Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghiệp & Quả Báo 1

2026-03-03 00:52:53
Kinh Nikāya Giảng Giải

Nghiệp & Quả Báo 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh trí về Nghiệp PAGEREF _Toc181284999 \h 1

II. Suy tư là nghiệp PAGEREF _Toc181285000 \h 4

III. Sự sanh khởi của các nghiệp PAGEREF _Toc181285001 \h 6

IV. Sự khác nhau giữa các nghiệp PAGEREF _Toc181285002 \h 7

V. Nghiệp dị thục PAGEREF _Toc181285003 \h 8

I. Thánh trí về Nghiệp

Kính bạch các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta bước qua chuyên đề rất quen thuộc, mọi người ai cũng có thể hiểu về nghiệp, cũng có thể nói về nghiệp trong đời sống thường ngày nhưng hôm nay chúng ta tìm hiểu chuyên đề về nghiệp theo tinh thần những lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya thì chúng ta sẽ thấy rằng nghiệp không đơn thuần như chúng ta hiểu thông thường về nó mà nghiệp trong tinh thần kinh tạng Nikāya rất rộng lớn, rất nhiều khía cạnh mà chúng ta chưa được nghe, chưa được hiểu, chưa được biết và chưa được thực tập ứng dụng một cách sâu sắc.

Hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu buổi chia sẻ lần thứ nhất chuyên đề về nghiệp theo tinh thần của kinh tạng Nikāya. Nghiệp trong này sẽ được Đức Phật dạy từ những giáo pháp nguyên chất, chúng ta sẽ thấy rất nhiều phương diện và khía cạnh, ví dụ Đức Phật nói thế nào là các nghiệp thì ngài tuyên bố suy tư là nghiệp, sau khi suy tư sẽ tạo nghiệp về lời, về thân, về ý.

"Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý" (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Đó là Đức Phật định nghĩa về nghiệp, suy nghĩ chính là nghiệp. Sau đó Thế Tôn lại phân ra nghiệp đen, nghiệp trắng, nghiệp thiện, nghiệp ác, nghiệp mới, nghiệp cũ và thậm chí là nghiệp bất động, Đức Phật chỉ cho mình sự đoạn tận, chấm dứt các nghiệp và con đường đưa đến sự chấm dứt các nghiệp. Khi nghe về nghiệp thì chúng ta thường nghĩ chỉ có 2 loại đó là nghiệp lành, nghiệp dữ hoặc là nghiệp thiện, nghiệp ác chứ mình chưa nghe về nghiệp bất động và sự đoạn tận, chấm dứt tất cả các nghiệp.

Bây giờ chúng ta sẽ tổng quát lại những phần cốt lõi, sau đó chúng ta sẽ tiếp tục về nghiệp, những phần này là những lời dạy nguyên chất của Đức Phật về nghiệp trong kinh tạng Nikāya được ni sư Chơn Tín Toàn, thầy Pháp Sơn tại Linh Quy Pháp Ấn biên tập trở lại thành một quyển nhưng hiện tại chỉ mới là bản phác thảo, hiện tại Minh Thành đã chia sẻ được nửa quyển.

Để giúp cho chúng ta nắm giữ ý nghĩa về nghiệp trước, định nghĩa về nghiệp trước rồi sau đó mới đi đến quả báo, chúng ta sẽ quay lại những bài kinh mà Đức Phật định nghĩa cụ thể về nghiệp để chúng ta thấy được ý nghĩa về nghiệp trong kinh tạng Nikāya. Đầu tiên chúng ta tìm hiểu về trí hiểu biết về nghiệp, tức là trí tuệ về nghiệp, chúng ta phải thành tựu trí tuệ trân xác, chính xác, đúng đắn, chân chánh về nghiệp, chúng ta dẫn chứng bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch trong Tăng Chi Bộ, tập III. Trong bài kinh này Đức Phật nói sáu loại trí tuệ về nghiệp.

"Này các Tỳ-kheo, cần phải biết nghiệp, cần phải biết duyên khởi các nghiệp, cần phải biết các nghiệp sai biệt, cần phải biết các nghiệp dị thục, cần phải biết các nghiệp đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt" (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Đó là sáu loại trí tuệ về nghiệp, sáu phương diện, sáu cái thấy biết về nghiệp, sau đây chúng ta sẽ đi vào định nghĩa về nghiệp.

"Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý" (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Trên đây Đức Phật định nghĩa về nghiệp chính là sự suy nghĩ, suy tư. Sau khi mình suy nghĩ, suy tư thì mình mới có những hành động trên thân, có những ngôn ngữ phát ra trên miệng và có những suy nghĩ trong tâm ý. Đầu tiên phải suy nghĩ khởi động tâm ý, sau khi suy nghĩ tới suy nghĩ lui, suy nghĩ qua suy nghĩ lại, nghĩ nhiều lần rồi ý nghĩ đó trở thành quen, sau đó phát ra ngôn ngữ rồi những lời nói đó cũng trở nên quen thuộc, sau khi đã nghĩ ngợi, sau khi đã nói năng thì bắt đầu hành động. Đó là trình tự từ trong suy tư phát ra ngôn ngữ rồi hành vi, bây giờ Đức Phật giải thích thế nào là sự sanh khởi của các nghiệp.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp sanh khởi? Này các Tỳ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi" (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Chúng ta không còn ở trong tinh hoa Nikāya nữa mà đã đi qua kinh Nikāya giảng giải cho nên quý Phật tử cần phải ghi chép thật kĩ. Xúc là sự sanh khởi của các nghiệp, xúc ở đây là sự tiếp xúc.

"- Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp sai biệt? Này các Tỳ-kheo, có nghiệp đưa đến cảm thọ ở địa ngục, có nghiệp đưa đến cảm thọ loài bàng sanh, có nghiệp đưa đến cảm thọ cõi ngạ quỷ, có nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới loài Người, có nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới chư Thiên. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là các nghiệp sai biệt" (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Nghiệp sai biệt là sự khác nhau giữa các nghiệp, trên đây Đức Phật nói về ngũ thú, tức là năm sự hướng đến, năm thế giới, năm con đường, năm cõi mà cả năm cõi này: cõi địa ngục, cõi súc sanh, cõi người, cõi ngạ quỷ hay cõi chư thiên đều từ nghiệp mà ra, đó là sự sai biệt của các nghiệp, sự khác nhau của các nghiệp. Tiếp theo là trí tuệ thứ tư, thế nào là nghiệp dị thục, dị là sự biến đổi, thục là chín muồi, thế nào là các nghiệp biến đổi và chín muồi.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp dị thục? Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng có ba loại nghiệp dị thục: Ở ngay đời hiện tại, hay ở đời sau, hay ở một đời sau nữa. Này các Tỳ-kheo, đây là các nghiệp dị thục" (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Ngài tuyên bố có 3 loại nghiệp biến đổi và chín muồi, loại thứ nhất là biến đổi và chín muồi ngay trong hiện tại, ví dụ mình tán người ta thì người ta tán lại mình 2 cái, đó là nghiệp chín muồi ngay hiện tại, mình chửi người ta là bị người ta chửi lại liền nhưng cũng có những loại nghiệp đến đời sau mới chín, có những loại nghiệp ở một đời khác của đời sau nữa, tức là nhiều đời kiếp sau nữa mới chín muồi.

Sự biến đổi và chín muồi của nghiệp có trong 3 đời cho nên có những điều mình làm sẽ có quả báo lập tức gọi là quả báo nhãn tiền nhưng có những điều mình làm chưa có quả báo mà đời sau sanh ra sẽ có và có những nghiệp ác hay nghiệp thiện mà mình làm thì nhiều đời sau hoa trái mới chín rộ, đó là các nghiệp dị thục, sự biến đổi và chín muồi của những ý nghĩ, ngôn ngữ và hành động của chúng ta.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là nghiệp đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, là nghiệp đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt. Ðó là chánh tri kiến... chánh định. Khi nào, này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các nghiệp như vậy, rõ biết các nghiệp sanh khởi như vậy, rõ biết các nghiệp sai biệt như vậy, rõ biết các nghiệp dị thục như vậy, rõ biết các nghiệp đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các nghiệp đoạn diệt" (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Con đường đưa đến chấm dứt tất cả các nghiệp, đoạn diệt tất cả các nghiệp là con đường Tám Đúng: nghĩ đúng, nói đúng, thấy đúng, sống đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng, con đường Tám Đúng tức là Bát Thánh Đạo. Chỉ có con đường Tám Đúng của bậc Thánh mới có khả năng đoạn diệt tất cả các nghiệp, ngoài con đường này ra thì không có một con đường thứ hai vì Bát Chánh là độc đạo, an ổn và bất tử. Tám Đúng của bậc Thánh là con đường độc nhất, là con đường an ổn đưa chúng sanh đến chỗ bất tử, Đức Phật nói khi nào các bậc Thánh đệ tử thành tựu các loại trí tuệ đó một cách tường tận, thấu đáo, đầy đủ, trọn vẹn thì vị ấy biết rằng muốn thể nhập được đời sống tu hành cao thượng thanh tịnh này chính là sự đoạn diệt, chấm dứt tất cả các nghiệp, tức là sự cứu cánh của tu hành chính là sự chấm dứt các nghiệp, đoạn dứt tất cả nghiệp.

