Cung kính đưa đến thành tựu
CUNG KÍNH ĐƯA ĐẾN THÀNH TỰU
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dẫn nhập: PAGEREF _Toc48147414 \h 1
II. Bảy pháp: PAGEREF _Toc48147415 \h 3
II.1. Tôn kính Bậc Đạo Sư: PAGEREF _Toc48147416 \h 3
II.2. Tôn kính pháp: PAGEREF _Toc48147417 \h 5
II.3. Tôn kính tăng: PAGEREF _Toc48147418 \h 8
II.4. Tôn kính định và tâm: PAGEREF _Toc48147419 \h 9
II.5. Tôn kính học tập: PAGEREF _Toc48147420 \h 14
II.6. Tôn kính không phóng dật: PAGEREF _Toc48147421 \h 15
II.7. Tôn kính nghinh đón: PAGEREF _Toc48147422 \h 17
I. Dẫn nhập:
Lần trước, chúng ta đã tìm hiểu bộ kinh Cung kính nhưng cũng hiểu chưa hết, còn những ý ở các mục phía sau, hôm nay chúng ta có liên hệ tìm hiểu ở bài kinh Không phóng dật trong Tăng chi bộ kinh, tập 3.
Thường thường, Đức Thế Tôn vào giờ hừng sáng là Ngài giáo hóa cho chư Thiên. Sau khi mặt trời lên, đi khất thực, Ngài mới giáo hóa cho nhân loại. Đức Thế Tôn được gọi là Thiên Nhân Sư, là bậc thầy của trời và người. Chư Thiên, không giống như chúng ta xem trong Tây Du Ký. Chúng ta có ngủ nằm chiêm bao không? Nằm chiêm bao có thấy mình đi Đà Lạt hoặc ăn món ăn gì đó, vẫn có cảm giác mát mẻ, ngon lành giống y như lúc thức, phải không? Hình bóng đó, cảm giác chư Thiên giống như vậy, sắc giới. Chư Thiên không phải một cõi giống như mình, có thân, xác, thịt, không phải, đó là thế giới của sắc.
Việc Đức Phật giảng dạy cho chư Thiên là xảy ra bình thường hằng ngày, đây là sự việc có thật. Những người tu sâu sắc đều có thể trải nghiệm chư Thiên cúng dường, không phải là chuyện cổ tích, mà là sự thật. Ngay cả thời đại bây giờ, những bậc chân tu đúng pháp cũng có thể giao tiếp với chư Thiên. Cho nên, cảnh giới của địa ngục, ngạ quỷ, chư Thiên là thế giới của sắc giới, giống nhau ở hình thái sống, có một cái bóng mờ, giống y như trong giấc chiêm bao của mình. Cho nên, khoa học muốn bay lên tìm cõi giống như mình thì không bao giờ tìm được. Nó không phải là thế giới của cõi dục, của sắc chất, chướng ngại này. Nó là một dạng sắc vi tế, giống như khi mình nằm chiêm bao. Cảnh giới của chư Thiên, cảnh giới của địa ngục, cô hồn, ngạ quỷ là trong thế giới của sắc giới. Thế giới của chúng ta là thế giới của dục giới, tức là thế giới này được hình thành từ dục.
Đức Phật nói trong bài kinh Cội rễ của sự vật trong Tăng chi bộ kinh: “Này các Tỳ-kheo, tất cả pháp lấy dục làm căn bản.”. Khi chúng ta cầm ly nước lên uống, dục trong đó, có một sự thúc giục trong đó, mình đi ra mua, nhưng mình không biết. Tất cả mọi hoạt động của chúng ta đều do dục điều khiển, không có một cái nào ngoài dục hết. Cho nên, tất cả các pháp lấy dục làm căn bản, gốc rễ. Do không thành tựu Chánh Tri Tiến, Thánh Trí nên mình không biết, còn nói dục nam nữ mới là dục, thì đó là phàm phu, đâu cần học pháp người ta cũng biết. Cái gọi là đa văn thánh đệ tử là trí tuệ thâm sâu ở trong ngũ uẩn. Ví dụ, mình muốn đứng lên, đầu tiên mình có dục không? Phải có cái muốn đứng, mình mới đứng, đó là dục, nó vi tế lắm. Mình phải thực tập, có Thánh Tri Kiến năm uẩn sâu sắc, mình mới thấy được những hoạt động của dục, tham, ái trong nhất cử nhất động của mình.
II. Bảy pháp:
Trở lại vấn đề, buổi sáng hôm đó, khi đêm gần mãn, dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng là một vị thiên nhân, đi đến, lạy dưới chân Phật, bạch với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, có bảy pháp này không đưa Tỳ-kheo đến đọa lạc, tức là rơi rớt xuống, có bảy pháp này là không đưa Tỳ-kheo bị rơi rớt. Bảy pháp đó là tôn kính bậc Đạo sư, tôn kính pháp, tôn kính cúng Tăng, tôn kính học tập, tôn kính định, tôn kính không phóng dật, tôn kính nghinh đón.”
Đức Thế Tôn chấp nhận lời nói đó, vị thiên nhân này suy nghĩ, bậc Đạo Sư đã chấp nhận, nên lễ Đức Phật, Ngài lập tức biến mất ngay tại chỗ đó. Trời hừng sáng, Đức Phật nói với các Tỳ-kheo, “Này các Tỳ-kheo, đêm nay có một thiên nhân, dung sắc thù thắng của chư Thiên do phước báu, ánh sáng của Ngài khi xuất hiện, ánh sáng chiếu sáng hết thành phố chúng ta”, chỉ một vị thiên nhân xuất hiện, sẽ sáng hết toàn thành phố Hồ Chí Minh. Do phước báu của thân tướng dung sắc các vị chư Thiên là ánh sáng. Cho nên, “dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn vùng của Ngài khi đến chỗ Ta”, Đức Phật thuật lại sự việc diễn ra lúc sáng này, Ngài nói một bài kệ:
Kính trọng bậc Đạo sư
Kính trọng Pháp và Tăng
Kính trọng định và tâm
Chí thành kính học tập
Kính trọng không phóng dật
Chí thành kính nghinh đón
Không thể bị đọa lạc
Tỳ-kheo gần Niết bàn.
Chỉ cần thành tựu một pháp trong đây thì lợi lạc của chúng ta là không thể nghĩ bàn, còn nếu thành tựu được bảy pháp này thì chúng ta có khả năng nhập lưu vào dòng Thánh.
II.1. Tôn kính Bậc Đạo Sư:
Tôn kính bậc Đạo sư, những điều này hôm trước đã nói rồi, nay chỉ điểm sơ lại thôi, chúng ta sẽ khai triển những điều hôm trước chưa nói. Tôn kính bậc Đạo sư không phải là lên chánh điện lạy hoài, không phải, đôi khi mình hiểu không chính xác. Mình nghĩ bức tượng ngay chánh điện là Phật, phải không? Thường mình nghĩ đó là Phật, không phải. Đó là sắc pháp, sắc uẩn, đó là biểu tượng, không phải là Phật, là biểu tượng để mình nhớ về Đức Phật.
Đức Phật là bậc đã ly tham, chấm dứt đối với sắc uẩn, Phật không phải là hình tướng ngồi đó. Nếu cho hình tướng đó là Phật, mình tu vĩnh viễn không bao giờ giác ngộ. Đó là biểu tượng để nhắc mình, có một con người xuất hiện trên cõi đời này, người đó bằng sự nỗ lực, bằng sự nhiếp tâm, “Dầu cho chỉ còn xương với da, và máu huyết có khô kiệt, với sức mạnh của tinh cần, tinh tấn, với sức mạnh của ý chí mãnh liệt, Ta chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, chứng đạt những gì chưa chứng đạt. Đời sống xuất gia của Ta không phải là trống không, không phải là trống rỗng, mà đời sống xuất gia của Ta là có thành tích, có thành quả, có thành công”, Đức Thế Tôn đã nói trong kinh Mười lực.
Khi nhìn tượng Phật, mình nhớ, có một con người giống như mình, cũng đầy đủ ngũ uẩn tham sân si, phiền não, con người ấy bằng tất cả nhiệt huyết, bằng tất cả tấm lòng, một con người đã hy sinh để dấn thân và đã tìm được thánh trí giải thoát để chứng ngộ, chấm dứt tất cả tham dục, vô minh, khát ái đối với ngũ uẩn, và người đó là bậc Đạo sư của chúng ta. Và chúng ta là những con người đi theo con đường đó, đi trên đạo lộ đó, bước theo bước chân của Ngài, chúng ta cũng sẽ nhiếp phục tham sân si, bản ngã, đi đến chấm dứt vô minh, khát ái đối với ngũ uẩn. Và mình lạy xuống, đó mới gọi là lạy Phật.
Mình nhìn bức tượng, nói đó là Phật, mình lạy, “bức tượng đẹp quá, khắc đẹp” này, nọ, kia… chi vậy? Là mình đang dính trong cái sắc pháp, sắc uẩn. Phật là đi ra khỏi năm uẩn. Quý phật tử lên trang Linh Quy Pháp Ấn, mở bài “Vén màn bí mật Đức Phật là ai?” nghe bài đó để thấy được sự vĩ đại của Như Lai. Thực tại không thành tựu Chánh Kiến thấy đúng, chúng ta nhìn Phật sai hết, nhìn Phật y như một ông Thần, không phải. Phật là ra khỏi năm uẩn.
Tôn kính bậc Đạo sư là tôn kính một bậc đã hoàn toàn phá vỡ vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn. Những lời dạy của Ngài, mình phải nhớ rằng, tôn kính Pháp là tôn kính sự thật, “Này các Tỳ-kheo, xưa và nay, Như Lai chỉ nói khổ và con đường diệt khổ đau. Ta chỉ nói hai điều này thôi. Sự thật của ngũ uẩn là khổ và con đường chấm dứt khổ đau, ngoài ra ta không nói gì khác nữa.” Mình phải nắm được hồng tâm này thì sự tu tập của chúng ta mới có kết quả. Tất cả những gì ta nói là nhằm trình bày bản chất của ngũ uẩn này là khổ, và con đường chấm dứt khổ. Đó là những lời dạy của Như Lai, ngoài ra không có gì khác. Mình đừng đi tìm gì khác ngoài hai điều đó. Mình tu năm, bảy, mười năm mà nhìn cuộc đời còn màu hồng, đẹp lắm, sướng lắm thì mình còn ở ngoài cổng chùa xa chín ngàn dặm, chứ chưa bước vô cổng chùa.
II.2. Tôn kính pháp:
“Ta chỉ nói về khổ”, điều gì khổ? Sắc thân này, những tài sản này vật chất, vô thường hủy hoại tiêu tan, bại hoại, hoại diệt. Trong một ngày, trên thế giới có tới hai trăm mấy chục ngàn ca nhiễm bệnh, một ngày ở Mỹ hơn sáu mươi ngàn ca nhiễm bệnh, một nước thôi. Có phải sắc thân này là ổ chứa đống bệnh hoạn, ổ vi khuẩn, vi trùng, dịch bệnh, nhưng mình không tin, cho nên mình mới vô minh. Chính vì vậy nên cần phải tôn kính pháp, tức là tôn kính sự thật mà Đức Phật chứng ngộ. Mình nghe, tuy chưa thấy được vậy nhưng cố gắng làm sao để mình thấy được, như vậy là tôn kính Pháp. Nguyên nhân của khổ chính là những cảm giác, nghĩ tưởng về dục, ái, tham sân si, bản ngã.
