Quán Vô Thường – Ly Tham – Đoạn Diệt – Xả Ly
QUÁN VÔ THƯỜNG – LY THAM – ĐOẠN DIỆT – XẢ LY
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Xả ly cảm thọ PAGEREF _Toc112856777 \h 1
II. Bốn phép quán cảm thọ PAGEREF _Toc112856778 \h 5
I. Xả ly cảm thọ
“Một thời, Thế Tôn ở tại Xá-vệ (Savatthi), Đông Viên (Pubbarama), giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatu). Rồi Thiên chủ Đế Thích (Sakka) đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Thiên chủ Đế Thích đứng một bên, bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, nói một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn, khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?
- Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp". Này Thiên chủ, nếu Tỷ-kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp", vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn.”
(Bài kinh số 37, Tiểu Kinh Đoạn Tận Ái, Trung Bộ Kinh)
Thật sự mỗi lần nghe bài kinh này con đều rúng động. Đây là Đức Phật thuyết pháp cho Vua Trời, Đế Thích, Vua của 33 tầng trời. Bài kinh này dài lắm, chúng ta chỉ trích đoạn thôi. Đây là cốt tủy của pháp hành trong Kinh tạng Nikāya, quý vị mà thực hành pháp này đúng mức là vị đó tối thắng, tối thượng của Chư Thiên. Thật sự rất cần cho chúng ta chiêm nghiệm những lời Đức Phật dạy một cách sâu sắc, thẩm thấu, tư duy, tư sát, quán sát, quán chiếu thì mình sẽ thấy nó thậm thâm vi diệu, thật sự là nó có khả năng diệt tận khổ đau.
Đức Phật nói “Thật không xứng đáng nếu có thiên chấp đối với tất cả các pháp”, thiên chấp là nghiêng về nắm một cái pháp nào đó, thiên là nghiêng về bên này hay nghiêng về bên kia, chấp là giữ, là nắm. Thật không xứng đáng để cho mình ngả về bên này, hay nghiêng về bên kia, hay là nắm cái này, giữ cái nọ là không xứng đáng. Một người xuất gia, một người tu học, một người cư sĩ, một người tu tập, sau khi nghe như vậy, thì vị ấy biết rõ tất cả pháp, biết một cách rốt ráo tất cả pháp.
Sao gọi là biết rõ, sao gọi là biết một cách rốt ráo? Biết rõ giống như chúng ta đọc bài kinh Bọt nước “Biết rõ tất cả hình sắc, màu sắc, sắc chất, những dáng vẻ, những tướng mạo trong cuộc đời giống như là bọt”. Như vậy gọi là biết rõ, biết một cách rốt ráo đối với tất cả sắc chất, sắc hình, sắc tướng, sắc pháp. Quán mọi “cảm giác” giống như bong bóng nước; quán “tưởng” như ánh mặt trời; nhìn mọi “suy nghĩ”, các cái “hành” giống như những bẹ chuối, những cây chuối không có lõi; thấy rõ “tâm thức” giống như trò ảo thuật, tâm thức nó diễn trò, nó bày ra hết trò này tới trò khác.
Nghe được điều đó, tin được điều đó, hiểu được điều đó, tư duy, quán chiếu, tu tập, biết rõ được nó chắc chắn là như vậy, đó gọi là biết rõ tất cả pháp, biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Tất cả pháp ở đây là năm uẩn, không còn pháp nào đi ra ngoài năm uẩn. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm giác nào, cảm giác vui, cảm giác khổ hay cảm giác không vui không khổ, “vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly” đối với tất cả các cảm giác, cảm thọ.
Chữ “quán” ở đây là nhìn sâu sắc và nhìn theo trí tuệ của Đức Phật mới gọi là quán. Còn cái suy xét, cái quán xét thông thường của mình là cái nhìn của phàm tình, phàm phu, cái si mê của vô minh. Chữ “quán” ở trong kinh là nhìn dựa vào Thánh trí của Đức Phật, thấy đúng như vậy một cách sâu sắc, chứ không phải mình ngồi đó mình suy xét rồi gọi là quán chiếu, cái đó là hành ở trong vô minh. Suy xét mà theo những trí tuệ của Đức Phật dạy trong Kinh tạng Nikāya cái đó mới gọi là quán chiếu. Thí dụ mình Quán về 9 Giai đoạn của một tử thi, Quán về Tứ đại, Quán về Tứ Thánh Đế, Quán về 37 Phẩm trợ đạo đó gọi là Tăng thượng Tuệ học.
Còn cứ ngồi mà mình suy nghĩ theo kiểu diễn ra tùm lum, không có căn cứ vô Thánh đạo, Thánh trí, Thánh tuệ, Thánh pháp thì tất cả những suy nghĩ đó đều là hành uẩn ở trong si ái, vô minh và chấp thủ. Cho nên, sống để mà quán cái tánh vô thường. Bốn pháp quán này là hơi thở của người tu, bốn pháp quán này nó là máu, là tim, là gan của người tu. Nếu người tu mà không quán chiếu bốn cái pháp này thì chỉ có hình thức thôi. Nhớ câu“vị ấy sống quán tánh vô thường”, sống trong đời sống phải thường trực, thường xuyên, thường luôn, thường thường, lúc nào cũng vậy quán xét tính vô thường, tính bại hoại, tính chất tan rã, tan nát, tan hoại, tan rụng, tan tành, tan biến.
Con mắt của mình khi nhìn bất cứ hình sắc nào trên thế gian này đều thấy tính tan vỡ, đổ vỡ, đổ bể, sụp đổ, bại hoại của nó hết, đó gọi là sống quán tính vô thường. Bất cứ một cái gì dầu cho đẹp đẽ cỡ nào, giàu có cỡ nào, danh vị cỡ nào, nhìn vô nó cũng chỉ là một bộ xương trước mắt mình không hơn không kém. Người mẫu, hoa hậu quốc tế, hoàn vũ hay một người cùi, một người điên thì cũng là một bộ xương không hơn không kém. Một người 18 tuổi và một người 80 tuổi cũng là một bộ xương, khác chăng là cái lớp da bọc bên ngoài, khác chút xíu đó thôi. Sống quán xét, suy xét, chiêm nghiệm, nghiềm ngẫm tính chất biến đổi, bại hoại, tan nát, mục rỗng, sụp đổ của tất cả. Không có bất cứ một thứ gì có thế đứng vững ở trong trí quán vô thường của chúng ta. Sống như vậy đó, tư duy quán chiếu như vậy đó. Đó là bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người, đó là bậc sẽ đi đến chỗ cứu cánh viên mãn phạm hạnh, thành tựu, chấm dứt tất cả mọi khổ ách. Nhìn tới đâu là nó biến tới đó, nhìn tới đâu là hoại tới đó, nhìn tới đâu là nó tan rã, tan nát dưới ánh nhìn của người tu.
Khi nhìn như vậy mới thấy được sống quán tánh ly tham, tâm mình mới rời xa sự tham muốn. Tại sao vậy? Bản chất của nó là biến hoại, là tan nát, tan vỡ, sụp đổ, tan tành thì còn tham muốn gì nữa, cho nên mình sống quán tánh ly tham. Không ai muốn ôm hết bộ xương này; không ai muốn hôn hít bộ xương này; không ai khao khát bộ xương này; không ai thèm muốn bộ xương này; không ai say mê bộ xương này; không ai mất ăn, mất ngủ vì bộ xương này; không ai phải đấu đá, đánh đấm, chém giết để giành giật bộ xương này tại vì tính chất của nó là không đáng để cho mình tham, mình thích, mình muốn, mình khao khát, mình chiếm đoạt.
