BẢY TƯỞNG ĐƯA ĐẾN BẤT TỬ (1)
DạBẢY TƯỞNG ĐI ĐẾN BẤT TỬ
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thỉnh giảng sư PAGEREF _Toc55197978 \h 1
II. Cây bồ đề - Niệm Phật: PAGEREF _Toc55197979 \h 1
III. Tài sản của người tu: PAGEREF _Toc55197980 \h 4
IV. Bảy tưởng bất tử: PAGEREF _Toc55197981 \h 6
1. Tưởng bất tịnh: PAGEREF _Toc55197982 \h 7
2. Tưởng chết: PAGEREF _Toc55197983 \h 8
3. Tưởng nhàm chán: PAGEREF _Toc55197984 \h 10
4. Tưởng không hoan hỷ: PAGEREF _Toc55197985 \h 11
5. Tưởng vô thường: PAGEREF _Toc55197986 \h 13
6. Tưởng khổ trong vô thường: PAGEREF _Toc55197987 \h 14
7. Tưởng trống rỗng, vô ngã: PAGEREF _Toc55197988 \h 16
V. Trân quý giây phút được nghe Chánh Pháp: PAGEREF _Toc55197989 \h 17
VI. Bài kệ cúng dường giảng sư: PAGEREF _Toc55197990 \h 18
I. Thỉnh giảng sư:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chúng con xin cung thỉnh Đại Đức giảng sư khởi xướng cho chúng con niệm Phật cầu gia…
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Hôm nay ngày 10 tháng 8 năm Canh Tý, được sự nhất trí của ni trưởng chùa Nghĩa Minh, đạo tràng niệm Phật của chúng con có đầy đủ nhân duyên cung đón Đại Đức giảng sư, chúng con xin cung kính giới thiệu, hiện diện trên pháp tòa là Đại Đức Thích Minh Thành, ủy viên ban Hoằng Pháp Giáo Hội Phật Giáo TP.HCM, giáo thọ sư các trường Trung – Cao Phật học TP.HCM, trụ trì chùa Linh Quy Pháp Ấn tại xã Lộc Thành, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Giờ này, đạo tràng của chúng con đang lắng lòng thanh tịnh, chúng con mong Đại Đức giảng sư từ bi, chỉ dạy cho chúng con những lời dạy của Đức Phật, để chúng con lấy đó làm hành trang, tư lương trên bước đường tu nhân, học Phật.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
II. Cây bồ đề - Niệm Phật:
Kính bạch trên ni trưởng trụ trì và quý sư cô, kính thưa tất cả quý Phật tử, vừa rồi khi Minh Thành bước vào sân chùa, Minh Thành có đứng lại trước cây có dòng họ với cây bồ đề, ở giữa sân chùa, Minh Thành nhớ lại Thái tử Tất-đạt-đa đã từng ngồi dưới gốc cây, đã từng nhịn ăn nhịn uống, đã từng bỏ hết vương quyền, vương uy của đời sống hoàng tộc Thích Ca. Ở dưới gốc cây đó, có một con người ở trên quyền uy tột đỉnh, trên địa vị cao nhất trong cuộc đời, đã bỏ những danh lợi, tài sắc, tình cảm thường tình của thế gian, bỏ Gia-du-đà-la, bỏ vua Tịnh Phạn, bỏ La-hầu-la và bỏ cả hoàng thất, hoàng tộc chỉ để đến ngồi dưới gốc cây đó.
Gốc cây đó là gốc cây thiêng liêng, cây đó gọi là Thánh thọ – cây Thánh, là sự biểu trưng sự giác ngộ của Đức Phật, nên cây bồ đề gọi là cây giác ngộ. Thấy cây bồ đề giống như đang thấy Phật nên tất cả tăng, ni, Phật tử khi đến chùa gặp cây phải đứng lại, mặc niệm, tưởng nhớ đến Đức Phật, tới Thái tử Tất-đạt-đa, tới Bồ Tát.
Rất nhiều nước Phật giáo nguyên thủy như Myanma, Srilanka hay Ấn Độ đều lạy cây bồ đề, có những cây bồ đề được giữ gìn đến hơn 2000 năm, nên nếu được chúng ta nên lạy cây bồ đề trước khi vào chùa, quỳ xuống đó lạy ba lạy rồi đi chung quanh đó ba vòng, tưởng nhớ Bồ Tát, tưởng nhớ Thái tử, tưởng nhớ con người vĩ đại, bậc đạo sư của chúng ta. Lúc Minh Thành đứng dưới gốc cây, có một Phật tử đi chung tới, Minh Thành nói là “Nhìn cây nhớ Người, nhớ Bồ Tát, nhớ Thái Tử!” Phật tử này rất xúc động, cảm động và lúc đó Minh Thành cũng rất cảm động, xúc động, nổi “da gà” toàn thân, cảm xúc trào dâng trước cây bồ đề và dù cho đó là bồ đề hay lâm dồ hay là dòng họ nhưng mình tưởng nhớ chính là cây giác ngộ, Thánh thọ, cây Thánh.
Cả tăng, ni, người tu gặp cây bồ đề giống như là thấy Đức Phật, đó là phương pháp niệm Phật, không phải niệm Phật chỉ là kêu tên thôi, niệm Phật là nhớ, nghĩ về đức hạnh, về cuộc đời, sự tu tập, sự từ bỏ, sự xả ly về trí tuệ, sự dũng mãnh, sự từ bỏ, về một tấm lòng đại bi rộng lớn của bậc đại đạo sư, đó gọi là niệm Phật. Không phải niệm Phật chỉ là niệm suông câu, miệng thì niệm mà tâm không nhớ đến đức hạnh, không nhớ tới trí tuệ, từ bi, những gì mà Ngài đã làm thì đó chỉ là niệm miệng, chưa phải là niệm Phật đúng pháp. Nhớ nghĩ về cuộc đời, nhớ nghĩ về sự cầu đạo, sự tu tập, về khổ hạnh, về những gì mà Ngài đã thực hành, sự hy sinh, sự từ bỏ, sự xa lìa đời sống dục lạc, vương quyền, nhớ nghĩ tới khi Ngài lột hoàng bào xuống để đắp lên mình tấm vải thô sơ, khi Ngài cắt búi tóc gửi lại cho người đánh xe, hay nhớ nghĩ tới đời sống ở nơi xa vắng, núi rừng, một đời sống từ bỏ, xa lìa những tham muốn, danh vọng, địa vị, quyền thế, tài sắc của cuộc đời, nhớ tất cả việc đó gọi là niệm Phật.
Nhớ và mình mong muốn làm theo, mình cố gắng để thực hành theo, tư duy, quán xét, nghiền ngẫm những gì Đức Phật dạy gọi là niệm Pháp. Ví dụ mình nhớ dưới gốc cây này Bồ Tát chứng ngộ Thánh trí tuệ Khổ Thánh Đế. Chính dưới gốc cây này, Bồ Tát chứng ngộ nguyên nhân của sự đau khổ trên cuộc đời này, Bồ Tát đã thực hành Thánh đạo, đã đi trên con đường diệt khổ đau và cũng chính dưới gốc cây này, Bồ Tát đã chứng nhập cảnh giới của bất tử, diệt tận tất cả khổ đau, đạt được Niết-bàn tịch tĩnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Đó là mình niệm Tứ Thánh Đế, niệm bốn sự thật mà bậc Thánh giác ngộ thì bốn sự thật của cuộc đời, niệm bốn sự thật của bản chất đau khổ của thế gian, đó là niệm Thánh Pháp, Thánh trí, Thánh Đế, đó mới là niệm Phật chân chánh, Đức Phật muốn mình niệm, không phải niệm chỉ trên câu ở trên miệng, niệm bằng trái tim, niệm bằng tấm lòng, bằng tất cả sự cung kính, tôn trọng, nhớ ơn, biết ơn, cảm ơn, niệm bằng sự phát nguyện, cố gắng thực hành những lời dạy, giống như Ngài, làm con cưng, con ngoan của Ngài, là một người Phật tử chân chánh, đó là niệm Phật, niệm Pháp.
Mình nhớ tới những vị Tỳ-kheo của Đức Phật, những vị Thánh tăng, tôn giả Xá-lợi-phất, tôn giả Mục-kiền-liên, tôn giả Ma-ha-ca-diếp, các bậc Thánh tăng, các chư vị Tỳ-kheo thuở xưa, hàng Thánh chúng của Đức Phật, các bậc tu hành có giới đức, có đạo hạnh, có trí tuệ, có thiền định. Mình mong muốn, hướng tới, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, biết ơn đối với các vị đó, những người từ bỏ gia đình, từ bỏ nhà, sống đời sống không nhà, từ bỏ mẹ cha, từ bỏ thân tộc, từ bỏ những thú vui của cuộc đời để dấn thân cầu pháp, học pháp, hành pháp, chứng pháp, đạt pháp, hoằng pháp, nhớ tới những bậc tu hành như vậy để phát tâm cung kính, tôn trọng, biết ơn, đó gọi là niệm tăng.
Đó cũng là ba pháp quy y, người nào thường nhớ, thường nghĩ, thường niệm như vậy mới gọi là đệ tử của Phật, còn khi nhớ niệm Phật là “Phật cho con cái này cái kia!” thì đó là mê tín, không phải đệ tử chân chánh của Phật, dù có pháp danh cũng vẫn là mê tín. Niệm Phật một cách chân chánh, niệm pháp một cách chân chánh, niệm tăng một cách chân chánh, gọi là niệm Tam Bảo – là ba báu vật cao quý nhất ở trên đời, ruộng phước vô thượng trên thế gian này, vô thượng phước điền, đó là niệm Phật, Pháp, Tăng thật sự. Phải nhớ khi thấy cây Bồ Đề là phải nhớ Đức Phật, dừng lại hay đứng lại và cúi chào, xá chào, đảnh lễ.
III. Tài sản của người tu:
Quý vị có thấy rằng niệm Tam Bảo như vậy trí huệ có sanh không? Lòng tin có tăng trưởng không? Giới đức của mình có phát triển không? Niệm như vậy giúp tín tâm tăng trưởng, giới, thí, bố thí tăng trưởng, nghe pháp tăng trưởng, trí tuệ tăng trưởng, tàm quý tăng trưởng - tức sự xấu hổ, sợ hãi đối với những ác bất thiện pháp, rồi nhìn lại thấy Đức Thế Tôn, các vị Thánh tăng, các bậc tu hành, giáo pháp an lạc, thanh tịnh như vậy, thì tại sao mình lại cứ tham, sân, si hoài như vậy? “Vô lạy Phật, nhìn Phật rồi nhìn lại tâm mình con xấu hổ quá! Con thấy tủi hổ quá! Hở chút con giận, phiền, la, bực, sân, bản ngã”. Mình thấy xấu hổ, sám hối nên niệm Phật, Pháp, Tăng như vậy là tín tăng trưởng, giới tăng trưởng, bố thí tăng trưởng, nghe nhiều tăng trưởng, tàm quý (xấu hổ, sợ hãi với ác bất thiện pháp) tăng trưởng, trí tuệ tăng trưởng, đó là Thất Thánh Tài – bảy tài sản của bậc Thánh.
Mình tu mình phải giàu, đừng làm kẻ nghèo hèn trong Phật Pháp, phải giàu lòng tin, tại sao lòng tin được mình tưới tẩm, nuôi dưỡng, vun phân tưới nước, chăm sóc hằng ngày, mỗi ngày đi chùa phải niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, mỗi lần thấy cây bồ đề, bất cứ ở đâu phải đứng lại xá, dù cho cây bồ đề thấy ở đâu, ngay giữa đường cũng đứng lại xá. Mình niệm Tam Bảo như vậy để tín tâm tăng trưởng, giới hạnh tăng trưởng, bố thí tăng trưởng sự nghe pháp càng tăng trưởng, sự tàm quý phát triển, tức là xấu hổ và sợ hãi. Vừa giận lúc chiều mà giờ vô tụng kinh thấy xấu hổ quá, nhìn lại Đức Phật thấy xấu hổ quá, giận hoài, có như vậy không? Hay nhiều lúc mới vừa cự lại đi vào chùa? Tham hoài xấu hổ, sân hoài cũng xấu hổ, rồi những tâm hơn thua, ngã mạn, thị phi, phải quấy, ganh tị, đố kị, soi mói. Cảm thấy xẩu hổ, thấy sợ hãi mỗi khi thấy chúng sanh khởi lên, muốn nói những chuyện đó mình cảm thấy sợ hãi, đây là những ác, những tội lỗi, chúng hại mình, thêu đốt mình, trói buộc mình, làm cho mình đau khổ, xấu hổ đối với những ác, bất thiện pháp.
