4. Nhìn Ra Năm Uẩn
TINH HOA NIKĀYA
NHÌN RA NĂM UẨN
– Thích Minh Thành–
Hôm nay là buổi đầu tiên Minh Thành được chia sẻ với quý vị về những lời dạy của Đức Phật cho nên hôm nay xin được trao đổi, trình bày với quý vị về chủ đề nhìn ra năm uẩn.
Năm uẩn hay còn được gọi là ngũ uẩn, đó là danh từ rất quen thuộc mà tất cả người học Phật khi tụng kinh Bát Nhã mỗi ngày đều có câu "… chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách". Chúng ta thuộc nằm lòng nhưng khi trở về để nhìn nhận lại hoặc soi xét lại thì chúng ta quờ quạng, lờ mờ không rõ ràng. Để cho sự nhìn nhận một cách rõ ràng, minh bạch, cụ thể, xác đáng, thiết thực thì chúng ta sẽ tìm hiểu về sự nhìn ra năm uẩn này.
Trước tiên trong sinh hoạt hằng ngày, có ai hỏi mình đang làm gì thì mình nói "tôi đang nghe pháp" hoặc là "tôi đang đi", "tôi đang ăn cơm". Mình nghĩ rằng mình thật thà, làm gì nói đó, nói đúng sự thật nhưng xét kĩ lại thì chưa đúng. Nếu mình thấy có một cái tôi đang ngồi, tôi đang đi, tôi đang ăn… thì đó là mình chưa biết về năm uẩn, chỗ này không những Phật tử mà ngay cả người xuất gia nếu không để ý, không thực tập thì khi tụng là "năm uẩn giai không" nhưng khi trở ra chỉ có một uẩn, một cái tôi to lớn. Cho nên đúng sự thật là phải nói "có một sắc uẩn đang ngồi" chứ không có cái mình, cái ta nào đang ngồi, không có cái tôi đang ngồi, cái này rất sâu sắc để ứng dụng trong đời sống chứ không phải chỉ đọc trả bài trước bàn Phật, chúng ta phải thấy rõ có một sắc uẩn đang ngồi, một đống sắc chất đang ngồi, tổ hợp tứ đại đang ngồi. Định nghĩa 1 về năm uẩn là:
Thân người là Sắc
Cảm giác là Thọ
Hình bóng là Tưởng
Suy nghĩ là Hành
Rõ biết là Thức
Bây giờ mình phải tập nhìn, tập nghĩ, tập suy xét, tập nhận diện ra cho được sắc là sắc, đừng lẫn lộn sắc là tôi, sắc là ta, sắc là tao, sắc là bản ngã, đó là mình không nhìn ra được sắc uẩn. Hôm nào gặp được thầy hỏi đang làm gì thì phải trả lời "sắc uẩn này đang ăn thưa thầy", đó là mình đang loại bỏ ý nghĩ cục thịt mấy chục kí, tóc, lông, móng, răng, gân, da, thịt này là tôi, là của tôi. Mình phải loại bỏ, phải từ bỏ suy nghĩ đó, phải dẹp bỏ nhận định sai lầm đó thì mình mới nhìn ra được sắc uẩn. Nếu không nhìn ra mà có tụng kinh ro ro "Quán tự tại…. chiếu kiến ngũ uẫn giai không…" vậy mà trở ra mất đôi giày là la lối um sùm, sân si lên, như vậy mình đọc kinh không có ích gì cả, cho nên khi xếp cuốn kinh lại ra khỏi chánh điện và trở về nhà thì mình cũng phải nhớ đây là sắc, không có tôi, không có cái của tôi. Mình phải tập nhìn ra, tập điều chỉnh suy nghĩ, tập điều chỉnh quan niệm, điều chỉnh nhận định sai lầm trước đây cho rằng bộ xương này, lớp da này, bao máu mủ này là tôi, là của tôi, phải dẹp bỏ ý nghĩ đó.
Đức Phật dạy muốn nhìn ra được tổ hợp sắc chất này thì phải thường nhớ thân này do có ăn nên mới có sự sống, nếu không ăn thì chết, do có thở nên mới tồn tại còn ngưng thở thì chết.
"Còn động còn ấm còn ta,
Động dừng ấm hết là ma ra đồng.
Thở than khóc lóc não lòng,
Thức thần theo nghiệp hết mong trùng phùng".
(Chiếc Thân Phút Chót - Thiền Viện Chân Không, 01.1985)
Ngưng thở là thành tử thi, ngưng thở là thành ma, ngưng thở là lên bàn thờ, ngưng thở là thành vong linh thì cái ta ở đâu nữa? Như vậy phải ăn, phải uống, phải có nhiệt độ, thì đó là đất, nước, gió, lửa cho nên phải thường nhìn ra bốn yếu tố cấu tạo, kết hợp. Đức Thế Tôn nói thân này do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành, nó vô thường, bệnh tật, đau ốm, lo lắng, bất an, sợ hãi, già suy và chết chóc bao vây.
"Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V) Một Ung Nhọt)
"Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa".
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)
Đống sắc uẩn này làm bằng xương, như vậy cái nghe, cái thấy của mình là do duyên sanh, chỉ cần thiếu duyên thôi là thấy như mù, nghe như điếc. Bản chất của ngũ uẩn là như vậy, bản chất của tứ đại là thứ lắp ráp, là thứ kết hợp, là thứ nương dựa để sanh khởi ra, Thế Tôn gọi là tập khởi. Tụ tập, nhóm họp, tập hợp rồi mới sanh khởi ra, đối với cái thấy, cái nghe của mình cũng như vậy, chỉ cần thiếu duyên một chút thôi là nói gì nói cũng không nghe nên cái nghe cũng là vô thường, không có gì chắc chắn.
Hãy nhìn cho kĩ hình hài này để đừng bị nó lừa gạt từ trẻ đến lớn, từ lớn đến già, từ già đến chết. Không phải chết là xong mà tiếp tục đời sau đội lên những lớp da khác và tiếp tục tham, sân, si, bản ngã. Đó là sự đau đớn, là sự mê lầm, vô minh, Đức Phật đã nói chúng sanh bị tham ái trói cột, bị vô minh che đậy, hễ chụp vào lớp da nào là vỗ ngực xưng ta, tao, tôi, mi, tớ, đụng vào thân này là có chuyện.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Thân này giống như một bao rác, chứa đựng trong đó là phân, máu, mủ, đàm, mỡ, nước mắt, nước mũi, ghèn, mồ hôi, nước tiểu… Thật là gớm ghê, đó là cái mà mình nhận là mình, là tôi, đó là cái mà ai đụng vào là mình sân ầm ầm lên, sự thật của nó là vậy mà chúng ta lại mê lầm. Chúng ta bị màn đêm của vô minh che phủ, suốt ngày chúng ta cứ ảo tưởng một cái tôi, một cái ta, một bản ngã trong một đống đất, nước, gió, lửa bẩn thỉu, hôi tanh, nhơ nhớp này. Rồi một ngày không xa chúng ta nằm trên gường bệnh, xung quanh là con cháu khóc than, kể lể. Chúng ta thở từng hơi đầy khó khăn, mệt nhọc, những dòng nước mắt của tự thân tuôn xuống và những dòng nước mắt của những người xung quanh chảy xuống, đến chết cũng vẫn còn vô minh và si mê vì không nhìn ra được sắc uẩn là sắc uẩn. Tụng thường xuyên "chiếu kiến ngũ uẩn giai không" nhưng khi trở ra là ta, tôi, mình, tao, cứ nhân ngã bỉ thử, hơn thua rồi xưng là đệ tử Phật thì Đức Phật không chấp nhận. Đệ tử của bậc Thánh gọi là Thánh đệ tử phải là người nhìn thấy năm uẩn, ngài mới công nhận người đó mới thật sự là đệ tử của Như Lai.
