thống, dòng máu, chung một bào thai. Nhưng vì là nạn nhân của lòng sân hận, tâm tham, tâm hơn thua, ganh đua, phải trái, đúng sai, là anh em thì cần gì đúng sai, cứ thấy thì mình xin lỗi, nhún nhường, sống bằng tình thương xót nhau. Như vậy thì không có chuyện gì xảy ra, được bình an.

“Nhớ mãi không quên,

Hiền thiện, từ bi.”

Khi mình nói chữ hiền thì nói ngọt lịm trong cảm thọ, trong lồng ngực một chữ hiền mát mẻ, ngọt ngào, thấm đượm từng tế bào lồng ngực của mình, ngấm, thấm đẫm, lan tỏa một sự hiền thiện, hiền hòa, hiều hậu, hiền lương, hiền kính, hiền đức, hiền trí, không phải nói hiền chỉ ở trên miệng mà phải làm cho cảm thọ hiền đó thật sự sanh khởi bên trong con người của mình. Làm cho cảm thọ hòa ái thấm đượm, lan tỏa trong thân tâm của mình, phải thật sự hiền hòa, hiền hậu, hiền lương, hiền đức.

Minh Thành có giảng giải bài thiền quán Bi vô lượng tâm và Từ vô lượng tâm rất kĩ, về hiền hòa, hiền hậu, hiền lương ra sao, hiền đức, hiền trí ra sao. Cũng là hiền nhưng nhiều khía cạnh, phương diện của tâm hiền này, mà tâm hiền này để đi đến bậc hiền Thánh. Mình đừng nghĩ là “Con dữ lắm hay sao mà thầy kêu con tu hiền?” Câu nói đó chính là dữ, là tâm chống đối, không nhu nhuyến, mềm mại, không dễ sử dụng. Tâm cứng cỏi, chống đối, ương ngạnh, nổi loạn, cộc cằn, hơn thua,

Như vợ chồng là thương nhau mới về sống chung với nhau, bỏ cha mẹ để ở chung trong hai mươi, ba mươi năm, bốn mươi năm mà chỉ hở chút là kiếm chuyện, hở chút là gây gổ. Đó là không tu tập tâm hiền, tâm hòa, tâm cảm thông, tha thứ, bao dung, độ lượng, xót thương lẫn nhau. Mình nên biết là “Cuộc đời khổ quá rồi, tôi và ông từ nhỏ đến lớn đã khổ nhiều rồi. Không lẽ giờ tôi lại làm khổ ông, ông làm khổ tôi nữa hay sao? Vì giờ mình đã tu rồi!” Mình làm khổ cho nhau nữa hay sao? Khổ quá rồi nên mình mới tu, khổ quá nhiều rồi, và nhìn thấy bao nhiêu chúng sanh đang khổ, cả đại thảm họa toàn cầu, giờ mình kiếm chuyện nhau để cãi lộn hay sao. Trong từng hành động chỉ muốn hơn, không chịu thua thì đừng nói chi vợ chồng, anh em, thậm chí là cha mẹ mình mà lại để ý, nói cái này cái kia để giành phần phải, phần đúng về mình.

Đó là tâm bản ngã, như vậy nên trong nhà cứ lục đục mãi, không hài hòa, bất an. Vì tâm không tu tập, cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền hòa, hiền hậu, hiền lương, hiền đức, hiền từ, không tu tập tâm khiêm cung, khiêm nhã, khiêm hòa, khiêm tốn, khiêm hạ mà bên trong chất chứa những cảm giác hơn thua, cảm giác đúng sai, lớn nhỏ, cao thấp.

Con muốn giỏi, mẹ cũng không chịu thua con, xong lại hơn thua nhau, vậy mà ghi giấy cầu an nhưng về lại cãi nhau, như vậy thì làm sao an? Vậy nên Đức Phật đã dạy rất quan trọng ở tâm:

“Nhớ mãi không quên,

Hiền thiện, từ bi.”

Từ bi là từ hán việt, nghĩa tiếng Việt là xót thương. Thương xót ở đây là chúng ta là nạn nhân của tham, sân, si, không nên để nhầm từ qua ái. Ái là nói nghe là thương, không nghe là giận, làm theo thương, hợp ý thương, không làm theo, hợp ý là ghét, đó không phải là từ. Từ bi là tâm xót thương vì thấy được bản chất của đau khổ của sự vận hành của tham sân si, vô minh và bản ngã. Đó mới là thương sâu sắc, rộng lớn của tâm từ.