Tại sao tu lâu nhưng mình lại không thấy? Vì mình chỉ lo hướng ngoại, chỉ nhìn ra ngoài, không nhìn lại những cảm giác, những cái tưởng, suy nghĩ trong tâm; mình không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao biết được cái gì đang có ở bên trong, đang sanh khởi, đang vận hành… mình hoàn toàn không thấy, rồi đổ thừa cho người này, người kia nên mình mới khổ, không phải. Khổ là do dục, tham, ái, sân, si, bản ngã của mình.
Ví dụ, có người giật tiền không trả, tâm của mình bình an, “mấy thứ đó là vô thường, mạng này còn không chắc, mấy thứ đó có là gì đâu, tại sao mình phải đi theo để sầu bi khổ não như vậy, buông xả đi.” Tâm mình bình an thì mình sẽ không khổ. Cái khổ không phải ở bên ngoài, cho dù người đó có hại, họ làm tổn thương mình, nhưng nếu tâm đạt được một trí tuệ thì mình sẽ không khổ; đừng đổ thừa tại người này người kia nói xúc phạm, chạm tự ái… nhưng tâm mình đang nhiếp phục bản ngã, xóa sạch tham, sân, hận, vậy mình có khổ không? Đằng này người ta nói một câu, mình nói lại ba câu, người ta nói ý đơn sơ, mình về viết luận văn, nằm trên giường dệt, vẽ đủ thứ, mọc nhánh, mọc cành… đủ thứ chuyện, bé xé ra to, to làm ra bự, bự làm ra hình sự.
Đó là nguyên nhân chất chứa đau khổ, là khổ tập thánh đế, chứ không phải bên ngoài, vì mình không thành tựu Chánh Kiến nên không nhìn thấy đúng thân tâm, toàn đổ lỗi cho bên ngoài, chứ thật sự là toàn ở bên trong hết. Cho dù bên ngoài có đến mức độ nào đi nữa, nếu một người thành tựu Chánh Tri Kiến, có sự tu tập thiền định trí huệ thì sẽ không bị khổ, chỉ khổ thân chứ không khổ tâm. Ví dụ, những bậc A-la-hán, đói bụng, các Ngài vẫn biết đói bụng nhưng tâm không khổ.
Trong kinh ví dụ, có hai mũi tên, có người bị bắn mũi tên nên đau đớn, đó là khổ thân; sau đó bị bắn thêm một mũi tên, đau nhói hơn nữa, đó là khổ tâm. Đức Phật nói Đa văn thánh đệ tử của Ngài chỉ bị trúng mũi tên thứ nhất thôi, nghĩa là đi nắng vẫn nóng, vẫn đổ mồ hôi, vẫn khó chịu nhưng tâm không khổ. Các bậc đa văn khổ thân chứ không khổ tâm, vì thân tứ đại vẫn còn ở trong vô thường thì phải chịu sự biến động, thay đổi vô thường, nhưng tâm của các Ngài là bất động giải thoát. Cái Ngài chứng là tâm bất động giải thoát chứ không phải tu là không có bệnh, còn nghĩ “sao tu dở, tu gì mà bệnh tùm lum”, là không đúng. Có thân thì vẫn phải bệnh, vì đó là nghiệp của những đời quá khứ. Điều quan trọng là người đó bệnh nhưng tâm có động, có đau khổ không. Đây là điều cần phải lưu ý, sự tu tập là chúng ta hướng nội, phải thấy được pháp.
Pháp là sự vận hành bên trong tâm, còn mình là vô văn phàm phu, thì cứ đổ thừa bên ngoài, có chuyện gì bực bội là tại do người này, người kia… chứ không biết nguyên nhân nằm bên trong. Chính vì đặt tâm sai hướng nên tu hoài, mình cũng không thành đạo, không ngộ đạo được, chỉ ngộ độc… ngộ ba thứ độc. Hướng ngoại thì ngộ độc, hướng nội thì ngộ đạo. Hướng ngoại thì sẽ ngộ độc hoài, nghe, thấy, tiếp xúc… gì cũng bị trúng độc, đặt tâm sai hướng, không phải Chánh Tri Kiến, đổ thừa. Cho nên, hiểu được pháp mình mới tôn kính pháp, còn không hiểu pháp thì sự tôn kính pháp sẽ không đúng, mình tưởng pháp là cái gì đâu đâu… Pháp là khổ và diệt khổ, chỉ có bấy nhiêu.
Ngài Achancha, Ngài đi, gặp các thầy trong vườn thiền, thiền viện của Ngài, Ngài hỏi “hôm nay các vị có khổ không?”, các vị trả lời, “dạ hôm nay con có khổ”, “vậy tốt lắm”. Mai mốt gặp nhau, đừng hỏi khỏe không, hãy hỏi, có khổ không. “Hôm nay, có khổ không?”, “con khổ quá trời quá đất”, tốt. Phải thấy khổ mới diệt khổ, phải thấy đường Thánh Tám Ngành mới đưa đến khổ não tận, còn không thấy khổ thì làm sao mình đi ra được.
Suốt ngày chỉ thấy toàn niềm vui, tu chín ngàn năm cũng chưa có gì hết, nhìn đâu cũng thấy vui, phải thấy khổ. Cái khổ đó không phải mình áp đặt, mà đó là bản chất của thế giới, ngũ uẩn này là khổ. Tại sao người ta không chấp nhận khổ, người ta trốn tránh, khỏa lấp? Nhất túy giải thiên sầu, khổ quá rồi đi chơi, nhậu nhẹt, tức là trốn tránh, che đậy… tới khi mở ra thì quá hôi thối. Khi đối diện với tự tâm mình, họ đau khổ.
Chính vì vậy mà tại sao họ không dám ngồi thiền, vì lúc đó họ đau khổ khi trực diện, trực tiếp nhìn vào thân tâm, chịu không nổi, nên phải mượn tụng cái này, trì cái kia… chứ nhìn thẳng vào nội tâm, họ chịu không nổi. Còn tu Nikāya là nhìn thẳng vào thọ tưởng hành thức, hóa giải triệt để, đó là trực chỉ, trực tiếp, trực diện, đối diện với thân tâm của mình. Khi hiểu được, thấy được giá trị pháp thì mới tôn kính pháp một cách chân chánh, chứ không phải để lên bàn thờ rồi lạy, đó chỉ là hình thức bên ngoài.
Phải nhìn thấy được mình đang đi trên con đường tiêu diệt khổ đau, tiêu diệt dục tham ái, bản ngã và vô minh, cái ta đây, cống cao ngã mạn ở trong lòng, mình phải diệt nó, nhiếp phục, hạ gục được nó, thì đó mới là con đường diệt khổ. Làm thế nào để nhìn thấy tâm mình đã giảm bớt tham muốn, giảm bớt những yêu thích, giảm bớt những thúc giục đòi hỏi tìm kiếm khao khát, phải giảm bớt. Đó chính là thước đo giảm bớt những bực bội, bực giận, sân hận, giảm bớt được, nhiếp phục được… thì mới đi đến được chỗ bớt khổ, đó mới là công năng của pháp. Đó là tại sao chúng ta tôn kính Pháp.
II.3. Tôn kính tăng:
Tôn kính tăng, xin thưa với đại chúng, điều này rất quan trọng. Kể một câu chuyện có thật để các huynh đệ biết, Minh Thành đi cầu pháp khắp thế giới, bất cứ nơi nào có Hòa thượng, bậc đức độ tu hành đạo hạnh là đều đi đến thỉnh giáo, lễ lạy, cầu xin chỉ dạy, khắp thế giới. Từ Thiền tông, Đạo tông, Mật tông, Lục tông, Giáo tông, Tịnh độ tông, Nam tông, Bắc tông… từ Thái Lan, Sri-lanka, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc… từ các vị thiền sư ở Mỹ, Úc… bất cứ nơi nào nghe có bậc đạo hạnh là đều đi tới đảnh lễ, lạy, thưa, thỉnh pháp, và có ghi lại làm bộ Tôn Túc Pháp Ngữ, mấy chục vị cao tăng.
Minh Thành đã một bước một lạy Hòa thượng Trúc Lâm ở Thường Chiếu, khi vào tới, Minh Thành lạy xuống, Hòa thượng ngồi trên chiếc xe lăn, rưng rưng nước mắt, lúc đó Hòa thượng đã hết nói chuyện. Hòa thượng Minh Thông Lực Sư của chúng ta cũng vậy, Minh Thành một bước một lạy từ ngoài cổng vào, Hòa thượng Thượng Tắc Hạ An, đã viên tịch rồi cũng vậy, Hòa thượng Thượng Giác Hạ Nhiên, nằm trên giường bệnh ở Mỹ, Minh Thành sang đó đảnh lễ, cầu pháp, hỏi pháp… Thậm chí cư sĩ, những người thâm sâu về pháp, Minh Thành vẫn lạy để hỏi thăm, chứ chẳng riêng người xuất gia.
Kết quả của nó ngoài sức tưởng tượng. Cuối cùng đã tìm ra được Thánh Pháp thật sự của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya, về thánh trí ngũ uẩn, đã mai một trên hai ngàn năm. Thấy được giáo pháp thật sự, nguyên chất của Đức Phật, là sự xoay trở lại, nhìn vào ngũ uẩn, nhiếp phục dục tham ái, vô minh và bản ngã, đó là con đường chánh thống, nguyên chất thật sự của Đức Phật. Cho đến bây giờ lòng tin của Minh Thành là bất động, dầu cho có chết cũng không thể nói sai khác được, không còn đi cầu pháp nữa. Pháp bây giờ là trong lòng bàn tay, đối với sự tu tập không còn một chút nghi ngờ nào nữa hết. Cho nên sự tôn kính, ở đây Minh Thành kể, không phải để khoe khoang, mà để cho huynh đệ thấy, những gì Đức Phật nói, mình làm đúng thì kết quả của nó là sự thật.
Xin thưa đại chúng, khi Minh Thành tìm được Thánh Pháp rồi thì sốc toàn tập, không giống những gì mình đã học, đã nghe. Những cái hiện nay mình đang làm, đều không giống. Mình đã đi rất là xa, thậm chí là đã đi ngược lại những lời của Đức Phật mà mình tưởng là đúng. Vì tình thương các huynh đệ, mỗi lần về đây, lên lớp này là vượt qua năm trăm cây số. Nói để huynh đệ hiểu, thông cảm với nhau, Minh Thành thấy những vị không để tâm học hỏi, không ghét, mà thấy thương, tội nghiệp. Không phải là chuyện dễ dàng để được nghe Chánh Pháp, đó là điều cực kỳ, cực kỳ khó khăn.
