Giảng giải Hành pháp - tùy pháp
Tinh Hoa Nikāya
GIẢNG GIẢI HÀNH PHÁP – TÙY PHÁP
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Giải mã hành pháp – tùy pháp PAGEREF _Toc102127480 \h 1
1.Bài kinh Tùy pháp số 1: PAGEREF _Toc102127481 \h 2
2.Bài kinh Tùy pháp số 2: PAGEREF _Toc102127482 \h 4
3.Bài kinh Tùy pháp số 3: PAGEREF _Toc102127483 \h 6
4.Bài kinh Tùy pháp số 4: PAGEREF _Toc102127484 \h 7
II.Giải thoát tất cả khổ đau PAGEREF _Toc102127485 \h 8
TOC \o "1-3" \h \z \u
Giải mã hành pháp – tùy pháp
Chúng ta phải mất bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, thời gian, công sức, tâm tư để có được căn nhà, ngôi chùa khang trang, hoành tráng, đẹp đẽ? Có khi mất nửa cuộc đời, cũng có khi là mất cả cuộc đời chỉ để có được một chút cảm giác, cảm thọ vui sướng, thích thú đó nhưng nó chỉ kéo dài trong những ngày đầu rồi sau đó tan biến. Cũng như khi được ăn những món hợp khẩu vị, những muỗng thức ăn đầu tiên rất ngon nhưng khi đến những muỗng cuối, nếu ăn quá nhiều thì những phần sau thật khó để ăn hết, khi đó lạc thọ ban đầu lại trở thành khổ thọ. Trong khi ăn uống, nhìn ngó, nghe ngóng và cả những khi cảm nhận, chúng ta phải tập nhìn thấy được tính chất biến đổi, tan hoại, tính chất thoáng qua, lướt qua, phớt qua của mọi vật, mong manh như hoa phù dung sáng nở tối tàn
Trong Tương Ưng Sáu Xứ, ba bài kinh “Tùy pháp”, Đức Phật nói một người bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, trong mỗ khi nghe, khi thấy, khi cảm nhận, khi suy tư về cái gì cũng luôn nhớ về tính chất vô thường của ngũ uẩn; tính chất khổ não của năm uẩn; người này luôn thấy được sự vô ngã, trống không, biến hoại của năm uẩn thì Đức Thế Tôn gọi vị đó là vị tùy pháp, hành pháp. Dầu cho đứng nhìn vườn hoa nở rộ, thấy rất đẹp, nhưng vẫn nhìn ra được tính chất tàn lụi, tính héo úa của nó, không vì đóa hoa tươi thắm, màu sắc lòe loẹt đó mà quên đi cái thấy biết về vô thường, về sinh diệt của sắc pháp.
Như vậy, ở mọi lúc, mọi nơi, chúng ta đều không được quên sự vô thường, tan hoại của các pháp, mà phải luôn luôn nhớ đến điều đó, đây là việc rất quan trọng trong đời tu, trong công phu của mỗi người. Nhớ mãi không quên tính chất biến hoại của sắc pháp; sự vô thường của các thọ, cảm thọ; tính chất trống rỗng, trống không, trống trơn, không có cốt lõi chắc chắn của tưởng, hành, thức. Thấy cái gì cũng nhớ tính bại hoại, rạn nứt, đổ vỡ, sinh diệt; nghe gì cũng thấy được tính chất khổ; cảm nhận gì cũng thấy được tính chất trống rỗng, vô ngã ở trong đó. Đức Thế Tôn gọi đó là các vị Tỳ-kheo hành pháp, tùy pháp.
Tính chất vô thường, biến đổi này giải mã được Thánh trí tuệ của Đức Phật. Làm sao để khi chúng ta nhìn thấy cái cây xanh tươi mà chúng ta không khởi tâm tham, khi chúng ta nhìn thấy món đồ đẹp mà chúng ta không ham muốn? Tại sao các bậc Thánh nhìn thấy sắc, thanh, hương, vị xúc pháp mà các ngài không dao động tâm? Bởi các ngài luôn luôn nhớ tính chất tan hoại, biến đổi, rã nát, diệt tận, đổ vỡ của nó.