Trong kinh Nikāya Đức Phật ví dụ giống như có người rất trẻ, rất đẹp, người này thích mặc đồ mới, thích trang sức, bỗng nhiên đi ra ngoài bị người khác quàng xác một con chó đã chết lên cổ. Người này lập tức quăng liền, thấy dơ, thấy hôi quá, thấy ghê quá, không muốn nó dính ở trên người mình hay trên cổ mình. Hay lại có người cầm xác con rắn chết quấn lên cổ thì người này ghê, sợ nên quăng ra. Hay thậm chí người này bị người khác chồng lên một xác người chết lên cổ thì người này càng ghê gớm, càng sợ hãi, càng muốn quăng ra. Cũng vậy, người tu phải biết sợ những xấu, ác, bất thiện pháp. Mỗi khi sân hận mình mới thấy sợ, ghê gớm, không ưa thích cảm giác sân hận này, cảm giác này làm cho mình nhục nhã, cảm giác này làm cho mình xấu hổ, làm cho mình hôi dơ. Quý vị thấy một con người đang sân hận, đang dữ dằn lúc đó mình thấy dễ thương không, dám lại gần không, sợ không?
Chúng ta thấy hằng ngày ở trên mặt báo có bao nhiêu những sân hận, những vụ án, những khổ cảnh… tất cả đều từ tâm, những cảm giác sân hận đó nên sự tu tập của chúng ta phải cảm thấy xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi đối với những tội lỗi. Nếu mình lỡ nói dối thì mình phải về sám hối, nếu lỡ mình có sân với ai như người thân của mình thì mình phải xin lỗi, như vậy thì thiện pháp tăng trưởng. Tại sao mình tu mà mình không tăng tiến là tại vì mình có lỗi mà mình im lặng, cười cười rồi lại im, không xin lỗi gì hết, mà người ta có lỗi thì mình bắt kĩ lắm. Ví dụ như lỗi của mình thì mình che giấu, giống như kẻ gian giấu bài, còn lỗi của người thì mình bắt giống như tìm thóc trong gạo, như chơi đánh bài ăn gian, giấu kĩ nên giờ mình tu thì ngược lại, phải nhìn nhận, sửa chỉnh lỗi của mình để hoàn thiện, để mình càng ngày giảm bớt lỗi, sạch lỗi, trở thành trong sạch thanh tịnh.
Đầu tiên Minh Thành chia sẻ với tất cả đại chúng nhìn cây bồ đề nhớ Phật, niệm pháp, niệm tăng và nhớ làm cho tăng trưởng tài sản của bậc Thánh, mình phải là người giàu có trong giáo pháp, đừng làm kẻ nghèo hèn, nghèo là lòng tin không đủ, giới không giữ được, không dám bố thí, keo kiệt bủn xỉn, nghe pháp làm biếng, mở lên là “gục gật”, ngáy khò khò, mở bài pháp lên là nằm ngủ. Tàm quý là xấu hổ, sợ hãi đối với cái xấu ác, đối với ác bất thiện pháp, trí tuệ. Đó là bảy tài sản của bậc Thánh. Bảy tài sản trong giáp pháp, hằng ngày mình tu tập, kiểm tra xem mình có tài sản nào chưa? Mình có ít thì làm cho nhiều, mình chưa có thì làm cho có. Đó là điều đầu tiên Minh Thành chia sẻ với quý vị và sau đây là những pháp chuyên sâu. Quý vị có muốn đi sâu sắc trong Phật pháp không hay là thôi, chỉ cạn cạn, phớt phớt cho vui thôi?
IV. Bảy tưởng bất tử:
Trong bài kinh Tưởng – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3, Đức Phật dạy rằng:
“1. - Có bảy tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.”
Tức là ai tu bảy pháp này sẽ đi đến cảnh giới bất tử, tức không chết. Bất tử là không già, không chết, là cảnh giới của Niết-bàn. Đức Phật đã tu và đã chứng ngộ. Tại đây người già có nhiều, nên có lẽ tu pháp bất tử cũng là “hợp gu”.
“2. Thế nào là bảy?
Tưởng bất tịnh,
tưởng chết,
tưởng nhàm chán đối với các món ăn,
tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới,
tưởng vô thường,
tưởng khổ trong vô thường,
tưởng vô ngã trong khổ.
Bảy tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.”
Như vậy, pháp thứ nhất là quán tưởng bất tịnh:
“Tưởng bất tịnh, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.
Ví như, này các Tỷ-kheo, lông gà hay là dây gân quăng vào lửa thời thối lui, trở lưng, quay lưng, và không căng thẳng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, nhưng tâm lại chạy theo, đắm vào dâm dục, không khởi lên nhàm chán, thời Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Tưởng bất tịnh không được ta tu tập, ở nơi ta không có sự sai khác trước và sau. Ta không đạt được quả tu tập". Ở đấy,vị ấy tỉnh giác như vậy.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục, do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán, thời Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: " Tưởng bất tịnh được ta tu tập; ở nơi ta có sự sai khác trước và sau. Ta đạt được quả tu tập". Ở đấy, vị ấy tỉnh giác như vậy.
Tưởng bất tịnh, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh, được nói đến như vậy. Do duyên này, được nói đến như vậy.” (Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V.Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)
1. Tưởng bất tịnh:
Vậy quán tưởng bất tịnh là như thế nào? Quý vị nhìn thấy tấm thân này đi, nhìn cho kĩ tấm thân này bày tiết ra những cái gì hằng ngày? Nước miếng, phân, nước tiểu, mồ hôi, nước mũi, ghèn, rái tai…Chỉ cần trầy xước trúng cái gì thì nó đổ máu, chảy máu, tươm máu ra. Không có gì sạch sẽ, thơm tho trong đây hết, mà mỗi ngày còn phải tắm gội, giặt giũ, tắm rửa, phải giặt, phải đem những chất thơm tho để trừ đi mùi hôi dơ. Quý vị thấy khi mình ăn thì có món này, món kia, hay món nọ nhưng tới khi mình bày tiết ra thì đó là gì? Rất hôi thối, nhơ nhớp, mình uống thì mình lựa chọn nước này nước kia nhưng khi bày tiết ra là gì? Là tanh hôi, dơ bẩn. Mình chỉ ngồi một lát thôi mà không có máy điều hòa, không có máy quạt thì bốc ra mùi gì? Mùi đó có dễ chịu không, sạch không?
Như vậy, trong tâm mình cứu ảo tưởng đó là sạch, là đẹp, là thơm tho là mình say đắm suốt cuộc đời, đau khổ, khao khát, khát ái, chính cái đó là cho mình khổ. Dơ mà mình tưởng là sạch, cho là sạch, là bất tịnh, là không sạch mà mình lại cho đó là sạch, là đẹp, như vậy Đức Phật gọi đó là gì? Là vô minh, không sáng suốt, không có trí tuệ và suốt ngày mình chỉ lo trao chuốt cho nó hoài, cho đến mấy chục năm, năm sáu bảy chục năm mình cứ trao chuốt, cứ tô điểm rồi cuối cùng nằm ở đâu? Nằm ở nghĩa địa hay ở trong lò thiêu, trên bàn thờ, trong hũ để trên nóc tủ, không có gì hết.
Như vậy tất cả cuộc đời mình xây đắp, tô bồi trang điểm, trao (trau) chuốt, chăm sóc cho một thứ tan nát, hoại diệt. Một thứ sau này trở thành cát bụi, trọng không. Nếu có ai chê chị sao hôi là sân si trỗi dậy, giận tức, phiền não, mà đó là hôi thật trong khi người ta nói mình hôi là mình lại giận lên. Bây giờ mình phải đổi lại “Dạ, chị nói hôi là đúng rồi thưa chị, Phật dạy thân này còn thối nữa!” là không giận mà còn chấp nhận sự thật. Như vậy tu có trí tuệ được không? Người ta nói hôi là mình nói “Dạ, còn thối nữa!” là đúng không? Nên mình tu thì phải chấp nhận sự thật, phải thấy sự thật, phải sống với sự thật. Nhưng bây giờ mình tu với Phật nói sự thật mà mình lại chỉ sống với cái giả, mình thích người ta lừa gạt mình sao? Người ta khen “Đẹp quá…” mình nghe rồi mê mẩn, ưa thích mà không biết rằng thân thì đang bệnh, tuổi đang già và cái chết đang chực chờ ở trước mắt.
2. Tưởng chết:
Sự quán thứ hai là tưởng chết – quán tưởng về sự chết.
“Tưởng chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống nhiều với tưởng chết, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng không thích thú sự sống, do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.”
Tại sao không thích sự sống mà tâm được thanh thản? Bây giờ quý vị thử nghĩ, tất cả con người sanh ra thì có người nào không chết không? Ai cũng phải chết, nhưng khi nhắc đến cái chết là sợ “Đừng nhắc, chuyện này không cát tường, không tốt, bệnh gần chết rồi! Ai tới cũng đừng cho nhắc!” Như vậy là sống trong vô minh, trong si mê, trong sự mờ tối, không thấy được là nó đã sát kế bên mà bây giờ lại không chịu chuẩn bị, không chịu lo? Khi quý vị vào Sài Gòn hay ra nước ngoài thì quý vị có chuẩn bị không? Chuẩn bị có kỹ không và chuẩn bị trong bao lâu? Có thể cả năm vì phải làm giấy tờ, làm thủ tục rồi chuẩn bị mua vé rồi đến đồ đạc… hoặc chuẩn bị cả hàng tháng trước khi đi. Vậy mà sao quý vị chuẩn bị đi một chuyến đi xa vô cùng xa nhưng không biết chuẩn bị? Quý vị có biết đi xa vô cùng xa đó là đi đâu không? Mình đi Mỹ là mình biết rõ địa chỉ, có số nhà, có con mình rước, vé đã mua trước, đồ đạc cũng chuẩn bị sẵn mà mình còn lo lắng, sợ hãi, còn đây là mình đi đến chỗ không biết gì hết, không biết lúc nào đi, không biết đi tới đâu, không biết gặp ai hết mà lại không lo gì, đó gọi là vô minh. Nên Đức Phật dạy mình như thế nào? Phải nhớ tới sự chết, để mình sống cho tốt. Nhớ tới cái chết để sống cho tốt, sống cho ý nghĩa, để đừng sống tham, sân, si, để đừng sống bản ngã, để đừng sống trong mê muội.
Không phải nhớ cái chết là bi quan yếm thế, chắc chắn nó sẽ xảy ra mà tại sao mình không chuẩn bị, không nhớ nghĩ, không lo lắng một cách chu đáo, cẩn thận, đầy đủ nên mình thường đi đến chỗ chết thì mình sẽ đi đến chỗ không chết mà mình cứ tưởng như mình sống hoài thì chết chết sống sống hoài hoài sanh sanh tử tử luân hồi bất tận. Phải nhớ cái chết thì mình mới đi đến chỗ bất tử, để buông bỏ tâm tham đắm, để giảm sân hận, để giảm câu mâu, hơn thua, thị phi, phiền não vô ích, sân si vô ích.
Nhớ tới cái chết để buông xả, để tâm mình được như Đức Phật nói: “Thanh thản, nhẹ nhàng, nhàm chán”. Nhàm chán với những thứ phiền não hơn thua này, với thân bất tịnh, nhàm chán với tất cả, với sự gọi là phũ phàng trên cuộc đời này. Nhàm chán, không có thật, là vô thường. Quý vị có nghĩ là một ngày mà tất cả chúng ta không dám đi ra đường? Trước đại dịch mình có nghĩ vậy không? Có một ngày nào mà cả thế giới trống rỗng trống không? Một ngày mà chết hàng triệu người? Quý vị có từng nghĩ như vậy không? Không nghĩ nhưng đã xảy ra. Sự vô thường, sự bệnh hoạn, sự biến thiên, sự khổ của thế gian diễn ra liên tục nên hằng ngày mình quán chiếu như vậy thì khi xảy ra sự việc thì mình bình thản vì mình biết rồi. Nếu giờ mình cứ nhớ và lo nghĩ mình sẽ chết thì mình chuẩn bị thật tốt tất cả mọi thứ trước khi chết: “Này tôi đã chuẩn bị rồi, không có vấn đề gì hết!” bình thản ra đi, ngồi xếp bằng lên “Chào tất cả các bạn, tôi đi!”. Còn mình không chuẩn bị gì hết thì khi bất thình lình tới thì hoảng sợ, hoảng loạn, kinh hoàng, lo lắng sợ hãi và khổ đau.