Bây giờ Minh Thành mới thấm câu “Chánh Pháp khó nghe.” Chánh Pháp thật sự là sự nhiếp phục và đoạn tận tham dục đối với ngũ uẩn. Không đơn giản như mình nghĩ đơn sơ là tụng mỗi ngày hai thời kinh, không phải. Là sự nhìn nhận lại thân tâm, cảm giác, nghĩ tưởng và phát giác, phát hiện ra được dục tham sân si, vô minh, bản ngã và mình đánh gục, nhiếp phục nó, tẩy sạch nó hoàn toàn và chấm dứt sự tái sanh, không còn ưa thích những thân xác vô thường, bất tịnh, nhơ nhớp, bẩn thỉu này nữa, để đi ra khỏi ngũ uẩn. Đó là chánh pháp chánh thống của Đức Phật, nó thâm sâu, cực kỳ thâm sâu, không phải dễ chia sẻ.
II.4. Tôn kính định và tâm:
Cho nên, có những người không chấp nhận cũng bình thường thôi, do vô minh nên không chấp nhận là bình thường. Khó khăn, không phải dễ dàng, tu đúng Chánh Pháp là rất khó, phải đem cả sinh mạng ra đánh đổi. Phải tôn kính Phật, vì tôn kính Phật thì mới tôn kính sự chứng ngộ của Đức Phật, đó là kinh tạng Nikāya. Sự chứng ngộ của Đức Phật là tạng kinh Nikāya đó, cho nên phải tuyệt đối tin tưởng 100%. Kinh Tiểu bộ là sau này, còn bốn bộ kinh: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, Tăng chi bộ, đó là thánh trí của Đức Phật. Mình y theo đó, mình sẽ đi trên Thánh Đạo, đạt được Thánh Trí, và đến Thánh Quả.
Nếu có duyên, còn đi lâu thì chúng ta sẽ thấy rất là rõ, rất rõ, không có gì không rõ hết. Tại sao chúng ta không đi ra khỏi luân hồi? Đức Phật ví dụ rất đơn giản trong kinh Tương ưng uẩn, những đứa trẻ thích chơi nhà chòi, chúng lấy đất nắn nhà, nắn thành, nắn lúa, gạo.. để chơi.
Đức Phật nói:
“Ví như, này Ràdha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.
Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.
... thọ... tưởng... các hành...
... Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.
Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn.” (Bài kinh Chúng Sanh – Chương II. Tương ưng Ràdha – C. Năm mươi kinh sau - Tương Ưng Bộ Kinh tập 3)
Rất rõ ràng, khoa học, rất nhân quả. Vì những đứa trẻ còn thích ngôi nhà bằng đất nên chúng còn chơi, còn tiếp tục nắn cái này cái kia, nếu khi chúng không thích thì chúng sẽ không làm ra nữa. Cũng vậy, mình rất thích thú cái thân này, nhìn trong gương, xem gương mặt, thấy cũng được, không đến nỗi, còn nếu có chút nhan sắc thì đam mê, si mê, ham mê, say đắm, thích thú trong đó. Đó, rõ ràng dục tham ái trong cái sắc uẩn này, rồi tự kiêu, tự đắc, bản ngã, rồi tạo nghiệp, rồi chịu quả báo khổ. Trong bài sám mình tụng:
“Càng tài, càng sắc, càng dâm
Càng cho đọa lạc, càng lầm mà thôi.”
Đừng tưởng giàu có, sắc đẹp là tốt. Đó là tai họa, hiểm họa, tai nạn ẩn nấp trong đó, nên mấy người xấu xấu, ít ai để ý nên dễ tu, đẹp sẽ khó tu. Chính Minh Thành ở trong chùa mấy chục năm, chứng kiến đẹp đẹp vài hôm là bị dẫn đi, không dẫn kiểu này cũng dẫn kiểu khác.
Trở lại vấn đề, sự ưa thích vào thân xác này, chưa nói đến thân người, là rất khủng khiếp. Nó cứng chắc vô cùng, gọi là sắc thủ uẩn, sự bám chấp, bám chặt, bám sâu, thâm căn cố đế, kiên cố, đừng nói chi đụng tới, chỉ mới nói một câu thôi là phùng mang trợn mắt, đừng có đụng… đó là cội gốc của khổ đau, sầu bi khổ não sanh ra. Gốc khổ ngay đó, chớ ở đâu xa, Thánh Trí chứng ngộ của Đức Phật ở ngay chỗ đó, sắc thủ uẩn ở ngay chỗ đó. Không phải sắc ở cái thân này không, mà còn ở tài sản của mình, chiếc xe, ruộng vườn, tiền bạc của mình, tất cả những gì của mình, là vật chất, sắc thủ uẩn, đi ra không được.
Đó là mới nói cái bên ngoài thôi, là đã chết, còn nói tới bên trong nữa là thôi. Cái cảm giác bên trong làm sao chịu nổi, những cảm giác đã từng nếm trải qua rồi, những dục ái, vô trong đó rồi, thiền không được, nó cứ khởi lên những cái tưởng, hình bóng sanh khởi lên, cảm giác sống lại, những suy nghĩ chập chờn, thủ thỉ, thì thầm… khởi lên bám chặt, nó xâm chiếm, áp đảo, chết ở trong đó. Đức Phật nói: “này các Tỳ-kheo, chúng sanh bị sắc ám ảnh, cảm giác ám ảnh, hình bóng ám ảnh, suy nghĩ ám ảnh, nhận thức rõ biết ám ảnh, ngũ uẩn ám ảnh.”
Nó xâm chiếm toàn bộ thân tâm, lần trước có ví dụ cậu con rể nổi sân, cầm con dao giết người. Chỉ cần nhìn thấy là bên trong nó biến động. Sự tu học thánh trí ngũ uẩn này rất thâm sâu, nó thực tế cực kỳ, thiết thực hiện tại, ngay trong thân tâm, mình nhìn thấy hết, mình chứng hay chưa, giảm bớt ở mức độ nào, nhiếp phục được bao nhiêu… mình thấy hết, không cần ai đến điểm đạo gì cho mình cả. Tự mình thấy biết được, như khi thành tựu Chánh Tri Kiến, mình thấy biết được rõ ràng hết.
Chứ mình còn yêu thích những cảm giác, ngồi nhớ đến những hình bóng hiện ra, cảm giác đó, những suy nghĩ đó, rồi cười; yếu yếu thì cười một mình, còn sút cái bản lề thì nó lang thang ngoài đường, nói chuyện một mình, quơ tay múa chân, do thọ tưởng hành mạnh quá, nó tung ra ngoài luôn, không còn suy nghĩ ở bên trong nữa, mà nó tung ra thân hành, khẩu hành, ý hành luôn, quơ tay múa chân, không mặc đồ đi ra ngoài đường… là xong rồi. Đó là nội trần, là những thọ tưởng hành ở bên trong mà mình không kiểm soát được, vì mình không tu tập trí ngũ uẩn thì làm sao kiểm soát.
Những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác... sanh khởi, thế là mình nhập cuộc vô, cứ khởi lên cảm giác bực thì cái mặt mình nó nực; ở trong chùa có một mình, nhớ chuyện ngày xưa là tức, “tôi bực quá chừng”, vô duyên không, không ai làm gì mình cả. Đó là nội trần hoạt động, ý xúc hoạt động, khủng khiếp lắm. Mình tu cái này, khi ngồi thiền thích lắm, nhìn thấy rõ mọi thứ bên trong nó vận hành, mình biết hết. Tự nhiên ngồi, nhớ chuyện ngày xưa nắm tay đi chơi, cười một mình, người kế bên hỏi “có bệnh gì không?”. Vì những cái tưởng, hình bóng hiện ra, cảm giác sanh trở về, sống lại trong dĩ vãng, quá khứ, quay cuồng trong pháp tưởng pháp tư, nội trần, nó hoạt động bên trong. Lâu lâu mình thấy có người ngồi cười một mình, mà nếu cười hoài là phải dẫn đi khám bệnh. Mình để ý, người cứ lẩm bẩm, nói chuyện một mình, là coi chừng.
Tu học điều này, mình kiểm soát thân tâm hay lắm, biết cái gì đang có mặt, nó xâm chiếm nội tâm mình như thế nào. Mình thấy được thì mới tôn kính pháp, tôn kính sự học tập, tôn kính thiền định; do thấy được giá trị của pháp, mình mới có tâm tôn kính thật sự đối với Chánh Pháp. Còn không thì chỉ nghĩ mở kinh đọc là được, kinh sao thì cứ vậy, nhưng khi mình nắm được pháp, thấy đúng về pháp, mình sẽ có sự tôn kính tột độ, mình có thể chết nhưng không thay đổi lòng tôn kính, đó là sự thành tựu lòng tin bất động đối với Giáo Pháp, là Bậc Dự Lưu thánh quả thứ nhất, hoặc tối thiểu cũng là hướng dự lưu vào hàng bốn đôi tám chúng, bước tới đó mới chính thức là đệ tử Đức Phật.
Còn mình mặc dù cạo tóc, đắp y, niệm Phật… nhưng mình không biết được ngũ uẩn, không có tâm xả ly đối với ngũ uẩn, ưa thích đam mê, thì chưa được xem là đệ tử chánh thức của Đức Phật, mặc dù mình có cạo tóc, thọ giới… vẫn là ở trong hạng vô văn phàm phu. Điều này rất sâu sắc, không thấy ngũ uẩn, tức là không biết thân tâm của mình, không biết tham sân si bản ngã hại mình, làm khổ mình như thế nào, không thấy khổ, không thấy nguyên nhân của khổ, không có tâm hướng tới sự lìa khổ, diệt khổ… thì không được xem là đệ tử của Phật.
Kinh Nikāya chỉ dạy cho chúng ta bốn đôi tám chúng hiền thánh, tức là người nhìn được ngũ uẩn, thấy được tham sân si bản ngã, có tâm muốn thoát khỏi ngũ uẩn, không muốn ở trong đó nữa, thì người đó bắt đầu dự vào hàng bốn đôi tám chúng, đó mới được gọi là thánh đệ tử, tức là đệ tử của bậc thánh, đệ tử của Đức Phật, chánh thức là đệ tử của Đức Phật. Còn người còn đam mê, ưa thích, thích thú, khoan khoái trong sắc thọ tưởng hành thức này thì người đó cho dù ở trong chùa suốt đời vẫn không phải là đệ tử thật sự của Đức Phật, chỉ trên hình thức thôi, không được xem bốn đôi tám chúng, vì bốn đôi tám chúng là đáng được chắp tay, đáng được đảnh lễ, đáng được cung kính, đáng được trân trọng, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Đó mới thật sự là chúng hiền thánh của Đức Phật, bốn đôi tám chúng, cho nên mình tôn kính sự thiền định là mình phải thường thường có một sự ngồi yên trong mỗi ngày, không thể không thiền định, không thiền, không trí tuệ; không trí tuệ, không thiền. Người có thiền, có tuệ nhất định đến với Niết bàn, không thiền thì làm sao có trí huệ, vì không có trí huệ nên không chịu thiền, mà phải thiền thì mới có trí huệ. Người có thiền, có tuệ, nhất định sẽ đến Niết bàn.