Đức Thế Tôn sẽ nói cho chúng ta biết thế nào là một người tùy pháp, thế nào là một người hành pháp. Những người này ở mọi nơi, trong mọi lúc, mọi thời, mọi chốn, mọi hoàn cảnh đều không quên tính chất biến đổi và tan hoại của sắc, thọ, tưởng, hành thức, không quên tính chất khổ não, trống không, vô ngã.
Bài kinh Tùy pháp số 1:
Đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Đối với sắc, vị ấy sống nhiều yếm ly. Tức là nhiều sự chán nãn và xa lìa. Đối với vị thực hành pháp và tùy pháp, tùy ở đây là tùy thuận, là thuận theo pháp, sống với pháp, thực hành pháp, thuận theo pháp, không trái nghịch với pháp là tùy pháp, tùy thuận. Một người thuận theo pháp, thực hành pháp, sống với pháp sẽ sống nhiều với sự nhàm chán, lìa xa đối với sắc, không ưa thích hình sắc, hình tướng. Những hình sắc, hình tướng đẹp đẽ người này sẽ muốn lìa xa, không say mê trong sắc tướng, không ưa thích, không tham đắm mà sống nhiều với sự nhàm chán và muốn rời xa nó… Đối với thọ, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với tưởng, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với các hành, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với thức, vị ấy sống nhiều yếm ly.
Tại sao người đó lại sống nhiều với sự chán nãn, xa lìa? Do người đó nhìn thấy tính chất già, bệnh, chết, sầu bi, phiền não, tính chất của sự sinh ra là rất mệt mỏi, thấy sự có mặt trên đời này là chán chường, bất an, ưu tư, lo lắng, bấp bênh, vô định, đầy bất trắc, bất ổn, bất thường, bất định. Vậy nên trong tâm người tu luôn hướng đến sự nhàm chán, ly tham, muốn rời xa. Hiện nay, các mối quan hệ khăng khít như cha con, mẹ con, thấy trò, anh em... đột nhiên trở mặt. Nhiều người đang là vợ chồng với nhau tự nhiên trở thành kẻ thù; cha con, mẹ con cũng có thể vì tiền bạc mà thành người dưng, tách hộ khẩu không nói câu nào, đưa nhau ra tòa kiện tụng, có khi dẫn đến đầu độc, giết hại nhau. Thầy trò với nhau nhưng khi lỡ nói gì không vừa lòng sẽ quay mặt, trở lưng, không còn tình thầy trò. Anh chị em ruột lỡ đụng chạm đến quyền lợi nhau như vụ con đường đi chung có thể xẩy ra án mạng, huynh đệ tương tàn chỉ vì một hai hay bốn năm tấc đất. Giết người, án mạng, chung thân, tử hình chỉ vì vài ba tờ giấy xanh đỏ, có thể giết hại, hủy diệt nhau.
Con cái học luật, dùng kiến thức do cha mẹ nuôi nấng, bảo bọc cho đi học rồi về đem kiến thức giết cha mẹ, tạo hiện trường giả... Đây là sự việc có thật về một cô gái học đại học Luật ở năm thứ 2, do người cha mắng chưởi, la rầy, cô gái ra tay giết cha và tạo hiện trường giả xây gạch, phóng hỏa. Vậy, còn chuyện gì người ta không thể làm? Thế nên, khi nhìn sâu vào bản chất đời sống này, chúng ta sinh ra sự nhàm chán tột độ, mạnh mẽ.
Đó là tính chất khổ đau, tính chất mù lòa, tính chất bất an, bất ổn, bất trắc, bất thường của đời sống ngũ uẩn này, của xác thân tứ đại đồ gốm này, bản chất của nhân sinh này. Phải nhìn, phải tác ý, quán chiếu, chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, không được quên, nếu quên là sẽ sụp bẫy, cái bẫy vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã của đời sống này, đừng ngây thơ và dại khờ, trẻ nít và ấu trĩ mà cho rằng thế gian này thật sự phải có cái gì đó chắc chắn ở trong tiền của hay trong sắc đẹp, sức khỏe hay tình cảm. Thật sự rất mong manh, dễ tan vỡ, dễ bể nát, dễ tàn hoại, dễ diệt vong.