Trong một ngày chúng ta nhớ ra được mấy lần hoặc mấy tiếng thân này là sắc uẩn? Trong một ngày chúng ta nhớ được mấy lần hình hài này là đất, nước, gió, lửa? Trong một ngày chúng ta tỉnh giác được mấy lần để biết đây là sắc pháp vô thường? Trong một ngày chúng ta chánh niệm được mấy lần để thấy sắc uẩn này là khổ đau? Trong một ngày chúng ta tỉnh táo được mấy lần để thấy thân da thịt này là trống không, là trống rỗng, vô ngã, không có tôi, không có ta, không có chủ thể? Nếu mình nói thân này của mình, mình là chủ thân này thì mình phải ra lệnh cho nó khỏe không bệnh thì có được không? Ta ra lệnh cho tóc này đừng bạc, có được không? Ta ra lệnh răng không được rụng có nghe lời mình không? Ta ra lệnh mắt này phải sáng tỏ không được mờ, có được không? Ta ra lệnh cho chân này phải khỏe mạnh như thời niên thiếu thì nó có nghe lời không? Chúng ta bất lực vì thân này là vô chủ nhưng chúng ta lại không nhìn thấy, chúng ta lãng quên rồi sống trong một ảo tưởng rằng đây là tôi, đây là của tôi rồi chúng ta lo lắng, bất an, sợ hãi, sầu đau.
Khi đống tứ đại này rã ra thì chúng ta hoảng loạn, tắt thở là gió đi trước, thân thể lạnh ngắt không còn hơi ấm, lửa cũng biến mất, nước chảy ra, trương phình lên, phân hủy mọi thứ, đến bộ xương cũng rã nát. Chúng ta sẽ đau khổ, chúng ta sẽ tiếc thương vì sự mê lầm không nhận ra sắc uẩn chỉ là sắc uẩn, chúng ta nhận lầm, ngộ nhận, hiểu lầm, nhìn sai, Đức Thế Tôn gọi là chấp thủ, tà kiến, vô minh, tham ái, sắc thủ uẩn, có rất nhiều từ để chỉ cho tâm bám víu, nắm chặt, đam mê trong mấy chục kí lô thịt này. Như vậy chúng ta nhìn ra sắc uẩn để thấy được nó là thứ vay mượn, là thứ kết hợp, là thứ lắp ráp, vô thường, nó là thứ biến đổi và hoại diệt bất cứ lúc nào, nhất là trong thời điểm này thì chúng ta lại càng thấy sáng tỏ chân lý về vô thường, về khổ đau, về sự trống không của cuộc đời này.
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Bằng sự chánh niệm, bằng sự nhắc nhở thường xuyên và liên tục, thức tỉnh, loại bỏ suy nghĩ cho rằng cái này là tôi, là của tôi mà thấy rõ đây chỉ là sắc pháp, là tứ đại, là vô thường, là biến hoại thì cái đó gọi là nhìn ra sắc uẩn. Đó là chúng ta chỉ mới nhận diện một uẩn thứ nhất là sắc, nếu nhìn ra được thì an lạc biết bao, không còn hơn thua, sân si với ai, không còn đam mê trong hình hài này nữa.
Sau đây là tổ hợp thứ hai, chính là cảm giác, là thọ uẩn. Có người hỏi hôm nay mình thế nào thì mình trả lời "hôm nay tôi thấy vui quá" hoặc "mấy nay tôi bực mình lắm" hoặc "tôi bình thường", chúng ta nghĩ sao thì nói đúng vậy nhưng thật ra là không đúng, Đức Thế Tôn gọi đó là vô văn phàm phu, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử có nghe, có học, có thực tập chánh pháp thì phải khác. Khác ở chỗ không cho những cảm giác đó là tôi, là của tôi, cảm giác là thọ uẩn, là tổ hợp của những cảm thọ, nó không phải là mình. Nếu mình nói cảm giác vui đó là mình thì khi có cảm giác buồn thì cảm giác đó là ai? Nếu nói cảm giác sướng là mình thì cảm giác khổ là ai? Rồi cảm giác không vui không khổ, đều đều đó là ai nữa? Cho nên phải biết cảm giác này là pháp duyên sanh, nó do tiếp xúc nên mới sanh ra cảm giác, Tiếng Việt có từ "cảm xúc" tương ứng với kinh Nikāya. Cảm xúc là những cảm giác sanh khởi do tiếp xúc, tất cả cảm giác dù vui, buồn hay không vui không buồn đều do tiếp xúc mà sanh ra. Bây giờ có người đến tặng quà thì mình vui, như vậy tại sao lại có nụ cười, tại sao lại có cảm giác vui đó? Là do được tặng quà hay tặng hoa, sự tặng quà hay tặng hoa đó chính là sự tiếp xúc, mắt mình thấy có người đến, tai nghe, tay cầm bó hoa hoặc món đồ, vậy là có tiếp xúc rồi sanh ra cảm xúc đó là vui, hân hoan, hoan hỉ. Như vậy cảm giác đó là do tiếp xúc mới sanh ra chứ không phải tự động có cảm giác, có duyên thì sanh khởi ra mà hết duyên thì biến đổi. Người ta đến lấy quà lại vì tặng nhầm thì từ vui thành buồn, hôm qua được khen còn hôm nay bị chê thế là giận, thế nên cái vui hay buồn, cái khổ hay sướng là do duyên sanh, là do tiếp xúc chứ không có thật.