Cho nên, nếu người xuất gia mà không thiền, không ngồi thiền thì giống như người thợ mộc không có bàn bào, như tài xế mà không biết lái xe. Người xuất gia mà không biết ngồi thiền thì làm sao nhìn nhận ra thân tâm mình được. Thiền không phải là tông phái, đó là sau này chia ra, là môn mà người xuất gia nhất định phải học. Hôm trước đã học bài tăng thượng giới, tăng thượng định, tăng thượng tuệ. Đó là bắt buộc, nếu không có tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học… thì người đó không phải là người xuất gia.
Chúng ta có học bài con lừa đi theo con bò, nói “ta cũng là con bò”, nhưng nó không có cái chân của con bò, không có màu sắc của con bò, không có tiếng kêu của con bò. Những Tỳ-kheo không có tăng thượng giới, không có tăng thượng tâm, không có tăng thượng tuệ thì sao chứng được Tỳ-kheo, “ta cũng là Tỳ-kheo” nhưng lại không có tăng thượng giới hạnh, không có tăng thượng thiền định, không có tăng thượng trí huệ, Đức Phật nói như con lừa đi theo đàn bò. Nó chỉ có hình thức, mà hình thức cũng không đúng.
Chính vì vậy, người tu có ba môn nhất định phải học, phải để tâm, là tăng thêm giới đức, giới hạnh, đạo hạnh, đức hạnh, nết hạnh, lúc nào cũng phải để ý làm cho nó tăng thêm tăng thêm, tăng thêm lên. Và người tu làm sao để tâm mình cho yên định, tìm đủ mọi cách hàng ngày, thực tập làm cho tâm mình càng ngày càng yên định, thì đó mới là người tu. Người tu là người luôn luôn để ý học hỏi thánh trí huệ, để phát huy ngày càng được sáng tỏ, sáng chói, bừng sáng, đó mới là người tu. Cho nên phải tôn kính thiền định. Chính vì vậy mà mỗi bữa học, trước khi vào học, mình đều phải tôn kính thiền định.
II.5. Tôn kính học tập:
Trong giờ học, chúng ta trang nghiêm thanh tịnh, đó là tôn kính pháp. Pháp là sự chứng ngộ của Đức Phật, thì tôn kính pháp là bao gồm luôn tôn kính Bậc Đạo Sư. Trong khi mình học, học với một thái độ nghiêm cẩn, cẩn thận, kỹ lưỡng, thận trọng, chớ không phải học một cách cẩu thả, qua loa, sơ sài thì cái học đó gọi là tôn kính học tập, tôn kính học pháp. Khi ngồi thiền bằng cả tấm lòng, trái tim, bằng cả tâm nhiệt huyết tỉnh giác của mình, đó gọi là tôn kính thiền định. Vì thiền định này, không có Phật thì mình làm sao biết để thiền? Nhờ có Phật, pháp thiền này do Đức Phật dạy, nên mình tôn kính thiền định.
Sự tôn kính, cung kính bàng bạc khắp tất cả, chứ không phải mình quỳ lạy, xá mới là cung kính. Đang ngồi học, đang nói chuyện, đang ăn cơm… tất cả mọi hành xử của mình đều có sự tôn kính, cẩn trọng. Đó là sự thành tựu được học pháp, thành tựu được giới tăng thượng, tăng thượng giới học là vậy, chứ không phải giới chỉ là những giới mình thọ không thôi, mọi nhất cử nhất động, mình làm trong sự cung kính, cẩn trọng, đó là sự tăng thượng giới học, không để sơ suất, không khinh suất. Ngài Xá Lợi Phất là bậc tướng quân của Chánh Pháp, thượng thủ trong chúng Tăng, mà Đức Phật nói Ngài và ngài Mục Kiền Liên có thể thay thế Ngài hướng dẫn cho tăng chúng. Y của Ngài Xá Lợi Phất khi đắp mà bị chấm xuống đất một chút thôi là Ngài đã cảm thấy xấu hổ, nhục nhã, sơ suất, thiếu oai nghi. Thấy khủng khiếp không? Chúng ta thấy các bậc thánh tu hành như vậy đó, đó là sự gương mẫu cho mình, đó là sự tôn trọng giới.
II.6. Tôn kính không phóng dật:
Điều số năm là hết sức quan trọng, mình sẽ học trong các bài kinh, Tôn kính không phóng dật. Điều này Đức Phật nói trong mấy bài kinh, thế nào là phóng dật? Phóng dật là buông lung. Minh nhớ cứ mỗi nửa tháng là mình qua cầu giáo giới ở bên tăng, tháng an cư, cuối cùng các Hòa Thượng hay nói “phải siêng năng tu học giới định tuệ, chớ có buông lung phóng dật.”. Câu đó rất quan trọng.
Có rất nhiều bài kinh, Đức Phật ví dụ trong bài kinh Không phóng dật - II. Phẩm Hộ Trì - 10. Chương mười pháp - Tăng chi bộ kinh tập 4, Đức Phật nói:
“Này các Tỷ-kheo, cho đến các loài hữu tình không chân, hay hai chân, hay nhiều chân, hay có sắc, hay không sắc, hay có tưởng, hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng. Như lai được gọi là tối thượng giữa họ, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cả những pháp ấy lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong các pháp ấy.
Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những dấu chân của các loại chúng sanh bộ hành nào, tất cả đều hôi tập trong chân con voi và chân con voi được gọi là tối thượng trong tất cả loại chân, tức là về phần to lớn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cả chúng lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong tất cả thiện pháp.”
Nhiều lắm, Đức Phật đưa ra rất nhiều hình ảnh, hoặc ví dụ:
“Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại rễ hương nào, loại mủ keo đen được gọi là tối thượng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại lõi hương nào, loại chiên-đàn đỏ được gọi là tối thượng
Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại hương nào, vũ quý hoa được gọi là tối thượng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những tiểu vương nào, tất cả đều tùy thuộc vua Chuyển luân vương. Chuyển luân vương đối với họ được gọi là tối thượng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm ánh sáng của bất loại sao nào, tất cả đều không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng mặt trăng đối với chúng được gọi là tối thượng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, vào mùa thu, khi hư không mở rộng, không có mây mù, mặt trời vươn thẳng lên trời, không quét sạch mọi tối tăm trên trời, chói sáng, rực sáng, bừng sáng.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cà những pháp ấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong các pháp ấy.” (Không phóng dật - II. Phẩm Hộ Trì - 10. Chương mười pháp - Tăng Chi Bộ tập 4).
Tại sao không phóng dật quan trọng đến mức độ như vậy? Mà điều này, bây giờ, chúng ta ít có ai để ý. Tại vì, buông lung, phóng dật là một thứ phiền não, nó đã ăn sâu trong thịt, trong xương, trong máu mình, chỉ cần không phòng hộ thôi, không thu nhiếp là mình ở trong trạng thái không phóng dật. Khi mình ngồi thiền, mới vừa xả thiền, mặc dù còn trong thiền đường mà đã buông lung phóng dật liền.
Vậy trạng thái của chúng ta là luôn ở trong buông lung, phóng dật. Khi nào chúng ta thu nhiếp, gọi là phòng hộ căn, chế ngự, thân tâm chánh niệm tỉnh giác, lúc đó nó mới ra khỏi trạng thái của buông lung phóng dật. Trạng thái bình thường của mình là trạng thái của buông lung phóng dật, mình học như vậy đó, nhưng tiếng chuông vừa reo, chưa kịp hồi hướng là tâm mình đã buông lung phóng dật. Điều này thể hiện rất rõ, do mình tu không thành công, cứ ở trong trạng thái buông lung phóng dật mãi, thì làm sao tu thành công được. Cứ thường trú trong trạng thái đó thì làm sao định tâm, nhiếp tâm, làm sao sanh khởi trí huệ? Tại vì mình buông lung phóng dật, tay động, miệng nói, mắt nhìn, không định tâm, tại kiểm soát thân thọ tâm pháp, không nhìn ngũ uẩn, thì mình không thể thấy được bên trong là gì, hoàn toàn bị cuốn ở dòng thác lũ của buông lung phóng dật. Cho nên, không buông lung phóng dật, đó là chóp nhọn của ngôi nhà Thái, đỉnh cao nhất, tất cả quy tụ lên cái chóp nhọn đó. Nếu không thành tựu được cái pháp này thì con xin thưa đại chúng, là vĩnh viễn không bao giờ mình có thể đi vào thể nhập pháp được hết. Không bao giờ.
Cái tâm, thân của mình ở trong trạng thái buông lung, nên khi ngồi thiền chỉ được nửa tiếng, giỏi lắm là một tiếng, gần cuối là cứ nhìn đồng hồ, “cô không đánh chuông ngủ gục hay sao, đã tới giờ mà không đánh chuông”, nhìn người kế bên, xem người đó làm gì, thiền của mình mà không lo, cứ nhìn thiền của người ta. Đó là trạng thái buông lung phóng dật. Điều này khó, nên nếu chiến thắng được điều này thì mới sanh ra thiện pháp, mình chiến thắng được buông lung phóng dật được thì mới thu thúc sáu căn, chánh niệm tỉnh giác, mình mới quán chiếu được ngũ uẩn thân tâm, nhiếp phục tham sân si, vô minh, bản ngã. Chính vì vậy không buông lung phóng dật này tuyệt đối quan trọng. Chúng ta sẽ học những bài rất kỹ về điều này ở những bài sau.
II.7. Tôn kính nghinh đón:
Cuối cùng là tôn kính nghinh đón. Tôn kính nghinh đón ở đây không phải là hiếu khách thông thường ở thế gian, không phải. Tôn kính nghinh đón là những bậc trưởng lão, những bậc tôn đức, những bậc có giới định tuệ đến mình, mình phải có pháp tôn kính, cung kính để cầu pháp, hoặc bất cứ một người nào đến, mình phải có một cách ứng xử hòa kính, tôn trọng. Nhất là, ở đây nói, tôn kính nghinh đón, trọng tâm chính là các bậc tôn túc, các bậc có giới định tuệ, các bậc thiện tri thức, cho dù đó là cư sĩ, chứ đừng nói chi người xuất gia. Phải có sự tôn kính. Những người có giới định tuệ hơn mình, mình phải học, kính trọng, những điều đó làm mình tăng trưởng, thiện pháp lớn mạnh trong pháp và lực.