III. Hòa kính

“Nhớ mãi không quên

Sáu pháp hòa kính.”

Trong bài kinh Cần phải nhớ trong Tăng Chi Bộ Kinh tập ba,

“1. - Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp cần phải ghi nhớ này. Thế nào là sáu?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú thân làm từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Đây là pháp cần phải ghi nhớ.”

An trú thân, hành động của mình bằng tâm thương xót, đó gọi là an trú thân làm từ, là làm bằng tâm thương.

“3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú lời nói từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Đây là pháp cần phải ghi nhớ.”

An trú lời nói từ hòa, an trú ý nghĩ từ hòa, ý nghĩ thương xót với nhau, thương nhau, kính nhau.

“4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú ý nghĩ từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Đây là pháp cần phải ghi nhớ.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp, cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát, vị ấy không phải là người không san sẻ các đồ vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các đồng Phạm hạnh có giới đức. Đây là pháp cần phải ghi nhớ.”

Điều thứ tư ý nói phải biết san sẻ đồ vật người khác cúng dường, mình có thể ứng dụng vào đạo tràng hay gia đình của mình.

“6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các Giới Luật không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu Giới Luật trong các Giới Luật ấy đối với các đồng Phạm hạnh trước mặt lẫn sau lưng.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau, Tỷ-kheo sống thành tựu tri kiến với các tri kiến như vậy đối với các đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.

Này các Tỷ-kheo, đây là sáu pháp cần phải ghi nhớ.”

(Bài kinh Cần phải nhớ 1 – Phẩm Cần Phải Nhớ - Chương Sáu Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)

Bài kinh Cần phải nhớ 2 tương tự như vậy nhưng được bổ sung thêm:

“- Có sáu pháp cần phải ghi nhớ này, này các Tỷ-kheo, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.”

(Bài kinh Cần phải nhớ 2 – Phẩm Cần Phải Nhớ - Chương Sáu Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)

Như vậy, điều nhớ mãi không quên thứ ba là sáu pháp hòa kính. Điều thứ nhất Đức Phật dạy mình là an trú thân, làm những hành động bằng tâm từ ái. Mình có làm hành động gì của thân thì hãy làm với một tâm thương kính nhau, chứ không phải làm cho có, cho hả dạ, làm vì tham muốn, sân si, bực bội. Đó không phải là an trú thân làm từ, làm phải từ tâm thương, tâm hòa, tâm kính, hành động với một tâm nhẹ nhàng, dịu dàng, từ ái.

Lúc xưa Minh Thành đi chùa lúc còn nhỏ, chỉ bảy, tám tuổi mà hình ảnh này không bao giờ Minh Thành quên được. Lúc đó tại chùa Quảng Phước tại Sa Đéc, cố sư bà viện chủ là một bậc tu hành thành tựu, thần thông, đức độ rất lớn. Khi đi vào bếp không có một tiếng ồn, ngay cả khi bằm xả cũng không gây ra tiếng ồn. Thay vì bình thường là dùng dao chặt chặt, cắt xuống còn khi đó các cô cắt rất nhẹ, để giảm tối đa tiếng động vang ra. Đó gọi là an trú thân làm từ.

Đó là những điều rất nhỏ nhiệm và sâu sắc, nhiều khi mình chặt đồ mạnh không kéo có thể đứt tay, nếu mình cắt nhẹ nhẹ thì lỡ có cắt vào tay cũng nhẹ, đó là hành động bằng tâm thương. Như đang thương trái dưa leo, cây xả, tàu hủ, làm với một tâm từ ái, tâm biết ơn, trân trọng, chứ không phải bằm bằm lớn tiếng đến nỗi nghe hết hồn, nghe như đang giận ai đó, giận cá chém thớt.

