Tỳ Kheo Ni Thời Đức Phật 5 - Chánh Cung 5 Lần 7 Lượt Xin Xuất Gia & Ni Đoàn Thành Lập
Tỳ Kheo Ni Thời Đức Phật 5
Chánh Cung 5 Lần 7 Lượt Xin Xuất Gia & Ni Đoàn Thành Lập
Thích Minh Thành
Ngày 21 tháng 06 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chánh Cung Hoàng Hậu xin xuất gia PAGEREF _Toc144737549 \h 1
II. Tôn giả Ananda xin Thế Tôn PAGEREF _Toc144737550 \h 5
III. Tám kính pháp PAGEREF _Toc144737551 \h 6
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc144737552 \h 12
I. Chánh Cung Hoàng Hậu xin xuất gia
Kính bạch chư tôn hiền đức và chư vị hiền trí.
Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe về chư vị Tỳ-kheo ni thời Đức Phật, đây là những bản kinh rất quan trọng.
Chúng ta có Thánh điển y cứ, hôm qua Minh Thành đã nói sơ lượt, tổng quát về Tỳ-kheo ni Mahàpajàpatì Gotamì.
Hôm nay chúng ta sẽ học bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì trong Tăng Chi Bộ Kinh tập ba, có hai bài kinh về nhị mẫu rất quan trọng mà chúng ta sẽ được học. Một bài kinh là Ngài xin được xuất gia và một bài kinh Ngài xin pháp hành. Hôm nay là bài kinh Bà xin Đức Thế Tôn xuất gia.
1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Rồi Mahàpajàpatì Gotamì đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
- Thôi vừa rồi, này Gotamì, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
2. Lần thứ hai, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
- Thôi vừa rồi, này Gotamì, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
3. Lần thứ ba, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
- Thôi vừa rồi, này Gotamì, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
Rồi Mahàpajàpatì Gotamì biết được: "Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng", liền khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
4. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Kapilavatthu cho đến khi vừa ý, rồi ra đi đến Vesàli, tiếp tục bộ hành rồi đến Vesàli. Ở đấy, Thế Tôn ở Vesàli, tại Đại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn.
Rồi Mahàpajàpatì Gotamì, với tóc cạo sạch, đắp áp cà-sa, cùng với nhiều nữ nhân Sàkya ra đi đến Vesàli, tiếp tục bộ hành và đến Vesàli, tại Đại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn.
Nữ nhân Sàkya là Thích Ca nữ. Bà Mahàpajàpatì Gotamì cùng với khoảng năm trăm vị nữ nhân trong dòng họ Thích Ca đi đến Vesàli với đầu trần, chân đất, bùn sìn, mồ hôi, đói, mệt vì đường xa, chân như vậy bị đạp gai… Như vậy là đi một đoạn đường xa để đến Vesàli, vào ngôi nhà nóc nhọn ở tại Đại Lâm.
Rồi Mahàpajàpatì Gotamì, với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đứng ngoài cửa chính.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Chúng ta biết Người là hoàng hậu, đi chân không đoạn đường dài nhiều trăm cây số thì chân của Ngài bị sưng lên, tay chân lắm bụi, khổ đau, sầu muộn, nước mắt khổ đau đứng ở cửa chính. Vì đã xin ba lần nhưng Thế Tôn không đồng ý nên tự cạo đầu, đắp y và dẫn hàng trăm vị Thích Ca nữ, những người con gái dòng dõi Thích Ca trong hoàng thất đi đến chỗ Đức Thế Tôn nhưng chỉ đứng ở ngoài cửa khóc, chân thì sưng, người thì lem luốc.
Họ là hoàng hậu, cung phi, mỹ nữ, những vị phu nhân của tướng quân giờ lại lam lũ như vậy và đi đến ngoài cửa khóc.
Trong kinh nói ngắn gọn nhưng chúng ta phải dùng thọ, tưởng, hành của mình tưởng ra được cảnh đó, phải thọ được tình cảnh lúc đó, trường hợp, tình huống khi đó. Mình phải cảm thọ được, phải dùng thọ, tưởng, hành của mình cảm thọ một đoạn đường mấy trăm cây số mà Người là một hoàng hậu, đã cạo bỏ mái tóc của mình, đã là một sự chấn động, sau đó là đắp áo cà sa lên, đi chân không đến nỗi chân bị sưng vù lên, viết thì đơn giản nhưng mình cần hiểu là chảy cả máu.
Mình chỉ đi một chút từ đây ra ngoài góc cây, khi trình pháp thì các vị nói con đạp gai rất đau, mấy ngày sau mới hết, đó chỉ là một đoạn một chút mà đã có chuẩn bị. Chúng ta nghĩ con đường ngày xưa đi từ làng này qua làng nọ, từ thành phố này qua thành phố nọ không được tráng nhựa như bây giờ. Như vậy là gai, là miển, là đá nhọn đâm vào chảy máu, sưng phù lên. Rồi lại rất chịu khó, kham nhẫn, nhẫn nại, chịu cực, chịu khổ rồi không được ăn đậu hũ mà phải đi xin ăn, ngủ bờ ngủ bụi. Giống như thực hành hạnh của người xuất gia.
Hoàng hậu là một vị rất hiểu biết, không phải là người muốn làm thì làm, đã suy nghĩ rất kỹ và khi làm thì làm đúng theo quy cách, quy chuẩn, quy tắc của một người xuất gia, khất sĩ.
Rồi Mahàpajàpatì Gotamì, với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đứng ngoài cửa chính.
Tôn giả Ànanda thấy Mahàpajàpatì Gotamì với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đứng ngoài cửa chính, thấy vậy liền nói với Mahàpajàpatì Gotamì:
- Thưa Gotamì, vì sao lại đứng ở cửa với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than như vậy?
- Thưa Tôn giả Ànanda, vì rằng Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết.
- Vậy thưa Gotamì, hãy đứng chờ ở đây, chờ cho đến khi tôi xin phép Thế Tôn để nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
5. Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có Mahàpajàpatì Gotamì với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than đứng ở ngoài cửa nói rằng: "Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng". Lành thay! Bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
- Thôi vừa rồi, này Ànanda, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
Lần thứ hai … Lần thứ ba, Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:
- Lành thay! Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn cho phép nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
- Thôi vừa rồi, này Ànanda, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
6. Rồi Tôn giả suy nghĩ như sau: "Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Vậy ta hay dùng phương pháp khác để xin Thế Tôn cho phép nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình".
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Ngài Ananda rất trí tuệ, muốn dùng phương pháp khác, tìm cách khác để thuyết phục Thế Tôn. Đây là vận dụng trong tứ như ý túc, để tâm vào và suy tư, tìm cách nào ch bằng được.
II. Tôn giả Ananda xin Thế Tôn
Trong tứ như ý túc đoạn sau là: tâm như ý túc, tư như ý túc, là để tâm vào sự việc đó và tìm cách suy tư, tìm cách nào cho được, làm cho bằng được, dốc hết sức mình, tận nhân lực.
Rồi Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, không biết nữ nhân sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả không?
- Này Ànanda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả.
- Bạch Thế Tôn, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Mahàpajàpatì đã giúp đỡ Thế Tôn rất nhiều trong vai người dì, người vú, người kế mẫu, khi mẹ của Thế Tôn mệnh chung, lại cho Thế Tôn bú sữa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Sau khi Thánh Mẫu Maya sinh Thái tử Tất-đạt-đa chỉ bảy ngày sau đã về trời, từ đó về sau bà Mahàpajàpatì Gotamì là người kế mẫu. Khi biết mẹ Thế Tôn mạng chung đã cho Thế Tôn bú sữa suốt ba năm trời, chăm sóc, nuôi dưỡng, thương yêu như vậy thì nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình rất tốt… Ngài Ananda tìm đủ cách như hỏi Thế Tôn được chứng quả hay không, sau đó là than van, kể lể, đó là cả tấm lòng của Ngài Ananda.
Như vậy là sau bảy, tám lần xin, thưa, thỉnh từ Ca-tì-la-vệ cho đến Xá-vệ, Ngài Ananda xin ba lần không được, cuối cùng thì đưa ra nhiều lý do như: hỏi có thể chứng Thánh quả hay không… Lúc này Thế Tôn mới nói.