Tính chất của bộ xương này là đoạn diệt, nó đâu có còn hoài, nó sẽ rã ra, nát ra, bể ra, vỡ ra, tiêu ma và hoại diệt thành cát bụi, gió thổi thành hư không, trở về hư không, đó là tính đoạn diệt. Chính vì vậy mình xả ly, buông bỏ nó. Đó là chúng ta nói về phần sắc uẩn, mình có thể ứng dụng cho tất cả ngũ uẩn, nhưng thật sự ở đây, trong bài kinh này Đức Phật nói về cảm thọ. Tại vì sao, mình đã học rồi “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, cho nên các tầng trời, các cấp độ của thế giới đều y cứ vô cảm thọ để thiết lập.
Trong Tam giới này một sự chứng ngộ dù thâm sâu hay cạn, hay đến chỗ bất động tâm giải thoát là đều ở nơi thọ. Chính vì vậy Đức Phật nói “Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường,..trong các cảm thọ ấy”, cảm giác đó là biến đổi, dầu cho cảm giác sung sướng nhất đi nữa thì tính chất của nó như mình đã học là không đáng để mình tham. Tại mình tham vô cảm giác đó rồi thì mai mốt mình khổ vì cảm giác đó, mà cảm giác đó phải đoạn diệt và chấm dứt, không có cảm giác nào có thể kéo dài hoài, đó là tính chất đoạn diệt của các cảm giác.Mình sống quán tánh xả ly các cảm giác, đó là xả ly ngũ uẩn.
Đây là chỗ sâu sắc, dầu cho cảm giác gì sanh khởi lên mình cũng buông xả, buông bỏ hết, vì mình biết cảm giác đó vô thường. Đây là nói mức độ thâm sâu, tại vì vị Thiên Chủ này hỏi chỗ bất động tâm giải thoát của bậc A La Hán cho nên Đức Phật giảng thâm sâu, còn mức độ mới như chúng ta thì những cảm giác hỷ lạc khi tu tập mình phải giữ.
II. Bốn phép quán cảm thọ
Bây giờ chúng ta nói về thực tế gần gũi đời sống để mình thực tập 4 phép quán: quán tánh vô thường, quán tính ly tham, quán tánh đoạn diệt, quán tánh xả ly. Những cảm giác khi chúng ta sám hối, nếu mình giữ nó trong người mình thấy mệt mỏi không? Những cảm giác buồn giận nhau, hờn mác nhau chất chứa trong lòng mình thấy có nặng nề, mệt mỏi không, nó có dày xéo thân tâm mình, nó có tàn phá con người của mình không?
Vừa mệt thân xác, sức khỏe, bệnh hoạn, vừa lo lắng bao nhiêu chuyện của đời sống, xong rồi còn thêm bị nó tàn phá bởi những sân hận, tham dục, bản ngã, hơn thua, đúng sai, phải quấy. Mệt mỏi là những cảm giác này, chất chứa là những cảm giác này, nặng nề là những cảm giác này, gánh nặng là những cảm giác này. Cho nên phải quán tánh vô thường, bại hoại của nó để mình không ưa thích cảm giác đó nữa, mình phải làm cho nó chấm dứt, đoạn diệt. Quán đoạn diệt, quán xả ly, bỏ hẳn, bỏ một cách dứt khoác, bỏ một cách quyết liệt, bỏ một cách hoàn toàn, sạch sẽ, sạch, sành sanh, sạch trọi, sạch trơn.
Con cảm thấy chuyện này thật là hay, nhiều khi mình ăn cơm có một cái tô, cái chén mà mình làm biếng, mình không rửa, để đó là một hồi kiến bu đầy, rồi con này, con kia nó chết trong đó, đóng vô rất là dơ. Khi mà mình cầm đi đổ là đã sát sanh trong đó rồi, hơn nữa là dơ khó rửa, khó chùi, mất vệ sinh và vi khuẩn. Còn nếu ngay khi mình ăn xong mình đem đi rửa liền thì rửa rất là dễ, rất là mau, rất là sạch. Sự tu công phu của mình giống y như cái rửa chén vậy, tức là khi mình có một cảm giác dục, cảm giác sân, cảm giác bản ngã, mình tẩy liền ngay lập tức thì nó rất nhanh, gọn, lẹ, mau, rất sạch sẽ, không tốn công nhiều.
Còn nếu mà mình cứ để cho nó chất chứa, nó âm ỉ bên trong thì ruồi bu, kiến đậu, nó đóng vô, tích tụ, dính vô. Có những thứ giống như mình nấu chè xong mình phải ngâm, hay là những thứ dơ lâu ngày phải dùng thuốc tẩy nhưng chưa chắc gì tẩy ra, nó dính vô, nó khắn vô, nó ăn vô. Cũng vậy, những phần mà dính vô, khắn vô, ăn vô lâu ngày của mình là vô lượng vô biên kiếp, đó là phần hàng tồn kho. Mà phần mới này nó thêm vô nữa cho nên mình phải chặn đứng phần mới để mình lo giải quyết phần cũ, nhưng cái cũ thì nó quá xá nhiều, còn cái mới thì nó cứ đưa vô thì làm sao mà giải quyết được cái kho này, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục, ái, sầu bi, ưu não thiêu đốt tâm can mình hết.
Đức Phật nói “Lỗ tai của mình nó đang bốc cháy; con mắt của mình nó đang bốc chá;, lỗ mũi nó đang bốc cháy; cái miệng, cái lưỡi nãy nó đang bốc cháy; cái thân này nó đang bốc cháy; cái ý bên trong nó đang bốc cháy; những âm thanh nó đang bốc cháy; nếu không khéo thì những rõ biết âm thanh – nhĩ thức cũng bốc cháy, khó chịu”. Chỉ cần có một âm thanh nào nó động mà mình không muốn nó động thì lúc đó nó bốc cháy, lỗ tai bốc cháy, âm thanh bốc cháy, sự rõ biết âm thanh – nhĩ thức bốc cháy, xúc bốc cháy, thọ bốc cháy, những cảm giác bốc cháy, những cái tưởng bên trong bốc cháy, cái hành, suy nghĩ nó bốc cháy, nhận thức bên trong bốc cháy.
Cho nên mình quán tính vô thường của các cảm giác, cảm giác này là vô thường, không có lâu, một hồi là hết, cảm giác này không đáng để cho mình tham, mình tham nó là mình khổ, mình tham nó là mình bị hệ lụy, bị trói, bị ràng buộc, bị nô lệ. Cảm giác này là thứ đoạn diệt, dầu cảm giác khổ hay cảm giác vui hay cảm giác không khổ không vui, đó là thứ diệt tận, tan hoại, nó phải chấm dứt, nó sanh thì nó phải diệt, phải xả ly cảm giác này đi.