Minh Thành đã chán ngán cuộc sống này nhưng vì sự tu tập, sự chia sẻ pháp mà mạng sống còn. Minh Thành thật sự ngao ngán, nhàm chán đối với đời sống vô tình, vô nghĩa này, bất cứ lúc nào cũng có thể là trở mặt, phản phúc, dối trá, lọc lừa, là khủng khiếp, sung mãn, là đầy rẫy, đầy mắt tai của mình trong cuộc đời này. Nhìn thấy chỗ nào cũng là mưu tính, là tham lam. Chúng ta phải học pháp này để thấy được những cái trước đây chưa từng thấy, biết được những cái trước đây chưa bao giờ biết, hiểu được những cái trước đây chưa từng hiểu, rõ được những điều trước đây chưa bao giờ rõ. Thấy, biết, hiểu ra rồi thì cảm thấy nhàm chán, ê chề, não nề và hướng đến sự rời xa, thoát ra và từ bỏ.
Song song với sự nhàm chán đó là sự hoan hỉ, hạnh phúc. Vừa chán ngán nhưng lại vừa hoan hỉ. Hoan hỉ, hạnh phúc vì chúng ta không ngờ rằng trong cuộc đời này chúng ta được nghe, được thực hành pháp thâm sâu, vi diệu với trí tuệ tối thượng của Đức Phật. Chúng ta không thể ngờ rằng Chánh Pháp lại thâm sâu đến như vậy, không ngờ rằng chúng ta lại có thể thấy được như vậy.
Vậy nên, chúng ta phải siêng năng và phải luôn ghi nhớ, không được quên sự vô thường, tan hoại của ngũ uẩn này. Khi chúng ta quên là lúc đó mình đã thất bại, mình sẽ chạy theo vị ngọt, chạy theo sự lòe loẹt, màu sắc, ảo ảnh, chạy theo những đóa hoa phù dung, chạy theo sự phù du, bọt bèo, mây khói trong cuộc đời này, sẽ sập bẩy, sẽ phiền não, phiền phức, phiền đau, phiền buồn, phiền khổ, phiền hận, phiền giận, sẽ bước vào vòng luẩn quẩn của sự bất an và hiểm nguy, tai họa. Cho nên phải nhớ, phải nhớ và luôn nhớ sống trong sự nhàm chán và xa lìa.
Đức Thế Tôn đã dạy: Ai sống nhiều yếm ly (chán lìa, nhàm chán và xa lìa) đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... ai sống nhiều yếm ly đối với thức, vị ấy liễu tri (thấu suốt tận cùng) sắc... liễu tri cảm thọ... liễu tri tưởng... liễu tri các hành... liễu tri thức. Ai chán lìa nhiều đối với năm uẩn thì sẽ thấu biết tần cùng đối với tất cả những suy nghĩ của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Liễu tri là biết rốt ráo, trọn vẹn, tận cùng. Khi một người biết tận cùng về ngũ uẩn, sống chán lìa trong ngũ uẩn thì người đó sẽ biết rốt ráo về ngũ uẩn, và rồi người đó sẽ thoát ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Do liễu tri sắc... thọ... tưởng... các hành... do liễu tri thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ. (Kinh Tương Ưng Bộ – tập III, chương I. Tương Ưng Uẩn, phẩm Không phải của các Ông, bài kinh Tùy Pháp 1)
Bài kinh Tùy pháp số 2:
Tiếp theo, chúng ta phải tập làm theo những lời Đức Phật chỉ dạy trong bài kinh “Tùy pháp 2”:
Đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô thường trong sắc... trong ngũ uẩn. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ. (Kinh Tương Ưng Bộ – tập III, chương I. Tương Ưng Uẩn, phẩm Không phải của các Ông, bài kinh Tùy Pháp 2)
Chúng ta thấy rằng, ở bài “Tùy pháp 1”, nói về sự nhàm chán, sống nhiều với sự chán lìa đối với ngũ uẩn. Ở bài “Tùy pháp 2” này, Phật dạy sống nhiều với sự quán về vô thường. Sống nhiều tức là thường nhớ, thường nghĩ, thường cảm thọ. Sống nhiều, thường nghĩ nhớ đến sự vô thường trong sắc; sư biến đổi trong cảm thọ; sự sinh diệt trong hình bóng của tưởng trong tâm; sự đổi thay, dịch chuyển trong các hành của suy nghĩ; sống nhiều quán nhìn thấy sự vô thường, sinh diệt trong nhận thức. Như vậy, bài 1 là sống nhiều với sự yếm ly – chán lìa, bài 2 là sống nhiều với sự quán về vô thường. Quán là nhớ nghĩ, nhớ biết, nhớ tưởng, nhớ tư niệm, nhớ tư sát, nhớ quán sát, thấy cái gì ở những cái vô thường đó.