III. Tám kính pháp
7. - Này Ànanda, nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp, thời Gotamì có thể được thọ cụ túc giới:
1. Dầu cho thọ đại giới một trăm năm, một Tỷ-kheo ni đối với một Tỷ-kheo mới thọ đại giới trong một ngày cũng phải đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, xử sự đúng pháp. Pháp này sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Ý nói, một người Tỳ-kheo ni một trăm tuổi hạ, tu một trăm năm nhưng nếu gặp một Tỳ-kheo bên nam, bên tăng mới vừa thọ giới cũng phải đứng dậy đảnh lễ chắp tay xử sự đúng pháp.
2. Tỷ kheo ni không có thể an cư mùa mưa tại chỗ không có Tỷ kheo. Pháp này sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
3. Nửa tháng một lần, Tỷ-kheo-ni cần phải thỉnh chúng Tỷ-kheo hỏi ngày trai giới và đến để thuyết giới. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Ý nói, cứ nửa tháng một lần phải có sự giáo giới, dạy dỗ của chư Tỳ-kheo tăng để nhắc nhở về giới luật và sự tu tập, sách tấn. Pháp này sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường cho đến trọn đời không được vượt qua.
4. Sau khi an cư mùa mưa xong, Tỷ-kheo-ni cần phải làm lễ Tự tứ trước hai Tăng chúng về ba vấn đề được thấy, được nghe và nghi. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
5. Tỷ-kheo-ni phạm trọng tội phải hành pháp pakkhamànattam (man-na-đọa) cho đến nửa tháng. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
6. Sau khi học tập sáu pháp trong hai năm, phải đến xin thọ cụ túc giới trước hai Tăng chúng. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
7. Không vì duyên cớ gì, một Tỷ-kheo-ni có thể mắng nhiếc, chỉ trích một Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
8. Này Ànanda, bắt đầu từ hôm nay, có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo về Tỷ-kheo-ni, không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo-ni về các Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
Này Ànanda, nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp này, thời cho phép Mahàpajàpatì Gotamì được thọ cụ túc giới.
8. Rồi Tôn giả Ànanda, sau khi học từ Thế Tôn tám trọng pháp này, rồi đi đến Mahàpajàpatì Gotamì, sau khi đến, nói với Mahàpajàpatì Gotamì:
- Nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp này, thời Gotamì sẽ được thọ cụ túc giới:
"Dầu cho thọ đại giới một trăm năm, một Tỷ- kheo-ni … không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo-ni về các Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tông trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua". Nếu Gotamì chấp nhận tám trọng pháp này, thời Gotamì sẽ được thọ cụ túc giới.
- Thưa Tôn giả Ananda, ví như một người đàn bà hay một người đàn ông, còn đang tuổi trẻ, tánh ưa trang sức, sau khi gội đầu xong, sau khi được một vòng hoa sen xanh hay một vòng vũ quý hoa, hay một vòng thiên tư hoa (hay cự thắng hoa) dùng hai tay cầm lấy vòng hoa ấy và đặt lên đỉnh đầu. Cũng vậy, thưa Tôn giả, tôi xin chấp nhận tám kính pháp này, cho đến trọn đời không có vượt qua.
9. Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Mahàpajàpatì Gotamì đã chấp nhận tám kính pháp này, cho đến trọn đời không có vượt qua.
- Này Ànanda, nếu nữ nhân không được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, thời này Ànanda, Phạm hạnh được an trú lâu dài, và diệu pháp được tồn tại đến một ngàn năm.
Vì rằng, này Ànanda, nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, nay này Ànanda, Phạm hạnh sẽ không được an trú lâu dài, thời này Ànanda, diệu pháp được tồn tại năm trăm năm.
Ý nói, nếu người nữ không xuất gia thì Chánh pháp sẽ tồn tại một ngàn năm, nếu người nữ xuất gia thì rút ngắn lại một nửa, chỉ còn năm trăm năm.
Thật vậy, sau năm trăm năm Đức Phật diệt độ, Tượng pháp 33:42 xuất hiện, Chánh pháp phai nhòa.
Chúng ta đứng lên đảnh lễ tâm đại bi của Đức Thế Tôn.
Mong Thế Tôn nhận chúng con đệ tử từ nay cho đến mạng chung chúng con trọn đời quy ngưỡng.
Từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
Ví như, này Ànanda, những gia đình có nhiều phụ nữ, ít đàn ông, thời những gia đình ấy rất dễ bị các đạo tặc, trộm ắp não hại. Cũng vậy, này Ànanda, nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, nên Phạm hạnh sẽ không được an trú lâu dài.
Ví như, này Ànanda, khi nào một chứng bệnh được tên là "trắng như xương" rơi vào một ruộng lúa đã chín, thời ruộng lúa ấy không có an trú lâu dài. Cũng vậy, này Ànanda, khi nào nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, thời Phạm hạnh này không có an trú lâu dài.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Bệnh trắng như xương là trong những đồng ruộng, những mùa vụ, khi xuất hiện những bệnh này của lúa, còn gọi là bệnh sương muối thì cánh đồng đó chết dần dần. Những cây lúa, những mảnh ruộng sẽ chết dần dần, phạm hạnh sẽ không được lâu dài.
Ví như, này Ànanda, khi nào một chứng bệnh được tên là "đỏ sét" rơi vào một ruộng mía đã chín, thời ruộng mía ấy không có an trú lâu dài. Cũng vậy, này Ànanda, khi nào nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, thời Phạm hạnh này không được an trú lâu dài.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Bệnh trắng như xương là bệnh sương muối, do hiện tượng nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm quá cao nên xảy ra hiện tượng sương muối, tế bào trong lá sẽ không kịp đóng mở và sẽ chết dần các tế bào, sẽ làm cho cây lúa chết dần. Khi làm nông người dân rất sợ hiện tượng sương muối.
Bệnh đỏ sét là bệnh khô vàng lá trên cây mía, khi cây mía bị bệnh, tế bào nấm khô vàng lá sẽ làm cho tế bào trong lá chết dần và cây sẽ không quang hợp được, lá sẽ không hấp thụ được ánh nắng mặt trời và cây sẽ chết dần chết mòn.
Khi mía chín cần ánh nắng Mặt trời để tổng hợp lượng đường nhưng bệnh rỉ sét tấn công vào thì nó làm cho không quang hợp được, không tổng hợp được lượng đường thì cây mía sẽ chết dần.
Cũng vậy, này Ànanda, khi nào nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, thời Phạm hạnh này không được an trú lâu dài.
Phạm hạnh có nhiều ý nghĩa, nghĩa gần nhất là đời sống trong sạch về giới luật, sẽ có sự qua lại giữa tăng và ni. Còn từ phạm hạnh trong bài nghĩa rất rộng, lớn tới Chánh pháp.
Ví như, này Ànanda, một người vì nghĩ đến tương lai xây dựng bờ đê cho một hồ nước lớn để nước không thể chảy qua. Cũng vậy, này Ànanda, vì nghĩ đến tương lai, Ta mới ban hành tám kính pháp này, cho các Tỷ-kheo-ni cho đến trọn đời không vượt qua.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Vì nghĩ đến tương lai sau này của Phật giáo, của tăng đoàn, của giáo hội nên Đức Phật ban hành tám pháp này cho các Tỳ-kheo-ni cho đến trọn đời không thể vượt qua. Vì nghĩ đến tương lai của Chánh pháp, Ta mới ban hành tám kính pháp này, cho các Tỷ-kheo-ni cho đến trọn đời không vượt qua.
1. Dầu cho thọ đại giới một trăm năm, một Tỷ-kheo ni đối với một Tỷ-kheo mới thọ đại giới trong một ngày cũng phải đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, xử sự đúng pháp. Pháp này sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
…
7. Không vì duyên cớ gì, một Tỷ-kheo-ni có thể mắng nhiếc, chỉ trích một Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
8. Này Ànanda, bắt đầu từ hôm nay, có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo về Tỷ-kheo-ni, không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo-ni về các Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
Này Ànanda, nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp này, thời cho phép Mahàpajàpatì Gotamì được thọ cụ túc giới.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Vậy mà ngày hôm nay có một số Tỳ-kheo-ni đề xướng hủy bỏ Bát kính pháp. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Nhất là đề xướng hủy bỏ Bát kính pháp, tức là hủy bỏ giới thể của Tỳ-kheo-ni.
Câu này chúng ta đọc có cảm thấy chạm tới trái tim không?