Còn ở đây mình dương dương bản ngã, ta đây, ta tài giỏi, hay… thì học làm chi nữa. Không cần học gì nữa hết. Chính sự tôn kính này là thước đo của trí tuệ vô ngã, mình thể nhập, thực tập tới đâu. Chính vì vậy, trước khi chúng ta vào những bài kinh quan trọng để học như thế này, là những pháp tắc hết sức thiết yếu, cấp thiết, cần yếu cho sự tìm phương tiện để chúng ta bước vào thánh tạng Nikāya. Không có những điều này thì không thể nào tu học thành công. Những cái này là nền tảng, nền móng để chúng ta đi vào những biển pháp thậm thâm của Như Lai.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dẫn nhập: PAGEREF _Toc48147414 \h 1
II. Bảy pháp: PAGEREF _Toc48147415 \h 3
II.1. Tôn kính Bậc Đạo Sư: PAGEREF _Toc48147416 \h 3
II.2. Tôn kính pháp: PAGEREF _Toc48147417 \h 5
II.3. Tôn kính tăng: PAGEREF _Toc48147418 \h 8
II.4. Tôn kính định và tâm: PAGEREF _Toc48147419 \h 9
II.5. Tôn kính học tập: PAGEREF _Toc48147420 \h 14
II.6. Tôn kính không phóng dật: PAGEREF _Toc48147421 \h 15
II.7. Tôn kính nghinh đón: PAGEREF _Toc48147422 \h 17
I. Dẫn nhập:
Lần trước, chúng ta đã tìm hiểu bộ kinh Cung kính nhưng cũng hiểu chưa hết, còn những ý ở các mục phía sau, hôm nay chúng ta có liên hệ tìm hiểu ở bài kinh Không phóng dật trong Tăng chi bộ kinh, tập 3.
Thường thường, Đức Thế Tôn vào giờ hừng sáng là Ngài giáo hóa cho chư Thiên. Sau khi mặt trời lên, đi khất thực, Ngài mới giáo hóa cho nhân loại. Đức Thế Tôn được gọi là Thiên Nhân Sư, là bậc thầy của trời và người. Chư Thiên, không giống như chúng ta xem trong Tây Du Ký. Chúng ta có ngủ nằm chiêm bao không? Nằm chiêm bao có thấy mình đi Đà Lạt hoặc ăn món ăn gì đó, vẫn có cảm giác mát mẻ, ngon lành giống y như lúc thức, phải không? Hình bóng đó, cảm giác chư Thiên giống như vậy, sắc giới. Chư Thiên không phải một cõi giống như mình, có thân, xác, thịt, không phải, đó là thế giới của sắc.
Việc Đức Phật giảng dạy cho chư Thiên là xảy ra bình thường hằng ngày, đây là sự việc có thật. Những người tu sâu sắc đều có thể trải nghiệm chư Thiên cúng dường, không phải là chuyện cổ tích, mà là sự thật. Ngay cả thời đại bây giờ, những bậc chân tu đúng pháp cũng có thể giao tiếp với chư Thiên. Cho nên, cảnh giới của địa ngục, ngạ quỷ, chư Thiên là thế giới của sắc giới, giống nhau ở hình thái sống, có một cái bóng mờ, giống y như trong giấc chiêm bao của mình. Cho nên, khoa học muốn bay lên tìm cõi giống như mình thì không bao giờ tìm được. Nó không phải là thế giới của cõi dục, của sắc chất, chướng ngại này. Nó là một dạng sắc vi tế, giống như khi mình nằm chiêm bao. Cảnh giới của chư Thiên, cảnh giới của địa ngục, cô hồn, ngạ quỷ là trong thế giới của sắc giới. Thế giới của chúng ta là thế giới của dục giới, tức là thế giới này được hình thành từ dục.
Đức Phật nói trong bài kinh Cội rễ của sự vật trong Tăng chi bộ kinh: “Này các Tỳ-kheo, tất cả pháp lấy dục làm căn bản.”. Khi chúng ta cầm ly nước lên uống, dục trong đó, có một sự thúc giục trong đó, mình đi ra mua, nhưng mình không biết. Tất cả mọi hoạt động của chúng ta đều do dục điều khiển, không có một cái nào ngoài dục hết. Cho nên, tất cả các pháp lấy dục làm căn bản, gốc rễ. Do không thành tựu Chánh Tri Tiến, Thánh Trí nên mình không biết, còn nói dục nam nữ mới là dục, thì đó là phàm phu, đâu cần học pháp người ta cũng biết. Cái gọi là đa văn thánh đệ tử là trí tuệ thâm sâu ở trong ngũ uẩn. Ví dụ, mình muốn đứng lên, đầu tiên mình có dục không? Phải có cái muốn đứng, mình mới đứng, đó là dục, nó vi tế lắm. Mình phải thực tập, có Thánh Tri Kiến năm uẩn sâu sắc, mình mới thấy được những hoạt động của dục, tham, ái trong nhất cử nhất động của mình.
II. Bảy pháp:
Trở lại vấn đề, buổi sáng hôm đó, khi đêm gần mãn, dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng là một vị thiên nhân, đi đến, lạy dưới chân Phật, bạch với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, có bảy pháp này không đưa Tỳ-kheo đến đọa lạc, tức là rơi rớt xuống, có bảy pháp này là không đưa Tỳ-kheo bị rơi rớt. Bảy pháp đó là tôn kính bậc Đạo sư, tôn kính pháp, tôn kính cúng Tăng, tôn kính học tập, tôn kính định, tôn kính không phóng dật, tôn kính nghinh đón.”
Đức Thế Tôn chấp nhận lời nói đó, vị thiên nhân này suy nghĩ, bậc Đạo Sư đã chấp nhận, nên lễ Đức Phật, Ngài lập tức biến mất ngay tại chỗ đó. Trời hừng sáng, Đức Phật nói với các Tỳ-kheo, “Này các Tỳ-kheo, đêm nay có một thiên nhân, dung sắc thù thắng của chư Thiên do phước báu, ánh sáng của Ngài khi xuất hiện, ánh sáng chiếu sáng hết thành phố chúng ta”, chỉ một vị thiên nhân xuất hiện, sẽ sáng hết toàn thành phố Hồ Chí Minh. Do phước báu của thân tướng dung sắc các vị chư Thiên là ánh sáng. Cho nên, “dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn vùng của Ngài khi đến chỗ Ta”, Đức Phật thuật lại sự việc diễn ra lúc sáng này, Ngài nói một bài kệ:
Kính trọng bậc Đạo sư
Kính trọng Pháp và Tăng
Kính trọng định và tâm
Chí thành kính học tập
Kính trọng không phóng dật
Chí thành kính nghinh đón
Không thể bị đọa lạc
Tỳ-kheo gần Niết bàn.
Chỉ cần thành tựu một pháp trong đây thì lợi lạc của chúng ta là không thể nghĩ bàn, còn nếu thành tựu được bảy pháp này thì chúng ta có khả năng nhập lưu vào dòng Thánh.
II.1. Tôn kính Bậc Đạo Sư:
Tôn kính bậc Đạo sư, những điều này hôm trước đã nói rồi, nay chỉ điểm sơ lại thôi, chúng ta sẽ khai triển những điều hôm trước chưa nói. Tôn kính bậc Đạo sư không phải là lên chánh điện lạy hoài, không phải, đôi khi mình hiểu không chính xác. Mình nghĩ bức tượng ngay chánh điện là Phật, phải không? Thường mình nghĩ đó là Phật, không phải. Đó là sắc pháp, sắc uẩn, đó là biểu tượng, không phải là Phật, là biểu tượng để mình nhớ về Đức Phật.
Đức Phật là bậc đã ly tham, chấm dứt đối với sắc uẩn, Phật không phải là hình tướng ngồi đó. Nếu cho hình tướng đó là Phật, mình tu vĩnh viễn không bao giờ giác ngộ. Đó là biểu tượng để nhắc mình, có một con người xuất hiện trên cõi đời này, người đó bằng sự nỗ lực, bằng sự nhiếp tâm, “Dầu cho chỉ còn xương với da, và máu huyết có khô kiệt, với sức mạnh của tinh cần, tinh tấn, với sức mạnh của ý chí mãnh liệt, Ta chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, chứng đạt những gì chưa chứng đạt. Đời sống xuất gia của Ta không phải là trống không, không phải là trống rỗng, mà đời sống xuất gia của Ta là có thành tích, có thành quả, có thành công”, Đức Thế Tôn đã nói trong kinh Mười lực.
Khi nhìn tượng Phật, mình nhớ, có một con người giống như mình, cũng đầy đủ ngũ uẩn tham sân si, phiền não, con người ấy bằng tất cả nhiệt huyết, bằng tất cả tấm lòng, một con người đã hy sinh để dấn thân và đã tìm được thánh trí giải thoát để chứng ngộ, chấm dứt tất cả tham dục, vô minh, khát ái đối với ngũ uẩn, và người đó là bậc Đạo sư của chúng ta. Và chúng ta là những con người đi theo con đường đó, đi trên đạo lộ đó, bước theo bước chân của Ngài, chúng ta cũng sẽ nhiếp phục tham sân si, bản ngã, đi đến chấm dứt vô minh, khát ái đối với ngũ uẩn. Và mình lạy xuống, đó mới gọi là lạy Phật.
Mình nhìn bức tượng, nói đó là Phật, mình lạy, “bức tượng đẹp quá, khắc đẹp” này, nọ, kia… chi vậy? Là mình đang dính trong cái sắc pháp, sắc uẩn. Phật là đi ra khỏi năm uẩn. Quý phật tử lên trang Linh Quy Pháp Ấn, mở bài “Vén màn bí mật Đức Phật là ai?” nghe bài đó để thấy được sự vĩ đại của Như Lai. Thực tại không thành tựu Chánh Kiến thấy đúng, chúng ta nhìn Phật sai hết, nhìn Phật y như một ông Thần, không phải. Phật là ra khỏi năm uẩn.
Tôn kính bậc Đạo sư là tôn kính một bậc đã hoàn toàn phá vỡ vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn. Những lời dạy của Ngài, mình phải nhớ rằng, tôn kính Pháp là tôn kính sự thật, “Này các Tỳ-kheo, xưa và nay, Như Lai chỉ nói khổ và con đường diệt khổ đau. Ta chỉ nói hai điều này thôi. Sự thật của ngũ uẩn là khổ và con đường chấm dứt khổ đau, ngoài ra ta không nói gì khác nữa.” Mình phải nắm được hồng tâm này thì sự tu tập của chúng ta mới có kết quả. Tất cả những gì ta nói là nhằm trình bày bản chất của ngũ uẩn này là khổ, và con đường chấm dứt khổ. Đó là những lời dạy của Như Lai, ngoài ra không có gì khác. Mình đừng đi tìm gì khác ngoài hai điều đó. Mình tu năm, bảy, mười năm mà nhìn cuộc đời còn màu hồng, đẹp lắm, sướng lắm thì mình còn ở ngoài cổng chùa xa chín ngàn dặm, chứ chưa bước vô cổng chùa.
II.2. Tôn kính pháp:
“Ta chỉ nói về khổ”, điều gì khổ? Sắc thân này, những tài sản này vật chất, vô thường hủy hoại tiêu tan, bại hoại, hoại diệt. Trong một ngày, trên thế giới có tới hai trăm mấy chục ngàn ca nhiễm bệnh, một ngày ở Mỹ hơn sáu mươi ngàn ca nhiễm bệnh, một nước thôi. Có phải sắc thân này là ổ chứa đống bệnh hoạn, ổ vi khuẩn, vi trùng, dịch bệnh, nhưng mình không tin, cho nên mình mới vô minh. Chính vì vậy nên cần phải tôn kính pháp, tức là tôn kính sự thật mà Đức Phật chứng ngộ. Mình nghe, tuy chưa thấy được vậy nhưng cố gắng làm sao để mình thấy được, như vậy là tôn kính Pháp. Nguyên nhân của khổ chính là những cảm giác, nghĩ tưởng về dục, ái, tham sân si, bản ngã.