Tuy thấy đó, được người khen, được người thích thú, khoan khoái nhưng với bản thân mình luôn nghĩ đó chỉ là sự vô thường. Luôn âm thầm trong trí quán của mình mà không được quên. Khi các sư thầy được Phật tử đưa đi ngắm tượng Phật đẹp, tuy cái duyên bên ngoài là vậy nhưng cái trí quán ở bên trong luôn vô thường, vô ngã – đó là sự thiện xạo khéo léo của bản thân. Tuy cái duyên bên ngoài nó là như vậy nhưng cái trí của mình ở bên trong. Vẫn nói chuyện, vẫn làm việc nhưng cái tuệ về vô thường, vô ngã và sự biến hoại sắc pháp ở bên trong không được lu mờ, không lãng quên. Như vậy mới được gọi là người hành pháp, tùy pháp. Khi nhìn vườn hoa do chính tay mình trồng, mình tưới hàng ngày, bây giờ vườn hoa nở rộ, nhìn rất đẹp mắt, liệu rằng lúc đó còn pháp hay không, tuệ quán của mình còn không? Khi chúng ta đi chợ tết, chợ xuân hoa trái nở rộ, chúng ta có thấy tính chất điêu tàn, tan rã?
Trong bài kinh thứ hai này, Đức Phật dạy: đối với vị thực hành pháp và tùy pháp, vị ấy sống tùy quán vô thường ở trong sắc. Tức là lúc nào cũng sống, nhìn, nghe, cảm nhận, thức tri theo chiều hướng của vô thường, cho nên vị đó thấu suốt được bản chất thật sự của sắc. Cái vô thường mà người đời thường cảm ơn nhờ nó mà đóa hoa nở đẹp, đó không đúng theo lời Đức Phật dạy, hiểu như vậy là sai, là không ổn. Đức Phật dạy vô thường là để bản thân chúng ta nhàm chán cái tham muốn, nhưng chúng ta lại đi lấy cái vô thường để phát huy cái tham đó, vướng mắc, đây là phần sâu sắc để người ta biết về vô thường. Đức Thế Tôn trong bài kinh Đức phật dạy thế nào là vị Pháp sư, thế nào là vị giảng pháp cho mọi người, Đức Phật dạy vị đó phải giảng nhàm chán về sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì vị đó chúng ta mới gọi là vị Pháp sư. Nếu nói để người ta ưa thích, tham đắm trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì vị đó không phải là Pháp sư của Đức Phật, không được Đức Phật ấn chứng. Phải là người nói về cái vô thường, khổ não, vô ngã để đưa đến sự nhàm chán đối với năm uẩn thì Đức Phật mới ấn chứng vị đó là Pháp sư, Giảng sư, là bậc thầy. Nếu nói mà để người nghe yêu thích, khoan khoái trong ngũ uẩn thì đó là điều bất ổn. Nếu nói để người nghe yêu thích, khoan khoái trong cái thiện pháp, thánh pháp thì điều tốt. Còn nếu nói để người ta mê cái cảnh đẹp này, cái sắc uẩn này thì đó là không đúng theo thánh đạo của Đức Phật.