Cảm giác dục, cảm giác tham, cảm giác ái này phải xả đi, lìa nó ra, bỏ nó xuống, vứt nó, quăng nó giống như mình khạc đàm, hỉ mũi. Hỉ một cái thật mạnh để nó văng hết ra, đừng cho nó sót, nó dính lại, khạc đàm cũng vậy, nó cứ vướng vướng ngay cổ, hãy khạc một cái thật mạnh, cho văng hết cục đàm đó ra.Đối với những cảm giác dục, tham, sân, si, bản ngã của mình cũng khạc nó giống như khạc đàm, hỉ nó giống như hỉ mũi vậy. Cũng giống như mình móc cho nó ói ra hết những thứ đáng bỏ, đáng nhờm, đáng tởm, đáng ngao, đáng ngán, đáng chán. Chúng là thứ không xứng đáng để mình lưu giữ, mình chất chứa vì nó tàn phá thân tâm của mình.
Con xin nhắc lại câu mà lần nhập thất đầu tiên ở trong rừng con nghe con giật mình “Này các Tỷ-kheo, phàm tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ”. Dính vô một cái nào là chết với cái đó; mắc vô một cái nào là cũng bị sát hại bởi nó; kẹt vô một cái nào là mình cũng sầu, bi, ưu não; vướng vô một cái nào là mình cũng hệ lụy hết. Giờ con nhìn thấy điều này thật sự là vô cùng thâm sâu. Tất cả các cảm giác nó sanh khởi lên mình đều quán tính vô thường, thứ này là thứ không đáng để ta khao khát, thứ này là thứ đoạn diệt, sanh diệt, nó sẽ tan biến.
Thứ này là thứ cần phải buông bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ, từ bỏ. Như vậy thì mình mới vượt qua khỏi ba cảm thọ: lạc, khổ, bất lạc bất khổ, từ đó mới đi đến tâm bất động. Mình thấy người mà không có tu tập, hoặc là tu tập yếu, nhất là không nhìn thấy được con đường này, họ khó chịu một chút là sân lên liền, dễ chịu một cái là tham liền, bình thường thì sống trong cái lơ mơ, lơ ngơ, si mê, làm sao mà biết các cảm thọ. Cho nên, trong sự tu tập này để mình thường trực, mình nhận diện ngũ uẩn, ngũ uẩn không bị các cảm thọ đánh lừa là cả một sự tinh anh của trí tuệ, sắc bén trong tư sát, quán chiếu. Nó nhanh lắm, hở ra một chút xíu là chết liền trong tích tắc, trong một chớp mắt thôi là bị lừa liền.
“Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy.
Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật gì ở đời.
Do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn.”
(Trung Bộ Kinh – Tiểu kinh Đoạn Tận Ái)
Đây là câu ở trong Kinh Tứ Niệm Xứ mình tụng hằng đêm. Trong tất cả các cảm thọ mình đều xả ly thì còn chấp trước vật gì ở phía ngoài nữa? Sân hận sanh khởi lên, quán tánh vô thường, quán tánh không đáng để mình giữ cảm giác sân này. Quán tánh sanh diệt của cơn sân này, một hồi sau nó sẽ đoạn diệt, nó là thứ sanh diệt, một chút nữa là nó sẽ tan biến. Quán tánh xả ly, buông bỏ cảm giác này ra đi, bỏ đi.
Đó là Như lý tác ý, những câu này là khẩu quyết Đức Phật nói rất là vắng tắt, rất là gọn, nhưng nhờ có thiện tri thức hướng dẫn cho mình triến khai các pháp quán này ra, còn mình thì mình không biết triển khai, chỉ biết đọc rồi nghe như vậy thôi. Phải triển khai, quán chiếu cho nó sâu rộng và sung mãn lên. Cảm giác sân, cảm giác khó chịu, bực tức này, cảm giác ganh tỵ, đố kị này là thứ đáng bỏ, không đáng giữ, thứ này là thứ biến đổi, tan hoại, thứ này là thứ tai hại, ác độc, thứ này là mầm móng đưa đến ăn nhau, nuốt nhau, nhai nhau, giết nhau, tan sát nhau trong đời sống súc sanh. Mình khai triển rộng ra tất cả mọi phương diện để làm sao mình đánh sập cảm giác đó. Đó là Chiến thuật tâm linh, những phép quán này là 4 phương diện để mình đánh sập những cảm giác dục, tham, sân, vô minh và bản ngã.
Đây là 4 cái mũi dùi, 4 thanh gươm, 4 nòng sóng, có nhiều phép quán lắm, ở đây Đức Phật đưa ra 4 phép này. Mình học mấy chục phép quán, thí dụ như diệt dục là mấy chục phép quán, trên đây là mình nói về diệt sân, còn diệt bản ngã thì có biết bao nhiêu là phép quán. Thí dụ như có một người rất giỏi, là cao thủ võ lâm, nhưng mình phải tìm ra được tử huyệt, đánh vô ngay chỗ đó thì mới hạ gục được.
Cũng vậy, trong bản ngã của mình có một chỗ, mà mình phải tìm ra ngay cái chỗ đó để mình đánh thẳng vào thì mới hạ gục được, những cái dục của mình cũng vậy. Lúc đầu là mình học chung chung, để mình làm giảm bớt độ hung hãn, hung tợn, hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn bắt đầu khi nó bớt độ hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn, hung hãn, hung ác của nó thì tâm mình lắng lắng từ từ nhờ thiền định, quán chiếu. Sau đó mình dùng kính lúp, kính hiển vi để mình soi rọi, mình phóng đại những ngõ ngách, những hẻm hốc, truy tìm nguyên nhân, nguồn gốc của dịch bệnh xem nó nằm ở chỗ nào.
Trong kinh dùng từ “phương tiện chấp thủ” hết sức là sâu sắc, vậy phương tiện chấp thủ là gì? Đó là những cái mà mình tham đắm, bám chấp vô đó mình buông không được. Thí dụ, có những người thương nhau mà thương nhiều nhất là cái lỗ mũi, thì cái đó là phương tiện chấp thủ, hoặc có người đó thương nhiều nhất ở dáng đi thì đó là phương tiện chấp thủ, mình phải phá cho được ngay chỗ đó. Phải tìm ra cho được phương tiện chấp thủ, tức là những cái mà tâm mê nó gá vô chỗ đó, bám chặt vô chỗ đó, không buông ra, thì mình phải tìm và đánh thẳng vô chỗ đó cho nó sập, còn nếu mà chung chung thì nó chỉ giảm bớt chứ không diệt tận được. Mình phải tìm! Chấp ngã cũng vậy, nói chung chung là người có bản ngã cao nhưng mình phải thiền định để thấy những sự kiện tiếp xúc mà nó sanh khởi ra mình về mình coi tại sao mà nó sanh khởi ra như vậy, dựa vào đâu mà sanh khởi ra như vậy? Mình coi sâu thật sâu, dò xét, rà hết, giống như cơ quan hải quan, người ta cẩm cái máy người ta dò hết từ trên đầu xuống dưới chân, chỗ nào có thì nó kêu tít tít đối với đồ vật cấm. Cũng vậy, trong sự thiền định, thiền quán của mình, mình dò xét, rà soát, kiểm tra, kiểm soát rồi mình mới phát giác, phát hiện ra chỗ tử huyệt, yếu điểm để mình xử ngay, tác ý tới tấp, quán chiếu tới tấp rồi mình nhiếp phục và mình sẽ đi đến chỗ diệt tận. Chứ không phải nói chấp ngã là chung chung, tham dục là chung chung, sân hận là chung chung, mà phải có chỗ là phương tiện chấp thủ để đánh sập chỗ đó. Cho nên những điều này là những điều hết sức sâu sắc trong sự tu.