Tại sao tu lâu nhưng mình lại không thấy? Vì mình chỉ lo hướng ngoại, chỉ nhìn ra ngoài, không nhìn lại những cảm giác, những cái tưởng, suy nghĩ trong tâm; mình không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao biết được cái gì đang có ở bên trong, đang sanh khởi, đang vận hành… mình hoàn toàn không thấy, rồi đổ thừa cho người này, người kia nên mình mới khổ, không phải. Khổ là do dục, tham, ái, sân, si, bản ngã của mình.
Ví dụ, có người giật tiền không trả, tâm của mình bình an, “mấy thứ đó là vô thường, mạng này còn không chắc, mấy thứ đó có là gì đâu, tại sao mình phải đi theo để sầu bi khổ não như vậy, buông xả đi.” Tâm mình bình an thì mình sẽ không khổ. Cái khổ không phải ở bên ngoài, cho dù người đó có hại, họ làm tổn thương mình, nhưng nếu tâm đạt được một trí tuệ thì mình sẽ không khổ; đừng đổ thừa tại người này người kia nói xúc phạm, chạm tự ái… nhưng tâm mình đang nhiếp phục bản ngã, xóa sạch tham, sân, hận, vậy mình có khổ không? Đằng này người ta nói một câu, mình nói lại ba câu, người ta nói ý đơn sơ, mình về viết luận văn, nằm trên giường dệt, vẽ đủ thứ, mọc nhánh, mọc cành… đủ thứ chuyện, bé xé ra to, to làm ra bự, bự làm ra hình sự.
Đó là nguyên nhân chất chứa đau khổ, là khổ tập thánh đế, chứ không phải bên ngoài, vì mình không thành tựu Chánh Kiến nên không nhìn thấy đúng thân tâm, toàn đổ lỗi cho bên ngoài, chứ thật sự là toàn ở bên trong hết. Cho dù bên ngoài có đến mức độ nào đi nữa, nếu một người thành tựu Chánh Tri Kiến, có sự tu tập thiền định trí huệ thì sẽ không bị khổ, chỉ khổ thân chứ không khổ tâm. Ví dụ, những bậc A-la-hán, đói bụng, các Ngài vẫn biết đói bụng nhưng tâm không khổ.
Trong kinh ví dụ, có hai mũi tên, có người bị bắn mũi tên nên đau đớn, đó là khổ thân; sau đó bị bắn thêm một mũi tên, đau nhói hơn nữa, đó là khổ tâm. Đức Phật nói Đa văn thánh đệ tử của Ngài chỉ bị trúng mũi tên thứ nhất thôi, nghĩa là đi nắng vẫn nóng, vẫn đổ mồ hôi, vẫn khó chịu nhưng tâm không khổ. Các bậc đa văn khổ thân chứ không khổ tâm, vì thân tứ đại vẫn còn ở trong vô thường thì phải chịu sự biến động, thay đổi vô thường, nhưng tâm của các Ngài là bất động giải thoát. Cái Ngài chứng là tâm bất động giải thoát chứ không phải tu là không có bệnh, còn nghĩ “sao tu dở, tu gì mà bệnh tùm lum”, là không đúng. Có thân thì vẫn phải bệnh, vì đó là nghiệp của những đời quá khứ. Điều quan trọng là người đó bệnh nhưng tâm có động, có đau khổ không. Đây là điều cần phải lưu ý, sự tu tập là chúng ta hướng nội, phải thấy được pháp.
Pháp là sự vận hành bên trong tâm, còn mình là vô văn phàm phu, thì cứ đổ thừa bên ngoài, có chuyện gì bực bội là tại do người này, người kia… chứ không biết nguyên nhân nằm bên trong. Chính vì đặt tâm sai hướng nên tu hoài, mình cũng không thành đạo, không ngộ đạo được, chỉ ngộ độc… ngộ ba thứ độc. Hướng ngoại thì ngộ độc, hướng nội thì ngộ đạo. Hướng ngoại thì sẽ ngộ độc hoài, nghe, thấy, tiếp xúc… gì cũng bị trúng độc, đặt tâm sai hướng, không phải Chánh Tri Kiến, đổ thừa. Cho nên, hiểu được pháp mình mới tôn kính pháp, còn không hiểu pháp thì sự tôn kính pháp sẽ không đúng, mình tưởng pháp là cái gì đâu đâu… Pháp là khổ và diệt khổ, chỉ có bấy nhiêu.
Ngài Achancha, Ngài đi, gặp các thầy trong vườn thiền, thiền viện của Ngài, Ngài hỏi “hôm nay các vị có khổ không?”, các vị trả lời, “dạ hôm nay con có khổ”, “vậy tốt lắm”. Mai mốt gặp nhau, đừng hỏi khỏe không, hãy hỏi, có khổ không. “Hôm nay, có khổ không?”, “con khổ quá trời quá đất”, tốt. Phải thấy khổ mới diệt khổ, phải thấy đường Thánh Tám Ngành mới đưa đến khổ não tận, còn không thấy khổ thì làm sao mình đi ra được.
Suốt ngày chỉ thấy toàn niềm vui, tu chín ngàn năm cũng chưa có gì hết, nhìn đâu cũng thấy vui, phải thấy khổ. Cái khổ đó không phải mình áp đặt, mà đó là bản chất của thế giới, ngũ uẩn này là khổ. Tại sao người ta không chấp nhận khổ, người ta trốn tránh, khỏa lấp? Nhất túy giải thiên sầu, khổ quá rồi đi chơi, nhậu nhẹt, tức là trốn tránh, che đậy… tới khi mở ra thì quá hôi thối. Khi đối diện với tự tâm mình, họ đau khổ.
Chính vì vậy mà tại sao họ không dám ngồi thiền, vì lúc đó họ đau khổ khi trực diện, trực tiếp nhìn vào thân tâm, chịu không nổi, nên phải mượn tụng cái này, trì cái kia… chứ nhìn thẳng vào nội tâm, họ chịu không nổi. Còn tu Nikāya là nhìn thẳng vào thọ tưởng hành thức, hóa giải triệt để, đó là trực chỉ, trực tiếp, trực diện, đối diện với thân tâm của mình. Khi hiểu được, thấy được giá trị pháp thì mới tôn kính pháp một cách chân chánh, chứ không phải để lên bàn thờ rồi lạy, đó chỉ là hình thức bên ngoài.
Phải nhìn thấy được mình đang đi trên con đường tiêu diệt khổ đau, tiêu diệt dục tham ái, bản ngã và vô minh, cái ta đây, cống cao ngã mạn ở trong lòng, mình phải diệt nó, nhiếp phục, hạ gục được nó, thì đó mới là con đường diệt khổ. Làm thế nào để nhìn thấy tâm mình đã giảm bớt tham muốn, giảm bớt những yêu thích, giảm bớt những thúc giục đòi hỏi tìm kiếm khao khát, phải giảm bớt. Đó chính là thước đo giảm bớt những bực bội, bực giận, sân hận, giảm bớt được, nhiếp phục được… thì mới đi đến được chỗ bớt khổ, đó mới là công năng của pháp. Đó là tại sao chúng ta tôn kính Pháp.
II.3. Tôn kính tăng:
Tôn kính tăng, xin thưa với đại chúng, điều này rất quan trọng. Kể một câu chuyện có thật để các huynh đệ biết, Minh Thành đi cầu pháp khắp thế giới, bất cứ nơi nào có Hòa thượng, bậc đức độ tu hành đạo hạnh là đều đi đến thỉnh giáo, lễ lạy, cầu xin chỉ dạy, khắp thế giới. Từ Thiền tông, Đạo tông, Mật tông, Lục tông, Giáo tông, Tịnh độ tông, Nam tông, Bắc tông… từ Thái Lan, Sri-lanka, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc… từ các vị thiền sư ở Mỹ, Úc… bất cứ nơi nào nghe có bậc đạo hạnh là đều đi tới đảnh lễ, lạy, thưa, thỉnh pháp, và có ghi lại làm bộ Tôn Túc Pháp Ngữ, mấy chục vị cao tăng.
Minh Thành đã một bước một lạy Hòa thượng Trúc Lâm ở Thường Chiếu, khi vào tới, Minh Thành lạy xuống, Hòa thượng ngồi trên chiếc xe lăn, rưng rưng nước mắt, lúc đó Hòa thượng đã hết nói chuyện. Hòa thượng Minh Thông Lực Sư của chúng ta cũng vậy, Minh Thành một bước một lạy từ ngoài cổng vào, Hòa thượng Thượng Tắc Hạ An, đã viên tịch rồi cũng vậy, Hòa thượng Thượng Giác Hạ Nhiên, nằm trên giường bệnh ở Mỹ, Minh Thành sang đó đảnh lễ, cầu pháp, hỏi pháp… Thậm chí cư sĩ, những người thâm sâu về pháp, Minh Thành vẫn lạy để hỏi thăm, chứ chẳng riêng người xuất gia.
Kết quả của nó ngoài sức tưởng tượng. Cuối cùng đã tìm ra được Thánh Pháp thật sự của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya, về thánh trí ngũ uẩn, đã mai một trên hai ngàn năm. Thấy được giáo pháp thật sự, nguyên chất của Đức Phật, là sự xoay trở lại, nhìn vào ngũ uẩn, nhiếp phục dục tham ái, vô minh và bản ngã, đó là con đường chánh thống, nguyên chất thật sự của Đức Phật. Cho đến bây giờ lòng tin của Minh Thành là bất động, dầu cho có chết cũng không thể nói sai khác được, không còn đi cầu pháp nữa. Pháp bây giờ là trong lòng bàn tay, đối với sự tu tập không còn một chút nghi ngờ nào nữa hết. Cho nên sự tôn kính, ở đây Minh Thành kể, không phải để khoe khoang, mà để cho huynh đệ thấy, những gì Đức Phật nói, mình làm đúng thì kết quả của nó là sự thật.
Xin thưa đại chúng, khi Minh Thành tìm được Thánh Pháp rồi thì sốc toàn tập, không giống những gì mình đã học, đã nghe. Những cái hiện nay mình đang làm, đều không giống. Mình đã đi rất là xa, thậm chí là đã đi ngược lại những lời của Đức Phật mà mình tưởng là đúng. Vì tình thương các huynh đệ, mỗi lần về đây, lên lớp này là vượt qua năm trăm cây số. Nói để huynh đệ hiểu, thông cảm với nhau, Minh Thành thấy những vị không để tâm học hỏi, không ghét, mà thấy thương, tội nghiệp. Không phải là chuyện dễ dàng để được nghe Chánh Pháp, đó là điều cực kỳ, cực kỳ khó khăn.