Cảm giác như làn gió thổi qua rồi mất nhưng mình lại muốn lưu giữ nó, mình cho cảm giác đó là mình, vấn đề nằm ngay tại đây, mình nghĩ tôi sướng, tôi dễ chịu, tôi bực mình, cái nào mình cũng gắn chữ "tôi" vào. Bất cứ cái gì đem vào nhà mình cũng cho nó là của tôi, "tượng Phật của tôi", "cuốn sách này của tôi", "đồng hồ này của tôi" cho nên ai đụng vào đồ của tôi là có chuyện, đây là cái mê lầm thứ hai, đó là không nhìn ra được thọ uẩn, nó chỉ là pháp duyên sanh, là do kết hợp mới tạo thành, thoáng qua rồi mất nhưng sở dĩ do mắt tiếp xúc sắc đẹp, tai tiếp xúc lời khen tiếng chê, mũi, lưỡi tiếp xúc mùi vị, thân thì đụng chạm, bên trong tâm có sự tiếp xúc với những hình bóng (tưởng), cảm giác (thọ), suy nghĩ (hành), như vậy sáu sự tiếp xúc này có là do có thân này, cảm thọ này có ra là đặt nền tảng cơ sở từ nơi thân, trong khi thân là thứ vô thường, là tứ đại ngũ uẩn, là thứ bại hoại, bất cứ lúc nào cũng có thể ngã xuống, nằm xuống bất động không có bất kì người thân nào bên cạnh rồi được gửi về nhà là một hủ cốt. Mình đi nhận một thứ vô thường như vậy, một thứ sớm còn tối mất, một thứ biến đổi và tan hoại, bất tịnh thì làm sao mình không đau khổ được, mình nhận thân này là mình rồi từ nơi thân này sanh ra cảm giác nào cũng cho là mình "tôi giận", "tôi thương", "tôi ghét", "tôi mừng", cái nào cũng có chữ "tôi" trong đó, đây là lớp mê lầm thứ hai mà Đức Thế Tôn gọi là thọ thủ uẩn. Uẩn nghĩa là tổ hợp, thọ là cảm giác, cảm thọ, thủ là nắm giữ vào những cảm giác này cho nó là tôi.
Nếu có cảm giác vui thì mình khoái chí, thích thú, ham muốn, say mê đắm đuối trong đó. Nếu là cảm giác bức rứt, khó chịu thì mình sân si, cáu gắt, thù hận. Cảm giác dễ chịu là có tham, cảm giác khó chịu là mình chồng chất cái sân, cảm giác đơ đơ là si trong đó, không thấy không biết gì cả. Đức Phật dạy phải diệt tham, sân, si mới hết khổ mà mình không biết nhận diện cảm thọ, cảm giác thì mình lại chất chứa, tưới tẩm, nuôi dưỡng, phát triển ba cảm giác tham, sân, si. Vào lạy Phật thì muốn Phật độ cho hết khổ mà mình lại không chịu nhiếp phục, tẩy sạch, không chịu diệt tận tham, sân, si thì làm sao hết khổ? Cho nên càng tu lại càng khổ vì tu sai, không nhìn thấy tham, sân, si trong cảm giác, không nhiếp phục, không tẩy sạch, không đoạn tận tham, sân, si trong ba loại cảm giác dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu không khó chịu. Mình cứ hướng ngoại ra ngoài nhìn người này ngó người kia rồi phán xét, vào chùa cũng chuốc lấy phiền não, đúng sai, nhân ngã. Thật là đáng thương thay! Không chịu quay lại nhìn nội tâm để nhiếp phục cảm thọ, cảm giác của mình, đánh gục bản ngã của mình, cứ quay ra nhìn người này người kia rồi mang lấy phiền não. Sự chân tu mà Đức Phật dạy là phải quay trở lại nhìn nội tâm, nhận ra năm uẩn, đó mới là bậc trí.
Thứ ba là những hình bóng trong tâm, đó là tưởng uẩn. Những hình bóng nào trong tâm sanh khởi lên mình cũng cho đó là mình, "tôi tưởng như vậy", "đây là tư tưởng của tôi", "tôi cho rằng như vậy", hình bóng nào trong tâm cũng cho đó là mình, đó là năm thủ uẩn, cái nào cũng nắm chặt trong đó. Khi ngồi nhớ lại hình bóng đứa con thì gương mặt đứa con hiện ra trong tâm, hình bóng đó là tưởng. Khi nhớ cảnh làng quê thì hình bóng làng quê hiện ra trong tâm lờ mờ, đó là tưởng. Tại vì mình không nhìn ra hình bóng chỉ là tưởng uẩn nên hình bóng nào hiện ra mình cũng cho nó là mình, mình bám chấp vào những hình bóng đó rồi mình đau khổ hoặc vui sướng với những hình bóng đó, mình hơn thua với những hình bóng đó. Sáng sớm ra chợ tự nhiên bị một người lạ liếc háy nhưng mình bỏ qua, thế nhưng khi về nhà thì con mắt liếc, háy còn hiện rõ trong tâm, mình phải biết đó chỉ là tưởng thôi, cái hình thật ở ngoài còn bất tịnh, vô thường thì hình bóng trong tâm có là gì đâu, "hãy tan biến khỏi tâm ta đi, đừng quậy nữa, để yên cho ta tu, những bóng ma này tan biến hoàn toàn đi", đánh đuổi những hình bóng đó khỏi tâm, không cho những hình bóng đó là thật, không chất chứa những hình bóng tham, sân, si đó.
Ở nhà có bộ bàn ghế rồi nhưng qua nhà người ta thấy họ có bộ bàn ghế đẹp mắt, nhiều tiền, về nhà thấy bàn ghế của mình rồi so sánh, ước ao bộ bàn ghế đắt tiền kia. Mình phải dẹp bỏ những hình bóng này vì đó là những hình bóng tham ái, trong hình bóng đó có tham, có ái, có dục, "ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, đừng xúi giục ta nữa, đừng dụ dỗ ta nữa". Con mắt liếc, háy khi nữa là sân, mình cũng đuổi hình bóng đó ra khỏi tâm và hiện lên gương mặt hiền lành, dễ thương, khiêm cung, khiêm tốn, nhẹ nhàng, đuổi hình bóng sân si, dữ tợn đó ra khỏi tâm và thay thế bằng hình bóng hiền lành, hiền dịu, hiền đức, hiền từ, hiền trí. Tu tâm là tu như vậy đó, tu trong mỗi cảm giác, trong mỗi hình bóng trong tâm và loại bỏ ý nghĩ tôi, của tôi, tôi hay, tôi, đẹp, tôi giàu, loại bỏ ý nghĩ tôi đó ra khỏi tâm, phải biết đây chỉ là tưởng uẩn. Do có sự tiếp xúc nên mới có những hình bóng này, nếu không gặp con mắt liếc đó thì không có hình bóng con mắt đó hiện ra trong tâm, nếu không thấy bộ bàn ghế đắt tiền đó thì không có hình bóng đó trong tâm, do mình gặp, do mình thấy, mình nghe, mình tiếp xúc thì bây giờ những hình bóng đó lưu lại nhưng những hình bóng này liên hệ với tham, sân, si nên phải đuổi nó ra khỏi tâm, giống như lấy chổi quét rác. Ngày nào cũng quét nhà nhưng tâm lại quên quét, còn ngồi thiền tức là đang quét rác nội tâm.
Quét đất, quét chùa, quét đất tâm
Đất tâm không quét uổng công làm
Người đời nếu biết đem tâm quét
Phiền não còn đâu chốn nảy mầm!