Ví như, này Ànanda, một người vì nghĩ đến tương lai xây dựng bờ đê cho một hồ nước lớn để nước không thể chảy qua. Cũng vậy, này Ànanda, vì nghĩ đến tương lai, Ta mới ban hành tám kính pháp này, cho các Tỷ-kheo-ni cho đến trọn đời không vượt qua.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Đây là tâm đại bi, cả một trái tim bằng tất cả tấm lòng mà Đức Phật chấp nhận Chánh pháp rút lại một nửa tuổi thọ.
Chúng ta hãy chiêm nghiệm, suy tư thật nhiều. Nếu chúng ta mong muốn Chánh pháp còn được duy trì một chút ít trong thời mạt vận này thì hãy cố gắng giữ gìn tám pháp cung kính này.
Hãy cố gắng làm tất cả những gì Đức Phật đã dạy, cố gắng hết sức mình có thể được để làm, đừng trở thành những đứa con bất hiếu, ngỗ nghịch, không nghe lời Đấng Từ phụ của chúng ta.
Minh Thành ở trong chùa hơn ba mươi năm đã thấy đã nghe, đã chứng kiến rất nhiều và tới bây giờ đọc những cái này thì thật là cảm thọ sâu sắc, huống gì các ni sư, các ni trưởng. Nên đây là một cơ hội rất quý báu, Minh Thành mong chư tôn đức ni, quý sư cô hãy chia sẻ cảm thọ hiền thiện, quý báu này đối với bậc Thánh tổ của mình trong bài kinh này.
Đó cũng là lý do tại sao hôm nay Minh Thành mời tất cả các sư cô có mặt đầy đủ. Mời tất cả chư tôn đức ni chiêm nghiệm và chia sẻ tâm tư của mình đối với bậc Thánh mẫu của ni đoàn chúng ta. Đây cũng là giây phút chúng ta đang tưởng niệm về Tỳ-kheo-ni đại ái đạo Mahàpajàpatì Gotamì.
IV. Trình pháp
Sư cô số 1 trình pháp:
Kính bạch sư phụ, sáng nay con được thiền quán bài sư phụ vừa chia sẻ.
Cảm thọ trong con rất xúc động, rất dâng trào, hình ảnh của Ngài Mahàpajàpatì Gotamì để cầu vấn pháp nơi Đức Thế Tôn. Những vị cung phi, mỹ nữ, mỹ nhân đẹp đẽ như vậy, đi đường gai góc chảy máu chân. Cầu xin giáo pháp nơi Đức Thế Tôn mà Ngài không chấp nhận, Quý Ngài tha thiết mong cầu vì mục đích, lý tưởng xuất gia để hôm nay chúng con được ân đức như thế này để tu tập vậy mà con là một đứa con ngỗ nghịch, để con vô chùa, các sư bà đem Bát kính pháp ra dạy con không chịu nghe, con nói rằng là “Đức Phật không bình đẳng, con không chịu nghe!”. Con cũng bỏ rơi qua một bên, con không chịu hành trì.
Qua một thời gian lớn lên, con lại đem ra đọc lại, đọc với tâm không cung kính, nhẫn nại mà đọc, thì tự nhiên con vỡ òa ra khóc. Con nói “Nếu như có Đức Thế Tôn ở đây, con xin xả giới, con xin làm hàng bạch y 67: 39 thôi.” Vì khi con tư duy thiền quán thì con thấy cả một cái cây chưa được làm thành mũi tên thì nó bị vướng, không thể nào người ta đem cung bắn được, nhưng khi cành cây đó được lột giũa thì mũi tên đó bắn mới xa được. Bây giờ mình thọ giới Tỳ-kheo-ni thì mình ngã mạn quá thì cũng lần quần trong sanh tử khổ đau.
Thà rằng mình chịu bước xuống một bước để mình tiến xa hơn thời vận Thánh pháp của Đức Phật. Từ đó, con mới đem Bát kính pháp lên con để tôn thờ và con một lòng cung kính, con thấy Bát kính pháp này khi con hiểu ra thì vì lòng thương tưởng chúng con mà Ngài chiếu định ra Bát kính pháp, không phải như lúc nhỏ mà con nghĩ là Đức Phật không bình đẳng, là việc sai lầm của con. Khi con lớn lên, con thấy trong một gia đình có nhiều phụ nữ thì gia đình đó sẽ bị suy yếu trong giáo pháp của Đức Thế Tôn cũng vậy.
70:00 Khi đọc tới bài Tỳ-kheo-ni một trăm tuổi hạ cũng phải đảnh lễ một vị Tăng Tỳ-kheo thì lúc này con nghĩ là “Già rồi không có lãnh đạo giáo pháp được nữa.” Tuy là vị tăng Tỳ-kheo nhưng Chánh pháp Phật pháp sau này là những vị ấy thì trong con sanh tâm hoan hỷ và cung kính, không dám như trước nữa. Quý Ngài đã khổ công đi cầu thỉnh giáo pháp như vậy mà con thì … Các Ngài đã để gia bảo sẵn cho chúng con thực hành theo thôi mà không nghe lời.
Giờ đây, đứng trước Đức Thế Tôn, đứng trước Bốn đôi tám chúng, con xin sám hối lỗi ngu si, vô minh, ngu muội của con và con xin hành trì Bát kính pháp này trọn đời.
Sư cô số 2 trình pháp:
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Hôm nay con được ngồi lắng nghe sư phụ nói về hành trình cầu thỉnh được xuất gia của vị Thánh tổ của ni chúng, con cảm thấy thật xúc động, hành trình của vị Thánh tổ thật sự không dễ dàng, thật gian truân, khổ cực bởi ba lần thỉnh cầu mà Đức Phật không đồng ý rồi đến ba lần Ngài Ananda thỉnh cầu Đức Phật cũng không đồng ý. Và với lòng đại từ đại bi của Ngài Ananda tìm mọi cách để cuối cùng vị Thánh tổ được xuất gia.
Hành trình cầu xuất gia của vị Thánh tổ, làm cho con suy nghĩ, con phải trân quý, không được xem thường sự xuất gia của mình trong cuộc đời này. Và con cũng cảm nhận được lòng đại từ đại bi của Đức Phật chấp nhận cho người nữ xuất gia để làm cho Chánh pháp giảm năm trăm năm. Con cảm thấy thật xấu hổ, sự xuất hiện của mình trong tăng đoàn của Đức Thế Tôn cũng như trong tăng đoàn của Linh Quy Pháp Ấn. Con nghĩ rằng, con phải cố gắng thật nhiều để xứng đáng với tấm lòng đại từ đại bi của Đức Thế Tôn. Cũng như, con phải cố gắng rất nhiều để xứng đáng với tấm lòng đại từ đại bi của sư phụ cho chúng con được về đây tu tập. Con cũng xin nguyện tôn kinh Bát kính pháp mà Đức Phật đã đưa ra, để làm cho Chánh pháp tồn tại lâu dài trên thế gian này.
Sư cô số 3 trình pháp:
Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý ni sư và toàn thể đại chúng.
Lúc trước con có được Diệu Huệ gửi cho con tấm hình quý sư ở đây đi khất thực, không đội nón, đi chân không, con rất cảm kích, con cũng muốn được như vậy do đó con có mặt tại Linh Quy này.
Khi về đây con cũng đi khất thực nhưng chân của con từ xưa được bảo bọc rất kĩ lưỡng, con về đây thì con chạm phải đá rất đau, nhưng con cảm thấy rất thích thú, con lắng tâm mình, nghe từng cái đau của bàn chân khi con nghĩ đến điều đó làm cho con nhớ lại di mẫu của Đức Phật ngày xưa cũng đã từng đi như vậy. Khi con đi con thấy đau, con cảm nhận được cái đau đó và thích thú với cái đau đó.
Hôm nay khi được sư phụ nhắc về lịch sử của di mẫu cầu pháp và cái đau của con là nhận được những đôi bàn chân xinh xắn nhỏ bé, đi trên sỏi đá, chảy máu, đi với đoạn đường rất dài thì điều đó làm cho con rất xúc động. Con xúc động hơn nữa vì thân nữ xuất gia mà Chánh pháp mất đi năm trăm năm, con thấy rất tủi nhục, rất hổ thẹn, con thấy nghiệp của người nữ sao nặng nề quá. Và con cảm thấy rằng con là một trong những Tỳ-kheo ngày xưa phải làm những điều không tốt khiến cho Phật pháp bị mất mát, bị ngắn lại như vậy. Con cảm thấy xấu hổ lắm.