Bây giờ Minh Thành mới thấm câu “Chánh Pháp khó nghe.” Chánh Pháp thật sự là sự nhiếp phục và đoạn tận tham dục đối với ngũ uẩn. Không đơn giản như mình nghĩ đơn sơ là tụng mỗi ngày hai thời kinh, không phải. Là sự nhìn nhận lại thân tâm, cảm giác, nghĩ tưởng và phát giác, phát hiện ra được dục tham sân si, vô minh, bản ngã và mình đánh gục, nhiếp phục nó, tẩy sạch nó hoàn toàn và chấm dứt sự tái sanh, không còn ưa thích những thân xác vô thường, bất tịnh, nhơ nhớp, bẩn thỉu này nữa, để đi ra khỏi ngũ uẩn. Đó là chánh pháp chánh thống của Đức Phật, nó thâm sâu, cực kỳ thâm sâu, không phải dễ chia sẻ.
II.4. Tôn kính định và tâm:
Cho nên, có những người không chấp nhận cũng bình thường thôi, do vô minh nên không chấp nhận là bình thường. Khó khăn, không phải dễ dàng, tu đúng Chánh Pháp là rất khó, phải đem cả sinh mạng ra đánh đổi. Phải tôn kính Phật, vì tôn kính Phật thì mới tôn kính sự chứng ngộ của Đức Phật, đó là kinh tạng Nikāya. Sự chứng ngộ của Đức Phật là tạng kinh Nikāya đó, cho nên phải tuyệt đối tin tưởng 100%. Kinh Tiểu bộ là sau này, còn bốn bộ kinh: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, Tăng chi bộ, đó là thánh trí của Đức Phật. Mình y theo đó, mình sẽ đi trên Thánh Đạo, đạt được Thánh Trí, và đến Thánh Quả.
Nếu có duyên, còn đi lâu thì chúng ta sẽ thấy rất là rõ, rất rõ, không có gì không rõ hết. Tại sao chúng ta không đi ra khỏi luân hồi? Đức Phật ví dụ rất đơn giản trong kinh Tương ưng uẩn, những đứa trẻ thích chơi nhà chòi, chúng lấy đất nắn nhà, nắn thành, nắn lúa, gạo.. để chơi.
Đức Phật nói:
“Ví như, này Ràdha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.
Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.
... thọ... tưởng... các hành...
... Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.
Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn.” (Bài kinh Chúng Sanh – Chương II. Tương ưng Ràdha – C. Năm mươi kinh sau - Tương Ưng Bộ Kinh tập 3)
Rất rõ ràng, khoa học, rất nhân quả. Vì những đứa trẻ còn thích ngôi nhà bằng đất nên chúng còn chơi, còn tiếp tục nắn cái này cái kia, nếu khi chúng không thích thì chúng sẽ không làm ra nữa. Cũng vậy, mình rất thích thú cái thân này, nhìn trong gương, xem gương mặt, thấy cũng được, không đến nỗi, còn nếu có chút nhan sắc thì đam mê, si mê, ham mê, say đắm, thích thú trong đó. Đó, rõ ràng dục tham ái trong cái sắc uẩn này, rồi tự kiêu, tự đắc, bản ngã, rồi tạo nghiệp, rồi chịu quả báo khổ. Trong bài sám mình tụng:
“Càng tài, càng sắc, càng dâm
Càng cho đọa lạc, càng lầm mà thôi.”
Đừng tưởng giàu có, sắc đẹp là tốt. Đó là tai họa, hiểm họa, tai nạn ẩn nấp trong đó, nên mấy người xấu xấu, ít ai để ý nên dễ tu, đẹp sẽ khó tu. Chính Minh Thành ở trong chùa mấy chục năm, chứng kiến đẹp đẹp vài hôm là bị dẫn đi, không dẫn kiểu này cũng dẫn kiểu khác.
Trở lại vấn đề, sự ưa thích vào thân xác này, chưa nói đến thân người, là rất khủng khiếp. Nó cứng chắc vô cùng, gọi là sắc thủ uẩn, sự bám chấp, bám chặt, bám sâu, thâm căn cố đế, kiên cố, đừng nói chi đụng tới, chỉ mới nói một câu thôi là phùng mang trợn mắt, đừng có đụng… đó là cội gốc của khổ đau, sầu bi khổ não sanh ra. Gốc khổ ngay đó, chớ ở đâu xa, Thánh Trí chứng ngộ của Đức Phật ở ngay chỗ đó, sắc thủ uẩn ở ngay chỗ đó. Không phải sắc ở cái thân này không, mà còn ở tài sản của mình, chiếc xe, ruộng vườn, tiền bạc của mình, tất cả những gì của mình, là vật chất, sắc thủ uẩn, đi ra không được.
Đó là mới nói cái bên ngoài thôi, là đã chết, còn nói tới bên trong nữa là thôi. Cái cảm giác bên trong làm sao chịu nổi, những cảm giác đã từng nếm trải qua rồi, những dục ái, vô trong đó rồi, thiền không được, nó cứ khởi lên những cái tưởng, hình bóng sanh khởi lên, cảm giác sống lại, những suy nghĩ chập chờn, thủ thỉ, thì thầm… khởi lên bám chặt, nó xâm chiếm, áp đảo, chết ở trong đó. Đức Phật nói: “này các Tỳ-kheo, chúng sanh bị sắc ám ảnh, cảm giác ám ảnh, hình bóng ám ảnh, suy nghĩ ám ảnh, nhận thức rõ biết ám ảnh, ngũ uẩn ám ảnh.”
Nó xâm chiếm toàn bộ thân tâm, lần trước có ví dụ cậu con rể nổi sân, cầm con dao giết người. Chỉ cần nhìn thấy là bên trong nó biến động. Sự tu học thánh trí ngũ uẩn này rất thâm sâu, nó thực tế cực kỳ, thiết thực hiện tại, ngay trong thân tâm, mình nhìn thấy hết, mình chứng hay chưa, giảm bớt ở mức độ nào, nhiếp phục được bao nhiêu… mình thấy hết, không cần ai đến điểm đạo gì cho mình cả. Tự mình thấy biết được, như khi thành tựu Chánh Tri Kiến, mình thấy biết được rõ ràng hết.
Chứ mình còn yêu thích những cảm giác, ngồi nhớ đến những hình bóng hiện ra, cảm giác đó, những suy nghĩ đó, rồi cười; yếu yếu thì cười một mình, còn sút cái bản lề thì nó lang thang ngoài đường, nói chuyện một mình, quơ tay múa chân, do thọ tưởng hành mạnh quá, nó tung ra ngoài luôn, không còn suy nghĩ ở bên trong nữa, mà nó tung ra thân hành, khẩu hành, ý hành luôn, quơ tay múa chân, không mặc đồ đi ra ngoài đường… là xong rồi. Đó là nội trần, là những thọ tưởng hành ở bên trong mà mình không kiểm soát được, vì mình không tu tập trí ngũ uẩn thì làm sao kiểm soát.
Những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác... sanh khởi, thế là mình nhập cuộc vô, cứ khởi lên cảm giác bực thì cái mặt mình nó nực; ở trong chùa có một mình, nhớ chuyện ngày xưa là tức, “tôi bực quá chừng”, vô duyên không, không ai làm gì mình cả. Đó là nội trần hoạt động, ý xúc hoạt động, khủng khiếp lắm. Mình tu cái này, khi ngồi thiền thích lắm, nhìn thấy rõ mọi thứ bên trong nó vận hành, mình biết hết. Tự nhiên ngồi, nhớ chuyện ngày xưa nắm tay đi chơi, cười một mình, người kế bên hỏi “có bệnh gì không?”. Vì những cái tưởng, hình bóng hiện ra, cảm giác sanh trở về, sống lại trong dĩ vãng, quá khứ, quay cuồng trong pháp tưởng pháp tư, nội trần, nó hoạt động bên trong. Lâu lâu mình thấy có người ngồi cười một mình, mà nếu cười hoài là phải dẫn đi khám bệnh. Mình để ý, người cứ lẩm bẩm, nói chuyện một mình, là coi chừng.
Tu học điều này, mình kiểm soát thân tâm hay lắm, biết cái gì đang có mặt, nó xâm chiếm nội tâm mình như thế nào. Mình thấy được thì mới tôn kính pháp, tôn kính sự học tập, tôn kính thiền định; do thấy được giá trị của pháp, mình mới có tâm tôn kính thật sự đối với Chánh Pháp. Còn không thì chỉ nghĩ mở kinh đọc là được, kinh sao thì cứ vậy, nhưng khi mình nắm được pháp, thấy đúng về pháp, mình sẽ có sự tôn kính tột độ, mình có thể chết nhưng không thay đổi lòng tôn kính, đó là sự thành tựu lòng tin bất động đối với Giáo Pháp, là Bậc Dự Lưu thánh quả thứ nhất, hoặc tối thiểu cũng là hướng dự lưu vào hàng bốn đôi tám chúng, bước tới đó mới chính thức là đệ tử Đức Phật.
Còn mình mặc dù cạo tóc, đắp y, niệm Phật… nhưng mình không biết được ngũ uẩn, không có tâm xả ly đối với ngũ uẩn, ưa thích đam mê, thì chưa được xem là đệ tử chánh thức của Đức Phật, mặc dù mình có cạo tóc, thọ giới… vẫn là ở trong hạng vô văn phàm phu. Điều này rất sâu sắc, không thấy ngũ uẩn, tức là không biết thân tâm của mình, không biết tham sân si bản ngã hại mình, làm khổ mình như thế nào, không thấy khổ, không thấy nguyên nhân của khổ, không có tâm hướng tới sự lìa khổ, diệt khổ… thì không được xem là đệ tử của Phật.
Kinh Nikāya chỉ dạy cho chúng ta bốn đôi tám chúng hiền thánh, tức là người nhìn được ngũ uẩn, thấy được tham sân si bản ngã, có tâm muốn thoát khỏi ngũ uẩn, không muốn ở trong đó nữa, thì người đó bắt đầu dự vào hàng bốn đôi tám chúng, đó mới được gọi là thánh đệ tử, tức là đệ tử của bậc thánh, đệ tử của Đức Phật, chánh thức là đệ tử của Đức Phật. Còn người còn đam mê, ưa thích, thích thú, khoan khoái trong sắc thọ tưởng hành thức này thì người đó cho dù ở trong chùa suốt đời vẫn không phải là đệ tử thật sự của Đức Phật, chỉ trên hình thức thôi, không được xem bốn đôi tám chúng, vì bốn đôi tám chúng là đáng được chắp tay, đáng được đảnh lễ, đáng được cung kính, đáng được trân trọng, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Đó mới thật sự là chúng hiền thánh của Đức Phật, bốn đôi tám chúng, cho nên mình tôn kính sự thiền định là mình phải thường thường có một sự ngồi yên trong mỗi ngày, không thể không thiền định, không thiền, không trí tuệ; không trí tuệ, không thiền. Người có thiền, có tuệ nhất định đến với Niết bàn, không thiền thì làm sao có trí huệ, vì không có trí huệ nên không chịu thiền, mà phải thiền thì mới có trí huệ. Người có thiền, có tuệ, nhất định sẽ đến Niết bàn.