Sau đây chúng ta nhận diện uẩn thứ tư là hành uẩn, chính là những suy nghĩ lầm thầm trong tâm. Trong mỗi suy nghĩ mình đều nắm chắc trong đó, gắn cái tôi, cái ta, bản ngã trong đó, vậy là mình không nhận ra được hành uẩn, tức là không chiếu kiến được những suy tư, nghĩ ngợi, mình không soi xét, không soi rọi vào từng ý nghĩ, phải loại bỏ những ý nghĩ cho rằng "tôi nghĩ", "tôi thấy", "tôi biết", "tôi tài giỏi". Phải nghĩ rằng không có cái nào là tôi trong này, tôi là duyên sanh, là vô thường, tôi là thứ lắp ráp, tôi là thứ vay mượn, là thứ biến đổi tan hoại, chỉ là tạm dùng chữ như vậy để xưng hô chứ không có cái tôi thật. Do có sự tiếp xúc nên mới sanh ra suy nghĩ, nếu không có tiếp xúc là không thể nghĩ được, nếu chưa từng thấy, chưa từng nghe, chưa từng biết thì không thể nghĩ được, vì vậy xúc tập khởi nên hành tập khởi, tức là phải có sự tiếp xúc thì mới có suy nghĩ về cái đã tiếp xúc đó. Suy nghĩ này là do duyên sanh, là do tiếp xúc, không thể tự nghĩ được, nó là vô thường nhưng suy nghĩ này rất quan trọng vì Đức Phật nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Tất cả mọi sự, mọi vật trên thế gian này đều do sự tác động tâm ý mới sanh khởi ra. Ví dụ Minh Thành nói hôm nay chia sẻ đề tài nhìn nhận năm uẩn thì tự động có bài pháp nhận ra năm uẩn, nếu Minh Thành tác ý về từ bi thì có bài pháp về từ bi. Trong mùa dịch này quý vị nghĩ đóng cửa trong nhà buồn chán, cuồng chân quá mà không đi đâu được rồi thấy khó chịu, bức rứt nhưng nếu nghĩ ngược lại đây là cơ hội đóng cửa tu tập, là thời gian để an cư mà trước nay mình tất bật cơm áo gạo tiền, chạy ngược chạy xuôi không tu được, cho nên đây là thời gian quý báu, hiếm có khó gặp, đây là thời gian dành riêng cho mình trong suốt cuộc đời, đây là thời gian để mình chứng kiến về Tứ Thánh Đế của Thế Tôn, mới thấy được sự vô thường, thống khổ, đau bệnh của khắp thế giới trong hàng trăm năm, hàng nhiều trăm năm mới có được. Mình nỗ lực tu tập rồi thấy trân quý những thời gian được ở yên một mình, nếu suy nghĩ như vậy sẽ thấy đây là thời gian quý báu, hiếm có, cần phải tu tập chứ đừng để lãng phí, hết dịch trở lại cuộc sống bình thường thì mình không còn thời gian tu tập, nghe pháp nữa. Chỉ cần ngồi ở nhà mở lên là được nghe pháp, được thấy bao nhiêu thầy, bao nhiêu cô nên hoan hỉ, ngày đêm tinh tấn tu học. Tác ý như vậy thì cái buồn bực, khó chịu ban đầu tan biến hết cho nên suy nghĩ rất quan trọng và trong kinh Nikāya có thiền quán. Trong suốt buổi thiền quán tâm từ chúng ta chỉ khởi dậy tâm từ trong ta.
Ta khơi dậy trong ta
Tình thương và từ tâm,
Ta khơi dậy trong ta
Từ tâm và tình thương.
Tình thương sống trong ta,
Từ tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Từ tâm có trong ta.
Ta thương mình và thương tất cả hữu tình bị tham, sân, si hành hạ, bị bản ngã đốt thiêu, bị dục vọng nhận chìm. Tình thương ta lan tỏa khắp châu thân, từ đỉnh đầu đến gót chân, tình thương của ta lan tỏa khắp không gian trước mặt, tình thương của ta lan tỏa ra bên trái, bên phải, phía sau, chiều dọc, chiều ngang, tình thương của ta lan tỏa khắp đông, tây, nam, bắc, khắp mười phương, tình thương của ta lan tỏa khắp đất nước, lan tỏa vào những nơi đang điều trị những người bệnh nặng, sau đó lan rộng tình thương ra năm châu bốn biển, những cái này đều do sự tác ý của mình, đó là hành uẩn của chúng ta, là thiền quán trải tâm từ. Minh Thành chỉ mới giới thiệu tổng quát nhưng khi quý vị đi sâu vào những cái này, càng ngày càng tưới tẩm tình thương, nuôi dưỡng, phát triển, làm cho nó lớn mạnh, làm cho nó sâu rộng, làm cho nó vô lượng vô biên thì gọi là từ vô lượng tâm. Vì thế suy nghĩ rất quan trọng, mình phải dẫn dắt suy nghĩ, mình phải huấn luyện, lèo lái, giáo dục và dạy dỗ suy nghĩ, đừng để nghĩ về những ác bất thiện pháp mà đưa nó về thiện pháp, từ, bi, hỷ, xả, giới, định, tuệ. Thường tác động tâm ý như vậy thì gọi là tu tâm, danh từ chuyên môn là như lý tác ý, nghĩa là tác động tâm ý đúng như chân lý, đó là tu trong hành uẩn. Còn nếu không biết nó là hành uẩn, có suy nghĩ nào sanh khởi mình cũng nhận nó là mình, là tôi thì trở thành hành thủ uẩn, là sự nắm chặt vào trong tổ hợp của suy nghĩ.
Thức uẩn là sự nhận thức, rõ biết của mình. Cái nhận thức, rõ biết cũng là pháp duyên sanh, có căn, trần mới sanh khởi ra thức, cái này cũng là pháp lắp ráp, kết hợp nhưng vì mình không thấy, không biết, không nhận diện cho nên mọi cái thấy, cái nghe, cái cảm xúc, thức tri đều cho rằng "tôi thấy", "tôi nghe" ,"tôi hiểu", "tôi biết" vậy là mình chấp ngã, trở thành thức thủ uẩn, là sự nắm chặt trong nhận thức, rõ biết, là vô minh mà cứ nghĩ là thông minh nên sanh khởi bản ngã, sanh khởi khổ đau. Khi nhìn ra thức uẩn chỉ là pháp duyên sanh, là pháp lắp ráp, kết hợp, do duyên có mắt, có sắc, khởi lên sự rõ biết sắc, ba pháp này hội tụ, tiếp xúc gọi là nhãn xúc, sự tiếp xúc của mắt sanh khởi ra cảm giác, cảm giác đó có thể là thương, ghét, thích hoặc không thích, hoặc là đơ đơ, đó là thọ do nhãn xúc sanh. Lỗ tai cũng vậy, do có tai, có âm thanh và sự rõ biết âm thanh là nhĩ thức, đối với mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy, nó là pháp duyên sanh, là vô thường, không phải tự thể biết mà phải do sự tiếp xúc, kết hợp sanh khởi lên. Khi thấy như vậy sẽ phá vỡ ý nghĩ, quan niệm cho rằng sự rõ biết, nhận thức này là tôi, là của tôi, đó là nhận diện thức uẩn, nhìn ra thức uẩn.
Hôm nay Minh Thành cúng dường đến chư Tăng Ni và quý Phật tử với chủ đề nhìn ra năm uẩn với tính cách giới thiệu nhằm giúp mình phá bỏ ý niệm mê lầm về tôi và của tôi. Chúc tất cả quý vị có sự chánh niệm tỉnh thức và chiếu kiến ngũ uẩn để độ tất cả khổ ách.