II. Suy tư là nghiệp

Khi Đức Phật nói suy tư là nghiệp là rất sâu sắc, khi thấy cướp giật, đâm chém thì mới nói đó là tạo nghiệp nhưng ngồi im không nói gì cả, trong tâm có suy tư thì nghiệp vẫn hoạt động. Cần phân tích đó là suy nghĩ thiện hay bất thiện, suy nghĩ đen hay trắng, suy nghĩ lành hay suy nghĩ dữ, suy nghĩ tốt hay suy nghĩ xấu, cái này phân chia hai loại là nghiệp thiện và nghiệp ác, nghiệp đen và nghiệp trắng, còn nếu chúng ta ngồi im trong thiền định thì Đức Phật gọi là nghiệp bất động.

Nhưng thường thì chúng ta rơi vào nghiệp thiện và ác trong suy nghĩ, tốt và xấu, đen và trắng, rất hiếm khi nào chúng ta đi vào nghiệp bất động chỉ trừ những vị tu thiền đạt được các định thì mới có nghiệp bất động, các vị có nghiệp bất động thường sanh ở các tầng trời sắc và vô sắc, sống bằng tâm tưởng. Trong bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật Đức Phật nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, tác ý là sự tác động tâm ý cũng là sự suy tư, suy nghĩ, tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi, Đức Phật nói sự tiếp xúc là sự sanh khởi của các nghiệp còn tác ý là làm cho các nghiệp có ra. Những sự tiếp xúc đó từ từ tụ tập, nhóm họp rồi sanh khởi ra nghiệp.

Hai chữ quan trọng là tác ý và tiếp xúc, tất cả pháp sanh khởi và tất cả pháp tập khởi là do tác ý và tiếp xúc. Hằng ngày chúng ta có lắng nghe ý hành của mình không, những lời nói lầm thầm trong tâm, cái đó là ý nghiệp, nhận diện ngũ uẩn nhằm giúp chúng ta nhìn ra được những suy nghĩ đó, giúp chúng ta đọc được những suy nghĩ, lắng nghe những suy nghĩ đó, soi xét, quán chiếu, kiểm tra những suy nghĩ đó, chúng ta soi rọi, giãn trạch, chọn lựa suy nghĩ cũng chính là chúng ta đang chọn lựa cái nghiệp.

Mình cầm cây đèn dầu thì phải cầm chân đèn chứ làm sao mình cầm ở ngọn lửa, muốn cầm nồi nước sôi thì phải cầm quai nồi thậm chí còn phải có giấy, khăn để không bị phỏng, tránh để nước sôi văng lên tay, đó là sự suy xét, chọn lựa, sự trạch pháp, trong suy nghĩ cũng vậy, phải khéo léo lắng nghe suy nghĩ và chọn lựa suy nghĩ, tu tập trong suy nghĩ vì sau khi suy tư sẽ tạo nghiệp về thân, về lời, về ý.

Sau khi suy tư thì nghĩ tới nghĩ lui, nghĩ qua nghĩ lại rồi quyết định trong suy nghĩ thì nó sẽ đi theo chiều hướng đã quyết định, nếu quyết định theo chiều hướng thiện thì cái miệng nói ra, cái thân làm theo, nếu suy nghĩ đi chùa thì mình sẽ đến chùa để nghe pháp, đọc kinh, tụng niệm, còn suy nghĩ muốn đi chơi, đi đánh bài hay đi dạo phố, đi siêu thị thì lúc đó cái miệng sẽ nói ra những lời tương ứng với nơi muốn đến và cái thân làm theo cho nên Đức Phật nói sau khi suy tư sẽ tạo nghiệp về thân, về lời, về ý, tức là sau khi suy tư thì mình sẽ quyết định nói cái gì, sẽ làm cái gì.