Ưa thích gương mặt thì mình quán lột da mặt xuống, quán hoài như vậy để phá phương tiện chấp thủ, chứ không thôi hình bóng gương mặt nó ám ảnh, nó cứ mập mập, mờ mờ, ẩn ẩn, hiện hiện, phải phá vô ngay phương tiện chấp thủ, cái ưa thích nhất, bộ phận ưa thích nhất. Hay chỗ bộ phận sinh dục, cắt chỗ đó ra, bầm nó ra, máu nó chảy ra hết, mủ chảy ra, quán chiếu giang mai, bệnh lậu, lở loét, cứ quán hoài như vậy. Mỗi lần suy nghĩ thì định tướng nó hiện lên hình ảnh máu chảy ra, mủ chảy ra, giòi trong đó, phân, nước tiểu.
Quán chiếu như vậy thì tham cái gì, mê cái gì, thích giòi, thích máu, liếm mủ sao, cứ quán hoài, quán 1 lần, 2 lần, 10 lần, 100 lần, 1000 lần, 10.000 lần thì nó sẽ phá phương tiện chấp thủ, nhất định nó sẽ giảm thiểu, nhứt định nó sẽ đi đến chỗ nhiếp phục và đoạn tận. Đó là quán tánh ly tham. Ưa thích cái ngực thì rạch một đường ra, lột da ngay chỗ đó ra, máu nó tràn ra, mỡ nó tràn ra, xương nó lòi ra thì phá được cái phương tiện chấp thủ liền. Dò xét bên trong mình chấp vô chỗ nào nhiều, mình thích chỗ nào nhiều, mình khoái chỗ nào nhiều, mình mê chỗ nào nhiều thì mình đánh thẳng vô chỗ đó hoài, quán hoài là phá vỡ phương tiện chấp thủ.
Mình nhớ Đức Phật dùng từ “sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy”, thiện xảo lắm, Thánh trí này, phương tiện tuệ này tuyệt diệu lắm! Từ đầu đến giờ là mới quán cái sắc ở ngoài để phá thôi, bây giờ coi ở trong cảm giác lúc dục, lúc sân, lúc bản ngã nó sanh khởi như thế nào để phá cảm giác đó.
Cho nên mình thấy sự tu này là cả một sự siêu phàm, là một đại tướng, dũng tướng, chiến sĩ, là cả một sự để tâm, quán chiếu và rà soát chứ đâu phải mình nói tâm thức này ngồi yên vậy thôi là xong, tránh không gặp ai nữa hết là giải thoát. Nhưng vấn đề là nó nằm bên trong này, bên ngoài là một phần nhỏ thôi. Tại sao người ta tu, người ta tránh yên được một thời gian thanh tịnh nhưng khi trở ra đời thì vướng mắc trở lại, tham, sân, si, bản ngã trở lại. Tại vì trong này còn y nguyên, tránh được những cái ở ngoài thôi, nhưng các thọ, tưởng, hành trong này còn y nguyên, vô minh, tham ái và chấp thủ còn y nguyên.
Cho nên tránh là tránh ở ngoài chứ bên trong là còn nguyên, nên khi trở ra là nó phát lại thôi. Còn mình là chẳng những tránh ở ngoài, mà còn soi ở trong, nhiếp phục, đoạn tận, làm cho nó không còn sanh khởi trở lại trong tương lại nữa. Vì thế trong này khi mình nhiếp phục, diệt trừ, đoạn tận được thì ra ngoài đâu có gì nữa đâu. Cho nên căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ đánh sập hết bằng cái trí quán này. Tất cả toàn là trí huệ và Như lý tác ý hết chứ không phải mình vô mình ngồi trơ trơ. Có nhiều người ngồi thiền riết rồi ra giống như đi không nổi vậy, nói chuyện cũng không muốn nói, thích cái yên tịnh, nhưng không phải như vậy. Phải khai triển thiền quán, khai mở trí huệ, Như lý tác ý liên tục, liên tục.
Con nói cái chuyện hết sức nhỏ như mùi thơm của hoa nguyệt quế, ngày hôm qua con đi ngang vẫn phải Như lý tác ý nữa, chứ không phải tác ý một lần là xong, phải tác ý tiếp tục. Mình nói “ Nếu một chút mùi thơm mà mình còn ưa thích, còn khoan khoái như vậy thì những cái nặng nề hơn làm sao mình nhiếp phục, mình đánh gục, mình diệt tận được”. Chứ nhiều khi mình nghĩ cái này chút xíu không sao đâu thì không phải. Chính cái chút xíu không sao đó mà tính tới hôm nay là 2 triệu 6, 2 triệu 7 người nhiễm dịch bệnh nCoV rồi, hơn 180 chục ngàn người chết rồi mà vẫn không sao hết. Mình cũng không sao hết nên mình cứ trầm trầm sanh tử luân hồi, sầu, bi, khổ, ưu não, sống chết, tham, sân, si vô cùng, vô tận, vô lượng, vô biên. Kiểu mà lơi lỏng, xem thường, cẩu thả của phàm phu “Cái này không sao hết, không có gì đâu, từ từ mình tu” thì không được.
Cho nên mình phải quyết liệt, cẩn trọng, sắc bén, nhanh, lẹ, mạnh mẽ trong sự tu học. Chúng ta nghĩ rằng đi đến chỗ không còn chấp trước đối với tất cả các cảm thọ, không chấp trước đối với bất cứ vật gì ở trên đời là dễ hay là không dễ? Đó mới là cứu cánh, là đích đến thật sự của chúng ta. Nhìn kỹ bộ xương này, giận lên nói với nó“bộ xương này đang giận; tham, tham với bộ xương này, bộ xương này đang tham; bản ngã, bản ngã với bộ xương này, bộ xương này đang bản ngã ”, khắc ghi kỹ bạch cốt tưởng này, phải đánh vỡ hết, xả ly để có được sự bình an, trầm lặng tuyệt vời.
Đức Phật nói câu kết “Nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn”.
Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả những bệnh nhân đau đớn trong bệnh viện.
Nguyện đem công đức này, hồi hướng đến những bệnh nhân không có giường bệnh để nằm, phải nằm ngoài vỉa hè của bệnh viện.
Hồi hướng đến những bệnh nhân không có chỗ trong bệnh viện, phải nằm ở nhà chờ chết.
Hồi hướng đến những người đã nhiễm dịch chết, chôn trong hố tập thể.
Hồi hướng đến 10 người, 100 người, 1000 người đã chết vì dịch bệnh.
Hồi hướng đến mỗi một ngày trên thế giới chết hàng chục người, mấy chục người, mấy chục ngàn người. Hướng tâm về 100 ngàn người, 150 ngàn người, 180 ngàn người đã chết vì dịch bệnh và hơn thế nữa.