Bậc Thánh nhân không lo nhiều, lo có một chuyện là giải quyết hết tất cả còn kẻ phàm phu lo nhiều chuyện mà không có chuyện nào xong chuyện nào, lo tới chết cũng lo không xong, còn Thánh nhân chỉ lo một chuyện thôi, tức là lo cho cái chết. Vậy chọn cái vô số chuyện gọi là lo nhiều chuyện, rốt cuộc không chuyện nào xong chuyện nào hết mà chỉ lo một chuyện thôi là diệt tham, sân, si, chỉ một chuyện thôi là dập tắt hết tất cả số đó, để tâm bình an, thanh tịnh thanh lương mát mẻ, tịch tĩnh thì thành công hết tất cả.
3. Tưởng nhàm chán:
Tiếp tục là tưởng nhàm chán:
Tưởng nhàm chán đối với món ăn, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng nhàm chán đối với các món ăn, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng không tham ái các vị; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.
Như vậy việc ăn này có phiền não nhiều không quý vị? Mình có mê cái ăn, tham ăn này nhiều không? Chúng ta ăn hoài, ăn từ nhỏ đến khi ăn tới lớn, tới tuổi trung niên, rồi ăn tới già mà cũng đi kiếm thức ăn hoài. Cứ đam mê thức ăn hoài rồi lại bỏ thì giờ tu, khi chuẩn bị ngồi thiền, chuẩn bị tu thì ăn một tô lớn rồi lên đó ngồi như ông địa ục ịch như vậy rồi làm sao ngồi tu?
Vì vậy, thức ăn này chiếm rất nhiều thời gian. Quý vị cứ thấy như khi đi chợ, khi ra thì không mua liền mà lại đi một vòng lựa chọn, nhiều khi trả giá, mua đem về rồi mệt không làm liền, nghỉ một chút rồi mới đem ra lặt, xắt, gọt rồi chế biến, nếu cầu kì thì phải học – lên mạng hay đến nhà người khác học, tìm đọc các sách nấu ăn, mở ra học theo rồi nấu, nấu lần 2, một ngày làm cỡ ba lần như vậy thì lại hết giờ tu. Không chỉ như vậy là xong, nếu người ta khen thì sẽ làm tiếp nhưng nếu chê thì sân giận lên, cứ như vậy suốt ngày chỉ lòng vòng với những món ăn đó mãi. Sau đó ăn tới già, bệnh sẽ ăn không nổi nữa nên trở nên “thèm”, bác sĩ nói “Đừng ăn, ăn sẽ bệnh!” nhưng vẫn nghĩ “Thôi kệ, ăn đại một ít thôi!”.
Như vậy, tại sao tâm của mình không thể giải thoát được? Vì mình dính mắc, tham, ưa thích, ham muốn nên mất thời gian rất nhiều và cả phiền, hờn giận trong đó. Nên mình phải tập cách ăn đơn giản. Bây giờ càng phù hợp với cách ăn đơn giản vì ăn càng cầu kỳ càng phức tạp thì càng bệnh và vừa rồi có vụ việc ngộ độc thực phẩm chay xảy ra, vì lợi nhuận, vì lòng tham nên chế biến ra thực phẩm bẩn, trái cây thì ngâm thuốc. Quý vị có thấy vậy không? Tức là ăn càng nhiều mà khoái khẩu, bệnh tụng khẩu nhập – bệnh từ miệng đi vào, tai họa là từ miệng đi ra. Như có câu “Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”: miệng nguy hiểm lắm vì bệnh từ bên ngoài đưa vào, tai họa là từ bên trong đưa ra. Đức Phật dạy mình chủ yếu đây là giảm lòng tham ái đối với tất cả mọi thứ trong cuộc đời, vì mình tham cái gì thì chính cái đó làm cho mình khổ. Như khi thích món ăn thì ràng buộc với món ăn đó hoài, bỏ thì giờ tu học, nhưng khi ăn rồi nuốt qua cổ rồi sẽ thành món gì? Hay lúc có mười món, hai chục món thơm ngon đầy đủ đãi tiệc như vậy mà khi nuốt xuống thì sẽ thành cái gì? Nên người nào tu tập mà giảm dính mắc, đam mê, tham đắm trong món ăn thì tâm người đó sẽ được thanh thản, nhẹ nhàng, tu tập mau tiến bộ. Vì mình ăn càng thanh đạm thì cơ thể như được dưỡng sinh, khỏe khoắn, nhẹ nhàng như vậy thì mình tu được thanh tịnh, trí huệ mình sáng suốt. Còn khi mình ăn những chất làm cho cơ thể trì trệ, nặng nề thì mình tu tập không được, khó tu. Đó là khi nói đơn giản thôi, còn trong sự tu của quý thầy thì việc ăn này nói rất kỹ, nếu tu đúng pháp thì khi ăn phải quán chiếu kỹ. Quý vị có thể truy cập trang web linhquyphapan.vn và tìm mở bài Cách ăn cơm của Đức Phật thì quý vị sẽ biết được Đức Phật ăn cơm như thế nào.
4. Tưởng không hoan hỷ:
Tiếp theo, Đức Phật dạy về tưởng không hoan hỷ đối với các thế giới:
“Tưởng không hoan hỷ đối với các thế giới, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với tâm không hoan hỷ đối với các thế giới, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lòe loẹt của thế giới, do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.”
Tức là mình quán tưởng, mình không ưa thích những cái lòe loẹt, xanh đỏ, trắng vàng của cuộc đời này. Quý vị thấy như nhiều khi đang đi lại thích một căn nhà, nhưng phải trả tiền trong bao lâu mới xong? Khoảng ba mươi năm mới trả xong một căn nhà. Hay với một chiếc xe cũng có thể năm bảy năm mới trả xong. Đối với trong nước, nhiều lúc mình mê thích cái này, cái kia rồi mình cứ “cài” hoài, làm trâu làm ngựa để lo cho con cháu, có nhiều người không dám ăn, không dám mặc cứ làm rồi để dành lại cho con. Tâm tham muốn cứ thúc giục ở bên trong phải như vậy và suốt ngày, thậm chí cả một căn nhà hay một miếng đất, một chiếc xe hay tài sản mà tâm mình cứ buộc vào đó hoài, cứ tham đắm, dính mắc, tham luyến trong đó. Rồi cứ suy nghĩ lòng vòng trong đó, món đồ đó đi đâu sợ mất, không dám đi tu vì không ai trông coi nhà, một ngày còn không dám đi nói chi là bảy ngày Phật thất cũng không dám đi. Vậy đến lúc chết thì sao, làm sao mình giải thoát được mà mình đòi giải thoát? Nên Đức Phật dạy mình không hoan hỷ đối với sự lòe loẹt của cuộc đời. Mình nhìn thấy xanh xanh đỏ đỏ như vậy cho em nhỏ mừng thôi vì bên trong đó có nhiều khổ đau, nhiều phiền não.
Như chỉ có mấy tấc đất mà anh em giết nhau mất đến bốn năm mạng người hay chỉ có chút tài sản mà người bị bại liệt, đi xe lăn mà vẫn phải đi thưa kiện bảy tám năm vì anh em ruột giành tài sản cha mẹ để lại. Nên Đức Phật dạy mình phải quán chiếu, không hoan hỷ, ưa thích vì các vật chất này là vô thường, không có gì là bền chắc hết, mình sử dụng nó làm một phương tiện để cho mình thăng hoa trí tuệ, đức hạnh, cho đạt được một tâm linh bình an, thảnh thơi, thanh thản để giải thoát khỏi nỗi khổ của sanh tử, của sầu bi, ưu não, của tham, sân, si, vô minh và bản ngã, đừng để mình bị dính mắc, đau khổ.
Có những câu chuyện về người khi chết thành cô hồn giữ tài sản, không siêu thoát được nên mình phải tập không ưa thích, không say đắm, không bị ràng buộc vật chất, nhất là đối với các vị lớn tuổi phải càng tập tâm buông xả để ngày mình ra đi thì mình được đi nhanh chóng, không bị dây mơ rễ má, không bị buột giựt gì hết.
Bây giờ phải tháo từ từ, gỡ từ từ, không thể buộc nhiều dây rồi tới khi bay lên bị mắc xuống thì phải làm sao, con diều có một sợi dây mà bay đã không được mà mình có đến chục sợi dây (thập sử) – mười sợi dây kiết sử giật mình xuống làm sao mình đi lên được? Người thì muốn đi lên cao mà dây lại buộc xung quanh nên từ bây giờ phải tháo gỡ từ từ, tháo bỏ những vật chất vô thường, tạm bợ, không có gì bền chắc.
5. Tưởng vô thường:
Nên Đức Phật đã dạy mình về tưởng vô thường:
“Tưởng vô thường, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy? Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với tưởng vô thường, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.”
Phải nhớ về vô thường, đừng bao giờ quên vô thường, nếu quên đi nó thì sẽ làm tham, sân, si; sẽ say mê, đắm đuối, sẽ trối trăn, ràng buộc, sẽ ở trong tù ngục của xác thân với mấy chục kg, bao thịt hay bị thịt, đãi thịt, túi thịt. Cứ dính mắc với trong đó hoài, chỉ cần “rầm” là xong, trở thành một đống bầy hầy, tóc tai, phèo phổi, máu mủ như vậy không có gì hết. Mới hôm qua hơn thua giận hờn mắng chửi, nay xong rồi lại nhiễm dịch bệnh mà chết. Quý vị có thấy cái vô thường đó nhanh không? Hết sức mong manh, tạm bợ, không có gì bền bỉ, kiên cố, chắc chắn, chỉ tích tắt thôi, trong một khoảnh khắc là không còn ngồi dưới đất mà lên bàn ngồi, lên chỗ cao lắm ngồi. Chỉ tích tắt thôi nên hãy nhớ một ngày kia mình không còn ngồi dưới đất mà leo lên bàn ngồi.
Vậy nên phải nhớ điều đó để buông xả, không nhớ cái đó thì mình sẽ bị lừa gạt, mình bám chấp, nắm giữ, bị chấp thủ. Phải nhớ tất cả những thứ đó chỉ là tạm bợ, mong manh, tan vỡ, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, biến diệt, không có gì chắc chắn hết. Gặp gì mình tham là mình thấy cái đó vô thường, nhìn bông hoa đó thì vài ngày sau thì lại vứt thùng rác, mình có khác gì với bông hoa đó? Vài ngày sau thì họ cũng đưa mình vào thùng rác - đó là hòm, thân là rác và hòm là thùng đựng rác. Nhưng rác kia còn tái chế được, còn rác này là ai cũng sợ hết, không ai dám tái chế. Như giờ tham, sân, si, hơn thua, bản ngã rồi khi mất thì lại rất thối, rồi người ta gấp gáp đem đi chôn, đi đốt.
Quý vị quán chiếu thấy rất đau xót, thịt lợn còn bán được người ta còn ăn còn thịt của mình thì rất khủng khiếp, sợ lắm. Quý vị thấy khi xác phân hủy bốc mùi rất khủng khiếp, vì trong này là bãi chiến trường, nghĩa địa của ngũ cốc luân hồi vì là con gì cũng ăn, bên trong này là bãi nghĩa địa, chiến trường “bên trong” này, đánh nhau tứ tung, rất hôi dơ nên mình phải nhớ quán vô thường này, phải nhớ hoài, đừng bao giờ quên, mỗi hơi thở là phải nhớ mạng sống tích tắt. Nếu sân giận lên thì phải tự nhủ “Giận thì chết mau, giận thì lên tăng sông chứ làm được gì, giận để thiêu đốt nhau để làm gì? Thôi lắng dịu đi, an tịnh, mát mẻ, đừng đốt nhau, đừng thêu nhau, đừng làm khổ, hành hạ, hành xác nhau nữa, để cho tâm này bình an, thanh tịnh, an lạc đi!”