Như vậy là không an trú thân làm từ, điều này thật sự rất tế nhị, chỉ có người để tâm, vi tế tu học mới biết được. Thông thường thì chỉ nghĩ là “Làm rồi, thoải mái, miễn sao làm có ăn là được!” Với tâm như vậy thì không thể tu học được, đó là tâm của phàm phu, tâm không chấp nhận học pháp, không tôn kính pháp, không tôn trọng pháp. Đức Thế Tôn dùng từ là chấp nhận học pháp. Ý nói những điều Thế Tôn đưa ra thì một người đệ tử gọi là chân thành, cung kính và thật sự là Thánh đệ tử, thì bất cứ pháp nào của Thế Tôn đưa ra thì tâm của người này luôn rộng mở đón nhận tất cả, không có sự chống đối, đóng tâm mình lại. Đó mới gọi là chấp nhận học pháp.

Chỉ bốn chữ này mà mình tu suốt đời mà chưa chắc thành tựu, nếu mình thành tựu được bốn chữ này thì chắc chắn mình nhập lưu ngay tức khắc. Vì những pháp mà Ngài đưa ra là điều kiện để cho mình thể nhập vào dòng trí tuệ. Đối với mình khi được đưa ra thì “Cái đó tôi không có làm!” thì đó là không chấp nhận học pháp. Vậy nên bốn chữ này là cả một bí kíp của Chánh Pháp.

Khi tâm đạt được tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng thì phải có quá trình thực tập và nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc từng suy nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm thì mình phải thấy biết và xem có chống đối, ương ngạnh, bướng bỉnh hay cứng đầu, khó dạy không?

Ví như mình kêu tâm mình đừng giận, đừng tham thì nó có nghe lời mình không? Mình kêu từ bi thì nó sân si, kêu nó khiêm hạ thì nó lại bản ngã. Vậy nên đây là tâm hết sức ương ngạnh, cứng cỏi, cứng đầu. Bây giờ mình dạy tâm này thì đó là cả một quá trình, công phu, phải để tâm rất nhiều trong sự huấn luyện cảm giác, cảm xúc, cảm thọ của mình.

Vậy nên nói nhỏ như khi cắt đồ, bằm xả phải làm nhỏ tiếng thôi, từ đó mình phải nhìn ra được lúc quét nhà, lau Chánh Điện, hay mỗi nhất cử nhất động của mình làm trong sự an tịnh, lắng dịu, từ ái không?

Đến lời nói thì có an trú lời nói từ không? Nói chuyện với nhau mà như phóng dao, quăng móc câu chờ như cá cắn câu hay như đãi “trà móc câu” – là nói ra thì câu trước câu sau lại móc. Như vậy không phải là an trú lời nói từ, mình là anh em, huynh đệ, tỉ muội với nhau, mình là vợ chồng, cha con, mẹ con với nhau, là thầy trò, huynh đệ với nhau mà tại sao mình lại suy nghĩ, nói hơn thua để giành phần thắng?

Nhiều lúc với tâm từ thầy mình thương mình mà sư huynh mình nhắc nhở mình nhưng mình lại nghĩ khác, lại sân hận, bản ngã lên mà không biết đó là tình thương của thầy, mình cảm ơn không hết mà khi nói tới lại buồn, giận. Như vậy là chính mình làm cho mình bị thoái thất.

Mình phải lắng nghe tâm mình để làm cho cảm thọ an tịnh lắng dịu, rồi mình nghe theo ý đó, theo sự chỉ dạy của thầy đó là bằng tình thương, là muốn cho mình tốt, muốn tác thành cho mình. Mà mình lại sân si, bản ngã là thất bại. Đó là nói hai chiều, một chiều là tiêu cực, cứ kiếm chuyện với nhau vì không biết an trú lời nói từ, chỉ kiếm chuyện với nhau, nói chỉ mấy câu rồi cãi nhau, gây gổ, nói thêm thì thành đánh lộn.

Vì vậy, chúng ta thấy rằng Đức Phật đã dạy cho chúng ta những pháp hết sức bình dị, thực tế, thiết thực hiện tại, gần gũi ngay trên miệng, bàn tay, đôi chân của mình, chứ không phải đi vào bàn Phật lúc đó mới tu. Không phải chờ lúc lên Chánh Điện tụng kinh thì lúc đó mới là an trú lời nói từ. Khi đi ra rồi thì mỗi lời nói của mình phải như hoa như mật chứ đừng nói như phân. Đó là Đức Phật đã dạy ba lời nói: lời nói như phân- nói ra làm người ta chạy hết, lời nói như hoa – lời nói đẹp và lời nói như mật – bổ dưỡng.