Cầu mong cho tất cả hữu tình chúng sanh nhận thức sâu sắc về nghiệp quả, về nhân quả, về quả báo của những ác nghiệp, sớm thức tỉnh, quay đầu đi theo Chánh đạo, Chánh pháp. Nhận thức sự nguy hại của tham, sân, si, bản ngã, giảm thiểu, nhiếp phục để có được sự bình an, phúc lạc cho tự thân, cho nhân loại, cho thế giới, cho khắp địa cầu.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Xả ly cảm thọ PAGEREF _Toc112856777 \h 1
II. Bốn phép quán cảm thọ PAGEREF _Toc112856778 \h 5
I. Xả ly cảm thọ
“Một thời, Thế Tôn ở tại Xá-vệ (Savatthi), Đông Viên (Pubbarama), giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatu). Rồi Thiên chủ Đế Thích (Sakka) đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Thiên chủ Đế Thích đứng một bên, bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, nói một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn, khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?
- Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp". Này Thiên chủ, nếu Tỷ-kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp", vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn.”
(Bài kinh số 37, Tiểu Kinh Đoạn Tận Ái, Trung Bộ Kinh)
Thật sự mỗi lần nghe bài kinh này con đều rúng động. Đây là Đức Phật thuyết pháp cho Vua Trời, Đế Thích, Vua của 33 tầng trời. Bài kinh này dài lắm, chúng ta chỉ trích đoạn thôi. Đây là cốt tủy của pháp hành trong Kinh tạng Nikāya, quý vị mà thực hành pháp này đúng mức là vị đó tối thắng, tối thượng của Chư Thiên. Thật sự rất cần cho chúng ta chiêm nghiệm những lời Đức Phật dạy một cách sâu sắc, thẩm thấu, tư duy, tư sát, quán sát, quán chiếu thì mình sẽ thấy nó thậm thâm vi diệu, thật sự là nó có khả năng diệt tận khổ đau.
Đức Phật nói “Thật không xứng đáng nếu có thiên chấp đối với tất cả các pháp”, thiên chấp là nghiêng về nắm một cái pháp nào đó, thiên là nghiêng về bên này hay nghiêng về bên kia, chấp là giữ, là nắm. Thật không xứng đáng để cho mình ngả về bên này, hay nghiêng về bên kia, hay là nắm cái này, giữ cái nọ là không xứng đáng. Một người xuất gia, một người tu học, một người cư sĩ, một người tu tập, sau khi nghe như vậy, thì vị ấy biết rõ tất cả pháp, biết một cách rốt ráo tất cả pháp.
Sao gọi là biết rõ, sao gọi là biết một cách rốt ráo? Biết rõ giống như chúng ta đọc bài kinh Bọt nước “Biết rõ tất cả hình sắc, màu sắc, sắc chất, những dáng vẻ, những tướng mạo trong cuộc đời giống như là bọt”. Như vậy gọi là biết rõ, biết một cách rốt ráo đối với tất cả sắc chất, sắc hình, sắc tướng, sắc pháp. Quán mọi “cảm giác” giống như bong bóng nước; quán “tưởng” như ánh mặt trời; nhìn mọi “suy nghĩ”, các cái “hành” giống như những bẹ chuối, những cây chuối không có lõi; thấy rõ “tâm thức” giống như trò ảo thuật, tâm thức nó diễn trò, nó bày ra hết trò này tới trò khác.
Nghe được điều đó, tin được điều đó, hiểu được điều đó, tư duy, quán chiếu, tu tập, biết rõ được nó chắc chắn là như vậy, đó gọi là biết rõ tất cả pháp, biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Tất cả pháp ở đây là năm uẩn, không còn pháp nào đi ra ngoài năm uẩn. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm giác nào, cảm giác vui, cảm giác khổ hay cảm giác không vui không khổ, “vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly” đối với tất cả các cảm giác, cảm thọ.
Chữ “quán” ở đây là nhìn sâu sắc và nhìn theo trí tuệ của Đức Phật mới gọi là quán. Còn cái suy xét, cái quán xét thông thường của mình là cái nhìn của phàm tình, phàm phu, cái si mê của vô minh. Chữ “quán” ở trong kinh là nhìn dựa vào Thánh trí của Đức Phật, thấy đúng như vậy một cách sâu sắc, chứ không phải mình ngồi đó mình suy xét rồi gọi là quán chiếu, cái đó là hành ở trong vô minh. Suy xét mà theo những trí tuệ của Đức Phật dạy trong Kinh tạng Nikāya cái đó mới gọi là quán chiếu. Thí dụ mình Quán về 9 Giai đoạn của một tử thi, Quán về Tứ đại, Quán về Tứ Thánh Đế, Quán về 37 Phẩm trợ đạo đó gọi là Tăng thượng Tuệ học.
Còn cứ ngồi mà mình suy nghĩ theo kiểu diễn ra tùm lum, không có căn cứ vô Thánh đạo, Thánh trí, Thánh tuệ, Thánh pháp thì tất cả những suy nghĩ đó đều là hành uẩn ở trong si ái, vô minh và chấp thủ. Cho nên, sống để mà quán cái tánh vô thường. Bốn pháp quán này là hơi thở của người tu, bốn pháp quán này nó là máu, là tim, là gan của người tu. Nếu người tu mà không quán chiếu bốn cái pháp này thì chỉ có hình thức thôi. Nhớ câu“vị ấy sống quán tánh vô thường”, sống trong đời sống phải thường trực, thường xuyên, thường luôn, thường thường, lúc nào cũng vậy quán xét tính vô thường, tính bại hoại, tính chất tan rã, tan nát, tan hoại, tan rụng, tan tành, tan biến.
Con mắt của mình khi nhìn bất cứ hình sắc nào trên thế gian này đều thấy tính tan vỡ, đổ vỡ, đổ bể, sụp đổ, bại hoại của nó hết, đó gọi là sống quán tính vô thường. Bất cứ một cái gì dầu cho đẹp đẽ cỡ nào, giàu có cỡ nào, danh vị cỡ nào, nhìn vô nó cũng chỉ là một bộ xương trước mắt mình không hơn không kém. Người mẫu, hoa hậu quốc tế, hoàn vũ hay một người cùi, một người điên thì cũng là một bộ xương không hơn không kém. Một người 18 tuổi và một người 80 tuổi cũng là một bộ xương, khác chăng là cái lớp da bọc bên ngoài, khác chút xíu đó thôi. Sống quán xét, suy xét, chiêm nghiệm, nghiềm ngẫm tính chất biến đổi, bại hoại, tan nát, mục rỗng, sụp đổ của tất cả. Không có bất cứ một thứ gì có thế đứng vững ở trong trí quán vô thường của chúng ta. Sống như vậy đó, tư duy quán chiếu như vậy đó. Đó là bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người, đó là bậc sẽ đi đến chỗ cứu cánh viên mãn phạm hạnh, thành tựu, chấm dứt tất cả mọi khổ ách. Nhìn tới đâu là nó biến tới đó, nhìn tới đâu là hoại tới đó, nhìn tới đâu là nó tan rã, tan nát dưới ánh nhìn của người tu.
Khi nhìn như vậy mới thấy được sống quán tánh ly tham, tâm mình mới rời xa sự tham muốn. Tại sao vậy? Bản chất của nó là biến hoại, là tan nát, tan vỡ, sụp đổ, tan tành thì còn tham muốn gì nữa, cho nên mình sống quán tánh ly tham. Không ai muốn ôm hết bộ xương này; không ai muốn hôn hít bộ xương này; không ai khao khát bộ xương này; không ai thèm muốn bộ xương này; không ai say mê bộ xương này; không ai mất ăn, mất ngủ vì bộ xương này; không ai phải đấu đá, đánh đấm, chém giết để giành giật bộ xương này tại vì tính chất của nó là không đáng để cho mình tham, mình thích, mình muốn, mình khao khát, mình chiếm đoạt.