Tiếp tục, Đức Phật dạy về quán tưởng khổ – quán tưởng về sự khổ trong vô thường, không những vô thường mà còn khổ, không chỉ vô thường, nếu chỉ bệnh, già, chết thì không nói mà bên trong đó có bao nhiêu thứ khổ. Quý vị có nhìn thấy người già không? Khi ăn cơm cầm chén bị run, muỗng rơi bể rồi con cái khinh khi, nói là “Báo đời không!” và còn đấm trên đầu trên mặt, tát, đau lòng không quý vị? Mình chứng kiến những cảnh mà xã hội bây giờ rất xót xa: bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa, bỏ cha mẹ đi xin ăn, lang thang ở ngoài đường, thậm chí có những hành động bất hiếu, đại nghịch bất đạo, nghịch tử. Quý vị thấy không chỉ già thôi mà là già và khổ, bệnh hành hạ mình rất nhiều mà không phải già bệnh mà trẻ cũng bệnh hay gặp tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn, nguy nan... bao nhiêu chuyện chồng chất nên là khổ trong vô thường mà mình phải nhớ, nên Đức Phật dạy:
6. Tưởng khổ trong vô thường:
“Này các vị, sự quán tưởng khổ trong vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả báo lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, láy bất tử làm cứu cánh”
Đức Phật đã nhắc cho các vị Thánh tăng, các vị Tỳ-kheo ngày xưa như vậy.
“Này các Tỳ-kheo, nếu người tu nào sống nhiều với các sự quán tưởng, đua khổ trong vô thường thời các tưởng sợ hãi sắc bén được an lập ở trên thụ động, biến nhác, thả lỏng, phóng dật, không chú tâm, không quán xét.”
Đức Phật ví dụ giống như một kẻ giết người giơ đao lên làm sao. Điều này rất sâu sắc, Minh Thành chỉ chia sẻ một phần thôi, Đức Phật ví dụ hình ảnh người đao phủ khi họ giơ con dao lên, người tử tù ngồi bên dưới thấy con dao giơ lên thì người này hoảng sợ, sợ hãi, vì con dao đó đưa lên là khi họ chết.
Cũng vậy, Đức Phật nói người thường quán nỗi khổ đau trong vô thường là nỗi sợ hãi của họ sắc bén lên. Tức là họ sợ vô thường, sợ khổ để người này nỗ lực tu tập, nỗ lực hành trì, không sống buông lung phóng dật, không sống lơ là, không sống như lục bình trôi sông.
Mỗi giờ, mỗi ngày của người này là hết mình tu tập, hết mình hành trì, hết mình quán chiếu, sống có ý nghĩa, sống có giá trị, lợi ích, không sống một cách phung phí thời gian, hoang phí tuổi thọ, trống rỗng, vô tích sự, giống như những đám lục bình mà sống hết sức tinh tấn, nỗ lực làm các thiện pháp, tu tập các công đức, thực hành sự quán chiếu với trí tuệ, sống như vậy, quý vị có thấy tuyệt vời không?
Vì vậy, sự quán chiếu về khổ vô thường không phải làm cho mình rã rượi, bi quan mà quán của khổ vô thường để làm cho mình mạnh mẽ, nghị lực, đại hùng đại lực, làm cho mình tinh cần tinh tấn, làm cho mình chú tâm, chánh niệm tỉnh giác trong giây phút hiện tại và để mình nhìn sâu vào bản chất của đời sống này, vào bản chất của thể xác này, vào bản chất của thế giới này là trống rỗng, trống không, trống trơn, không có gì hết rồi đam mê trong này chỉ là hư ảo.
Một ngày mình thở “khì” ra đi là tất cả mọi thứ đều là hư ảo, là mây khói, chỉ đem ác nghiệp hay phước đức ra đi. Phải nhớ, phải quán tưởng khổ đau trong vô thường, để làm cho sự sợ hãi của mình một cách sâu sắc. Mình không còn thụ động, biếng nhác, thả lỏng các căn, buông lung phóng dật nữa mà mình được chú tâm, luôn luôn quán sát sự thật của cuộc đời này.
Tất cả chúng sanh là sống trong sự buông lung, sự vô minh, sự tham dục tham ái suốt một cuộc đời không tỉnh ngộ nếu mình không gặp Phật pháp, nếu không có những giây phút ngồi trầm tư mặc tưởng, mà nghe những lời dạy Thánh trí huệ của Đức Phật mà quán chiếu quý vị nghĩ giờ mình làm gì? Mình cũng đam mê, say mê theo những phù du, ảo ảnh, giả tạm của cuộc đời và mình cứ tham sân si, hơn thua, rồi cuối cùng mình kết thúc đời sống này trong những giọt lệ, những dòng nước mắt của khổ đau và ác nghiệp nên chúng ta rất may mắn, chúng ta ngồi đây là phước báu, công đức, thù thắng, hiếm có, hy hữu thì chúng ta mới được nghe những lời của Đức Phật cách đây ba ngàn năm. Đây là những lời gốc của Đức Phật, lời nguyên chất Đức Phật dạy cho mình pháp tu hết sức quan trọng khi Đức Phật còn tại thế, không tu giống như mình bây giờ, tu bằng sự thật, bằng sự nhìn lại.
7. Tưởng trống rỗng, vô ngã:
“Này các Tỳ-kheo, nếu người tu sống nhiều với sự quán tưởng trống rỗng, vô ngã, không có cái tôi và không có cái của tôi, đã trống rỗng, đã vô ngã như vậy mà còn đau khổ nữa. Này các Tỳ-kheo, ý của vị ấy thoát khỏi tư tưởng chấp ngã, ngã sợ, ngã mạn đối với thân có thức này, đối với tất cả tướng ở bên ngoài khéo giải thoát được an tịnh, vượt qua các sự kiến chấp, thiên kiến.”
Đây là chỗ quán thâm sâu nhất và cũng là pháp thứ bảy – quán tưởng vô ngã.
Khi người tu nào sống nhiều về sự quán xét trống rỗng, trống không, trống trơn. Như cái ly này, chỉ sảy tay sẽ làm vỡ, sẽ thành một đống miểng, chẳng những thành miểng mà còn làm cho mình đứt tay đứt chân, chảy máu rồi đi vô bệnh viện cấp cứu nếu trúng những mạch máu quan trọng và cũng có thể chết luôn. Trống rỗng mà còn khổ đau nữa thì có gì ở trong này mà mê hoài vậy?
Trống không, trống rỗng, trống trơn, không có cái gì là của tôi thật sự hết, chỉ vì mình chấp, mình mê, mình không nhìn thấy được bản chất của sự thật. Lúc người ta đưa mình xuống huyệt hay đẩy vào lò thiêu rồi đem một thùng tro ra rồi mình ở đâu? “Thùng tro này là má con, là ngoại, là nội, là ba con đây này!” mà chỉ là đưa một thùng tro. Cát bụi trở về với cát bụi, vô ngã, trống không, trống trơn, không có gì hết mà dục, tham, ái, sân si, bản ngã, hơn thua bên trong này rồi lại tạo bao nhiêu ác nghiệp này, là khổ trong vô ngã. Quý vị có thấy đau lòng trước vô minh của mình và chúng sanh không? Thương vô cùng thương, sao là thương, thương hết chỗ thương, thương vô cùng, thương vô tận. Nên Đức Phật và các bậc Thánh là đại bi tâm, từ tâm vô lượng. Thương mà cứ mê, tham, sân si, hơn thua, bản ngã mãi, chấp mãi, nên thương quá thương, thương vô cùng thương, thương không còn từ gì để nói.
Đức Phật từ Bồ Đề đạo tràng đến Ta-la sông thọ, tất cả những lời Ngài nói ra đều không sai sự thật, đều không thể khác được vì từ tâm, vì tình thương, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc của chư thiên và loài người mà Thánh pháp này được thuyết ra, được giảng ra, Chánh Pháp này được luân chuyển, Chánh Pháp Luân được xoay chuyển ở thế gian này, đó là tình thương đại bi của Như Lai Thế Tôn, Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
V. Trân quý giây phút được nghe Chánh Pháp:
Giờ phút này rất thần thánh, thiêng liêng, quý báu, hiếm có nhất trên cuộc đời này của quý vị, là mầu nhiệm, là cao thượng, tối thượng. Hãy cảm nhận một cách sâu sắc bằng tất cả trái tim và tấm lòng của mình, hãy cảm nhận một cách trọn vẹn Thánh trí tuệ này. Hãy cảm nhận, chấp nhận Thánh trí tuệ này đang rực sáng, chói sáng, tỏa sáng và bừng sáng tại nơi này. Hãy nỗ lực, hãy cố gắng, hãy tinh tấn, đừng sống một cuộc đời phí công, vô ích, trống rỗng, hãy sống một cuộc đời có giá trị, biết thương chính mình, có lợi ích, có ý nghĩa cho kiếp sau. Hãy nỗ lực nghe pháp, quán chiếu, tu tập, để sau này không hối hận. Sau này trên giường bệnh không hối hận, không tiếc nuối.
Hãy đem hết tâm tư của mình quán chiếu sự bất tịnh, sự nhơ nhớp của thân xác này. Hãy đem hết tâm tư của mình quán chiếu sự chết, kết thúc đời sống này trong nước mắt. Hãy đem hết tâm tư của mình quán chiếu, nhàm chán đối với các thức ăn, đem hết tâm tư của mình quán chiếu không ưa thích, vui thích đối với tất cả sự lòe loẹt trên cuộc đời này, sự ảo ảnh, phù du, đừng vì nó mà làm nô lệ, làm tôi đoài, làm đầy tớ cho tham ái, tham dục. Hãy đem hết tâm tư của mình quán tưởng sự vô thường, sự tan hoại, sự biến diệt, hủy hoại của thân xác này, kiếp sống này. Hãy đem hết tâm tư của mình trong mỗi giờ mỗi phút quán chiếu sự đau khổ trong vô thường, không những vô thường mà còn đau khổ, sầu bi khổ ưu não. Hãy đem hết tâm tư của mình mà quán chiếu vô ngã, trống rỗng, trống không, trống trơn ở đời sống này. Hãy buông xả tham, sân, si, nhiếp phục vô minh và bản ngã, hãy nỗ lực, hãy quyết tâm, hãy tinh tấn, hãy cố gắng bước lên chiếc thuyền đại trí tuệ của đức Như Lai.
Minh Thành thưa cụ, mỗi lần Minh Thành tới cụ đều đưa cho Minh Thành một câu hỏi trong kinh Pháp Hoa. Nhưng nãy giờ Minh Thành nói đã giải quyết hết trong câu hỏi rồi, xin cụ hoan hỷ, được không ạ?
VI. Bài kệ cúng dường giảng sư:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, còn khoảng năm mười phút xin thầy hoan hỷ cho Phật tử chúng con, có Phật tử nào có câu hỏi qua thời pháp, thời chỉ dạy có vấn đề gì chưa rõ thì chúng ta mạnh dạn giơ tay lên để thầy chỉ dạy rõ hơn.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch thầy, qua hai ngày nay con được nghe thời pháp của thầy, để tri ân Tam Bảo và cũng để đáp lại lời thầy, con xin đọc một bài kệ về năm điều quán tưởng.
Thế Tôn lời dạy tỏ tường
Năm điều quán tưởng phải thường xét ra
Ta đây phải có sự già
Thế nào tránh khỏi lúc qua canh tàn
Ta đây bệnh tật phải mang
Thế nào tránh khỏi đặng an mạnh lành
Ta đây sự chết sẵn dành
Thế nào tránh khỏi tử sanh đến kỳ
Ta đây phải chịu phân ly
Nhơn vật quý mến ta đi biệt mà
Ta đi với nghiệp của ta
Dầu cho tốt xấu tạo ra tự mình
Theo ta như bóng theo hình
Ta thọ quả báo phân minh kết thành.
Con xin đọc một lời kệ sám hối trước ngôi Tam Bảo:
Khi Phật còn tại thế, chúng con bị trầm luân
Khi con đã thành người Thế Tôn đã diệt độ
Đáng thương thay chúng con tội dày phước mỏng
Hôm nay chí thành cầu xin sám hối
Chúng con vốn tạo các vọng nghiệp
Gây bao tội ác bởi lầm mê
Hôm nay xin chí thành cầu xin sám hối.