Vì vậy, chúng ta phải nhớ an trú lời nói từ, an trú ý nghĩ từ. Khi mình suy nghĩ về ai thì phải suy nghĩ bằng tâm thương kính, dừng suy nghĩ bằng tâm sân hận, như vậy gọi là an trú ý nghĩ từ. Bất cứ suy nghĩ về ai thì hãy suy nghĩ bằng tình thương, bằng sự từ ái, bằng sự bi mẫn, phải thường xuyên tập như vậy.

Tại sao khi mình đi học thì phải làm bài tập? Tại sao gọi là luyện tập, tập võ, tập luyện? Đó là phải làm tới làm lui cho đến khi nào nhuần nhuyễn thì lúc đó sẽ thành công. Vậy nên giờ mình phải tập ý nghĩ của mình, quản lý suy nghĩ của mình, không phải muốn nói là nói, phải bắt nó nghĩ theo chiều hiền từ, từ ái, hài hòa, thương yêu, thương xót, đó là tập an trú ý nghĩ từ. Nghĩ về thầy của mình, là cả bầu trời ân đức, nghĩ về sư phụ, sư huynh là cả dòng sông về ân nghĩa, nghĩa tình.

Nghĩ về cha mẹ là cả một bầu trời, địa cầu, trái đất của sự biết ơn. Tất cả đều là ân nhân của mình thì mình sân hận với ai, hơn thua với ai? Tự nhiên như vậy thì tâm mình sẽ được tu tập. Tâm là thọ, tưởng, hành, thức, những cảm giác đó sẽ được quân tập, tưới tẩm, tăng trưởng, vun đắp, vun bồi, những cảm xúc này càng ngày sẽ càng phát triển hơn, càng lan tỏa và phát triển sung mãn trong cơ thể của mình từ đỉnh đầu đến gót chân. Lúc mình nói ra là mình nói lời biết ơn, nghĩ là nghĩ đến sự cảm ơn, làm hành động là đền ơn.

Như vậy, an trú bên trong này là ý nghĩ từ, lời nói từ, hành động từ, từ ái, thương mến nhau. Chúng ta thấy thật đẹp và tuyệt vời nên quý vị cần ứng dụng, ghi nhớ điều này và nghe thường xuyên, ghi chép lại và nhắc nhở mình mỗi ngày. Sáng ngủ dậy là đọc bài này

“Nhớ mãi không quên

Biết ơn biết nghĩa,

Nhớ mãi không quên

Hiền thiện từ bi

Nhớ mãi không quên

Sáu pháp hòa kính

Nhớ mãi không quên

Diệt tham, sân, si.”

Điều thứ tư Đức Phật dạy mình là san sẻ, dùng chung. Dù cho ở trong chùa, đạo tràng hay ở nhà, mình có món ngon, vật lạ thì mình phải biết nghĩ đến người khác, nhất là thầy của mình, cha mẹ của mình hay những bậc trưởng thượng, ân đức, mình nên nghĩ về những người đó trước.

Chúng ta phải biết san sẻ, đó là phước, đức của mình, là tâm tu tập hiền thiện, hòa kính của mình. Khi có những món ngon, vật lạ, đồ quý thì phải nghĩ đến những bậc tôn trưởng, trưởng thượng của mình. Nếu không thì nên chia ra, ví dụ trong chùa có ba mươi người, được cúng mười ngó sen thì nghĩ bình thường là đưa cho mười người lớn, nhưng nên làm là mở điều ra hết, đến giờ cơm dọn chung các vị dùng thì mình cúng dường. Vì có những thứ bên ngoài cúng dường thì các thầy trụ trì, thầy chưa có mà những người nhỏ bên dưới đã làm mất lúc nào chẳng hay.

Đó là tội, làm tổn phước, tổn đức, điều đó thấy vậy nhưng rất quan trọng, không biết pháp luật, giới luật, luật hòa kính, phải san sẻ đồng điều hết. Đó là nói trong chùa, còn ở ngoài đời vợ chồng với nhau, cha con, mẹ con sống có tình có nghĩa, có ân có đức, người ta thương mình, sống như vậy được hòa đồng, hòa kính, được tương ái, tương kính, tương thân, không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Vì miếng ăn là miếng tồi tàn, người này có người kia không có là lộn gan lên đầu, dù thấy vậy nhưng không nói, để trong bụng “Có đồ ăn mà không cho tôi!” Nhỏ như vậy nhưng một, hai rồi ba lần, như vậy thì sau này khi có hữu sự thì những cái đó trở thành xích mích, bất hòa ở trong gia đình, vợ chồng, anh em.