Tính chất của bộ xương này là đoạn diệt, nó đâu có còn hoài, nó sẽ rã ra, nát ra, bể ra, vỡ ra, tiêu ma và hoại diệt thành cát bụi, gió thổi thành hư không, trở về hư không, đó là tính đoạn diệt. Chính vì vậy mình xả ly, buông bỏ nó. Đó là chúng ta nói về phần sắc uẩn, mình có thể ứng dụng cho tất cả ngũ uẩn, nhưng thật sự ở đây, trong bài kinh này Đức Phật nói về cảm thọ. Tại vì sao, mình đã học rồi “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, cho nên các tầng trời, các cấp độ của thế giới đều y cứ vô cảm thọ để thiết lập.
Trong Tam giới này một sự chứng ngộ dù thâm sâu hay cạn, hay đến chỗ bất động tâm giải thoát là đều ở nơi thọ. Chính vì vậy Đức Phật nói “Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường,..trong các cảm thọ ấy”, cảm giác đó là biến đổi, dầu cho cảm giác sung sướng nhất đi nữa thì tính chất của nó như mình đã học là không đáng để mình tham. Tại mình tham vô cảm giác đó rồi thì mai mốt mình khổ vì cảm giác đó, mà cảm giác đó phải đoạn diệt và chấm dứt, không có cảm giác nào có thể kéo dài hoài, đó là tính chất đoạn diệt của các cảm giác.Mình sống quán tánh xả ly các cảm giác, đó là xả ly ngũ uẩn.
Đây là chỗ sâu sắc, dầu cho cảm giác gì sanh khởi lên mình cũng buông xả, buông bỏ hết, vì mình biết cảm giác đó vô thường. Đây là nói mức độ thâm sâu, tại vì vị Thiên Chủ này hỏi chỗ bất động tâm giải thoát của bậc A La Hán cho nên Đức Phật giảng thâm sâu, còn mức độ mới như chúng ta thì những cảm giác hỷ lạc khi tu tập mình phải giữ.
II. Bốn phép quán cảm thọ
Bây giờ chúng ta nói về thực tế gần gũi đời sống để mình thực tập 4 phép quán: quán tánh vô thường, quán tính ly tham, quán tánh đoạn diệt, quán tánh xả ly. Những cảm giác khi chúng ta sám hối, nếu mình giữ nó trong người mình thấy mệt mỏi không? Những cảm giác buồn giận nhau, hờn mác nhau chất chứa trong lòng mình thấy có nặng nề, mệt mỏi không, nó có dày xéo thân tâm mình, nó có tàn phá con người của mình không?
Vừa mệt thân xác, sức khỏe, bệnh hoạn, vừa lo lắng bao nhiêu chuyện của đời sống, xong rồi còn thêm bị nó tàn phá bởi những sân hận, tham dục, bản ngã, hơn thua, đúng sai, phải quấy. Mệt mỏi là những cảm giác này, chất chứa là những cảm giác này, nặng nề là những cảm giác này, gánh nặng là những cảm giác này. Cho nên phải quán tánh vô thường, bại hoại của nó để mình không ưa thích cảm giác đó nữa, mình phải làm cho nó chấm dứt, đoạn diệt. Quán đoạn diệt, quán xả ly, bỏ hẳn, bỏ một cách dứt khoác, bỏ một cách quyết liệt, bỏ một cách hoàn toàn, sạch sẽ, sạch, sành sanh, sạch trọi, sạch trơn.
Con cảm thấy chuyện này thật là hay, nhiều khi mình ăn cơm có một cái tô, cái chén mà mình làm biếng, mình không rửa, để đó là một hồi kiến bu đầy, rồi con này, con kia nó chết trong đó, đóng vô rất là dơ. Khi mà mình cầm đi đổ là đã sát sanh trong đó rồi, hơn nữa là dơ khó rửa, khó chùi, mất vệ sinh và vi khuẩn. Còn nếu ngay khi mình ăn xong mình đem đi rửa liền thì rửa rất là dễ, rất là mau, rất là sạch. Sự tu công phu của mình giống y như cái rửa chén vậy, tức là khi mình có một cảm giác dục, cảm giác sân, cảm giác bản ngã, mình tẩy liền ngay lập tức thì nó rất nhanh, gọn, lẹ, mau, rất sạch sẽ, không tốn công nhiều.
Còn nếu mà mình cứ để cho nó chất chứa, nó âm ỉ bên trong thì ruồi bu, kiến đậu, nó đóng vô, tích tụ, dính vô. Có những thứ giống như mình nấu chè xong mình phải ngâm, hay là những thứ dơ lâu ngày phải dùng thuốc tẩy nhưng chưa chắc gì tẩy ra, nó dính vô, nó khắn vô, nó ăn vô. Cũng vậy, những phần mà dính vô, khắn vô, ăn vô lâu ngày của mình là vô lượng vô biên kiếp, đó là phần hàng tồn kho. Mà phần mới này nó thêm vô nữa cho nên mình phải chặn đứng phần mới để mình lo giải quyết phần cũ, nhưng cái cũ thì nó quá xá nhiều, còn cái mới thì nó cứ đưa vô thì làm sao mà giải quyết được cái kho này, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục, ái, sầu bi, ưu não thiêu đốt tâm can mình hết.
Đức Phật nói “Lỗ tai của mình nó đang bốc cháy; con mắt của mình nó đang bốc chá;, lỗ mũi nó đang bốc cháy; cái miệng, cái lưỡi nãy nó đang bốc cháy; cái thân này nó đang bốc cháy; cái ý bên trong nó đang bốc cháy; những âm thanh nó đang bốc cháy; nếu không khéo thì những rõ biết âm thanh – nhĩ thức cũng bốc cháy, khó chịu”. Chỉ cần có một âm thanh nào nó động mà mình không muốn nó động thì lúc đó nó bốc cháy, lỗ tai bốc cháy, âm thanh bốc cháy, sự rõ biết âm thanh – nhĩ thức bốc cháy, xúc bốc cháy, thọ bốc cháy, những cảm giác bốc cháy, những cái tưởng bên trong bốc cháy, cái hành, suy nghĩ nó bốc cháy, nhận thức bên trong bốc cháy.
Cho nên mình quán tính vô thường của các cảm giác, cảm giác này là vô thường, không có lâu, một hồi là hết, cảm giác này không đáng để cho mình tham, mình tham nó là mình khổ, mình tham nó là mình bị hệ lụy, bị trói, bị ràng buộc, bị nô lệ. Cảm giác này là thứ đoạn diệt, dầu cảm giác khổ hay cảm giác vui hay cảm giác không khổ không vui, đó là thứ diệt tận, tan hoại, nó phải chấm dứt, nó sanh thì nó phải diệt, phải xả ly cảm giác này đi.