Vậy là tốt lắm, chúng ta hồi hướng.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thỉnh giảng sư PAGEREF _Toc55197978 \h 1
II. Cây bồ đề - Niệm Phật: PAGEREF _Toc55197979 \h 1
III. Tài sản của người tu: PAGEREF _Toc55197980 \h 4
IV. Bảy tưởng bất tử: PAGEREF _Toc55197981 \h 6
1. Tưởng bất tịnh: PAGEREF _Toc55197982 \h 7
2. Tưởng chết: PAGEREF _Toc55197983 \h 8
3. Tưởng nhàm chán: PAGEREF _Toc55197984 \h 10
4. Tưởng không hoan hỷ: PAGEREF _Toc55197985 \h 11
5. Tưởng vô thường: PAGEREF _Toc55197986 \h 13
6. Tưởng khổ trong vô thường: PAGEREF _Toc55197987 \h 14
7. Tưởng trống rỗng, vô ngã: PAGEREF _Toc55197988 \h 16
V. Trân quý giây phút được nghe Chánh Pháp: PAGEREF _Toc55197989 \h 17
VI. Bài kệ cúng dường giảng sư: PAGEREF _Toc55197990 \h 18
I. Thỉnh giảng sư:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chúng con xin cung thỉnh Đại Đức giảng sư khởi xướng cho chúng con niệm Phật cầu gia…
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Hôm nay ngày 10 tháng 8 năm Canh Tý, được sự nhất trí của ni trưởng chùa Nghĩa Minh, đạo tràng niệm Phật của chúng con có đầy đủ nhân duyên cung đón Đại Đức giảng sư, chúng con xin cung kính giới thiệu, hiện diện trên pháp tòa là Đại Đức Thích Minh Thành, ủy viên ban Hoằng Pháp Giáo Hội Phật Giáo TP.HCM, giáo thọ sư các trường Trung – Cao Phật học TP.HCM, trụ trì chùa Linh Quy Pháp Ấn tại xã Lộc Thành, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Giờ này, đạo tràng của chúng con đang lắng lòng thanh tịnh, chúng con mong Đại Đức giảng sư từ bi, chỉ dạy cho chúng con những lời dạy của Đức Phật, để chúng con lấy đó làm hành trang, tư lương trên bước đường tu nhân, học Phật.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
II. Cây bồ đề - Niệm Phật:
Kính bạch trên ni trưởng trụ trì và quý sư cô, kính thưa tất cả quý Phật tử, vừa rồi khi Minh Thành bước vào sân chùa, Minh Thành có đứng lại trước cây có dòng họ với cây bồ đề, ở giữa sân chùa, Minh Thành nhớ lại Thái tử Tất-đạt-đa đã từng ngồi dưới gốc cây, đã từng nhịn ăn nhịn uống, đã từng bỏ hết vương quyền, vương uy của đời sống hoàng tộc Thích Ca. Ở dưới gốc cây đó, có một con người ở trên quyền uy tột đỉnh, trên địa vị cao nhất trong cuộc đời, đã bỏ những danh lợi, tài sắc, tình cảm thường tình của thế gian, bỏ Gia-du-đà-la, bỏ vua Tịnh Phạn, bỏ La-hầu-la và bỏ cả hoàng thất, hoàng tộc chỉ để đến ngồi dưới gốc cây đó.
Gốc cây đó là gốc cây thiêng liêng, cây đó gọi là Thánh thọ – cây Thánh, là sự biểu trưng sự giác ngộ của Đức Phật, nên cây bồ đề gọi là cây giác ngộ. Thấy cây bồ đề giống như đang thấy Phật nên tất cả tăng, ni, Phật tử khi đến chùa gặp cây phải đứng lại, mặc niệm, tưởng nhớ đến Đức Phật, tới Thái tử Tất-đạt-đa, tới Bồ Tát.
Rất nhiều nước Phật giáo nguyên thủy như Myanma, Srilanka hay Ấn Độ đều lạy cây bồ đề, có những cây bồ đề được giữ gìn đến hơn 2000 năm, nên nếu được chúng ta nên lạy cây bồ đề trước khi vào chùa, quỳ xuống đó lạy ba lạy rồi đi chung quanh đó ba vòng, tưởng nhớ Bồ Tát, tưởng nhớ Thái tử, tưởng nhớ con người vĩ đại, bậc đạo sư của chúng ta. Lúc Minh Thành đứng dưới gốc cây, có một Phật tử đi chung tới, Minh Thành nói là “Nhìn cây nhớ Người, nhớ Bồ Tát, nhớ Thái Tử!” Phật tử này rất xúc động, cảm động và lúc đó Minh Thành cũng rất cảm động, xúc động, nổi “da gà” toàn thân, cảm xúc trào dâng trước cây bồ đề và dù cho đó là bồ đề hay lâm dồ hay là dòng họ nhưng mình tưởng nhớ chính là cây giác ngộ, Thánh thọ, cây Thánh.
Cả tăng, ni, người tu gặp cây bồ đề giống như là thấy Đức Phật, đó là phương pháp niệm Phật, không phải niệm Phật chỉ là kêu tên thôi, niệm Phật là nhớ, nghĩ về đức hạnh, về cuộc đời, sự tu tập, sự từ bỏ, sự xả ly về trí tuệ, sự dũng mãnh, sự từ bỏ, về một tấm lòng đại bi rộng lớn của bậc đại đạo sư, đó gọi là niệm Phật. Không phải niệm Phật chỉ là niệm suông câu, miệng thì niệm mà tâm không nhớ đến đức hạnh, không nhớ tới trí tuệ, từ bi, những gì mà Ngài đã làm thì đó chỉ là niệm miệng, chưa phải là niệm Phật đúng pháp. Nhớ nghĩ về cuộc đời, nhớ nghĩ về sự cầu đạo, sự tu tập, về khổ hạnh, về những gì mà Ngài đã thực hành, sự hy sinh, sự từ bỏ, sự xa lìa đời sống dục lạc, vương quyền, nhớ nghĩ tới khi Ngài lột hoàng bào xuống để đắp lên mình tấm vải thô sơ, khi Ngài cắt búi tóc gửi lại cho người đánh xe, hay nhớ nghĩ tới đời sống ở nơi xa vắng, núi rừng, một đời sống từ bỏ, xa lìa những tham muốn, danh vọng, địa vị, quyền thế, tài sắc của cuộc đời, nhớ tất cả việc đó gọi là niệm Phật.
Nhớ và mình mong muốn làm theo, mình cố gắng để thực hành theo, tư duy, quán xét, nghiền ngẫm những gì Đức Phật dạy gọi là niệm Pháp. Ví dụ mình nhớ dưới gốc cây này Bồ Tát chứng ngộ Thánh trí tuệ Khổ Thánh Đế. Chính dưới gốc cây này, Bồ Tát chứng ngộ nguyên nhân của sự đau khổ trên cuộc đời này, Bồ Tát đã thực hành Thánh đạo, đã đi trên con đường diệt khổ đau và cũng chính dưới gốc cây này, Bồ Tát đã chứng nhập cảnh giới của bất tử, diệt tận tất cả khổ đau, đạt được Niết-bàn tịch tĩnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Đó là mình niệm Tứ Thánh Đế, niệm bốn sự thật mà bậc Thánh giác ngộ thì bốn sự thật của cuộc đời, niệm bốn sự thật của bản chất đau khổ của thế gian, đó là niệm Thánh Pháp, Thánh trí, Thánh Đế, đó mới là niệm Phật chân chánh, Đức Phật muốn mình niệm, không phải niệm chỉ trên câu ở trên miệng, niệm bằng trái tim, niệm bằng tấm lòng, bằng tất cả sự cung kính, tôn trọng, nhớ ơn, biết ơn, cảm ơn, niệm bằng sự phát nguyện, cố gắng thực hành những lời dạy, giống như Ngài, làm con cưng, con ngoan của Ngài, là một người Phật tử chân chánh, đó là niệm Phật, niệm Pháp.
Mình nhớ tới những vị Tỳ-kheo của Đức Phật, những vị Thánh tăng, tôn giả Xá-lợi-phất, tôn giả Mục-kiền-liên, tôn giả Ma-ha-ca-diếp, các bậc Thánh tăng, các chư vị Tỳ-kheo thuở xưa, hàng Thánh chúng của Đức Phật, các bậc tu hành có giới đức, có đạo hạnh, có trí tuệ, có thiền định. Mình mong muốn, hướng tới, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, biết ơn đối với các vị đó, những người từ bỏ gia đình, từ bỏ nhà, sống đời sống không nhà, từ bỏ mẹ cha, từ bỏ thân tộc, từ bỏ những thú vui của cuộc đời để dấn thân cầu pháp, học pháp, hành pháp, chứng pháp, đạt pháp, hoằng pháp, nhớ tới những bậc tu hành như vậy để phát tâm cung kính, tôn trọng, biết ơn, đó gọi là niệm tăng.
Đó cũng là ba pháp quy y, người nào thường nhớ, thường nghĩ, thường niệm như vậy mới gọi là đệ tử của Phật, còn khi nhớ niệm Phật là “Phật cho con cái này cái kia!” thì đó là mê tín, không phải đệ tử chân chánh của Phật, dù có pháp danh cũng vẫn là mê tín. Niệm Phật một cách chân chánh, niệm pháp một cách chân chánh, niệm tăng một cách chân chánh, gọi là niệm Tam Bảo – là ba báu vật cao quý nhất ở trên đời, ruộng phước vô thượng trên thế gian này, vô thượng phước điền, đó là niệm Phật, Pháp, Tăng thật sự. Phải nhớ khi thấy cây Bồ Đề là phải nhớ Đức Phật, dừng lại hay đứng lại và cúi chào, xá chào, đảnh lễ.
III. Tài sản của người tu:
Quý vị có thấy rằng niệm Tam Bảo như vậy trí huệ có sanh không? Lòng tin có tăng trưởng không? Giới đức của mình có phát triển không? Niệm như vậy giúp tín tâm tăng trưởng, giới, thí, bố thí tăng trưởng, nghe pháp tăng trưởng, trí tuệ tăng trưởng, tàm quý tăng trưởng - tức sự xấu hổ, sợ hãi đối với những ác bất thiện pháp, rồi nhìn lại thấy Đức Thế Tôn, các vị Thánh tăng, các bậc tu hành, giáo pháp an lạc, thanh tịnh như vậy, thì tại sao mình lại cứ tham, sân, si hoài như vậy? “Vô lạy Phật, nhìn Phật rồi nhìn lại tâm mình con xấu hổ quá! Con thấy tủi hổ quá! Hở chút con giận, phiền, la, bực, sân, bản ngã”. Mình thấy xấu hổ, sám hối nên niệm Phật, Pháp, Tăng như vậy là tín tăng trưởng, giới tăng trưởng, bố thí tăng trưởng, nghe nhiều tăng trưởng, tàm quý (xấu hổ, sợ hãi với ác bất thiện pháp) tăng trưởng, trí tuệ tăng trưởng, đó là Thất Thánh Tài – bảy tài sản của bậc Thánh.
Mình tu mình phải giàu, đừng làm kẻ nghèo hèn trong Phật Pháp, phải giàu lòng tin, tại sao lòng tin được mình tưới tẩm, nuôi dưỡng, vun phân tưới nước, chăm sóc hằng ngày, mỗi ngày đi chùa phải niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, mỗi lần thấy cây bồ đề, bất cứ ở đâu phải đứng lại xá, dù cho cây bồ đề thấy ở đâu, ngay giữa đường cũng đứng lại xá. Mình niệm Tam Bảo như vậy để tín tâm tăng trưởng, giới hạnh tăng trưởng, bố thí tăng trưởng sự nghe pháp càng tăng trưởng, sự tàm quý phát triển, tức là xấu hổ và sợ hãi. Vừa giận lúc chiều mà giờ vô tụng kinh thấy xấu hổ quá, nhìn lại Đức Phật thấy xấu hổ quá, giận hoài, có như vậy không? Hay nhiều lúc mới vừa cự lại đi vào chùa? Tham hoài xấu hổ, sân hoài cũng xấu hổ, rồi những tâm hơn thua, ngã mạn, thị phi, phải quấy, ganh tị, đố kị, soi mói. Cảm thấy xẩu hổ, thấy sợ hãi mỗi khi thấy chúng sanh khởi lên, muốn nói những chuyện đó mình cảm thấy sợ hãi, đây là những ác, những tội lỗi, chúng hại mình, thêu đốt mình, trói buộc mình, làm cho mình đau khổ, xấu hổ đối với những ác, bất thiện pháp.