./.
NHÌN RA NĂM UẨN
– Thích Minh Thành–
Hôm nay là buổi đầu tiên Minh Thành được chia sẻ với quý vị về những lời dạy của Đức Phật cho nên hôm nay xin được trao đổi, trình bày với quý vị về chủ đề nhìn ra năm uẩn.
Năm uẩn hay còn được gọi là ngũ uẩn, đó là danh từ rất quen thuộc mà tất cả người học Phật khi tụng kinh Bát Nhã mỗi ngày đều có câu "… chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách". Chúng ta thuộc nằm lòng nhưng khi trở về để nhìn nhận lại hoặc soi xét lại thì chúng ta quờ quạng, lờ mờ không rõ ràng. Để cho sự nhìn nhận một cách rõ ràng, minh bạch, cụ thể, xác đáng, thiết thực thì chúng ta sẽ tìm hiểu về sự nhìn ra năm uẩn này.
Trước tiên trong sinh hoạt hằng ngày, có ai hỏi mình đang làm gì thì mình nói "tôi đang nghe pháp" hoặc là "tôi đang đi", "tôi đang ăn cơm". Mình nghĩ rằng mình thật thà, làm gì nói đó, nói đúng sự thật nhưng xét kĩ lại thì chưa đúng. Nếu mình thấy có một cái tôi đang ngồi, tôi đang đi, tôi đang ăn… thì đó là mình chưa biết về năm uẩn, chỗ này không những Phật tử mà ngay cả người xuất gia nếu không để ý, không thực tập thì khi tụng là "năm uẩn giai không" nhưng khi trở ra chỉ có một uẩn, một cái tôi to lớn. Cho nên đúng sự thật là phải nói "có một sắc uẩn đang ngồi" chứ không có cái mình, cái ta nào đang ngồi, không có cái tôi đang ngồi, cái này rất sâu sắc để ứng dụng trong đời sống chứ không phải chỉ đọc trả bài trước bàn Phật, chúng ta phải thấy rõ có một sắc uẩn đang ngồi, một đống sắc chất đang ngồi, tổ hợp tứ đại đang ngồi. Định nghĩa 1 về năm uẩn là:
Thân người là Sắc
Cảm giác là Thọ
Hình bóng là Tưởng
Suy nghĩ là Hành
Rõ biết là Thức
Bây giờ mình phải tập nhìn, tập nghĩ, tập suy xét, tập nhận diện ra cho được sắc là sắc, đừng lẫn lộn sắc là tôi, sắc là ta, sắc là tao, sắc là bản ngã, đó là mình không nhìn ra được sắc uẩn. Hôm nào gặp được thầy hỏi đang làm gì thì phải trả lời "sắc uẩn này đang ăn thưa thầy", đó là mình đang loại bỏ ý nghĩ cục thịt mấy chục kí, tóc, lông, móng, răng, gân, da, thịt này là tôi, là của tôi. Mình phải loại bỏ, phải từ bỏ suy nghĩ đó, phải dẹp bỏ nhận định sai lầm đó thì mình mới nhìn ra được sắc uẩn. Nếu không nhìn ra mà có tụng kinh ro ro "Quán tự tại…. chiếu kiến ngũ uẫn giai không…" vậy mà trở ra mất đôi giày là la lối um sùm, sân si lên, như vậy mình đọc kinh không có ích gì cả, cho nên khi xếp cuốn kinh lại ra khỏi chánh điện và trở về nhà thì mình cũng phải nhớ đây là sắc, không có tôi, không có cái của tôi. Mình phải tập nhìn ra, tập điều chỉnh suy nghĩ, tập điều chỉnh quan niệm, điều chỉnh nhận định sai lầm trước đây cho rằng bộ xương này, lớp da này, bao máu mủ này là tôi, là của tôi, phải dẹp bỏ ý nghĩ đó.
Đức Phật dạy muốn nhìn ra được tổ hợp sắc chất này thì phải thường nhớ thân này do có ăn nên mới có sự sống, nếu không ăn thì chết, do có thở nên mới tồn tại còn ngưng thở thì chết.
"Còn động còn ấm còn ta,
Động dừng ấm hết là ma ra đồng.
Thở than khóc lóc não lòng,
Thức thần theo nghiệp hết mong trùng phùng".
(Chiếc Thân Phút Chót - Thiền Viện Chân Không, 01.1985)
Ngưng thở là thành tử thi, ngưng thở là thành ma, ngưng thở là lên bàn thờ, ngưng thở là thành vong linh thì cái ta ở đâu nữa? Như vậy phải ăn, phải uống, phải có nhiệt độ, thì đó là đất, nước, gió, lửa cho nên phải thường nhìn ra bốn yếu tố cấu tạo, kết hợp. Đức Thế Tôn nói thân này do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành, nó vô thường, bệnh tật, đau ốm, lo lắng, bất an, sợ hãi, già suy và chết chóc bao vây.
"Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V) Một Ung Nhọt)
"Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa".
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)
Đống sắc uẩn này làm bằng xương, như vậy cái nghe, cái thấy của mình là do duyên sanh, chỉ cần thiếu duyên thôi là thấy như mù, nghe như điếc. Bản chất của ngũ uẩn là như vậy, bản chất của tứ đại là thứ lắp ráp, là thứ kết hợp, là thứ nương dựa để sanh khởi ra, Thế Tôn gọi là tập khởi. Tụ tập, nhóm họp, tập hợp rồi mới sanh khởi ra, đối với cái thấy, cái nghe của mình cũng như vậy, chỉ cần thiếu duyên một chút thôi là nói gì nói cũng không nghe nên cái nghe cũng là vô thường, không có gì chắc chắn.
Hãy nhìn cho kĩ hình hài này để đừng bị nó lừa gạt từ trẻ đến lớn, từ lớn đến già, từ già đến chết. Không phải chết là xong mà tiếp tục đời sau đội lên những lớp da khác và tiếp tục tham, sân, si, bản ngã. Đó là sự đau đớn, là sự mê lầm, vô minh, Đức Phật đã nói chúng sanh bị tham ái trói cột, bị vô minh che đậy, hễ chụp vào lớp da nào là vỗ ngực xưng ta, tao, tôi, mi, tớ, đụng vào thân này là có chuyện.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Thân này giống như một bao rác, chứa đựng trong đó là phân, máu, mủ, đàm, mỡ, nước mắt, nước mũi, ghèn, mồ hôi, nước tiểu… Thật là gớm ghê, đó là cái mà mình nhận là mình, là tôi, đó là cái mà ai đụng vào là mình sân ầm ầm lên, sự thật của nó là vậy mà chúng ta lại mê lầm. Chúng ta bị màn đêm của vô minh che phủ, suốt ngày chúng ta cứ ảo tưởng một cái tôi, một cái ta, một bản ngã trong một đống đất, nước, gió, lửa bẩn thỉu, hôi tanh, nhơ nhớp này. Rồi một ngày không xa chúng ta nằm trên gường bệnh, xung quanh là con cháu khóc than, kể lể. Chúng ta thở từng hơi đầy khó khăn, mệt nhọc, những dòng nước mắt của tự thân tuôn xuống và những dòng nước mắt của những người xung quanh chảy xuống, đến chết cũng vẫn còn vô minh và si mê vì không nhìn ra được sắc uẩn là sắc uẩn. Tụng thường xuyên "chiếu kiến ngũ uẩn giai không" nhưng khi trở ra là ta, tôi, mình, tao, cứ nhân ngã bỉ thử, hơn thua rồi xưng là đệ tử Phật thì Đức Phật không chấp nhận. Đệ tử của bậc Thánh gọi là Thánh đệ tử phải là người nhìn thấy năm uẩn, ngài mới công nhận người đó mới thật sự là đệ tử của Như Lai.