Cảm giác dục, cảm giác tham, cảm giác ái này phải xả đi, lìa nó ra, bỏ nó xuống, vứt nó, quăng nó giống như mình khạc đàm, hỉ mũi. Hỉ một cái thật mạnh để nó văng hết ra, đừng cho nó sót, nó dính lại, khạc đàm cũng vậy, nó cứ vướng vướng ngay cổ, hãy khạc một cái thật mạnh, cho văng hết cục đàm đó ra.Đối với những cảm giác dục, tham, sân, si, bản ngã của mình cũng khạc nó giống như khạc đàm, hỉ nó giống như hỉ mũi vậy. Cũng giống như mình móc cho nó ói ra hết những thứ đáng bỏ, đáng nhờm, đáng tởm, đáng ngao, đáng ngán, đáng chán. Chúng là thứ không xứng đáng để mình lưu giữ, mình chất chứa vì nó tàn phá thân tâm của mình.
Con xin nhắc lại câu mà lần nhập thất đầu tiên ở trong rừng con nghe con giật mình “Này các Tỷ-kheo, phàm tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ”. Dính vô một cái nào là chết với cái đó; mắc vô một cái nào là cũng bị sát hại bởi nó; kẹt vô một cái nào là mình cũng sầu, bi, ưu não; vướng vô một cái nào là mình cũng hệ lụy hết. Giờ con nhìn thấy điều này thật sự là vô cùng thâm sâu. Tất cả các cảm giác nó sanh khởi lên mình đều quán tính vô thường, thứ này là thứ không đáng để ta khao khát, thứ này là thứ đoạn diệt, sanh diệt, nó sẽ tan biến.
Thứ này là thứ cần phải buông bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ, từ bỏ. Như vậy thì mình mới vượt qua khỏi ba cảm thọ: lạc, khổ, bất lạc bất khổ, từ đó mới đi đến tâm bất động. Mình thấy người mà không có tu tập, hoặc là tu tập yếu, nhất là không nhìn thấy được con đường này, họ khó chịu một chút là sân lên liền, dễ chịu một cái là tham liền, bình thường thì sống trong cái lơ mơ, lơ ngơ, si mê, làm sao mà biết các cảm thọ. Cho nên, trong sự tu tập này để mình thường trực, mình nhận diện ngũ uẩn, ngũ uẩn không bị các cảm thọ đánh lừa là cả một sự tinh anh của trí tuệ, sắc bén trong tư sát, quán chiếu. Nó nhanh lắm, hở ra một chút xíu là chết liền trong tích tắc, trong một chớp mắt thôi là bị lừa liền.
“Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy.
Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật gì ở đời.
Do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn.”
(Trung Bộ Kinh – Tiểu kinh Đoạn Tận Ái)
Đây là câu ở trong Kinh Tứ Niệm Xứ mình tụng hằng đêm. Trong tất cả các cảm thọ mình đều xả ly thì còn chấp trước vật gì ở phía ngoài nữa? Sân hận sanh khởi lên, quán tánh vô thường, quán tánh không đáng để mình giữ cảm giác sân này. Quán tánh sanh diệt của cơn sân này, một hồi sau nó sẽ đoạn diệt, nó là thứ sanh diệt, một chút nữa là nó sẽ tan biến. Quán tánh xả ly, buông bỏ cảm giác này ra đi, bỏ đi.
Đó là Như lý tác ý, những câu này là khẩu quyết Đức Phật nói rất là vắng tắt, rất là gọn, nhưng nhờ có thiện tri thức hướng dẫn cho mình triến khai các pháp quán này ra, còn mình thì mình không biết triển khai, chỉ biết đọc rồi nghe như vậy thôi. Phải triển khai, quán chiếu cho nó sâu rộng và sung mãn lên. Cảm giác sân, cảm giác khó chịu, bực tức này, cảm giác ganh tỵ, đố kị này là thứ đáng bỏ, không đáng giữ, thứ này là thứ biến đổi, tan hoại, thứ này là thứ tai hại, ác độc, thứ này là mầm móng đưa đến ăn nhau, nuốt nhau, nhai nhau, giết nhau, tan sát nhau trong đời sống súc sanh. Mình khai triển rộng ra tất cả mọi phương diện để làm sao mình đánh sập cảm giác đó. Đó là Chiến thuật tâm linh, những phép quán này là 4 phương diện để mình đánh sập những cảm giác dục, tham, sân, vô minh và bản ngã.
Đây là 4 cái mũi dùi, 4 thanh gươm, 4 nòng sóng, có nhiều phép quán lắm, ở đây Đức Phật đưa ra 4 phép này. Mình học mấy chục phép quán, thí dụ như diệt dục là mấy chục phép quán, trên đây là mình nói về diệt sân, còn diệt bản ngã thì có biết bao nhiêu là phép quán. Thí dụ như có một người rất giỏi, là cao thủ võ lâm, nhưng mình phải tìm ra được tử huyệt, đánh vô ngay chỗ đó thì mới hạ gục được.
Cũng vậy, trong bản ngã của mình có một chỗ, mà mình phải tìm ra ngay cái chỗ đó để mình đánh thẳng vào thì mới hạ gục được, những cái dục của mình cũng vậy. Lúc đầu là mình học chung chung, để mình làm giảm bớt độ hung hãn, hung tợn, hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn bắt đầu khi nó bớt độ hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn, hung hãn, hung ác của nó thì tâm mình lắng lắng từ từ nhờ thiền định, quán chiếu. Sau đó mình dùng kính lúp, kính hiển vi để mình soi rọi, mình phóng đại những ngõ ngách, những hẻm hốc, truy tìm nguyên nhân, nguồn gốc của dịch bệnh xem nó nằm ở chỗ nào.
Trong kinh dùng từ “phương tiện chấp thủ” hết sức là sâu sắc, vậy phương tiện chấp thủ là gì? Đó là những cái mà mình tham đắm, bám chấp vô đó mình buông không được. Thí dụ, có những người thương nhau mà thương nhiều nhất là cái lỗ mũi, thì cái đó là phương tiện chấp thủ, hoặc có người đó thương nhiều nhất ở dáng đi thì đó là phương tiện chấp thủ, mình phải phá cho được ngay chỗ đó. Phải tìm ra cho được phương tiện chấp thủ, tức là những cái mà tâm mê nó gá vô chỗ đó, bám chặt vô chỗ đó, không buông ra, thì mình phải tìm và đánh thẳng vô chỗ đó cho nó sập, còn nếu mà chung chung thì nó chỉ giảm bớt chứ không diệt tận được. Mình phải tìm! Chấp ngã cũng vậy, nói chung chung là người có bản ngã cao nhưng mình phải thiền định để thấy những sự kiện tiếp xúc mà nó sanh khởi ra mình về mình coi tại sao mà nó sanh khởi ra như vậy, dựa vào đâu mà sanh khởi ra như vậy? Mình coi sâu thật sâu, dò xét, rà hết, giống như cơ quan hải quan, người ta cẩm cái máy người ta dò hết từ trên đầu xuống dưới chân, chỗ nào có thì nó kêu tít tít đối với đồ vật cấm. Cũng vậy, trong sự thiền định, thiền quán của mình, mình dò xét, rà soát, kiểm tra, kiểm soát rồi mình mới phát giác, phát hiện ra chỗ tử huyệt, yếu điểm để mình xử ngay, tác ý tới tấp, quán chiếu tới tấp rồi mình nhiếp phục và mình sẽ đi đến chỗ diệt tận. Chứ không phải nói chấp ngã là chung chung, tham dục là chung chung, sân hận là chung chung, mà phải có chỗ là phương tiện chấp thủ để đánh sập chỗ đó. Cho nên những điều này là những điều hết sức sâu sắc trong sự tu.