Qua đây chúng ta thấy được rằng không phải đợi đến lúc ngồi bắt chéo chân lên Bồ-đoàn mới gọi là thiền mà thiền là nhìn lại những suy nghĩ, những suy tư, những tư tưởng, hình bóng, cảm xúc trong tâm, chúng ta thấy rõ được trong đó thiện hay bất thiện, lành hay dữ, đen hay trắng để mình quyết định trong suy nghĩ thì nó sẽ tạo nghiệp tương ứng.

III. Sự sanh khởi của các nghiệp

Trí tuệ thứ hai là tiếp xúc là sự sanh khởi của các nghiệp, bây giờ các thanh thiếu niên nghiền chơi game, trước khi tiếp xúc với điện thoại, với máy tính, với game thì không có nghiền cho nên khi tiếp xúc sẽ sanh khởi ra nghiệp. Đức Phật dạy thọ; tưởng; tư; xúc; tác ý, sau khi tiếp xúc thì tác ý, suy nghĩ rồi có cảm thọ, có tưởng, sau đó là ham thích, đam mê, khoan khoái trong đó rồi cuối cùng trở thành nghiện game. Đi chơi cũng vậy, bạn bè xấu cũng vậy, đua xe, ăn cắp cũng vậy, đó là chiều xấu, còn mình tiếp xúc với cái thiện, cái lành thì mình sẽ tốt lành theo.

Bây giờ mình tiếp xúc với chánh pháp nên mình hân hoan, thích thú, hoan hỉ, mình tiếp xúc với cảnh người nghèo khổ, những người bệnh tâm thần thì mình sanh khởi ra tình thương, sự xót xa hay vào bệnh viện sẽ thấy cuộc đời thật vô thường, như vậy sự tiếp xúc này rất quan trọng. Nếu chúng ta ở trong một xóm đâm heo thuốc chó, toàn là dân giang hồ, con mình còn nhỏ mà tiếp xúc với những cái này sẽ dễ trở thành người xấu tạo theo những cái nghiệp đó, còn nếu ở trong xóm văn hóa, ở gần người có học thức lễ giáo hay sanh ra trong gia đình có truyền thống đạo đức, lễ nghĩa thì tự nhiên mình có thói quen tốt theo, đó là sự tiếp xúc là sự sanh khởi của các nghiệp.

Bên Trung Quốc tôn Mạnh Tử là Á Thánh, tức là chỉ đứng sau Khổng Tử, là bậc hiền triết, triết nhân. Ngày xưa ngài ở gần lò mổ heo, ngài đi chơi với những đứa nhóc quanh đó rồi tiêm nhiễm theo nên mẹ ngài sợ nên dời nhà đi chỗ khác, qua chỗ khác cũng không tốt nên mẹ ngài lại dời đến gần trường học để ngài ham học, thích học, quý cái học. Một hôm đang học thì ngài bỏ học chạy về nhà, người mẹ đang dệt khung cửi thấy ngài đã bẻ con thoi và nói nếu ngài bỏ học cũng giống như con thoi bị bẻ gãy, không làm gì được.

Người mẹ giáo dục, dạy dỗ ngài rất nghiêm khắc nên sau này ngài mới trở thành bậc hiền triết được người đời tôn làm Á Thánh, gần như là bậc Thánh, đó là sự tiếp xúc làm sanh khởi ra các nghiệp cho nên người nào đi chung với ngài Mục-kiền-liên thì Đức Phật nói những người đó nhiều đời đã tu tập thần thông, những vị nào đi chung với ngài Xá-lợi-phất thì đó là những vị đó nhiều đời đã tu tập trí tuệ, còn những ai đi theo Đề-bà-đạt-đa là những người huân tập những nghiệp xấu ác cho nên sự tiếp xúc đó, sự huân tập đó làm sanh khởi ra các nghiệp vì vậy chúng ta phải cực kì cẩn thận với sự tiếp xúc.