Trong kinh Nikāya Đức Phật ví dụ giống như có người rất trẻ, rất đẹp, người này thích mặc đồ mới, thích trang sức, bỗng nhiên đi ra ngoài bị người khác quàng xác một con chó đã chết lên cổ. Người này lập tức quăng liền, thấy dơ, thấy hôi quá, thấy ghê quá, không muốn nó dính ở trên người mình hay trên cổ mình. Hay lại có người cầm xác con rắn chết quấn lên cổ thì người này ghê, sợ nên quăng ra. Hay thậm chí người này bị người khác chồng lên một xác người chết lên cổ thì người này càng ghê gớm, càng sợ hãi, càng muốn quăng ra. Cũng vậy, người tu phải biết sợ những xấu, ác, bất thiện pháp. Mỗi khi sân hận mình mới thấy sợ, ghê gớm, không ưa thích cảm giác sân hận này, cảm giác này làm cho mình nhục nhã, cảm giác này làm cho mình xấu hổ, làm cho mình hôi dơ. Quý vị thấy một con người đang sân hận, đang dữ dằn lúc đó mình thấy dễ thương không, dám lại gần không, sợ không?
Chúng ta thấy hằng ngày ở trên mặt báo có bao nhiêu những sân hận, những vụ án, những khổ cảnh… tất cả đều từ tâm, những cảm giác sân hận đó nên sự tu tập của chúng ta phải cảm thấy xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi đối với những tội lỗi. Nếu mình lỡ nói dối thì mình phải về sám hối, nếu lỡ mình có sân với ai như người thân của mình thì mình phải xin lỗi, như vậy thì thiện pháp tăng trưởng. Tại sao mình tu mà mình không tăng tiến là tại vì mình có lỗi mà mình im lặng, cười cười rồi lại im, không xin lỗi gì hết, mà người ta có lỗi thì mình bắt kĩ lắm. Ví dụ như lỗi của mình thì mình che giấu, giống như kẻ gian giấu bài, còn lỗi của người thì mình bắt giống như tìm thóc trong gạo, như chơi đánh bài ăn gian, giấu kĩ nên giờ mình tu thì ngược lại, phải nhìn nhận, sửa chỉnh lỗi của mình để hoàn thiện, để mình càng ngày giảm bớt lỗi, sạch lỗi, trở thành trong sạch thanh tịnh.
Đầu tiên Minh Thành chia sẻ với tất cả đại chúng nhìn cây bồ đề nhớ Phật, niệm pháp, niệm tăng và nhớ làm cho tăng trưởng tài sản của bậc Thánh, mình phải là người giàu có trong giáo pháp, đừng làm kẻ nghèo hèn, nghèo là lòng tin không đủ, giới không giữ được, không dám bố thí, keo kiệt bủn xỉn, nghe pháp làm biếng, mở lên là “gục gật”, ngáy khò khò, mở bài pháp lên là nằm ngủ. Tàm quý là xấu hổ, sợ hãi đối với cái xấu ác, đối với ác bất thiện pháp, trí tuệ. Đó là bảy tài sản của bậc Thánh. Bảy tài sản trong giáp pháp, hằng ngày mình tu tập, kiểm tra xem mình có tài sản nào chưa? Mình có ít thì làm cho nhiều, mình chưa có thì làm cho có. Đó là điều đầu tiên Minh Thành chia sẻ với quý vị và sau đây là những pháp chuyên sâu. Quý vị có muốn đi sâu sắc trong Phật pháp không hay là thôi, chỉ cạn cạn, phớt phớt cho vui thôi?
IV. Bảy tưởng bất tử:
Trong bài kinh Tưởng – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3, Đức Phật dạy rằng:
“1. - Có bảy tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.”
Tức là ai tu bảy pháp này sẽ đi đến cảnh giới bất tử, tức không chết. Bất tử là không già, không chết, là cảnh giới của Niết-bàn. Đức Phật đã tu và đã chứng ngộ. Tại đây người già có nhiều, nên có lẽ tu pháp bất tử cũng là “hợp gu”.
“2. Thế nào là bảy?
Tưởng bất tịnh,
tưởng chết,
tưởng nhàm chán đối với các món ăn,
tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới,
tưởng vô thường,
tưởng khổ trong vô thường,
tưởng vô ngã trong khổ.
Bảy tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.”
Như vậy, pháp thứ nhất là quán tưởng bất tịnh:
“Tưởng bất tịnh, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.
Ví như, này các Tỷ-kheo, lông gà hay là dây gân quăng vào lửa thời thối lui, trở lưng, quay lưng, và không căng thẳng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, nhưng tâm lại chạy theo, đắm vào dâm dục, không khởi lên nhàm chán, thời Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Tưởng bất tịnh không được ta tu tập, ở nơi ta không có sự sai khác trước và sau. Ta không đạt được quả tu tập". Ở đấy,vị ấy tỉnh giác như vậy.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục, do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán, thời Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: " Tưởng bất tịnh được ta tu tập; ở nơi ta có sự sai khác trước và sau. Ta đạt được quả tu tập". Ở đấy, vị ấy tỉnh giác như vậy.
Tưởng bất tịnh, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh, được nói đến như vậy. Do duyên này, được nói đến như vậy.” (Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V.Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)
1. Tưởng bất tịnh:
Vậy quán tưởng bất tịnh là như thế nào? Quý vị nhìn thấy tấm thân này đi, nhìn cho kĩ tấm thân này bày tiết ra những cái gì hằng ngày? Nước miếng, phân, nước tiểu, mồ hôi, nước mũi, ghèn, rái tai…Chỉ cần trầy xước trúng cái gì thì nó đổ máu, chảy máu, tươm máu ra. Không có gì sạch sẽ, thơm tho trong đây hết, mà mỗi ngày còn phải tắm gội, giặt giũ, tắm rửa, phải giặt, phải đem những chất thơm tho để trừ đi mùi hôi dơ. Quý vị thấy khi mình ăn thì có món này, món kia, hay món nọ nhưng tới khi mình bày tiết ra thì đó là gì? Rất hôi thối, nhơ nhớp, mình uống thì mình lựa chọn nước này nước kia nhưng khi bày tiết ra là gì? Là tanh hôi, dơ bẩn. Mình chỉ ngồi một lát thôi mà không có máy điều hòa, không có máy quạt thì bốc ra mùi gì? Mùi đó có dễ chịu không, sạch không?
Như vậy, trong tâm mình cứu ảo tưởng đó là sạch, là đẹp, là thơm tho là mình say đắm suốt cuộc đời, đau khổ, khao khát, khát ái, chính cái đó là cho mình khổ. Dơ mà mình tưởng là sạch, cho là sạch, là bất tịnh, là không sạch mà mình lại cho đó là sạch, là đẹp, như vậy Đức Phật gọi đó là gì? Là vô minh, không sáng suốt, không có trí tuệ và suốt ngày mình chỉ lo trao chuốt cho nó hoài, cho đến mấy chục năm, năm sáu bảy chục năm mình cứ trao chuốt, cứ tô điểm rồi cuối cùng nằm ở đâu? Nằm ở nghĩa địa hay ở trong lò thiêu, trên bàn thờ, trong hũ để trên nóc tủ, không có gì hết.
Như vậy tất cả cuộc đời mình xây đắp, tô bồi trang điểm, trao (trau) chuốt, chăm sóc cho một thứ tan nát, hoại diệt. Một thứ sau này trở thành cát bụi, trọng không. Nếu có ai chê chị sao hôi là sân si trỗi dậy, giận tức, phiền não, mà đó là hôi thật trong khi người ta nói mình hôi là mình lại giận lên. Bây giờ mình phải đổi lại “Dạ, chị nói hôi là đúng rồi thưa chị, Phật dạy thân này còn thối nữa!” là không giận mà còn chấp nhận sự thật. Như vậy tu có trí tuệ được không? Người ta nói hôi là mình nói “Dạ, còn thối nữa!” là đúng không? Nên mình tu thì phải chấp nhận sự thật, phải thấy sự thật, phải sống với sự thật. Nhưng bây giờ mình tu với Phật nói sự thật mà mình lại chỉ sống với cái giả, mình thích người ta lừa gạt mình sao? Người ta khen “Đẹp quá…” mình nghe rồi mê mẩn, ưa thích mà không biết rằng thân thì đang bệnh, tuổi đang già và cái chết đang chực chờ ở trước mắt.
2. Tưởng chết:
Sự quán thứ hai là tưởng chết – quán tưởng về sự chết.
“Tưởng chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống nhiều với tưởng chết, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng không thích thú sự sống, do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.”
Tại sao không thích sự sống mà tâm được thanh thản? Bây giờ quý vị thử nghĩ, tất cả con người sanh ra thì có người nào không chết không? Ai cũng phải chết, nhưng khi nhắc đến cái chết là sợ “Đừng nhắc, chuyện này không cát tường, không tốt, bệnh gần chết rồi! Ai tới cũng đừng cho nhắc!” Như vậy là sống trong vô minh, trong si mê, trong sự mờ tối, không thấy được là nó đã sát kế bên mà bây giờ lại không chịu chuẩn bị, không chịu lo? Khi quý vị vào Sài Gòn hay ra nước ngoài thì quý vị có chuẩn bị không? Chuẩn bị có kỹ không và chuẩn bị trong bao lâu? Có thể cả năm vì phải làm giấy tờ, làm thủ tục rồi chuẩn bị mua vé rồi đến đồ đạc… hoặc chuẩn bị cả hàng tháng trước khi đi. Vậy mà sao quý vị chuẩn bị đi một chuyến đi xa vô cùng xa nhưng không biết chuẩn bị? Quý vị có biết đi xa vô cùng xa đó là đi đâu không? Mình đi Mỹ là mình biết rõ địa chỉ, có số nhà, có con mình rước, vé đã mua trước, đồ đạc cũng chuẩn bị sẵn mà mình còn lo lắng, sợ hãi, còn đây là mình đi đến chỗ không biết gì hết, không biết lúc nào đi, không biết đi tới đâu, không biết gặp ai hết mà lại không lo gì, đó gọi là vô minh. Nên Đức Phật dạy mình như thế nào? Phải nhớ tới sự chết, để mình sống cho tốt. Nhớ tới cái chết để sống cho tốt, sống cho ý nghĩa, để đừng sống tham, sân, si, để đừng sống bản ngã, để đừng sống trong mê muội.
Không phải nhớ cái chết là bi quan yếm thế, chắc chắn nó sẽ xảy ra mà tại sao mình không chuẩn bị, không nhớ nghĩ, không lo lắng một cách chu đáo, cẩn thận, đầy đủ nên mình thường đi đến chỗ chết thì mình sẽ đi đến chỗ không chết mà mình cứ tưởng như mình sống hoài thì chết chết sống sống hoài hoài sanh sanh tử tử luân hồi bất tận. Phải nhớ cái chết thì mình mới đi đến chỗ bất tử, để buông bỏ tâm tham đắm, để giảm sân hận, để giảm câu mâu, hơn thua, thị phi, phiền não vô ích, sân si vô ích.
Nhớ tới cái chết để buông xả, để tâm mình được như Đức Phật nói: “Thanh thản, nhẹ nhàng, nhàm chán”. Nhàm chán với những thứ phiền não hơn thua này, với thân bất tịnh, nhàm chán với tất cả, với sự gọi là phũ phàng trên cuộc đời này. Nhàm chán, không có thật, là vô thường. Quý vị có nghĩ là một ngày mà tất cả chúng ta không dám đi ra đường? Trước đại dịch mình có nghĩ vậy không? Có một ngày nào mà cả thế giới trống rỗng trống không? Một ngày mà chết hàng triệu người? Quý vị có từng nghĩ như vậy không? Không nghĩ nhưng đã xảy ra. Sự vô thường, sự bệnh hoạn, sự biến thiên, sự khổ của thế gian diễn ra liên tục nên hằng ngày mình quán chiếu như vậy thì khi xảy ra sự việc thì mình bình thản vì mình biết rồi. Nếu giờ mình cứ nhớ và lo nghĩ mình sẽ chết thì mình chuẩn bị thật tốt tất cả mọi thứ trước khi chết: “Này tôi đã chuẩn bị rồi, không có vấn đề gì hết!” bình thản ra đi, ngồi xếp bằng lên “Chào tất cả các bạn, tôi đi!”. Còn mình không chuẩn bị gì hết thì khi bất thình lình tới thì hoảng sợ, hoảng loạn, kinh hoàng, lo lắng sợ hãi và khổ đau.