Trong một ngày chúng ta nhớ ra được mấy lần hoặc mấy tiếng thân này là sắc uẩn? Trong một ngày chúng ta nhớ được mấy lần hình hài này là đất, nước, gió, lửa? Trong một ngày chúng ta tỉnh giác được mấy lần để biết đây là sắc pháp vô thường? Trong một ngày chúng ta chánh niệm được mấy lần để thấy sắc uẩn này là khổ đau? Trong một ngày chúng ta tỉnh táo được mấy lần để thấy thân da thịt này là trống không, là trống rỗng, vô ngã, không có tôi, không có ta, không có chủ thể? Nếu mình nói thân này của mình, mình là chủ thân này thì mình phải ra lệnh cho nó khỏe không bệnh thì có được không? Ta ra lệnh cho tóc này đừng bạc, có được không? Ta ra lệnh răng không được rụng có nghe lời mình không? Ta ra lệnh mắt này phải sáng tỏ không được mờ, có được không? Ta ra lệnh cho chân này phải khỏe mạnh như thời niên thiếu thì nó có nghe lời không? Chúng ta bất lực vì thân này là vô chủ nhưng chúng ta lại không nhìn thấy, chúng ta lãng quên rồi sống trong một ảo tưởng rằng đây là tôi, đây là của tôi rồi chúng ta lo lắng, bất an, sợ hãi, sầu đau.
Khi đống tứ đại này rã ra thì chúng ta hoảng loạn, tắt thở là gió đi trước, thân thể lạnh ngắt không còn hơi ấm, lửa cũng biến mất, nước chảy ra, trương phình lên, phân hủy mọi thứ, đến bộ xương cũng rã nát. Chúng ta sẽ đau khổ, chúng ta sẽ tiếc thương vì sự mê lầm không nhận ra sắc uẩn chỉ là sắc uẩn, chúng ta nhận lầm, ngộ nhận, hiểu lầm, nhìn sai, Đức Thế Tôn gọi là chấp thủ, tà kiến, vô minh, tham ái, sắc thủ uẩn, có rất nhiều từ để chỉ cho tâm bám víu, nắm chặt, đam mê trong mấy chục kí lô thịt này. Như vậy chúng ta nhìn ra sắc uẩn để thấy được nó là thứ vay mượn, là thứ kết hợp, là thứ lắp ráp, vô thường, nó là thứ biến đổi và hoại diệt bất cứ lúc nào, nhất là trong thời điểm này thì chúng ta lại càng thấy sáng tỏ chân lý về vô thường, về khổ đau, về sự trống không của cuộc đời này.
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
(Nghi thức tu học Nikāya)
Bằng sự chánh niệm, bằng sự nhắc nhở thường xuyên và liên tục, thức tỉnh, loại bỏ suy nghĩ cho rằng cái này là tôi, là của tôi mà thấy rõ đây chỉ là sắc pháp, là tứ đại, là vô thường, là biến hoại thì cái đó gọi là nhìn ra sắc uẩn. Đó là chúng ta chỉ mới nhận diện một uẩn thứ nhất là sắc, nếu nhìn ra được thì an lạc biết bao, không còn hơn thua, sân si với ai, không còn đam mê trong hình hài này nữa.
Sau đây là tổ hợp thứ hai, chính là cảm giác, là thọ uẩn. Có người hỏi hôm nay mình thế nào thì mình trả lời "hôm nay tôi thấy vui quá" hoặc "mấy nay tôi bực mình lắm" hoặc "tôi bình thường", chúng ta nghĩ sao thì nói đúng vậy nhưng thật ra là không đúng, Đức Thế Tôn gọi đó là vô văn phàm phu, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử có nghe, có học, có thực tập chánh pháp thì phải khác. Khác ở chỗ không cho những cảm giác đó là tôi, là của tôi, cảm giác là thọ uẩn, là tổ hợp của những cảm thọ, nó không phải là mình. Nếu mình nói cảm giác vui đó là mình thì khi có cảm giác buồn thì cảm giác đó là ai? Nếu nói cảm giác sướng là mình thì cảm giác khổ là ai? Rồi cảm giác không vui không khổ, đều đều đó là ai nữa? Cho nên phải biết cảm giác này là pháp duyên sanh, nó do tiếp xúc nên mới sanh ra cảm giác, Tiếng Việt có từ "cảm xúc" tương ứng với kinh Nikāya. Cảm xúc là những cảm giác sanh khởi do tiếp xúc, tất cả cảm giác dù vui, buồn hay không vui không buồn đều do tiếp xúc mà sanh ra. Bây giờ có người đến tặng quà thì mình vui, như vậy tại sao lại có nụ cười, tại sao lại có cảm giác vui đó? Là do được tặng quà hay tặng hoa, sự tặng quà hay tặng hoa đó chính là sự tiếp xúc, mắt mình thấy có người đến, tai nghe, tay cầm bó hoa hoặc món đồ, vậy là có tiếp xúc rồi sanh ra cảm xúc đó là vui, hân hoan, hoan hỉ. Như vậy cảm giác đó là do tiếp xúc mới sanh ra chứ không phải tự động có cảm giác, có duyên thì sanh khởi ra mà hết duyên thì biến đổi. Người ta đến lấy quà lại vì tặng nhầm thì từ vui thành buồn, hôm qua được khen còn hôm nay bị chê thế là giận, thế nên cái vui hay buồn, cái khổ hay sướng là do duyên sanh, là do tiếp xúc chứ không có thật.