Hằng ngày mắt thấy tai nghe là nhãn xúc, nhĩ xúc, nếu suốt ngày chỉ nghe cãi lộn, chửi lộn hay gặp những người nói chuyện tục tĩu thì mình sẽ bị tiêm nhiễm theo giống vậy, còn suốt ngày chỉ gặp bậc hiền lành, trí tuệ, đức hạnh, đạo hạnh thì đương nhiên mình sẽ sanh khởi ra những lời nói, hành động thanh cao, cao thượng hướng đến hiền thiện, hiền hòa, hiền đức, hiền từ. Hiện tại chúng ta đang ngồi đây cũng là đang nhĩ xúc tức là đang nghe pháp, nhãn xúc là chúng ta nhìn lên màn hình, mình sanh ra những cái hành, cái tưởng về thiện pháp, về Thánh trí tuệ, về sự thật của Đức Phật, chúng ta tiếp xúc như vầy để sanh ra nghiệp lành, nghiệp thiện, nghiệp trắng.

IV. Sự khác nhau giữa các nghiệp

Tiếp theo là sự khác nhau giữa các nghiệp, có nghiệp đưa đến cảm thọ ở địa ngục, có nghiệp đưa đến cảm thọ của loài súc sanh, bàng sanh thú vật, có những nghiệp đưa đến cảm thọ của loài cô hồn, ngạ quỷ. Những cái này được Đức Phật giải thích chi tiết trong rất nhiều bài kinh, bây giờ báo chí đưa tin hằng ngày con giết cha giết mẹ, vợ chồng phân xác nhau, huynh đệ tương tàn chỉ vì vài tấc đất, đó là những cái nghiệp đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Những người sống có trước có sau, có tình có nghĩa, có nhân có hậu, có thủy có chung, người sống biết ơn, nhớ ơn với người có ơn với mình thì những người đó có nghiệp đưa đến cảm thọ của thế giới loài người, người đó mới thật sự là người.

Người nào tu thập thiện, từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, nói láo, nói lời hung ác, nói lời phù phiếm, từ bỏ những chất say sưa nghiện ngập, từ bỏ những tham, sân, si, từ bỏ những cái tà kiến, sống với tâm từ bi hỷ xả, suy nghĩ thiện, nói lời thiện, hành động thiện thì đó là nghiệp đưa đến cảm thọ của thế giới chư thiên. Như vậy từ nghiệp mà dẫn ra ngũ thú, năm con đường, năm thế giới hay dẫn ra lục đạo, sáu cõi của chúng sanh, đó là sự khác nhau của các nghiệp.

V. Nghiệp dị thục

Nghiệp dị thục là sự biến đổi và chín muồi của các nghiệp, có ba loại nghiệp biến đổi và chín muồi ở ngay trong đời hiện tại, ở đời sau và nhiều đời sau nữa. Nghiệp trong hiện tại là người siêng năng làm lụm thì giàu có, người biếng nhác lo ăn chơi thì nghèo khó, không có địa vị trong xã hội, còn người chịu khó vươn lên thì người này có được tiền của vật chất, địa vị, người nào hi sinh vì người khác thì được tôn trọng, được cung kính, được nhớ ơn, còn một người ích kỉ, hẹp hòi, thậm chí làm hại người hại mình, phá làng phá xóm thì người này bị khinh rẻ, xem thường, ở trong một địa vị thấp kém hèn hạ.

Có những người rất giàu có là điền chủ, đại gia cả một vùng nhưng khinh người, tâm kiêu ngạo không xem ai ra gì, sau này sa cơ thất thế phá sản phải đi ăn xin, ở ngoài vỉa hè, ở dưới gầm cầu, thậm chí phải đi lụm phế liệu sống qua ngày trong sự tủi nhục, xấu hổ, đó là nghiệp biến đổi và chín muồi ngay trong hiện tại. Có những người trong hiện tại nghèo thiếu nhưng nhờ sự cố gắng, sống tu nhân tích đức, làm phước, siêng năng với nghề nghiệp thì tới tuổi già lại hưởng phước, đây là nghiệp biến đổi và chín muồi theo chiều thiện, chiều lành, còn khi nãy cũng là biến đổi và chín muồi nhưng theo chiều ác.

Ngày xưa đi phá làng phá xóm nhưng bây giờ phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật, buông con dao mổ heo xuống lại thành bậc Thánh hiền. Chẳng hạn như tôn giả Aṅgulimāla hay còn gọi là ngài Vô Não, đó chính là sự biến đổi và chín muồi của nghiệp, đó là nghiệp dị thục, nghĩa là cái nghiệp đó không phải như vậy hoài mà nó vô thường cho nên nó sẽ biến đổi, đổi thay.