Mặc dù xưa nay con vẫn tôn kính Bát kính pháp, không xúc phạm điều gì, nhưng không biết làm sao, con thấy mình rất tội lỗi, con tự lòng của mình là hứa nhất định không làm một lỗi lầm nào khác. Từ lúc nghe được những bài pháp nói về hạnh tu của các Thánh ni thời xưa, con tinh tấn hơn nhiều, mỗi bước chân của con đi, mỗi niệm khởi lên, con đều nhìn thấy rất rõ, con không dám lơi là buông lung.
Và đã từ lâu, con đã học những bài này rồi nhưng con đọc giống như là mình đọc một câu truyện nào đó, nó không thực tế. Nhưng bây giờ khi lời của sư phụ dạy từng câu một nhẹ nhàng, với tâm từ đó con thấm được rất nhiều, không giống như ngày xưa con đã từng đọc.
Con xin nguyện với lòng mình là phải cố gắng từng …84:25, không lơi là, buông lỏng để không phụ tấm lòng của Đức Phật, của Ngài Ananda, của di mẫu.
Sư cô số 4 trình pháp:
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô, quý ni sư cùng đại chúng hiền trí.
Hôm nay con rất xúc động khi được nghe sư phụ kể cho chúng con nghe về lịch sử có mặt của ni đoàn, Thánh tổ ni của chúng con xuất thân là hoàng hậu, năm trăm vị đi theo Ngài đều là Thích ca nữ, hoàng thất. Cuộc sống của các Ngài trong chăn ấm, nệm êm, từng bước chân của các Ngài đi trong cung là trên nhung lụa, mỗi bữa ăn giấc ngủ của các Ngài đều có kẻ hầu kẻ hạ, không phải động tay vào việc gì.
Vậy mà khi cầu được xuất gia mà cạo tóc, đắp y thô sơ, đi chân không, đi bộ hành hàng trăm ngàn cây số. Con chỉ tưởng gót chân hồng hào, mỏng manh ấy mà phải đạp trên những hòn sỏi, đá, gai nhọn, đi trên những con đường gồ ghề, băng rừng, vượt suối để cầu xuất gia. Thật sự rất chấn động trong con.
Vậy mà xin năm lần bảy lượt Đức Thế Tôn không cho, lúc đó con rất hổ thẹn vì bình thường ai đó cầu Đức Thế Tôn việc gì thì đến lần thứ ba thì Thế Tôn đã bằng lòng giải đáp. Vậy mà đối với ni chúng, cầu xuất gia phải đến bảy, tám lần Đức Thế Tôn vẫn còn đắn đo suy nghĩ, con thấy tất cả là do nghiệp bản ngã của người nữ quá cao, rất cao ngạo. Đức Thế Tôn vì lòng từ bi bẻ gãy ngọn cờ ngã mạn này cho chúng con. Thật xấu hổ cho chúng con vì phải để cho Thế Tôn đến bảy, tám lần xin mới được cho xuất gia.
Lòng con thật biết ơn Đức Thế Tôn vì cuối cùng Ngài cũng đã đồng ý, con rất biết ơn Tôn giả Ananda đã kham nhẫn hết lần này đến lần khác vào xin dùm cho chúng con. Con biết ơn Thánh tổ ni và những vị đang theo Ngài đã rất kham nhẫn, chịu đựng, nhẫn nại vì ngày hôm nay chúng con được tu trong tăng đoàn. Nhưng càng xúc động hơn nữa là khi Đức Thế Tôn nói Bát kính pháp.
Con rất xấu hổ, con không biết vì lòng từ bi mà Đức Thế Tôn cho Bát kính pháp, chính vì không biết nên con đã vượt qua. Khi đi học con cứ nghĩ quý thầy với chúng con là bạn học nên con không có sự cung kính như lời Đức Thế Tôn dạy. Đối với bạn học con còn xưng tôi gọi là ông. Hôm nay được sư phụ dạy sự xuất hiện của người nữ trong tăng đoàn như là một ngôi nhà có nhiều phụ nữ, ít đàn ông sẽ mau chóng tàn lụi do bị kẻ cướp xâm phạm, như lúa mạ bị sương muối, như cây mía bị bệnh vàng lá.
Con thật xấu hổ, sự có mặt của chúng con đã làm cho Chánh pháp mất đi nửa thời gian, nhưng vì lòng từ bi mà Đức Thế Tôn đã bằng lòng, ân đức ấy chúng con sao trả hết vậy mà chúng con vì vô minh, vì tâm mê, bản ngã, chúng con không biết được lòng từ bi của Đức Thế Tôn. Chúng con đã làm tổn hại đến phạm hạnh mà Đức Thế Tôn đã dày công truyền đạt.
Con xin dâng lòng tôn kính lên Đức Thế Tôn, con rất xấu hổ, từ ngày lên Linh Quy con đã gặp được Chánh pháp, con đã gặp được minh sư, thiện tri thức. Con cố gắng tu hành lời của Đức Thế Tôn dạy. Đức Thế Tôn ơi con xin sám hối với Ngài. Tôn giả Ananda ơi con xin sám hối với Ngài. Thánh tổ ni ơi, con xin sám hối với Ngài. Con xin nguyện cố gắng tu tập, làm theo lời dạy của Đức Thế Tôn, không vượt qua bờ đê mà Ngài đã ngăn lại. Con xin đem hết lòng tôn kính đến với chư tăng.
Con sẽ giữ Bát kính pháp với đầy lòng tôn kính, với sự hiểu biết mà hôm nay con học được. Xin Thế Tôn tha thứ cho con.
Sư phụ giảng giải:
Để mình giữ lửa tôn kính giới pháp này, đời sống phạm hạnh này và tăng trưởng lên lòng tin đối với Phật Pháp Tăng, tăng trưởng niềm biết ơn đối với các bậc Thánh đức để mình có sự hướng thượng trong sự tu tập của mình. Và điều quan trọng là khi chúng ta đã đi vào dòng pháp Nikāya này là không sử dụng tất cả những tài liệu khác, chỉ sử dụng những gì có trong Nikāya.
Nên mỗi ngày trong thời khóa tu quý thầy và quý ni sư nhớ đọc thanh quy cho đại chúng cùng tụng. Những gì Đức Phật dạy trong kinh Nikāya thì chúng ta thọ trì, còn ngoài đó ra thì chúng ta không đề cập đến, không đọc, không tìm hiểu, không đề cập tới. Ngoài Thánh trí của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra thì đều là phàm phu hết. Cần để ý điều đó.
Chúng ta thấy ân đức của các bậc tiền nhân rất lớn, lần sau chúng ta tu học, hành trì có sự niệm ân đức. Nhớ ơn, niệm ơn và chúng ta trong suốt hôm nay mình lấy làm đề mục về những gì được nghe, mình tiếp tục thiền quán, tiếp tục suy tư, tiếp tục làm sanh khởi lên những cảm thọ hiền lành, thánh thiện trong người mình. Viết bài ra những cảm nhận của mình để được ghi nhớ lại sâu sắc, nuôi lớn tâm thực hành, cung kính pháp. Không phải chỉ cung kính các bậc Tỳ-kheo không mà cũng phải cung kính tất cả các bậc đồng phạm hạnh.
Chúng ta đã học trong sám hối diệt ngã, người ngang mình, người thấp hơn mình thì mình đều thực tập tâm khiêm hạ, cung kính để diệt bản ngã này. Nếu một người thấp kém mà mình còn thực hành được hạnh có thể quỳ lạy họ được thì huống gì các bậc Trưởng thượng. Đó là điều đương nhiên và rất lợi ích, lợi đắc cho ta, thật phước báo cho chúng ta, thật hạnh phúc cho chúng ta vì được học những pháp thánh thiện, tối thượng như vậy. Mình có được những đức hạnh hiền thiện, hiền lành, hiền đức, hiền hậu, hiền hòa để mình có thể càng ngày càng sớm thành tựu được những đức hạnh của hiền thánh.
Đây cũng là lý do tại sao chúng ta phải học, phải nghe pháp bằng nhiều cách để chúng ta mới tăng trưởng được niềm tin, trí tuệ, lòng biết ơn, sự tinh cần, tinh tấn, nỗ lực của mình. Nếu mình không nghe pháp thì mình không sanh ra những cảm thọ này, không hiểu những điều này, không có tâm biết ơn một cách sâu sắc.
Chính vì vậy, chúng ta để dành nhiều thời gian cho sự thiền tập và sự nghe pháp, đọc trong tạng Nikāya, nhất là trong thời điểm chúng ta đang học thì chúng ta đem những phần trong Trưởng lão ni kệ đọc tụng, hành trì.