Vì vậy Đức Phật dạy mình phải biết san sẻ, dùng chung với các bậc phạm hạnh có giới đức, đó là nói trong đạo tràng, trong chùa, ngoài đời cũng cần như vậy, phải chia đều cho các con các cháu, phải nghĩ cho người khác. Giới luật sẽ không bị bể vụn là giới hòa đồng tu, cùng tôn trọng giới luật, nội quy, thanh quy, cùng tôn trọng giờ giấc, ai cũng biết tôn trọng như vậy thì đạo tràng được nề nếp, đồng đều, đầy đủ, trang nghiêm, thanh tịnh, hòa hợp.

Nếu người này đi người kia không đi thì người kia tự hỏi “Người kia không đi thì mình đi làm chi?” Hay người kia thấy vậy rồi nhìn qua nhìn lại thì tâm lại trở thành bất an, trở nên không được hòa hợp với nhau.

Vì vậy, giới hòa đồng tu là mình nói đơn giản là những thanh qui, giờ giấc tu tập khi mình đến đạo tràng sinh hoạt trong thời khóa, mình phải đi theo thời khóa. Không thể mình muốn vô là vô, muốn lên là lên, không lên thì thôi mình ở dưới nói chuyện trong khi bên trong đang ngồi thiền, mình bên ngoài đứng lại nói chuyện. Như vậy là mình không tôn trọng Phật, Pháp, Tăng, không tôn trọng đại chúng, không tôn trọng sự thanh tịnh, trang nghiêm, không cung kính pháp bảo nên phước đức mình bị giảm dần dần, trí huệ bị giảm, sự tu học dừng lại và từ từ rơi trở xuống.

Vậy nên điểm tiếp theo chúng ta cần nhớ là về giới hòa đồng tu, những thanh quy, nội quy trong đạo tràng, khóa tu, hay trong gia đình, có những việc cần tôn trọng lẫn nhau như có những giờ giấc chung, không gian chung, mình nên để ý điều đó.

Cuối cùng là thành tựu tri kiến, là các tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến cho người thực hành chân chánh diệt tận được khổ đau, đây là sự thấy biết của bậc Thánh. Đối với giáo pháp, trí tuệ mà Đức Phật truyền trao mình thì chúng ta phải cố gắng học hỏi, suy tư, thực tập, quán chiếu, khi mình thấy biết thì chia sẻ với huynh đệ, có điều kiện trong gia đình thì mình chia sẻ với chồng với con, vợ của mình một cách khéo léo.

Vì nếu người ta không nghe thì cũng đừng ép họ, nếu người ta không thích thì đừng ép họ. Mà là cách thiện xảo, mình khéo léo tùy người, tùy đối tượng, tùy nhân duyên, hoàn cảnh mà mình khéo léo, chia với nhau bằng những lời rất bình dị, để cho người kia nếm được hương vị, sự thật, trí tuệ, ánh sáng, để giúp cho người ta giảm bớt khổ.

Và trong sáu pháp này, câu Đức Phật lặp tới lặp lui xuyên suốt là “trước mặt lẫn sau lưng”. Vì nếu trước mặt như vậy mà sau lưng là khác thì đã thất bại. Trước mặt nói lời từ ái mà sau lưng không nói lời từ ái là xấu.

Vì vậy phải nhớ câu “trước mặt lẫn sau lưng”, phải suy nghĩ từ, nói lời từ, hành động từ trước mặt lẫn sau lưng. Và mình san sẻ với nhau trước mặt lẫn sau lưng có hay không có, đưa đi chưa về mà món đồ đó còn xài lâu được thì để dành cho người đó, không phải người đó đi vắng rồi là thôi.

Giới luật cũng vậy, trước mặt lẫn sau lưng, thành tựu tri kiến, thấy biết của bậc Thánh, của Đức Thế Tôn truyền trao cho mình. Mình phải cố gắng kiến hòa đồng giải, chia sẻ cho nhau những thấy biết đó chứ không phải thấy cái này hay mà mình giữ, để dành cho mình. Để nói cho người kia biết, chứ không để một mình mình biết thôi, phải chia sẻ mà người khác hoan hỷ, thích, muốn nghe trong một hoàn cảnh phù hợp, nhân duyên, thì mình sẵn sàng chia sẻ với nhau.