Ưa thích gương mặt thì mình quán lột da mặt xuống, quán hoài như vậy để phá phương tiện chấp thủ, chứ không thôi hình bóng gương mặt nó ám ảnh, nó cứ mập mập, mờ mờ, ẩn ẩn, hiện hiện, phải phá vô ngay phương tiện chấp thủ, cái ưa thích nhất, bộ phận ưa thích nhất. Hay chỗ bộ phận sinh dục, cắt chỗ đó ra, bầm nó ra, máu nó chảy ra hết, mủ chảy ra, quán chiếu giang mai, bệnh lậu, lở loét, cứ quán hoài như vậy. Mỗi lần suy nghĩ thì định tướng nó hiện lên hình ảnh máu chảy ra, mủ chảy ra, giòi trong đó, phân, nước tiểu.
Quán chiếu như vậy thì tham cái gì, mê cái gì, thích giòi, thích máu, liếm mủ sao, cứ quán hoài, quán 1 lần, 2 lần, 10 lần, 100 lần, 1000 lần, 10.000 lần thì nó sẽ phá phương tiện chấp thủ, nhất định nó sẽ giảm thiểu, nhứt định nó sẽ đi đến chỗ nhiếp phục và đoạn tận. Đó là quán tánh ly tham. Ưa thích cái ngực thì rạch một đường ra, lột da ngay chỗ đó ra, máu nó tràn ra, mỡ nó tràn ra, xương nó lòi ra thì phá được cái phương tiện chấp thủ liền. Dò xét bên trong mình chấp vô chỗ nào nhiều, mình thích chỗ nào nhiều, mình khoái chỗ nào nhiều, mình mê chỗ nào nhiều thì mình đánh thẳng vô chỗ đó hoài, quán hoài là phá vỡ phương tiện chấp thủ.
Mình nhớ Đức Phật dùng từ “sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy”, thiện xảo lắm, Thánh trí này, phương tiện tuệ này tuyệt diệu lắm! Từ đầu đến giờ là mới quán cái sắc ở ngoài để phá thôi, bây giờ coi ở trong cảm giác lúc dục, lúc sân, lúc bản ngã nó sanh khởi như thế nào để phá cảm giác đó.
Cho nên mình thấy sự tu này là cả một sự siêu phàm, là một đại tướng, dũng tướng, chiến sĩ, là cả một sự để tâm, quán chiếu và rà soát chứ đâu phải mình nói tâm thức này ngồi yên vậy thôi là xong, tránh không gặp ai nữa hết là giải thoát. Nhưng vấn đề là nó nằm bên trong này, bên ngoài là một phần nhỏ thôi. Tại sao người ta tu, người ta tránh yên được một thời gian thanh tịnh nhưng khi trở ra đời thì vướng mắc trở lại, tham, sân, si, bản ngã trở lại. Tại vì trong này còn y nguyên, tránh được những cái ở ngoài thôi, nhưng các thọ, tưởng, hành trong này còn y nguyên, vô minh, tham ái và chấp thủ còn y nguyên.
Cho nên tránh là tránh ở ngoài chứ bên trong là còn nguyên, nên khi trở ra là nó phát lại thôi. Còn mình là chẳng những tránh ở ngoài, mà còn soi ở trong, nhiếp phục, đoạn tận, làm cho nó không còn sanh khởi trở lại trong tương lại nữa. Vì thế trong này khi mình nhiếp phục, diệt trừ, đoạn tận được thì ra ngoài đâu có gì nữa đâu. Cho nên căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ đánh sập hết bằng cái trí quán này. Tất cả toàn là trí huệ và Như lý tác ý hết chứ không phải mình vô mình ngồi trơ trơ. Có nhiều người ngồi thiền riết rồi ra giống như đi không nổi vậy, nói chuyện cũng không muốn nói, thích cái yên tịnh, nhưng không phải như vậy. Phải khai triển thiền quán, khai mở trí huệ, Như lý tác ý liên tục, liên tục.
Con nói cái chuyện hết sức nhỏ như mùi thơm của hoa nguyệt quế, ngày hôm qua con đi ngang vẫn phải Như lý tác ý nữa, chứ không phải tác ý một lần là xong, phải tác ý tiếp tục. Mình nói “ Nếu một chút mùi thơm mà mình còn ưa thích, còn khoan khoái như vậy thì những cái nặng nề hơn làm sao mình nhiếp phục, mình đánh gục, mình diệt tận được”. Chứ nhiều khi mình nghĩ cái này chút xíu không sao đâu thì không phải. Chính cái chút xíu không sao đó mà tính tới hôm nay là 2 triệu 6, 2 triệu 7 người nhiễm dịch bệnh nCoV rồi, hơn 180 chục ngàn người chết rồi mà vẫn không sao hết. Mình cũng không sao hết nên mình cứ trầm trầm sanh tử luân hồi, sầu, bi, khổ, ưu não, sống chết, tham, sân, si vô cùng, vô tận, vô lượng, vô biên. Kiểu mà lơi lỏng, xem thường, cẩu thả của phàm phu “Cái này không sao hết, không có gì đâu, từ từ mình tu” thì không được.
Cho nên mình phải quyết liệt, cẩn trọng, sắc bén, nhanh, lẹ, mạnh mẽ trong sự tu học. Chúng ta nghĩ rằng đi đến chỗ không còn chấp trước đối với tất cả các cảm thọ, không chấp trước đối với bất cứ vật gì ở trên đời là dễ hay là không dễ? Đó mới là cứu cánh, là đích đến thật sự của chúng ta. Nhìn kỹ bộ xương này, giận lên nói với nó“bộ xương này đang giận; tham, tham với bộ xương này, bộ xương này đang tham; bản ngã, bản ngã với bộ xương này, bộ xương này đang bản ngã ”, khắc ghi kỹ bạch cốt tưởng này, phải đánh vỡ hết, xả ly để có được sự bình an, trầm lặng tuyệt vời.
Đức Phật nói câu kết “Nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn”.
Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả những bệnh nhân đau đớn trong bệnh viện.
Nguyện đem công đức này, hồi hướng đến những bệnh nhân không có giường bệnh để nằm, phải nằm ngoài vỉa hè của bệnh viện.
Hồi hướng đến những bệnh nhân không có chỗ trong bệnh viện, phải nằm ở nhà chờ chết.
Hồi hướng đến những người đã nhiễm dịch chết, chôn trong hố tập thể.
Hồi hướng đến 10 người, 100 người, 1000 người đã chết vì dịch bệnh.
Hồi hướng đến mỗi một ngày trên thế giới chết hàng chục người, mấy chục người, mấy chục ngàn người. Hướng tâm về 100 ngàn người, 150 ngàn người, 180 ngàn người đã chết vì dịch bệnh và hơn thế nữa.
Cầu mong cho tất cả hữu tình chúng sanh nhận thức sâu sắc về nghiệp quả, về nhân quả, về quả báo của những ác nghiệp, sớm thức tỉnh, quay đầu đi theo Chánh đạo, Chánh pháp. Nhận thức sự nguy hại của tham, sân, si, bản ngã, giảm thiểu, nhiếp phục để có được sự bình an, phúc lạc cho tự thân, cho nhân loại, cho thế giới, cho khắp địa cầu.
./.