Tâm biết ơn này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm biết ơn này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
Chánh Cung 5 Lần 7 Lượt Xin Xuất Gia & Ni Đoàn Thành Lập
Thích Minh Thành
Ngày 21 tháng 06 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chánh Cung Hoàng Hậu xin xuất gia PAGEREF _Toc144737549 \h 1
II. Tôn giả Ananda xin Thế Tôn PAGEREF _Toc144737550 \h 5
III. Tám kính pháp PAGEREF _Toc144737551 \h 6
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc144737552 \h 12
I. Chánh Cung Hoàng Hậu xin xuất gia
Kính bạch chư tôn hiền đức và chư vị hiền trí.
Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe về chư vị Tỳ-kheo ni thời Đức Phật, đây là những bản kinh rất quan trọng.
Chúng ta có Thánh điển y cứ, hôm qua Minh Thành đã nói sơ lượt, tổng quát về Tỳ-kheo ni Mahàpajàpatì Gotamì.
Hôm nay chúng ta sẽ học bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì trong Tăng Chi Bộ Kinh tập ba, có hai bài kinh về nhị mẫu rất quan trọng mà chúng ta sẽ được học. Một bài kinh là Ngài xin được xuất gia và một bài kinh Ngài xin pháp hành. Hôm nay là bài kinh Bà xin Đức Thế Tôn xuất gia.
1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Rồi Mahàpajàpatì Gotamì đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
- Thôi vừa rồi, này Gotamì, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
2. Lần thứ hai, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
- Thôi vừa rồi, này Gotamì, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
3. Lần thứ ba, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
- Thôi vừa rồi, này Gotamì, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
Rồi Mahàpajàpatì Gotamì biết được: "Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng", liền khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
4. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Kapilavatthu cho đến khi vừa ý, rồi ra đi đến Vesàli, tiếp tục bộ hành rồi đến Vesàli. Ở đấy, Thế Tôn ở Vesàli, tại Đại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn.
Rồi Mahàpajàpatì Gotamì, với tóc cạo sạch, đắp áp cà-sa, cùng với nhiều nữ nhân Sàkya ra đi đến Vesàli, tiếp tục bộ hành và đến Vesàli, tại Đại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn.
Nữ nhân Sàkya là Thích Ca nữ. Bà Mahàpajàpatì Gotamì cùng với khoảng năm trăm vị nữ nhân trong dòng họ Thích Ca đi đến Vesàli với đầu trần, chân đất, bùn sìn, mồ hôi, đói, mệt vì đường xa, chân như vậy bị đạp gai… Như vậy là đi một đoạn đường xa để đến Vesàli, vào ngôi nhà nóc nhọn ở tại Đại Lâm.
Rồi Mahàpajàpatì Gotamì, với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đứng ngoài cửa chính.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Chúng ta biết Người là hoàng hậu, đi chân không đoạn đường dài nhiều trăm cây số thì chân của Ngài bị sưng lên, tay chân lắm bụi, khổ đau, sầu muộn, nước mắt khổ đau đứng ở cửa chính. Vì đã xin ba lần nhưng Thế Tôn không đồng ý nên tự cạo đầu, đắp y và dẫn hàng trăm vị Thích Ca nữ, những người con gái dòng dõi Thích Ca trong hoàng thất đi đến chỗ Đức Thế Tôn nhưng chỉ đứng ở ngoài cửa khóc, chân thì sưng, người thì lem luốc.
Họ là hoàng hậu, cung phi, mỹ nữ, những vị phu nhân của tướng quân giờ lại lam lũ như vậy và đi đến ngoài cửa khóc.
Trong kinh nói ngắn gọn nhưng chúng ta phải dùng thọ, tưởng, hành của mình tưởng ra được cảnh đó, phải thọ được tình cảnh lúc đó, trường hợp, tình huống khi đó. Mình phải cảm thọ được, phải dùng thọ, tưởng, hành của mình cảm thọ một đoạn đường mấy trăm cây số mà Người là một hoàng hậu, đã cạo bỏ mái tóc của mình, đã là một sự chấn động, sau đó là đắp áo cà sa lên, đi chân không đến nỗi chân bị sưng vù lên, viết thì đơn giản nhưng mình cần hiểu là chảy cả máu.
Mình chỉ đi một chút từ đây ra ngoài góc cây, khi trình pháp thì các vị nói con đạp gai rất đau, mấy ngày sau mới hết, đó chỉ là một đoạn một chút mà đã có chuẩn bị. Chúng ta nghĩ con đường ngày xưa đi từ làng này qua làng nọ, từ thành phố này qua thành phố nọ không được tráng nhựa như bây giờ. Như vậy là gai, là miển, là đá nhọn đâm vào chảy máu, sưng phù lên. Rồi lại rất chịu khó, kham nhẫn, nhẫn nại, chịu cực, chịu khổ rồi không được ăn đậu hũ mà phải đi xin ăn, ngủ bờ ngủ bụi. Giống như thực hành hạnh của người xuất gia.
Hoàng hậu là một vị rất hiểu biết, không phải là người muốn làm thì làm, đã suy nghĩ rất kỹ và khi làm thì làm đúng theo quy cách, quy chuẩn, quy tắc của một người xuất gia, khất sĩ.
Rồi Mahàpajàpatì Gotamì, với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đứng ngoài cửa chính.
Tôn giả Ànanda thấy Mahàpajàpatì Gotamì với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đứng ngoài cửa chính, thấy vậy liền nói với Mahàpajàpatì Gotamì:
- Thưa Gotamì, vì sao lại đứng ở cửa với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than như vậy?
- Thưa Tôn giả Ànanda, vì rằng Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết.
- Vậy thưa Gotamì, hãy đứng chờ ở đây, chờ cho đến khi tôi xin phép Thế Tôn để nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
5. Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có Mahàpajàpatì Gotamì với chân bị sưng, tay chân lấm bụi khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than đứng ở ngoài cửa nói rằng: "Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng". Lành thay! Bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
- Thôi vừa rồi, này Ànanda, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
Lần thứ hai … Lần thứ ba, Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:
- Lành thay! Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn cho phép nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
- Thôi vừa rồi, này Ànanda, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
6. Rồi Tôn giả suy nghĩ như sau: "Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Vậy ta hay dùng phương pháp khác để xin Thế Tôn cho phép nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình".
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Ngài Ananda rất trí tuệ, muốn dùng phương pháp khác, tìm cách khác để thuyết phục Thế Tôn. Đây là vận dụng trong tứ như ý túc, để tâm vào và suy tư, tìm cách nào ch bằng được.
II. Tôn giả Ananda xin Thế Tôn
Trong tứ như ý túc đoạn sau là: tâm như ý túc, tư như ý túc, là để tâm vào sự việc đó và tìm cách suy tư, tìm cách nào cho được, làm cho bằng được, dốc hết sức mình, tận nhân lực.
Rồi Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, không biết nữ nhân sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả không?
- Này Ànanda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả.
- Bạch Thế Tôn, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Mahàpajàpatì đã giúp đỡ Thế Tôn rất nhiều trong vai người dì, người vú, người kế mẫu, khi mẹ của Thế Tôn mệnh chung, lại cho Thế Tôn bú sữa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Sau khi Thánh Mẫu Maya sinh Thái tử Tất-đạt-đa chỉ bảy ngày sau đã về trời, từ đó về sau bà Mahàpajàpatì Gotamì là người kế mẫu. Khi biết mẹ Thế Tôn mạng chung đã cho Thế Tôn bú sữa suốt ba năm trời, chăm sóc, nuôi dưỡng, thương yêu như vậy thì nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình rất tốt… Ngài Ananda tìm đủ cách như hỏi Thế Tôn được chứng quả hay không, sau đó là than van, kể lể, đó là cả tấm lòng của Ngài Ananda.
Như vậy là sau bảy, tám lần xin, thưa, thỉnh từ Ca-tì-la-vệ cho đến Xá-vệ, Ngài Ananda xin ba lần không được, cuối cùng thì đưa ra nhiều lý do như: hỏi có thể chứng Thánh quả hay không… Lúc này Thế Tôn mới nói.
III. Tám kính pháp
7. - Này Ànanda, nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp, thời Gotamì có thể được thọ cụ túc giới:
1. Dầu cho thọ đại giới một trăm năm, một Tỷ-kheo ni đối với một Tỷ-kheo mới thọ đại giới trong một ngày cũng phải đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, xử sự đúng pháp. Pháp này sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Ý nói, một người Tỳ-kheo ni một trăm tuổi hạ, tu một trăm năm nhưng nếu gặp một Tỳ-kheo bên nam, bên tăng mới vừa thọ giới cũng phải đứng dậy đảnh lễ chắp tay xử sự đúng pháp.