Bài kinh Tùy pháp số 3:
Đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán khổ trong sắc... Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ. (Kinh Tương Ưng Bộ – tập III, chương I. Tương Ưng Uẩn, phẩm Không phải của các Ông, bài kinh Tùy Pháp 3)
Vị ấy sống luôn luôn thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, suy nghĩ, nhận thức cái gì cũng thấy cái khổ nằm trong đó. Đó là vị Tùy pháp, hành pháp mà Đức Phật ấn chứng. Mọi lúc, mọi nơi luôn thấy được cái khổ ở trong sắc, sống tùy quán khổ ở trong sắc. Dù cho sắc đó là sắc đẹp hay xấu, trong hay ngoài, gần hay xa, sắc vi tế hay sắc thô phụ, sắc cao cấp hay sắc hạ đẳng, quá khứ, hiện tại hay vị lai, tất cả các sắc đó - vị ấy luôn sống tùy quán khổ trong sắc.
Nói đơn giản hơn, tuy chúng ta rất ưa thích một bức tượng phật, nhưng do sơ suất lúc vận chuyển bị rơi rớt, gãy mất lỗ mũi, liệu rằng chúng ta có khổ, có sân si hay không? Đó chính là khổ trong sắc, tượng phật đó chính là sắc. Nếu chúng ta có tùy quán khổ ở trong sắc thì lỡ có bể, có gãy chúng ta sẽ nghĩ ngay rằng đây chính là sắc vô thường, chỉ cần sửa lại là ổn. Nhưng nếu không có tùy quán vô thường ở trong sắc, khổ ở trong sắc, không tùy quán cái nhàm chán, chán lìa ở trong sắc thì chúng ta sẽ đau khổ, tức giận, sân hận. Lời dạy của Đức Phật chúng ta phải luôn tác ý mỗi ngày, chúng ta phải ngồi lại để tác ý, tư duy, để nhắc nhở bản thân mỗi ngày đều không được quên, phải luôn nhớ những thứ này là những thứ đáng nhàm, đáng chán, đáng xa, đáng lìa, những thứ này là những thứ vô thường, biến hoại, bại hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, nhớ rằng những thứ này là những thứ khổ đau, khổ sầu, khổ não, không có gì đáng, không hề có một thú vui nào thật sự ở trong sắc.
Khi chúng ta có một căn nhà mới đúng theo ý của mình, chúng ta sẽ vui được bao lâu, khi dọn vào đó ở, chúng ta sẽ thích được bao nhiêu ngày? Thật chất, chúng ta chỉ vui thích được trong một khoảng thời gian ngắn khi chúng ta nghĩ tới nó, rồi sau đó thường xuyên phải quét, lau, dọn, phải làm cỏ, cắt cỏ để nhìn cho nó đẹp, để được khen, để được thích. Được ở trong ngôi nhà mình thích rồi phải ở đợ, làm nô lệ, tội đồ, phục vụ cho căn nhà đó. Con người ta ở đời cứ cố mua căn nhà thật to, sang trọng, để rồi mỗi ngày sáng tối lo đi cày để kiếm tiền trả góp, trả tiền nhà, thời gian lên đến vài ba chục năm, cũng có khi là cả đời. Chủ thì lo cày để trả nợ, còn những người làm công thì được hưởng, được ăn ngon nằm mát. Người đi ở đợ, làm mướn, làm công ăn lương tuy vẫn rất khổ cực nhưng chúng ta nói đến ở đây là nói đến vòng luẩn quẩn của cuộc đời, cho nên: Sống – tùy quán khổ ở trong sắc, tùy quán khổ trong thọ. Tùy quán là luôn luôn nhìn thấy cái khía cạnh khổ đau, luôn luôn nhìn thấy khía cạnh khổ trong những cảm giác, trong tài sản, vật chất, tiền của, hình hài này, luôn nhìn thấy bản chất khổ trong hình bóng nội tâm, trong những dòng suy nghĩ, trong nhận thức rõ biết của mình. Đó được gọi là tùy pháp, hành pháp.