Mình có một hạt giống gieo vào đất, có nước, có ánh sáng, có phân bón thì hạt giống đó sẽ biến đổi, nó đâm chồi ra hoa kết trái, lúc đầu trái nhỏ rồi sau trái lớn dần lên, lúc đầu trái xanh, sau đó hường hường rồi vàng ươm và chín cây, Đức Phật dùng hình ảnh của trái cây để ví dụ dể hiểu về nghiệp. Cái nghiệp theo định luật vô thường chứ không phải nghiệp là thường cho nên nó sẽ biến đổi, một là theo chiều đi xuống là nghiệp đen và hai là theo chiều đi lên là nghiệp trắng.

Từ ngày đi tu đến giờ mình có thay đổi không? Lúc trước hở tí là mình giận, mình sân, còn bây giờ mình có giảm bớt cơn giận, cơn sân đó không? Lúc trước ai đụng vào là mình ta đây, hơn thua, mình bản ngã, còn giờ bản ngã của mình có giảm được chút nào không, có khiêm hạ được chút nào không? Đó là nghiệp dị thục biến đổi theo chiều tu hành, phải nhớ là thay đổi cho tốt và chín muồi trong hoa trái của thiện pháp, Thánh pháp chứ đừng thay đổi theo cái xấu và chín muồi trong kết quả của ác nghiệp sẽ rất khổ đau.

Có những nghiệp chín muồi trong hiện tại nhưng có những nghiệp chín muồi trong đời sau, trong khi ghi lại ngài Mục-kiền-liên cùng một vị Tỳ-kheo khác từ núi Linh Thứu đang đi xuống thì ngài Mục-kiền-liên mỉm cười, vị Tỳ-kheo đi cùng hỏi ngài thấy điều gì mà cười thì ngài Mục-kiền-liên nói rằng hãy đợi đến khi nào về trước mặt Thế Tôn hãy hỏi. Sau khi về thì ngài Mục-kiền-liên kể lại ngài thấy một chúng sanh ngạ quỷ dưới hình thù của một bộ xương, xung quanh có những cục than đỏ đổ xuống nên bộ xương này kêu la, than khóc. Bộ xương bị đổ than đỏ lúc trước là đệ nhất phu nhân của kinh thành đó, do ghen ghét nên bà phu nhân này lấy bồ hóng đổ lên người một thứ phi khác.

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

Người đàn bà ấy, này các Tỳ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana II. Phẩm Thứ Hai, V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà)

Vì nghiệp ác ấy cho nên ngay khi vị phu nhân này chết là rơi thẳng vào loài ngạ quỷ làm quỷ đói, cô hồn với hình thù là một bộ xương vất vơ vất vưởng, lúc nào trên hư không cũng có than đỏ đổ xuống làm nóng bức, nhiệt não. Ngài Mục-kiền-liên thấy như vậy nên ngài buồn cười cho thế gian này, cho chúng sanh si mê, vô minh, hôm trước là quyền uy thiên hạ, là bản ngã, ta đây, kiêu ngạo nhưng hôm sau trở thành hình thù ghê sợ, đau đớn quằn quại đầy kinh hãi, ngài xót thương cho một đời sống vô minh và tham ái của những ngũ uẩn, những hữu tình sống trong bóng đêm không thấy biết nghiệp quả, không lo lắng, không sợ hãi, không cẩn thận đối với ác nghiệp.

Con mắt mình nhìn thấy ông này bà kia thì tưởng đâu ngon lành nhưng thật ra chớp mắt vô tù, tích tắc là phá sản thậm chí là tử hình, với con mắt của nghiệp quả, với con mắt của trí tuệ về nghiệp mà Đức Phật truyền trao cho chúng ta thấy được thì người giàu có, địa vị cao sang cũng đừng vội ham thích, thấy người nghèo hèn ăn xin cũng đừng vội khinh thường, mình biết rằng tất cả những cái đó là do nghiệp biến đổi và chín muồi của họ để mình soi rọi lại tự thân để mình cố gắng trong suy tư, trong suy nghĩ, trong lời nói, hành động rồi mình cẩn thận.