2. Tỷ kheo ni không có thể an cư mùa mưa tại chỗ không có Tỷ kheo. Pháp này sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
3. Nửa tháng một lần, Tỷ-kheo-ni cần phải thỉnh chúng Tỷ-kheo hỏi ngày trai giới và đến để thuyết giới. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Ý nói, cứ nửa tháng một lần phải có sự giáo giới, dạy dỗ của chư Tỳ-kheo tăng để nhắc nhở về giới luật và sự tu tập, sách tấn. Pháp này sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường cho đến trọn đời không được vượt qua.
4. Sau khi an cư mùa mưa xong, Tỷ-kheo-ni cần phải làm lễ Tự tứ trước hai Tăng chúng về ba vấn đề được thấy, được nghe và nghi. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
5. Tỷ-kheo-ni phạm trọng tội phải hành pháp pakkhamànattam (man-na-đọa) cho đến nửa tháng. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
6. Sau khi học tập sáu pháp trong hai năm, phải đến xin thọ cụ túc giới trước hai Tăng chúng. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
7. Không vì duyên cớ gì, một Tỷ-kheo-ni có thể mắng nhiếc, chỉ trích một Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
8. Này Ànanda, bắt đầu từ hôm nay, có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo về Tỷ-kheo-ni, không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo-ni về các Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
Này Ànanda, nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp này, thời cho phép Mahàpajàpatì Gotamì được thọ cụ túc giới.
8. Rồi Tôn giả Ànanda, sau khi học từ Thế Tôn tám trọng pháp này, rồi đi đến Mahàpajàpatì Gotamì, sau khi đến, nói với Mahàpajàpatì Gotamì:
- Nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp này, thời Gotamì sẽ được thọ cụ túc giới:
"Dầu cho thọ đại giới một trăm năm, một Tỷ- kheo-ni … không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo-ni về các Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tông trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua". Nếu Gotamì chấp nhận tám trọng pháp này, thời Gotamì sẽ được thọ cụ túc giới.
- Thưa Tôn giả Ananda, ví như một người đàn bà hay một người đàn ông, còn đang tuổi trẻ, tánh ưa trang sức, sau khi gội đầu xong, sau khi được một vòng hoa sen xanh hay một vòng vũ quý hoa, hay một vòng thiên tư hoa (hay cự thắng hoa) dùng hai tay cầm lấy vòng hoa ấy và đặt lên đỉnh đầu. Cũng vậy, thưa Tôn giả, tôi xin chấp nhận tám kính pháp này, cho đến trọn đời không có vượt qua.
9. Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Mahàpajàpatì Gotamì đã chấp nhận tám kính pháp này, cho đến trọn đời không có vượt qua.
- Này Ànanda, nếu nữ nhân không được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, thời này Ànanda, Phạm hạnh được an trú lâu dài, và diệu pháp được tồn tại đến một ngàn năm.
Vì rằng, này Ànanda, nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, nay này Ànanda, Phạm hạnh sẽ không được an trú lâu dài, thời này Ànanda, diệu pháp được tồn tại năm trăm năm.
Ý nói, nếu người nữ không xuất gia thì Chánh pháp sẽ tồn tại một ngàn năm, nếu người nữ xuất gia thì rút ngắn lại một nửa, chỉ còn năm trăm năm.
Thật vậy, sau năm trăm năm Đức Phật diệt độ, Tượng pháp 33:42 xuất hiện, Chánh pháp phai nhòa.
Chúng ta đứng lên đảnh lễ tâm đại bi của Đức Thế Tôn.
Mong Thế Tôn nhận chúng con đệ tử từ nay cho đến mạng chung chúng con trọn đời quy ngưỡng.
Từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
Ví như, này Ànanda, những gia đình có nhiều phụ nữ, ít đàn ông, thời những gia đình ấy rất dễ bị các đạo tặc, trộm ắp não hại. Cũng vậy, này Ànanda, nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, nên Phạm hạnh sẽ không được an trú lâu dài.
Ví như, này Ànanda, khi nào một chứng bệnh được tên là "trắng như xương" rơi vào một ruộng lúa đã chín, thời ruộng lúa ấy không có an trú lâu dài. Cũng vậy, này Ànanda, khi nào nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, thời Phạm hạnh này không có an trú lâu dài.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Bệnh trắng như xương là trong những đồng ruộng, những mùa vụ, khi xuất hiện những bệnh này của lúa, còn gọi là bệnh sương muối thì cánh đồng đó chết dần dần. Những cây lúa, những mảnh ruộng sẽ chết dần dần, phạm hạnh sẽ không được lâu dài.
Ví như, này Ànanda, khi nào một chứng bệnh được tên là "đỏ sét" rơi vào một ruộng mía đã chín, thời ruộng mía ấy không có an trú lâu dài. Cũng vậy, này Ànanda, khi nào nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, thời Phạm hạnh này không được an trú lâu dài.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Bệnh trắng như xương là bệnh sương muối, do hiện tượng nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm quá cao nên xảy ra hiện tượng sương muối, tế bào trong lá sẽ không kịp đóng mở và sẽ chết dần các tế bào, sẽ làm cho cây lúa chết dần. Khi làm nông người dân rất sợ hiện tượng sương muối.
Bệnh đỏ sét là bệnh khô vàng lá trên cây mía, khi cây mía bị bệnh, tế bào nấm khô vàng lá sẽ làm cho tế bào trong lá chết dần và cây sẽ không quang hợp được, lá sẽ không hấp thụ được ánh nắng mặt trời và cây sẽ chết dần chết mòn.
Khi mía chín cần ánh nắng Mặt trời để tổng hợp lượng đường nhưng bệnh rỉ sét tấn công vào thì nó làm cho không quang hợp được, không tổng hợp được lượng đường thì cây mía sẽ chết dần.
Cũng vậy, này Ànanda, khi nào nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, thời Phạm hạnh này không được an trú lâu dài.
Phạm hạnh có nhiều ý nghĩa, nghĩa gần nhất là đời sống trong sạch về giới luật, sẽ có sự qua lại giữa tăng và ni. Còn từ phạm hạnh trong bài nghĩa rất rộng, lớn tới Chánh pháp.
Ví như, này Ànanda, một người vì nghĩ đến tương lai xây dựng bờ đê cho một hồ nước lớn để nước không thể chảy qua. Cũng vậy, này Ànanda, vì nghĩ đến tương lai, Ta mới ban hành tám kính pháp này, cho các Tỷ-kheo-ni cho đến trọn đời không vượt qua.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Vì nghĩ đến tương lai sau này của Phật giáo, của tăng đoàn, của giáo hội nên Đức Phật ban hành tám pháp này cho các Tỳ-kheo-ni cho đến trọn đời không thể vượt qua. Vì nghĩ đến tương lai của Chánh pháp, Ta mới ban hành tám kính pháp này, cho các Tỷ-kheo-ni cho đến trọn đời không vượt qua.
1. Dầu cho thọ đại giới một trăm năm, một Tỷ-kheo ni đối với một Tỷ-kheo mới thọ đại giới trong một ngày cũng phải đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, xử sự đúng pháp. Pháp này sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
…
7. Không vì duyên cớ gì, một Tỷ-kheo-ni có thể mắng nhiếc, chỉ trích một Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
8. Này Ànanda, bắt đầu từ hôm nay, có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo về Tỷ-kheo-ni, không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo-ni về các Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.
Này Ànanda, nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp này, thời cho phép Mahàpajàpatì Gotamì được thọ cụ túc giới.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Vậy mà ngày hôm nay có một số Tỳ-kheo-ni đề xướng hủy bỏ Bát kính pháp. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Nhất là đề xướng hủy bỏ Bát kính pháp, tức là hủy bỏ giới thể của Tỳ-kheo-ni.
Câu này chúng ta đọc có cảm thấy chạm tới trái tim không?
Ví như, này Ànanda, một người vì nghĩ đến tương lai xây dựng bờ đê cho một hồ nước lớn để nước không thể chảy qua. Cũng vậy, này Ànanda, vì nghĩ đến tương lai, Ta mới ban hành tám kính pháp này, cho các Tỷ-kheo-ni cho đến trọn đời không vượt qua.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Tám Pháp - Phẩm Gotamì – Bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì)
Đây là tâm đại bi, cả một trái tim bằng tất cả tấm lòng mà Đức Phật chấp nhận Chánh pháp rút lại một nửa tuổi thọ.