Cảm giác như làn gió thổi qua rồi mất nhưng mình lại muốn lưu giữ nó, mình cho cảm giác đó là mình, vấn đề nằm ngay tại đây, mình nghĩ tôi sướng, tôi dễ chịu, tôi bực mình, cái nào mình cũng gắn chữ "tôi" vào. Bất cứ cái gì đem vào nhà mình cũng cho nó là của tôi, "tượng Phật của tôi", "cuốn sách này của tôi", "đồng hồ này của tôi" cho nên ai đụng vào đồ của tôi là có chuyện, đây là cái mê lầm thứ hai, đó là không nhìn ra được thọ uẩn, nó chỉ là pháp duyên sanh, là do kết hợp mới tạo thành, thoáng qua rồi mất nhưng sở dĩ do mắt tiếp xúc sắc đẹp, tai tiếp xúc lời khen tiếng chê, mũi, lưỡi tiếp xúc mùi vị, thân thì đụng chạm, bên trong tâm có sự tiếp xúc với những hình bóng (tưởng), cảm giác (thọ), suy nghĩ (hành), như vậy sáu sự tiếp xúc này có là do có thân này, cảm thọ này có ra là đặt nền tảng cơ sở từ nơi thân, trong khi thân là thứ vô thường, là tứ đại ngũ uẩn, là thứ bại hoại, bất cứ lúc nào cũng có thể ngã xuống, nằm xuống bất động không có bất kì người thân nào bên cạnh rồi được gửi về nhà là một hủ cốt. Mình đi nhận một thứ vô thường như vậy, một thứ sớm còn tối mất, một thứ biến đổi và tan hoại, bất tịnh thì làm sao mình không đau khổ được, mình nhận thân này là mình rồi từ nơi thân này sanh ra cảm giác nào cũng cho là mình "tôi giận", "tôi thương", "tôi ghét", "tôi mừng", cái nào cũng có chữ "tôi" trong đó, đây là lớp mê lầm thứ hai mà Đức Thế Tôn gọi là thọ thủ uẩn. Uẩn nghĩa là tổ hợp, thọ là cảm giác, cảm thọ, thủ là nắm giữ vào những cảm giác này cho nó là tôi.
Nếu có cảm giác vui thì mình khoái chí, thích thú, ham muốn, say mê đắm đuối trong đó. Nếu là cảm giác bức rứt, khó chịu thì mình sân si, cáu gắt, thù hận. Cảm giác dễ chịu là có tham, cảm giác khó chịu là mình chồng chất cái sân, cảm giác đơ đơ là si trong đó, không thấy không biết gì cả. Đức Phật dạy phải diệt tham, sân, si mới hết khổ mà mình không biết nhận diện cảm thọ, cảm giác thì mình lại chất chứa, tưới tẩm, nuôi dưỡng, phát triển ba cảm giác tham, sân, si. Vào lạy Phật thì muốn Phật độ cho hết khổ mà mình lại không chịu nhiếp phục, tẩy sạch, không chịu diệt tận tham, sân, si thì làm sao hết khổ? Cho nên càng tu lại càng khổ vì tu sai, không nhìn thấy tham, sân, si trong cảm giác, không nhiếp phục, không tẩy sạch, không đoạn tận tham, sân, si trong ba loại cảm giác dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu không khó chịu. Mình cứ hướng ngoại ra ngoài nhìn người này ngó người kia rồi phán xét, vào chùa cũng chuốc lấy phiền não, đúng sai, nhân ngã. Thật là đáng thương thay! Không chịu quay lại nhìn nội tâm để nhiếp phục cảm thọ, cảm giác của mình, đánh gục bản ngã của mình, cứ quay ra nhìn người này người kia rồi mang lấy phiền não. Sự chân tu mà Đức Phật dạy là phải quay trở lại nhìn nội tâm, nhận ra năm uẩn, đó mới là bậc trí.
Thứ ba là những hình bóng trong tâm, đó là tưởng uẩn. Những hình bóng nào trong tâm sanh khởi lên mình cũng cho đó là mình, "tôi tưởng như vậy", "đây là tư tưởng của tôi", "tôi cho rằng như vậy", hình bóng nào trong tâm cũng cho đó là mình, đó là năm thủ uẩn, cái nào cũng nắm chặt trong đó. Khi ngồi nhớ lại hình bóng đứa con thì gương mặt đứa con hiện ra trong tâm, hình bóng đó là tưởng. Khi nhớ cảnh làng quê thì hình bóng làng quê hiện ra trong tâm lờ mờ, đó là tưởng. Tại vì mình không nhìn ra hình bóng chỉ là tưởng uẩn nên hình bóng nào hiện ra mình cũng cho nó là mình, mình bám chấp vào những hình bóng đó rồi mình đau khổ hoặc vui sướng với những hình bóng đó, mình hơn thua với những hình bóng đó. Sáng sớm ra chợ tự nhiên bị một người lạ liếc háy nhưng mình bỏ qua, thế nhưng khi về nhà thì con mắt liếc, háy còn hiện rõ trong tâm, mình phải biết đó chỉ là tưởng thôi, cái hình thật ở ngoài còn bất tịnh, vô thường thì hình bóng trong tâm có là gì đâu, "hãy tan biến khỏi tâm ta đi, đừng quậy nữa, để yên cho ta tu, những bóng ma này tan biến hoàn toàn đi", đánh đuổi những hình bóng đó khỏi tâm, không cho những hình bóng đó là thật, không chất chứa những hình bóng tham, sân, si đó.
Ở nhà có bộ bàn ghế rồi nhưng qua nhà người ta thấy họ có bộ bàn ghế đẹp mắt, nhiều tiền, về nhà thấy bàn ghế của mình rồi so sánh, ước ao bộ bàn ghế đắt tiền kia. Mình phải dẹp bỏ những hình bóng này vì đó là những hình bóng tham ái, trong hình bóng đó có tham, có ái, có dục, "ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, đừng xúi giục ta nữa, đừng dụ dỗ ta nữa". Con mắt liếc, háy khi nữa là sân, mình cũng đuổi hình bóng đó ra khỏi tâm và hiện lên gương mặt hiền lành, dễ thương, khiêm cung, khiêm tốn, nhẹ nhàng, đuổi hình bóng sân si, dữ tợn đó ra khỏi tâm và thay thế bằng hình bóng hiền lành, hiền dịu, hiền đức, hiền từ, hiền trí. Tu tâm là tu như vậy đó, tu trong mỗi cảm giác, trong mỗi hình bóng trong tâm và loại bỏ ý nghĩ tôi, của tôi, tôi hay, tôi, đẹp, tôi giàu, loại bỏ ý nghĩ tôi đó ra khỏi tâm, phải biết đây chỉ là tưởng uẩn. Do có sự tiếp xúc nên mới có những hình bóng này, nếu không gặp con mắt liếc đó thì không có hình bóng con mắt đó hiện ra trong tâm, nếu không thấy bộ bàn ghế đắt tiền đó thì không có hình bóng đó trong tâm, do mình gặp, do mình thấy, mình nghe, mình tiếp xúc thì bây giờ những hình bóng đó lưu lại nhưng những hình bóng này liên hệ với tham, sân, si nên phải đuổi nó ra khỏi tâm, giống như lấy chổi quét rác. Ngày nào cũng quét nhà nhưng tâm lại quên quét, còn ngồi thiền tức là đang quét rác nội tâm.
Quét đất, quét chùa, quét đất tâm
Đất tâm không quét uổng công làm
Người đời nếu biết đem tâm quét
Phiền não còn đâu chốn nảy mầm!