Cho nên, nếu người xuất gia mà không thiền, không ngồi thiền thì giống như người thợ mộc không có bàn bào, như tài xế mà không biết lái xe. Người xuất gia mà không biết ngồi thiền thì làm sao nhìn nhận ra thân tâm mình được. Thiền không phải là tông phái, đó là sau này chia ra, là môn mà người xuất gia nhất định phải học. Hôm trước đã học bài tăng thượng giới, tăng thượng định, tăng thượng tuệ. Đó là bắt buộc, nếu không có tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học… thì người đó không phải là người xuất gia.
Chúng ta có học bài con lừa đi theo con bò, nói “ta cũng là con bò”, nhưng nó không có cái chân của con bò, không có màu sắc của con bò, không có tiếng kêu của con bò. Những Tỳ-kheo không có tăng thượng giới, không có tăng thượng tâm, không có tăng thượng tuệ thì sao chứng được Tỳ-kheo, “ta cũng là Tỳ-kheo” nhưng lại không có tăng thượng giới hạnh, không có tăng thượng thiền định, không có tăng thượng trí huệ, Đức Phật nói như con lừa đi theo đàn bò. Nó chỉ có hình thức, mà hình thức cũng không đúng.
Chính vì vậy, người tu có ba môn nhất định phải học, phải để tâm, là tăng thêm giới đức, giới hạnh, đạo hạnh, đức hạnh, nết hạnh, lúc nào cũng phải để ý làm cho nó tăng thêm tăng thêm, tăng thêm lên. Và người tu làm sao để tâm mình cho yên định, tìm đủ mọi cách hàng ngày, thực tập làm cho tâm mình càng ngày càng yên định, thì đó mới là người tu. Người tu là người luôn luôn để ý học hỏi thánh trí huệ, để phát huy ngày càng được sáng tỏ, sáng chói, bừng sáng, đó mới là người tu. Cho nên phải tôn kính thiền định. Chính vì vậy mà mỗi bữa học, trước khi vào học, mình đều phải tôn kính thiền định.
II.5. Tôn kính học tập:
Trong giờ học, chúng ta trang nghiêm thanh tịnh, đó là tôn kính pháp. Pháp là sự chứng ngộ của Đức Phật, thì tôn kính pháp là bao gồm luôn tôn kính Bậc Đạo Sư. Trong khi mình học, học với một thái độ nghiêm cẩn, cẩn thận, kỹ lưỡng, thận trọng, chớ không phải học một cách cẩu thả, qua loa, sơ sài thì cái học đó gọi là tôn kính học tập, tôn kính học pháp. Khi ngồi thiền bằng cả tấm lòng, trái tim, bằng cả tâm nhiệt huyết tỉnh giác của mình, đó gọi là tôn kính thiền định. Vì thiền định này, không có Phật thì mình làm sao biết để thiền? Nhờ có Phật, pháp thiền này do Đức Phật dạy, nên mình tôn kính thiền định.
Sự tôn kính, cung kính bàng bạc khắp tất cả, chứ không phải mình quỳ lạy, xá mới là cung kính. Đang ngồi học, đang nói chuyện, đang ăn cơm… tất cả mọi hành xử của mình đều có sự tôn kính, cẩn trọng. Đó là sự thành tựu được học pháp, thành tựu được giới tăng thượng, tăng thượng giới học là vậy, chứ không phải giới chỉ là những giới mình thọ không thôi, mọi nhất cử nhất động, mình làm trong sự cung kính, cẩn trọng, đó là sự tăng thượng giới học, không để sơ suất, không khinh suất. Ngài Xá Lợi Phất là bậc tướng quân của Chánh Pháp, thượng thủ trong chúng Tăng, mà Đức Phật nói Ngài và ngài Mục Kiền Liên có thể thay thế Ngài hướng dẫn cho tăng chúng. Y của Ngài Xá Lợi Phất khi đắp mà bị chấm xuống đất một chút thôi là Ngài đã cảm thấy xấu hổ, nhục nhã, sơ suất, thiếu oai nghi. Thấy khủng khiếp không? Chúng ta thấy các bậc thánh tu hành như vậy đó, đó là sự gương mẫu cho mình, đó là sự tôn trọng giới.
II.6. Tôn kính không phóng dật:
Điều số năm là hết sức quan trọng, mình sẽ học trong các bài kinh, Tôn kính không phóng dật. Điều này Đức Phật nói trong mấy bài kinh, thế nào là phóng dật? Phóng dật là buông lung. Minh nhớ cứ mỗi nửa tháng là mình qua cầu giáo giới ở bên tăng, tháng an cư, cuối cùng các Hòa Thượng hay nói “phải siêng năng tu học giới định tuệ, chớ có buông lung phóng dật.”. Câu đó rất quan trọng.
Có rất nhiều bài kinh, Đức Phật ví dụ trong bài kinh Không phóng dật - II. Phẩm Hộ Trì - 10. Chương mười pháp - Tăng chi bộ kinh tập 4, Đức Phật nói:
“Này các Tỷ-kheo, cho đến các loài hữu tình không chân, hay hai chân, hay nhiều chân, hay có sắc, hay không sắc, hay có tưởng, hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng. Như lai được gọi là tối thượng giữa họ, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cả những pháp ấy lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong các pháp ấy.
Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những dấu chân của các loại chúng sanh bộ hành nào, tất cả đều hôi tập trong chân con voi và chân con voi được gọi là tối thượng trong tất cả loại chân, tức là về phần to lớn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cả chúng lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong tất cả thiện pháp.”
Nhiều lắm, Đức Phật đưa ra rất nhiều hình ảnh, hoặc ví dụ:
“Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại rễ hương nào, loại mủ keo đen được gọi là tối thượng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại lõi hương nào, loại chiên-đàn đỏ được gọi là tối thượng
Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại hương nào, vũ quý hoa được gọi là tối thượng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những tiểu vương nào, tất cả đều tùy thuộc vua Chuyển luân vương. Chuyển luân vương đối với họ được gọi là tối thượng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm ánh sáng của bất loại sao nào, tất cả đều không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng mặt trăng đối với chúng được gọi là tối thượng.
Ví như, này các Tỷ-kheo, vào mùa thu, khi hư không mở rộng, không có mây mù, mặt trời vươn thẳng lên trời, không quét sạch mọi tối tăm trên trời, chói sáng, rực sáng, bừng sáng.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cà những pháp ấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong các pháp ấy.” (Không phóng dật - II. Phẩm Hộ Trì - 10. Chương mười pháp - Tăng Chi Bộ tập 4).
Tại sao không phóng dật quan trọng đến mức độ như vậy? Mà điều này, bây giờ, chúng ta ít có ai để ý. Tại vì, buông lung, phóng dật là một thứ phiền não, nó đã ăn sâu trong thịt, trong xương, trong máu mình, chỉ cần không phòng hộ thôi, không thu nhiếp là mình ở trong trạng thái không phóng dật. Khi mình ngồi thiền, mới vừa xả thiền, mặc dù còn trong thiền đường mà đã buông lung phóng dật liền.
Vậy trạng thái của chúng ta là luôn ở trong buông lung, phóng dật. Khi nào chúng ta thu nhiếp, gọi là phòng hộ căn, chế ngự, thân tâm chánh niệm tỉnh giác, lúc đó nó mới ra khỏi trạng thái của buông lung phóng dật. Trạng thái bình thường của mình là trạng thái của buông lung phóng dật, mình học như vậy đó, nhưng tiếng chuông vừa reo, chưa kịp hồi hướng là tâm mình đã buông lung phóng dật. Điều này thể hiện rất rõ, do mình tu không thành công, cứ ở trong trạng thái buông lung phóng dật mãi, thì làm sao tu thành công được. Cứ thường trú trong trạng thái đó thì làm sao định tâm, nhiếp tâm, làm sao sanh khởi trí huệ? Tại vì mình buông lung phóng dật, tay động, miệng nói, mắt nhìn, không định tâm, tại kiểm soát thân thọ tâm pháp, không nhìn ngũ uẩn, thì mình không thể thấy được bên trong là gì, hoàn toàn bị cuốn ở dòng thác lũ của buông lung phóng dật. Cho nên, không buông lung phóng dật, đó là chóp nhọn của ngôi nhà Thái, đỉnh cao nhất, tất cả quy tụ lên cái chóp nhọn đó. Nếu không thành tựu được cái pháp này thì con xin thưa đại chúng, là vĩnh viễn không bao giờ mình có thể đi vào thể nhập pháp được hết. Không bao giờ.
Cái tâm, thân của mình ở trong trạng thái buông lung, nên khi ngồi thiền chỉ được nửa tiếng, giỏi lắm là một tiếng, gần cuối là cứ nhìn đồng hồ, “cô không đánh chuông ngủ gục hay sao, đã tới giờ mà không đánh chuông”, nhìn người kế bên, xem người đó làm gì, thiền của mình mà không lo, cứ nhìn thiền của người ta. Đó là trạng thái buông lung phóng dật. Điều này khó, nên nếu chiến thắng được điều này thì mới sanh ra thiện pháp, mình chiến thắng được buông lung phóng dật được thì mới thu thúc sáu căn, chánh niệm tỉnh giác, mình mới quán chiếu được ngũ uẩn thân tâm, nhiếp phục tham sân si, vô minh, bản ngã. Chính vì vậy không buông lung phóng dật này tuyệt đối quan trọng. Chúng ta sẽ học những bài rất kỹ về điều này ở những bài sau.
II.7. Tôn kính nghinh đón:
Cuối cùng là tôn kính nghinh đón. Tôn kính nghinh đón ở đây không phải là hiếu khách thông thường ở thế gian, không phải. Tôn kính nghinh đón là những bậc trưởng lão, những bậc tôn đức, những bậc có giới định tuệ đến mình, mình phải có pháp tôn kính, cung kính để cầu pháp, hoặc bất cứ một người nào đến, mình phải có một cách ứng xử hòa kính, tôn trọng. Nhất là, ở đây nói, tôn kính nghinh đón, trọng tâm chính là các bậc tôn túc, các bậc có giới định tuệ, các bậc thiện tri thức, cho dù đó là cư sĩ, chứ đừng nói chi người xuất gia. Phải có sự tôn kính. Những người có giới định tuệ hơn mình, mình phải học, kính trọng, những điều đó làm mình tăng trưởng, thiện pháp lớn mạnh trong pháp và lực.
Còn ở đây mình dương dương bản ngã, ta đây, ta tài giỏi, hay… thì học làm chi nữa. Không cần học gì nữa hết. Chính sự tôn kính này là thước đo của trí tuệ vô ngã, mình thể nhập, thực tập tới đâu. Chính vì vậy, trước khi chúng ta vào những bài kinh quan trọng để học như thế này, là những pháp tắc hết sức thiết yếu, cấp thiết, cần yếu cho sự tìm phương tiện để chúng ta bước vào thánh tạng Nikāya. Không có những điều này thì không thể nào tu học thành công. Những cái này là nền tảng, nền móng để chúng ta đi vào những biển pháp thậm thâm của Như Lai.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo./.