Chúng ta hãy chiêm nghiệm, suy tư thật nhiều. Nếu chúng ta mong muốn Chánh pháp còn được duy trì một chút ít trong thời mạt vận này thì hãy cố gắng giữ gìn tám pháp cung kính này.
Hãy cố gắng làm tất cả những gì Đức Phật đã dạy, cố gắng hết sức mình có thể được để làm, đừng trở thành những đứa con bất hiếu, ngỗ nghịch, không nghe lời Đấng Từ phụ của chúng ta.
Minh Thành ở trong chùa hơn ba mươi năm đã thấy đã nghe, đã chứng kiến rất nhiều và tới bây giờ đọc những cái này thì thật là cảm thọ sâu sắc, huống gì các ni sư, các ni trưởng. Nên đây là một cơ hội rất quý báu, Minh Thành mong chư tôn đức ni, quý sư cô hãy chia sẻ cảm thọ hiền thiện, quý báu này đối với bậc Thánh tổ của mình trong bài kinh này.
Đó cũng là lý do tại sao hôm nay Minh Thành mời tất cả các sư cô có mặt đầy đủ. Mời tất cả chư tôn đức ni chiêm nghiệm và chia sẻ tâm tư của mình đối với bậc Thánh mẫu của ni đoàn chúng ta. Đây cũng là giây phút chúng ta đang tưởng niệm về Tỳ-kheo-ni đại ái đạo Mahàpajàpatì Gotamì.
IV. Trình pháp
Sư cô số 1 trình pháp:
Kính bạch sư phụ, sáng nay con được thiền quán bài sư phụ vừa chia sẻ.
Cảm thọ trong con rất xúc động, rất dâng trào, hình ảnh của Ngài Mahàpajàpatì Gotamì để cầu vấn pháp nơi Đức Thế Tôn. Những vị cung phi, mỹ nữ, mỹ nhân đẹp đẽ như vậy, đi đường gai góc chảy máu chân. Cầu xin giáo pháp nơi Đức Thế Tôn mà Ngài không chấp nhận, Quý Ngài tha thiết mong cầu vì mục đích, lý tưởng xuất gia để hôm nay chúng con được ân đức như thế này để tu tập vậy mà con là một đứa con ngỗ nghịch, để con vô chùa, các sư bà đem Bát kính pháp ra dạy con không chịu nghe, con nói rằng là “Đức Phật không bình đẳng, con không chịu nghe!”. Con cũng bỏ rơi qua một bên, con không chịu hành trì.
Qua một thời gian lớn lên, con lại đem ra đọc lại, đọc với tâm không cung kính, nhẫn nại mà đọc, thì tự nhiên con vỡ òa ra khóc. Con nói “Nếu như có Đức Thế Tôn ở đây, con xin xả giới, con xin làm hàng bạch y 67: 39 thôi.” Vì khi con tư duy thiền quán thì con thấy cả một cái cây chưa được làm thành mũi tên thì nó bị vướng, không thể nào người ta đem cung bắn được, nhưng khi cành cây đó được lột giũa thì mũi tên đó bắn mới xa được. Bây giờ mình thọ giới Tỳ-kheo-ni thì mình ngã mạn quá thì cũng lần quần trong sanh tử khổ đau.
Thà rằng mình chịu bước xuống một bước để mình tiến xa hơn thời vận Thánh pháp của Đức Phật. Từ đó, con mới đem Bát kính pháp lên con để tôn thờ và con một lòng cung kính, con thấy Bát kính pháp này khi con hiểu ra thì vì lòng thương tưởng chúng con mà Ngài chiếu định ra Bát kính pháp, không phải như lúc nhỏ mà con nghĩ là Đức Phật không bình đẳng, là việc sai lầm của con. Khi con lớn lên, con thấy trong một gia đình có nhiều phụ nữ thì gia đình đó sẽ bị suy yếu trong giáo pháp của Đức Thế Tôn cũng vậy.
70:00 Khi đọc tới bài Tỳ-kheo-ni một trăm tuổi hạ cũng phải đảnh lễ một vị Tăng Tỳ-kheo thì lúc này con nghĩ là “Già rồi không có lãnh đạo giáo pháp được nữa.” Tuy là vị tăng Tỳ-kheo nhưng Chánh pháp Phật pháp sau này là những vị ấy thì trong con sanh tâm hoan hỷ và cung kính, không dám như trước nữa. Quý Ngài đã khổ công đi cầu thỉnh giáo pháp như vậy mà con thì … Các Ngài đã để gia bảo sẵn cho chúng con thực hành theo thôi mà không nghe lời.
Giờ đây, đứng trước Đức Thế Tôn, đứng trước Bốn đôi tám chúng, con xin sám hối lỗi ngu si, vô minh, ngu muội của con và con xin hành trì Bát kính pháp này trọn đời.
Sư cô số 2 trình pháp:
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Hôm nay con được ngồi lắng nghe sư phụ nói về hành trình cầu thỉnh được xuất gia của vị Thánh tổ của ni chúng, con cảm thấy thật xúc động, hành trình của vị Thánh tổ thật sự không dễ dàng, thật gian truân, khổ cực bởi ba lần thỉnh cầu mà Đức Phật không đồng ý rồi đến ba lần Ngài Ananda thỉnh cầu Đức Phật cũng không đồng ý. Và với lòng đại từ đại bi của Ngài Ananda tìm mọi cách để cuối cùng vị Thánh tổ được xuất gia.
Hành trình cầu xuất gia của vị Thánh tổ, làm cho con suy nghĩ, con phải trân quý, không được xem thường sự xuất gia của mình trong cuộc đời này. Và con cũng cảm nhận được lòng đại từ đại bi của Đức Phật chấp nhận cho người nữ xuất gia để làm cho Chánh pháp giảm năm trăm năm. Con cảm thấy thật xấu hổ, sự xuất hiện của mình trong tăng đoàn của Đức Thế Tôn cũng như trong tăng đoàn của Linh Quy Pháp Ấn. Con nghĩ rằng, con phải cố gắng thật nhiều để xứng đáng với tấm lòng đại từ đại bi của Đức Thế Tôn. Cũng như, con phải cố gắng rất nhiều để xứng đáng với tấm lòng đại từ đại bi của sư phụ cho chúng con được về đây tu tập. Con cũng xin nguyện tôn kinh Bát kính pháp mà Đức Phật đã đưa ra, để làm cho Chánh pháp tồn tại lâu dài trên thế gian này.
Sư cô số 3 trình pháp:
Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý ni sư và toàn thể đại chúng.
Lúc trước con có được Diệu Huệ gửi cho con tấm hình quý sư ở đây đi khất thực, không đội nón, đi chân không, con rất cảm kích, con cũng muốn được như vậy do đó con có mặt tại Linh Quy này.
Khi về đây con cũng đi khất thực nhưng chân của con từ xưa được bảo bọc rất kĩ lưỡng, con về đây thì con chạm phải đá rất đau, nhưng con cảm thấy rất thích thú, con lắng tâm mình, nghe từng cái đau của bàn chân khi con nghĩ đến điều đó làm cho con nhớ lại di mẫu của Đức Phật ngày xưa cũng đã từng đi như vậy. Khi con đi con thấy đau, con cảm nhận được cái đau đó và thích thú với cái đau đó.
Hôm nay khi được sư phụ nhắc về lịch sử của di mẫu cầu pháp và cái đau của con là nhận được những đôi bàn chân xinh xắn nhỏ bé, đi trên sỏi đá, chảy máu, đi với đoạn đường rất dài thì điều đó làm cho con rất xúc động. Con xúc động hơn nữa vì thân nữ xuất gia mà Chánh pháp mất đi năm trăm năm, con thấy rất tủi nhục, rất hổ thẹn, con thấy nghiệp của người nữ sao nặng nề quá. Và con cảm thấy rằng con là một trong những Tỳ-kheo ngày xưa phải làm những điều không tốt khiến cho Phật pháp bị mất mát, bị ngắn lại như vậy. Con cảm thấy xấu hổ lắm.