Đây là chúng ta nói vắn tắt, ngắn gọn về sáu pháp hòa kính.

“Nhớ mãi không quên,

Sáu pháp hòa kính”

Nhớ hành động bằng sự từ ái, đừng hành động thô tháo, thô bỉ, ầm ầm, đi đến đâu là quăng chén, làm rơi tô, muỗng, như thùng phuy chuyển động. Phải làm cho nhẹ nhàng, oai nghi và niệm oai nghi, niệm hành động. Mỗi một hành động của mình thì nó chứa đầy những chất liệu của sự từ ái, xót thương bên trong đó. Mỗi lời nói của mình là nói lời thương, lời cảm thông, khi người ta hỏi thì mình chỉ cần ngồi lắng nghe để người ta trút được cái khổ ra, khóc đã rồi thì đó cũng là một sự từ ái, tuyệt vời.

Nói lời ra sao mà để cho người ta giảm khổ, bớt khổ chứ đừng nói thêm lời làm cho người ta đau khổ thì tội cho họ. Sau đó suy nghĩ của mình suy nghĩ luôn trong sự xót thương lẫn nhau, quý mến lẫn nhau, bao dung, tha thứ lẫn nhau, giúp đỡ, tác thành, hỗ trợ lẫn nhau. San sẻ nhau từng món này đến món khác.

Những thanh qui, nội quy, thời khóa, giới luật, cố gắng cùng nhau vân giữ một cách hoan hỷ, thì được an ổn từ ngoài đời đến trong đạo. Sự thấy biết tuyệt vời mà Đức Phật đã dạy mình trong sự nhận diện năm uẩn, sự nhìn ra được các cảm xúc, cảm thọ, cảm giác, sự nhiếp phục được các tham, sân si, trong thân tâm của mình tuyệt vời như vậy nên mình cố gắng có duyên thì mình chia sẻ với những người thân yêu của mình, những người có ơn với mình, người có nghĩa có tình, những người muốn, những người có thể nghe được và chia sẻ, kiến hòa đồng giải.

IV. Diệt tham sân si

“Nhớ mãi không quên,

Diệt tham, sân si.”

Đây là trọng tâm, cốt lõi của người tu, nếu quên nó thì không còn là người tu nữa. Lúc nào cũng xem lại trong cảm thọ, cảm giác của mình có tham ái, sân hận không, có si mê, vô minh không, không thấy pháp, không thấy sự thật không? Hay nó chỉ thấy được cái tôi, cái ta, cái bản ngã, cứ muốn hơn thua thì phải lo diệt nó.

Như vậy, chúng ta cần nhớ:

“Nhớ mãi không quên

Nhớ ân nhớ nghĩa

Nhớ mãi không quên

Hiền thiện, từ bi

Nhớ mãi không quên

Sáu pháp hòa kính

Nhớ mãi không quên

Diệt tham sân si.”

Mỗi buổi sáng cần học thuộc lòng để nhắc nhở mình. Nhớ những lúc mình sân giận, hơn thua, bản ngã lên là phải đọc liên thu bất tận để nhắc nhở, hướng vào nội tâm để nhắc nó phải hài hòa, cung kính, thương yêu, bao dung, tha thứ, độ lượng. Cuộc đời đã quá khổ rồi, giờ mình không tạo thêm khổ nữa. Mà mình tu học Phật để mình giảm khổ, bớt khổ để mình thoát ra khỏi cái khổ.

Như vậy, mong rằng tất cả quý vị trong ngày tu, như trong ngày lễ giỗ tổ, quý vị nhớ ân thầy, Đức Tổ, Tam Bảo và sống, thực tập giáo pháp Nhớ mãi không quên.

“Nhớ mãi không quên

Nhớ ân nhớ nghĩa

Nhớ mãi không quên

Hiền thiện, từ bi

Nhớ mãi không quên

Sáu pháp hòa kính

Nhớ mãi không quên

Diệt tham sân si.”

Kinh chúc quý vị có một ngày an lành, nhớ mãi không quên sự chánh niệm này đem đến an lạc hiện tại và mãi mãi về sau.

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.