Bậc Thánh nhân không lo nhiều, lo có một chuyện là giải quyết hết tất cả còn kẻ phàm phu lo nhiều chuyện mà không có chuyện nào xong chuyện nào, lo tới chết cũng lo không xong, còn Thánh nhân chỉ lo một chuyện thôi, tức là lo cho cái chết. Vậy chọn cái vô số chuyện gọi là lo nhiều chuyện, rốt cuộc không chuyện nào xong chuyện nào hết mà chỉ lo một chuyện thôi là diệt tham, sân, si, chỉ một chuyện thôi là dập tắt hết tất cả số đó, để tâm bình an, thanh tịnh thanh lương mát mẻ, tịch tĩnh thì thành công hết tất cả.
3. Tưởng nhàm chán:
Tiếp tục là tưởng nhàm chán:
Tưởng nhàm chán đối với món ăn, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng nhàm chán đối với các món ăn, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng không tham ái các vị; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.
Như vậy việc ăn này có phiền não nhiều không quý vị? Mình có mê cái ăn, tham ăn này nhiều không? Chúng ta ăn hoài, ăn từ nhỏ đến khi ăn tới lớn, tới tuổi trung niên, rồi ăn tới già mà cũng đi kiếm thức ăn hoài. Cứ đam mê thức ăn hoài rồi lại bỏ thì giờ tu, khi chuẩn bị ngồi thiền, chuẩn bị tu thì ăn một tô lớn rồi lên đó ngồi như ông địa ục ịch như vậy rồi làm sao ngồi tu?
Vì vậy, thức ăn này chiếm rất nhiều thời gian. Quý vị cứ thấy như khi đi chợ, khi ra thì không mua liền mà lại đi một vòng lựa chọn, nhiều khi trả giá, mua đem về rồi mệt không làm liền, nghỉ một chút rồi mới đem ra lặt, xắt, gọt rồi chế biến, nếu cầu kì thì phải học – lên mạng hay đến nhà người khác học, tìm đọc các sách nấu ăn, mở ra học theo rồi nấu, nấu lần 2, một ngày làm cỡ ba lần như vậy thì lại hết giờ tu. Không chỉ như vậy là xong, nếu người ta khen thì sẽ làm tiếp nhưng nếu chê thì sân giận lên, cứ như vậy suốt ngày chỉ lòng vòng với những món ăn đó mãi. Sau đó ăn tới già, bệnh sẽ ăn không nổi nữa nên trở nên “thèm”, bác sĩ nói “Đừng ăn, ăn sẽ bệnh!” nhưng vẫn nghĩ “Thôi kệ, ăn đại một ít thôi!”.
Như vậy, tại sao tâm của mình không thể giải thoát được? Vì mình dính mắc, tham, ưa thích, ham muốn nên mất thời gian rất nhiều và cả phiền, hờn giận trong đó. Nên mình phải tập cách ăn đơn giản. Bây giờ càng phù hợp với cách ăn đơn giản vì ăn càng cầu kỳ càng phức tạp thì càng bệnh và vừa rồi có vụ việc ngộ độc thực phẩm chay xảy ra, vì lợi nhuận, vì lòng tham nên chế biến ra thực phẩm bẩn, trái cây thì ngâm thuốc. Quý vị có thấy vậy không? Tức là ăn càng nhiều mà khoái khẩu, bệnh tụng khẩu nhập – bệnh từ miệng đi vào, tai họa là từ miệng đi ra. Như có câu “Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”: miệng nguy hiểm lắm vì bệnh từ bên ngoài đưa vào, tai họa là từ bên trong đưa ra. Đức Phật dạy mình chủ yếu đây là giảm lòng tham ái đối với tất cả mọi thứ trong cuộc đời, vì mình tham cái gì thì chính cái đó làm cho mình khổ. Như khi thích món ăn thì ràng buộc với món ăn đó hoài, bỏ thì giờ tu học, nhưng khi ăn rồi nuốt qua cổ rồi sẽ thành món gì? Hay lúc có mười món, hai chục món thơm ngon đầy đủ đãi tiệc như vậy mà khi nuốt xuống thì sẽ thành cái gì? Nên người nào tu tập mà giảm dính mắc, đam mê, tham đắm trong món ăn thì tâm người đó sẽ được thanh thản, nhẹ nhàng, tu tập mau tiến bộ. Vì mình ăn càng thanh đạm thì cơ thể như được dưỡng sinh, khỏe khoắn, nhẹ nhàng như vậy thì mình tu được thanh tịnh, trí huệ mình sáng suốt. Còn khi mình ăn những chất làm cho cơ thể trì trệ, nặng nề thì mình tu tập không được, khó tu. Đó là khi nói đơn giản thôi, còn trong sự tu của quý thầy thì việc ăn này nói rất kỹ, nếu tu đúng pháp thì khi ăn phải quán chiếu kỹ. Quý vị có thể truy cập trang web linhquyphapan.vn và tìm mở bài Cách ăn cơm của Đức Phật thì quý vị sẽ biết được Đức Phật ăn cơm như thế nào.
4. Tưởng không hoan hỷ:
Tiếp theo, Đức Phật dạy về tưởng không hoan hỷ đối với các thế giới:
“Tưởng không hoan hỷ đối với các thế giới, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với tâm không hoan hỷ đối với các thế giới, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lòe loẹt của thế giới, do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.”
Tức là mình quán tưởng, mình không ưa thích những cái lòe loẹt, xanh đỏ, trắng vàng của cuộc đời này. Quý vị thấy như nhiều khi đang đi lại thích một căn nhà, nhưng phải trả tiền trong bao lâu mới xong? Khoảng ba mươi năm mới trả xong một căn nhà. Hay với một chiếc xe cũng có thể năm bảy năm mới trả xong. Đối với trong nước, nhiều lúc mình mê thích cái này, cái kia rồi mình cứ “cài” hoài, làm trâu làm ngựa để lo cho con cháu, có nhiều người không dám ăn, không dám mặc cứ làm rồi để dành lại cho con. Tâm tham muốn cứ thúc giục ở bên trong phải như vậy và suốt ngày, thậm chí cả một căn nhà hay một miếng đất, một chiếc xe hay tài sản mà tâm mình cứ buộc vào đó hoài, cứ tham đắm, dính mắc, tham luyến trong đó. Rồi cứ suy nghĩ lòng vòng trong đó, món đồ đó đi đâu sợ mất, không dám đi tu vì không ai trông coi nhà, một ngày còn không dám đi nói chi là bảy ngày Phật thất cũng không dám đi. Vậy đến lúc chết thì sao, làm sao mình giải thoát được mà mình đòi giải thoát? Nên Đức Phật dạy mình không hoan hỷ đối với sự lòe loẹt của cuộc đời. Mình nhìn thấy xanh xanh đỏ đỏ như vậy cho em nhỏ mừng thôi vì bên trong đó có nhiều khổ đau, nhiều phiền não.
Như chỉ có mấy tấc đất mà anh em giết nhau mất đến bốn năm mạng người hay chỉ có chút tài sản mà người bị bại liệt, đi xe lăn mà vẫn phải đi thưa kiện bảy tám năm vì anh em ruột giành tài sản cha mẹ để lại. Nên Đức Phật dạy mình phải quán chiếu, không hoan hỷ, ưa thích vì các vật chất này là vô thường, không có gì là bền chắc hết, mình sử dụng nó làm một phương tiện để cho mình thăng hoa trí tuệ, đức hạnh, cho đạt được một tâm linh bình an, thảnh thơi, thanh thản để giải thoát khỏi nỗi khổ của sanh tử, của sầu bi, ưu não, của tham, sân, si, vô minh và bản ngã, đừng để mình bị dính mắc, đau khổ.
Có những câu chuyện về người khi chết thành cô hồn giữ tài sản, không siêu thoát được nên mình phải tập không ưa thích, không say đắm, không bị ràng buộc vật chất, nhất là đối với các vị lớn tuổi phải càng tập tâm buông xả để ngày mình ra đi thì mình được đi nhanh chóng, không bị dây mơ rễ má, không bị buột giựt gì hết.
Bây giờ phải tháo từ từ, gỡ từ từ, không thể buộc nhiều dây rồi tới khi bay lên bị mắc xuống thì phải làm sao, con diều có một sợi dây mà bay đã không được mà mình có đến chục sợi dây (thập sử) – mười sợi dây kiết sử giật mình xuống làm sao mình đi lên được? Người thì muốn đi lên cao mà dây lại buộc xung quanh nên từ bây giờ phải tháo gỡ từ từ, tháo bỏ những vật chất vô thường, tạm bợ, không có gì bền chắc.
5. Tưởng vô thường:
Nên Đức Phật đã dạy mình về tưởng vô thường:
“Tưởng vô thường, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy? Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với tưởng vô thường, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.”
Phải nhớ về vô thường, đừng bao giờ quên vô thường, nếu quên đi nó thì sẽ làm tham, sân, si; sẽ say mê, đắm đuối, sẽ trối trăn, ràng buộc, sẽ ở trong tù ngục của xác thân với mấy chục kg, bao thịt hay bị thịt, đãi thịt, túi thịt. Cứ dính mắc với trong đó hoài, chỉ cần “rầm” là xong, trở thành một đống bầy hầy, tóc tai, phèo phổi, máu mủ như vậy không có gì hết. Mới hôm qua hơn thua giận hờn mắng chửi, nay xong rồi lại nhiễm dịch bệnh mà chết. Quý vị có thấy cái vô thường đó nhanh không? Hết sức mong manh, tạm bợ, không có gì bền bỉ, kiên cố, chắc chắn, chỉ tích tắt thôi, trong một khoảnh khắc là không còn ngồi dưới đất mà lên bàn ngồi, lên chỗ cao lắm ngồi. Chỉ tích tắt thôi nên hãy nhớ một ngày kia mình không còn ngồi dưới đất mà leo lên bàn ngồi.
Vậy nên phải nhớ điều đó để buông xả, không nhớ cái đó thì mình sẽ bị lừa gạt, mình bám chấp, nắm giữ, bị chấp thủ. Phải nhớ tất cả những thứ đó chỉ là tạm bợ, mong manh, tan vỡ, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, biến diệt, không có gì chắc chắn hết. Gặp gì mình tham là mình thấy cái đó vô thường, nhìn bông hoa đó thì vài ngày sau thì lại vứt thùng rác, mình có khác gì với bông hoa đó? Vài ngày sau thì họ cũng đưa mình vào thùng rác - đó là hòm, thân là rác và hòm là thùng đựng rác. Nhưng rác kia còn tái chế được, còn rác này là ai cũng sợ hết, không ai dám tái chế. Như giờ tham, sân, si, hơn thua, bản ngã rồi khi mất thì lại rất thối, rồi người ta gấp gáp đem đi chôn, đi đốt.
Quý vị quán chiếu thấy rất đau xót, thịt lợn còn bán được người ta còn ăn còn thịt của mình thì rất khủng khiếp, sợ lắm. Quý vị thấy khi xác phân hủy bốc mùi rất khủng khiếp, vì trong này là bãi chiến trường, nghĩa địa của ngũ cốc luân hồi vì là con gì cũng ăn, bên trong này là bãi nghĩa địa, chiến trường “bên trong” này, đánh nhau tứ tung, rất hôi dơ nên mình phải nhớ quán vô thường này, phải nhớ hoài, đừng bao giờ quên, mỗi hơi thở là phải nhớ mạng sống tích tắt. Nếu sân giận lên thì phải tự nhủ “Giận thì chết mau, giận thì lên tăng sông chứ làm được gì, giận để thiêu đốt nhau để làm gì? Thôi lắng dịu đi, an tịnh, mát mẻ, đừng đốt nhau, đừng thêu nhau, đừng làm khổ, hành hạ, hành xác nhau nữa, để cho tâm này bình an, thanh tịnh, an lạc đi!”