Mặc dù xưa nay con vẫn tôn kính Bát kính pháp, không xúc phạm điều gì, nhưng không biết làm sao, con thấy mình rất tội lỗi, con tự lòng của mình là hứa nhất định không làm một lỗi lầm nào khác. Từ lúc nghe được những bài pháp nói về hạnh tu của các Thánh ni thời xưa, con tinh tấn hơn nhiều, mỗi bước chân của con đi, mỗi niệm khởi lên, con đều nhìn thấy rất rõ, con không dám lơi là buông lung.
Và đã từ lâu, con đã học những bài này rồi nhưng con đọc giống như là mình đọc một câu truyện nào đó, nó không thực tế. Nhưng bây giờ khi lời của sư phụ dạy từng câu một nhẹ nhàng, với tâm từ đó con thấm được rất nhiều, không giống như ngày xưa con đã từng đọc.
Con xin nguyện với lòng mình là phải cố gắng từng …84:25, không lơi là, buông lỏng để không phụ tấm lòng của Đức Phật, của Ngài Ananda, của di mẫu.
Sư cô số 4 trình pháp:
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô, quý ni sư cùng đại chúng hiền trí.
Hôm nay con rất xúc động khi được nghe sư phụ kể cho chúng con nghe về lịch sử có mặt của ni đoàn, Thánh tổ ni của chúng con xuất thân là hoàng hậu, năm trăm vị đi theo Ngài đều là Thích ca nữ, hoàng thất. Cuộc sống của các Ngài trong chăn ấm, nệm êm, từng bước chân của các Ngài đi trong cung là trên nhung lụa, mỗi bữa ăn giấc ngủ của các Ngài đều có kẻ hầu kẻ hạ, không phải động tay vào việc gì.
Vậy mà khi cầu được xuất gia mà cạo tóc, đắp y thô sơ, đi chân không, đi bộ hành hàng trăm ngàn cây số. Con chỉ tưởng gót chân hồng hào, mỏng manh ấy mà phải đạp trên những hòn sỏi, đá, gai nhọn, đi trên những con đường gồ ghề, băng rừng, vượt suối để cầu xuất gia. Thật sự rất chấn động trong con.
Vậy mà xin năm lần bảy lượt Đức Thế Tôn không cho, lúc đó con rất hổ thẹn vì bình thường ai đó cầu Đức Thế Tôn việc gì thì đến lần thứ ba thì Thế Tôn đã bằng lòng giải đáp. Vậy mà đối với ni chúng, cầu xuất gia phải đến bảy, tám lần Đức Thế Tôn vẫn còn đắn đo suy nghĩ, con thấy tất cả là do nghiệp bản ngã của người nữ quá cao, rất cao ngạo. Đức Thế Tôn vì lòng từ bi bẻ gãy ngọn cờ ngã mạn này cho chúng con. Thật xấu hổ cho chúng con vì phải để cho Thế Tôn đến bảy, tám lần xin mới được cho xuất gia.
Lòng con thật biết ơn Đức Thế Tôn vì cuối cùng Ngài cũng đã đồng ý, con rất biết ơn Tôn giả Ananda đã kham nhẫn hết lần này đến lần khác vào xin dùm cho chúng con. Con biết ơn Thánh tổ ni và những vị đang theo Ngài đã rất kham nhẫn, chịu đựng, nhẫn nại vì ngày hôm nay chúng con được tu trong tăng đoàn. Nhưng càng xúc động hơn nữa là khi Đức Thế Tôn nói Bát kính pháp.
Con rất xấu hổ, con không biết vì lòng từ bi mà Đức Thế Tôn cho Bát kính pháp, chính vì không biết nên con đã vượt qua. Khi đi học con cứ nghĩ quý thầy với chúng con là bạn học nên con không có sự cung kính như lời Đức Thế Tôn dạy. Đối với bạn học con còn xưng tôi gọi là ông. Hôm nay được sư phụ dạy sự xuất hiện của người nữ trong tăng đoàn như là một ngôi nhà có nhiều phụ nữ, ít đàn ông sẽ mau chóng tàn lụi do bị kẻ cướp xâm phạm, như lúa mạ bị sương muối, như cây mía bị bệnh vàng lá.
Con thật xấu hổ, sự có mặt của chúng con đã làm cho Chánh pháp mất đi nửa thời gian, nhưng vì lòng từ bi mà Đức Thế Tôn đã bằng lòng, ân đức ấy chúng con sao trả hết vậy mà chúng con vì vô minh, vì tâm mê, bản ngã, chúng con không biết được lòng từ bi của Đức Thế Tôn. Chúng con đã làm tổn hại đến phạm hạnh mà Đức Thế Tôn đã dày công truyền đạt.
Con xin dâng lòng tôn kính lên Đức Thế Tôn, con rất xấu hổ, từ ngày lên Linh Quy con đã gặp được Chánh pháp, con đã gặp được minh sư, thiện tri thức. Con cố gắng tu hành lời của Đức Thế Tôn dạy. Đức Thế Tôn ơi con xin sám hối với Ngài. Tôn giả Ananda ơi con xin sám hối với Ngài. Thánh tổ ni ơi, con xin sám hối với Ngài. Con xin nguyện cố gắng tu tập, làm theo lời dạy của Đức Thế Tôn, không vượt qua bờ đê mà Ngài đã ngăn lại. Con xin đem hết lòng tôn kính đến với chư tăng.
Con sẽ giữ Bát kính pháp với đầy lòng tôn kính, với sự hiểu biết mà hôm nay con học được. Xin Thế Tôn tha thứ cho con.
Sư phụ giảng giải:
Để mình giữ lửa tôn kính giới pháp này, đời sống phạm hạnh này và tăng trưởng lên lòng tin đối với Phật Pháp Tăng, tăng trưởng niềm biết ơn đối với các bậc Thánh đức để mình có sự hướng thượng trong sự tu tập của mình. Và điều quan trọng là khi chúng ta đã đi vào dòng pháp Nikāya này là không sử dụng tất cả những tài liệu khác, chỉ sử dụng những gì có trong Nikāya.
Nên mỗi ngày trong thời khóa tu quý thầy và quý ni sư nhớ đọc thanh quy cho đại chúng cùng tụng. Những gì Đức Phật dạy trong kinh Nikāya thì chúng ta thọ trì, còn ngoài đó ra thì chúng ta không đề cập đến, không đọc, không tìm hiểu, không đề cập tới. Ngoài Thánh trí của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra thì đều là phàm phu hết. Cần để ý điều đó.
Chúng ta thấy ân đức của các bậc tiền nhân rất lớn, lần sau chúng ta tu học, hành trì có sự niệm ân đức. Nhớ ơn, niệm ơn và chúng ta trong suốt hôm nay mình lấy làm đề mục về những gì được nghe, mình tiếp tục thiền quán, tiếp tục suy tư, tiếp tục làm sanh khởi lên những cảm thọ hiền lành, thánh thiện trong người mình. Viết bài ra những cảm nhận của mình để được ghi nhớ lại sâu sắc, nuôi lớn tâm thực hành, cung kính pháp. Không phải chỉ cung kính các bậc Tỳ-kheo không mà cũng phải cung kính tất cả các bậc đồng phạm hạnh.
Chúng ta đã học trong sám hối diệt ngã, người ngang mình, người thấp hơn mình thì mình đều thực tập tâm khiêm hạ, cung kính để diệt bản ngã này. Nếu một người thấp kém mà mình còn thực hành được hạnh có thể quỳ lạy họ được thì huống gì các bậc Trưởng thượng. Đó là điều đương nhiên và rất lợi ích, lợi đắc cho ta, thật phước báo cho chúng ta, thật hạnh phúc cho chúng ta vì được học những pháp thánh thiện, tối thượng như vậy. Mình có được những đức hạnh hiền thiện, hiền lành, hiền đức, hiền hậu, hiền hòa để mình có thể càng ngày càng sớm thành tựu được những đức hạnh của hiền thánh.
Đây cũng là lý do tại sao chúng ta phải học, phải nghe pháp bằng nhiều cách để chúng ta mới tăng trưởng được niềm tin, trí tuệ, lòng biết ơn, sự tinh cần, tinh tấn, nỗ lực của mình. Nếu mình không nghe pháp thì mình không sanh ra những cảm thọ này, không hiểu những điều này, không có tâm biết ơn một cách sâu sắc.
Chính vì vậy, chúng ta để dành nhiều thời gian cho sự thiền tập và sự nghe pháp, đọc trong tạng Nikāya, nhất là trong thời điểm chúng ta đang học thì chúng ta đem những phần trong Trưởng lão ni kệ đọc tụng, hành trì.
Tâm biết ơn này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm biết ơn này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.