Sau đây chúng ta nhận diện uẩn thứ tư là hành uẩn, chính là những suy nghĩ lầm thầm trong tâm. Trong mỗi suy nghĩ mình đều nắm chắc trong đó, gắn cái tôi, cái ta, bản ngã trong đó, vậy là mình không nhận ra được hành uẩn, tức là không chiếu kiến được những suy tư, nghĩ ngợi, mình không soi xét, không soi rọi vào từng ý nghĩ, phải loại bỏ những ý nghĩ cho rằng "tôi nghĩ", "tôi thấy", "tôi biết", "tôi tài giỏi". Phải nghĩ rằng không có cái nào là tôi trong này, tôi là duyên sanh, là vô thường, tôi là thứ lắp ráp, tôi là thứ vay mượn, là thứ biến đổi tan hoại, chỉ là tạm dùng chữ như vậy để xưng hô chứ không có cái tôi thật. Do có sự tiếp xúc nên mới sanh ra suy nghĩ, nếu không có tiếp xúc là không thể nghĩ được, nếu chưa từng thấy, chưa từng nghe, chưa từng biết thì không thể nghĩ được, vì vậy xúc tập khởi nên hành tập khởi, tức là phải có sự tiếp xúc thì mới có suy nghĩ về cái đã tiếp xúc đó. Suy nghĩ này là do duyên sanh, là do tiếp xúc, không thể tự nghĩ được, nó là vô thường nhưng suy nghĩ này rất quan trọng vì Đức Phật nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Tất cả mọi sự, mọi vật trên thế gian này đều do sự tác động tâm ý mới sanh khởi ra. Ví dụ Minh Thành nói hôm nay chia sẻ đề tài nhìn nhận năm uẩn thì tự động có bài pháp nhận ra năm uẩn, nếu Minh Thành tác ý về từ bi thì có bài pháp về từ bi. Trong mùa dịch này quý vị nghĩ đóng cửa trong nhà buồn chán, cuồng chân quá mà không đi đâu được rồi thấy khó chịu, bức rứt nhưng nếu nghĩ ngược lại đây là cơ hội đóng cửa tu tập, là thời gian để an cư mà trước nay mình tất bật cơm áo gạo tiền, chạy ngược chạy xuôi không tu được, cho nên đây là thời gian quý báu, hiếm có khó gặp, đây là thời gian dành riêng cho mình trong suốt cuộc đời, đây là thời gian để mình chứng kiến về Tứ Thánh Đế của Thế Tôn, mới thấy được sự vô thường, thống khổ, đau bệnh của khắp thế giới trong hàng trăm năm, hàng nhiều trăm năm mới có được. Mình nỗ lực tu tập rồi thấy trân quý những thời gian được ở yên một mình, nếu suy nghĩ như vậy sẽ thấy đây là thời gian quý báu, hiếm có, cần phải tu tập chứ đừng để lãng phí, hết dịch trở lại cuộc sống bình thường thì mình không còn thời gian tu tập, nghe pháp nữa. Chỉ cần ngồi ở nhà mở lên là được nghe pháp, được thấy bao nhiêu thầy, bao nhiêu cô nên hoan hỉ, ngày đêm tinh tấn tu học. Tác ý như vậy thì cái buồn bực, khó chịu ban đầu tan biến hết cho nên suy nghĩ rất quan trọng và trong kinh Nikāya có thiền quán. Trong suốt buổi thiền quán tâm từ chúng ta chỉ khởi dậy tâm từ trong ta.
Ta khơi dậy trong ta
Tình thương và từ tâm,
Ta khơi dậy trong ta
Từ tâm và tình thương.
Tình thương sống trong ta,
Từ tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Từ tâm có trong ta.
Ta thương mình và thương tất cả hữu tình bị tham, sân, si hành hạ, bị bản ngã đốt thiêu, bị dục vọng nhận chìm. Tình thương ta lan tỏa khắp châu thân, từ đỉnh đầu đến gót chân, tình thương của ta lan tỏa khắp không gian trước mặt, tình thương của ta lan tỏa ra bên trái, bên phải, phía sau, chiều dọc, chiều ngang, tình thương của ta lan tỏa khắp đông, tây, nam, bắc, khắp mười phương, tình thương của ta lan tỏa khắp đất nước, lan tỏa vào những nơi đang điều trị những người bệnh nặng, sau đó lan rộng tình thương ra năm châu bốn biển, những cái này đều do sự tác ý của mình, đó là hành uẩn của chúng ta, là thiền quán trải tâm từ. Minh Thành chỉ mới giới thiệu tổng quát nhưng khi quý vị đi sâu vào những cái này, càng ngày càng tưới tẩm tình thương, nuôi dưỡng, phát triển, làm cho nó lớn mạnh, làm cho nó sâu rộng, làm cho nó vô lượng vô biên thì gọi là từ vô lượng tâm. Vì thế suy nghĩ rất quan trọng, mình phải dẫn dắt suy nghĩ, mình phải huấn luyện, lèo lái, giáo dục và dạy dỗ suy nghĩ, đừng để nghĩ về những ác bất thiện pháp mà đưa nó về thiện pháp, từ, bi, hỷ, xả, giới, định, tuệ. Thường tác động tâm ý như vậy thì gọi là tu tâm, danh từ chuyên môn là như lý tác ý, nghĩa là tác động tâm ý đúng như chân lý, đó là tu trong hành uẩn. Còn nếu không biết nó là hành uẩn, có suy nghĩ nào sanh khởi mình cũng nhận nó là mình, là tôi thì trở thành hành thủ uẩn, là sự nắm chặt vào trong tổ hợp của suy nghĩ.
Thức uẩn là sự nhận thức, rõ biết của mình. Cái nhận thức, rõ biết cũng là pháp duyên sanh, có căn, trần mới sanh khởi ra thức, cái này cũng là pháp lắp ráp, kết hợp nhưng vì mình không thấy, không biết, không nhận diện cho nên mọi cái thấy, cái nghe, cái cảm xúc, thức tri đều cho rằng "tôi thấy", "tôi nghe" ,"tôi hiểu", "tôi biết" vậy là mình chấp ngã, trở thành thức thủ uẩn, là sự nắm chặt trong nhận thức, rõ biết, là vô minh mà cứ nghĩ là thông minh nên sanh khởi bản ngã, sanh khởi khổ đau. Khi nhìn ra thức uẩn chỉ là pháp duyên sanh, là pháp lắp ráp, kết hợp, do duyên có mắt, có sắc, khởi lên sự rõ biết sắc, ba pháp này hội tụ, tiếp xúc gọi là nhãn xúc, sự tiếp xúc của mắt sanh khởi ra cảm giác, cảm giác đó có thể là thương, ghét, thích hoặc không thích, hoặc là đơ đơ, đó là thọ do nhãn xúc sanh. Lỗ tai cũng vậy, do có tai, có âm thanh và sự rõ biết âm thanh là nhĩ thức, đối với mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy, nó là pháp duyên sanh, là vô thường, không phải tự thể biết mà phải do sự tiếp xúc, kết hợp sanh khởi lên. Khi thấy như vậy sẽ phá vỡ ý nghĩ, quan niệm cho rằng sự rõ biết, nhận thức này là tôi, là của tôi, đó là nhận diện thức uẩn, nhìn ra thức uẩn.
Hôm nay Minh Thành cúng dường đến chư Tăng Ni và quý Phật tử với chủ đề nhìn ra năm uẩn với tính cách giới thiệu nhằm giúp mình phá bỏ ý niệm mê lầm về tôi và của tôi. Chúc tất cả quý vị có sự chánh niệm tỉnh thức và chiếu kiến ngũ uẩn để độ tất cả khổ ách.
./.