Tiếp tục, Đức Phật dạy về quán tưởng khổ – quán tưởng về sự khổ trong vô thường, không những vô thường mà còn khổ, không chỉ vô thường, nếu chỉ bệnh, già, chết thì không nói mà bên trong đó có bao nhiêu thứ khổ. Quý vị có nhìn thấy người già không? Khi ăn cơm cầm chén bị run, muỗng rơi bể rồi con cái khinh khi, nói là “Báo đời không!” và còn đấm trên đầu trên mặt, tát, đau lòng không quý vị? Mình chứng kiến những cảnh mà xã hội bây giờ rất xót xa: bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa, bỏ cha mẹ đi xin ăn, lang thang ở ngoài đường, thậm chí có những hành động bất hiếu, đại nghịch bất đạo, nghịch tử. Quý vị thấy không chỉ già thôi mà là già và khổ, bệnh hành hạ mình rất nhiều mà không phải già bệnh mà trẻ cũng bệnh hay gặp tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn, nguy nan... bao nhiêu chuyện chồng chất nên là khổ trong vô thường mà mình phải nhớ, nên Đức Phật dạy:
6. Tưởng khổ trong vô thường:
“Này các vị, sự quán tưởng khổ trong vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả báo lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, láy bất tử làm cứu cánh”
Đức Phật đã nhắc cho các vị Thánh tăng, các vị Tỳ-kheo ngày xưa như vậy.
“Này các Tỳ-kheo, nếu người tu nào sống nhiều với các sự quán tưởng, đua khổ trong vô thường thời các tưởng sợ hãi sắc bén được an lập ở trên thụ động, biến nhác, thả lỏng, phóng dật, không chú tâm, không quán xét.”
Đức Phật ví dụ giống như một kẻ giết người giơ đao lên làm sao. Điều này rất sâu sắc, Minh Thành chỉ chia sẻ một phần thôi, Đức Phật ví dụ hình ảnh người đao phủ khi họ giơ con dao lên, người tử tù ngồi bên dưới thấy con dao giơ lên thì người này hoảng sợ, sợ hãi, vì con dao đó đưa lên là khi họ chết.
Cũng vậy, Đức Phật nói người thường quán nỗi khổ đau trong vô thường là nỗi sợ hãi của họ sắc bén lên. Tức là họ sợ vô thường, sợ khổ để người này nỗ lực tu tập, nỗ lực hành trì, không sống buông lung phóng dật, không sống lơ là, không sống như lục bình trôi sông.
Mỗi giờ, mỗi ngày của người này là hết mình tu tập, hết mình hành trì, hết mình quán chiếu, sống có ý nghĩa, sống có giá trị, lợi ích, không sống một cách phung phí thời gian, hoang phí tuổi thọ, trống rỗng, vô tích sự, giống như những đám lục bình mà sống hết sức tinh tấn, nỗ lực làm các thiện pháp, tu tập các công đức, thực hành sự quán chiếu với trí tuệ, sống như vậy, quý vị có thấy tuyệt vời không?
Vì vậy, sự quán chiếu về khổ vô thường không phải làm cho mình rã rượi, bi quan mà quán của khổ vô thường để làm cho mình mạnh mẽ, nghị lực, đại hùng đại lực, làm cho mình tinh cần tinh tấn, làm cho mình chú tâm, chánh niệm tỉnh giác trong giây phút hiện tại và để mình nhìn sâu vào bản chất của đời sống này, vào bản chất của thể xác này, vào bản chất của thế giới này là trống rỗng, trống không, trống trơn, không có gì hết rồi đam mê trong này chỉ là hư ảo.
Một ngày mình thở “khì” ra đi là tất cả mọi thứ đều là hư ảo, là mây khói, chỉ đem ác nghiệp hay phước đức ra đi. Phải nhớ, phải quán tưởng khổ đau trong vô thường, để làm cho sự sợ hãi của mình một cách sâu sắc. Mình không còn thụ động, biếng nhác, thả lỏng các căn, buông lung phóng dật nữa mà mình được chú tâm, luôn luôn quán sát sự thật của cuộc đời này.
Tất cả chúng sanh là sống trong sự buông lung, sự vô minh, sự tham dục tham ái suốt một cuộc đời không tỉnh ngộ nếu mình không gặp Phật pháp, nếu không có những giây phút ngồi trầm tư mặc tưởng, mà nghe những lời dạy Thánh trí huệ của Đức Phật mà quán chiếu quý vị nghĩ giờ mình làm gì? Mình cũng đam mê, say mê theo những phù du, ảo ảnh, giả tạm của cuộc đời và mình cứ tham sân si, hơn thua, rồi cuối cùng mình kết thúc đời sống này trong những giọt lệ, những dòng nước mắt của khổ đau và ác nghiệp nên chúng ta rất may mắn, chúng ta ngồi đây là phước báu, công đức, thù thắng, hiếm có, hy hữu thì chúng ta mới được nghe những lời của Đức Phật cách đây ba ngàn năm. Đây là những lời gốc của Đức Phật, lời nguyên chất Đức Phật dạy cho mình pháp tu hết sức quan trọng khi Đức Phật còn tại thế, không tu giống như mình bây giờ, tu bằng sự thật, bằng sự nhìn lại.
7. Tưởng trống rỗng, vô ngã:
“Này các Tỳ-kheo, nếu người tu sống nhiều với sự quán tưởng trống rỗng, vô ngã, không có cái tôi và không có cái của tôi, đã trống rỗng, đã vô ngã như vậy mà còn đau khổ nữa. Này các Tỳ-kheo, ý của vị ấy thoát khỏi tư tưởng chấp ngã, ngã sợ, ngã mạn đối với thân có thức này, đối với tất cả tướng ở bên ngoài khéo giải thoát được an tịnh, vượt qua các sự kiến chấp, thiên kiến.”
Đây là chỗ quán thâm sâu nhất và cũng là pháp thứ bảy – quán tưởng vô ngã.
Khi người tu nào sống nhiều về sự quán xét trống rỗng, trống không, trống trơn. Như cái ly này, chỉ sảy tay sẽ làm vỡ, sẽ thành một đống miểng, chẳng những thành miểng mà còn làm cho mình đứt tay đứt chân, chảy máu rồi đi vô bệnh viện cấp cứu nếu trúng những mạch máu quan trọng và cũng có thể chết luôn. Trống rỗng mà còn khổ đau nữa thì có gì ở trong này mà mê hoài vậy?
Trống không, trống rỗng, trống trơn, không có cái gì là của tôi thật sự hết, chỉ vì mình chấp, mình mê, mình không nhìn thấy được bản chất của sự thật. Lúc người ta đưa mình xuống huyệt hay đẩy vào lò thiêu rồi đem một thùng tro ra rồi mình ở đâu? “Thùng tro này là má con, là ngoại, là nội, là ba con đây này!” mà chỉ là đưa một thùng tro. Cát bụi trở về với cát bụi, vô ngã, trống không, trống trơn, không có gì hết mà dục, tham, ái, sân si, bản ngã, hơn thua bên trong này rồi lại tạo bao nhiêu ác nghiệp này, là khổ trong vô ngã. Quý vị có thấy đau lòng trước vô minh của mình và chúng sanh không? Thương vô cùng thương, sao là thương, thương hết chỗ thương, thương vô cùng, thương vô tận. Nên Đức Phật và các bậc Thánh là đại bi tâm, từ tâm vô lượng. Thương mà cứ mê, tham, sân si, hơn thua, bản ngã mãi, chấp mãi, nên thương quá thương, thương vô cùng thương, thương không còn từ gì để nói.
Đức Phật từ Bồ Đề đạo tràng đến Ta-la sông thọ, tất cả những lời Ngài nói ra đều không sai sự thật, đều không thể khác được vì từ tâm, vì tình thương, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc của chư thiên và loài người mà Thánh pháp này được thuyết ra, được giảng ra, Chánh Pháp này được luân chuyển, Chánh Pháp Luân được xoay chuyển ở thế gian này, đó là tình thương đại bi của Như Lai Thế Tôn, Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
V. Trân quý giây phút được nghe Chánh Pháp:
Giờ phút này rất thần thánh, thiêng liêng, quý báu, hiếm có nhất trên cuộc đời này của quý vị, là mầu nhiệm, là cao thượng, tối thượng. Hãy cảm nhận một cách sâu sắc bằng tất cả trái tim và tấm lòng của mình, hãy cảm nhận một cách trọn vẹn Thánh trí tuệ này. Hãy cảm nhận, chấp nhận Thánh trí tuệ này đang rực sáng, chói sáng, tỏa sáng và bừng sáng tại nơi này. Hãy nỗ lực, hãy cố gắng, hãy tinh tấn, đừng sống một cuộc đời phí công, vô ích, trống rỗng, hãy sống một cuộc đời có giá trị, biết thương chính mình, có lợi ích, có ý nghĩa cho kiếp sau. Hãy nỗ lực nghe pháp, quán chiếu, tu tập, để sau này không hối hận. Sau này trên giường bệnh không hối hận, không tiếc nuối.
Hãy đem hết tâm tư của mình quán chiếu sự bất tịnh, sự nhơ nhớp của thân xác này. Hãy đem hết tâm tư của mình quán chiếu sự chết, kết thúc đời sống này trong nước mắt. Hãy đem hết tâm tư của mình quán chiếu, nhàm chán đối với các thức ăn, đem hết tâm tư của mình quán chiếu không ưa thích, vui thích đối với tất cả sự lòe loẹt trên cuộc đời này, sự ảo ảnh, phù du, đừng vì nó mà làm nô lệ, làm tôi đoài, làm đầy tớ cho tham ái, tham dục. Hãy đem hết tâm tư của mình quán tưởng sự vô thường, sự tan hoại, sự biến diệt, hủy hoại của thân xác này, kiếp sống này. Hãy đem hết tâm tư của mình trong mỗi giờ mỗi phút quán chiếu sự đau khổ trong vô thường, không những vô thường mà còn đau khổ, sầu bi khổ ưu não. Hãy đem hết tâm tư của mình mà quán chiếu vô ngã, trống rỗng, trống không, trống trơn ở đời sống này. Hãy buông xả tham, sân, si, nhiếp phục vô minh và bản ngã, hãy nỗ lực, hãy quyết tâm, hãy tinh tấn, hãy cố gắng bước lên chiếc thuyền đại trí tuệ của đức Như Lai.
Minh Thành thưa cụ, mỗi lần Minh Thành tới cụ đều đưa cho Minh Thành một câu hỏi trong kinh Pháp Hoa. Nhưng nãy giờ Minh Thành nói đã giải quyết hết trong câu hỏi rồi, xin cụ hoan hỷ, được không ạ?
VI. Bài kệ cúng dường giảng sư:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, còn khoảng năm mười phút xin thầy hoan hỷ cho Phật tử chúng con, có Phật tử nào có câu hỏi qua thời pháp, thời chỉ dạy có vấn đề gì chưa rõ thì chúng ta mạnh dạn giơ tay lên để thầy chỉ dạy rõ hơn.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch thầy, qua hai ngày nay con được nghe thời pháp của thầy, để tri ân Tam Bảo và cũng để đáp lại lời thầy, con xin đọc một bài kệ về năm điều quán tưởng.
Thế Tôn lời dạy tỏ tường
Năm điều quán tưởng phải thường xét ra
Ta đây phải có sự già
Thế nào tránh khỏi lúc qua canh tàn
Ta đây bệnh tật phải mang
Thế nào tránh khỏi đặng an mạnh lành
Ta đây sự chết sẵn dành
Thế nào tránh khỏi tử sanh đến kỳ
Ta đây phải chịu phân ly
Nhơn vật quý mến ta đi biệt mà
Ta đi với nghiệp của ta
Dầu cho tốt xấu tạo ra tự mình
Theo ta như bóng theo hình
Ta thọ quả báo phân minh kết thành.
Con xin đọc một lời kệ sám hối trước ngôi Tam Bảo:
Khi Phật còn tại thế, chúng con bị trầm luân
Khi con đã thành người Thế Tôn đã diệt độ
Đáng thương thay chúng con tội dày phước mỏng
Hôm nay chí thành cầu xin sám hối
Chúng con vốn tạo các vọng nghiệp
Gây bao tội ác bởi lầm mê
Hôm nay xin chí thành cầu xin sám hối.
Vậy là tốt lắm, chúng ta hồi hướng.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.