Chỉ với một suy nghĩ sai lầm thôi cũng có thể làm nhà tan cửa nát, vợ chồng phân ly, con cái đau khổ, một quyết định sai lầm thôi là có thể vô tù, có thể phá sản cũng có thể mất mạng, đi thẩm mỹ rồi chết luôn. Chỉ một ý nghĩ thôi là đưa đến quyết định, sau đó phát ra ngôn ngữ, lời nói, hành động rồi đi đến nghiệp quả, như vậy trong trí tuệ về nghiệp này không dám khinh ai cũng không dám kiêu căng, ngã mạn với ai, phải cẩn thận trong suy tư, trong ngôn ngữ, hành vi của mình đối với tất cả mọi trường hợp.

Làm thế nào để đoạn diệt được nghiệp? Khi xúc không còn thì nghiệp không còn, tức là không còn tiếp xúc với cái đó nữa, nếu thấy đó là ác bất thiện pháp thì mình cắt đứt luôn, không suy nghĩ về điều đó nữa vì mình quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của nó đem đến sự đau khổ cho mình, khi quán chiếu sâu sắc và chiêm nghiệm chín chắn mình sẽ thấy tại sao không cầm vào cục lửa than vì chúng ta biết nó nguy hiểm, gây phỏng tay, cháy da tay, cũng giống vậy, khi mình biết nguy hiểm và tác hại của suy nghĩ ác, lời nói ác, hành động ác thì tự nhiên mình sẽ ghê sợ nó, tránh xa nó, không tiếp xúc nữa thì nghiệp đoạn diệt.

Không tiếp xúc với điếu thuốc thì đâu còn nghiền thuốc nhưng để nhìn nhận ra tác hại, nguy hiểm, mầm bệnh trong đó để đưa ra quyết định từ bỏ điếu thuốc là cả một quá trình rồi mới đi đến cắt đứt không tiếp xúc nữa, tức là không cầm điếu thuốc nữa, không hút thuốc nữa, cái đó đòi hỏi mình phải có chánh kiến, tức là cái thấy đúng về nguy hiểm và tác hại của điếu thuốc lá, sau đó mới nghĩ đúng về nó cho nên chỉ có con đường Bát Chánh Đạo, Tám Đúng mới đưa mình đến đoạn dứt tất cả các nghiệp, phải thấy đúng về điếu thuốc đó, phải thấy đúng về nguy hiểm tác hại của cái tham, cái sân, phải thấy đúng về bản ngã đó có tác hại khủng khiếp đến thế nào, nó làm cho mình khổ người khổ, cả thế gian bị lật đổ vì bản ngã, vì cái tôi đó.

Phải thấy đúng về nó, nghĩ đúng về nó, nói đúng về nó, sống đúng để đưa đến sự khiêm cung, nuôi mạng sống một cách chân chánh để đưa đến từ ái, hạ thấp cái tôi và siêng năng phá bỏ bản ngã, lúc nào cũng quán chiếu làm sao để từ bỏ bản ngã hơn thua và tâm được tập trung vào điều đó nên an định trong đó, cho nên chỉ có Tám Đúng mới đoạn dứt được các nghiệp, chỉ có sự thấy biết một cách thấu đáo, tường tận, đầy đủ hết tất cả những tác hại, nguy hiểm, tai họa của heroin, của rượu, của điếu thuốc thì mới có thể từ bỏ, mới có thể không tiếp xúc như vậy cái nghiệp đó sẽ bị đoạn diệt, chấm dứt.

Như vậy hôm nay tổng quát về nghiệp để chúng ta thấy trí tuệ về nghiệp gồm 6 phương diện, thứ nhất Đức Phật định nghĩa suy tư là nghiệp, thứ hai Đức Phật nói về sự sanh khởi của các nghiệp là do tiếp xúc, thứ ba sự khác nhau của các nghiệp sẽ đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, người và chư thiên, thứ tư là các nghiệp biến đổi và chín muồi ngay trong đời này, ở đời sau và nhiều đời sau nữa, thứ năm là muốn chấm dứt được các nghiệp thì phải cắt đứt sự tiếp xúc, muốn cắt đứt tiếp xúc thì phải thấy được nguy hiểm và tác hại bằng con đường Tám Đúng: thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng về nó, siêng năng, nỗ lực quán xét những tai hại nó đưa đến để thoát ra được bình an, thảnh thơi, hạnh phúc. Như vậy con đường Tám Đúng là con đường của bậc Thánh đưa đến sự chấm dứt tất cả các nghiệp.

./.