Phải thấy được bản chất, tính chất, bản tính đó, không được quên, không quên dù trong cảm thọ vui sướng cũng phải nhìn thấy được cái bản chất khổ ở trong đó. Đang vui nhưng cũng nên nhớ cái vui này đang ẩn nấp gai nhọn, kiếm bén, dao mác ở bên trong. Như tấm hình tuy tay bắt mặt mừng nhưng tay phía sau lại cầm dao nhọn ở phía sau lưng – đó chính là pháp, là bản chất của ngũ uẩn. Phải sống tùy quán khổ trong ngũ uẩn, sống tùy quán vô thường trong ngũ uẩn, sống tùy quán sự yểm ly, chán lìa trong ngũ uẩn. Phải nhớ, nhớ, nhớ và đừng quên, phải luôn tác ý, luôn nhắc nhở bản thân.
Bài kinh Tùy pháp số 4:
Nhân duyên ở Sàvatthi... Đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong sắc... trong thọ... trong tưởng... trong các hành. Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong thức... Ai sống tùy quán vô ngã trong sắc, trong thọ, trong tưởng, trong các hành, trong thức; vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức. Do vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức; vị ấy giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ. (Kinh Tương Ưng Bộ – tập III, chương I. Tương Ưng Uẩn, phẩm Không phải của các Ông, bài kinh Tùy Pháp 4)
Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong ngũ uẩn cho nên thấu biết một cách trọn vẹn về sắc, thọ, tưởng, hành, thức; luôn luôn nhìn vào bản chất trống rỗng ở trong hình hài, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức. Luôn luôn nhìn vào tính chất trống rỗng, trống không, trống trơn, tính chất không có lõi ở bên trong hình hài, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này. Vì vậy vị ấy luôn thấu suốt nó một cách trọn vẹn, gọi là vị ấy liễu tri sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Do luôn luôn nhìn thấy tính chất trống rỗng, trống trơn, trống không, rỗng không của đồ đạc, cảnh vật, thân xác và luôn luôn nhìn thấy tính chất, bản chất trống rỗng, trống không của cảm xúc, cảm giác, cảm thọ. Thường xuyên chăm chú, quán sát, như lý giác sát, chăm chăm, theo dõi, để ý, nhìn sâu vào các dòng tư tưởng để thấy bản tính của nó là trống rỗng, trống không, trống trơn. Các nhận thức để nhìn thấy sự trống rỗng, trống không, trống trơn và do nhìn được như vậy nên thấu suốt được sự thật tột cùng, trọn vẹn tất cả góc độ, khía cạnh của thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức này.
Vì biết rốt ráo về năm uẩn này nên người này thoát ra khỏi ngũ uẩn, thoát khỏi sự sinh ra, có mặt trong năm uẩn, thoát khỏi sự già nua ở trong năm uẩn, thoát khỏi sự chết chóc, tử vong trong nước mắt, trong buồn đau ở trong năm uẩn, thoát khỏi những khổ sầu, lo lắng, bất an ở trong năm uẩn. Chúng ta nói người đó thoát khỏi tất cả khổ đau.
Giải thoát tất cả khổ đau
Sâu xa làm sao, tuyệt diệu làm sao, chân thật làm sao, tối thượng làm sao! Vô thượng pháp luân được trình bày, được hiển lộ, hiển thị, tuyên thuyết, minh thị, chỉ rõ cho chúng ta cách để thoát khỏi đời sống đầy hoạn nạn, đau khổ, bất an, tệ nạn, đầy rẫy những sự khốn nạn, khổ đau, sợ hãi trong thế giới vô minh, khát ái đầy tham sân si và bản ngã này. Thật sự là không có lối thoát nếu chúng ta không được nghe những lời dạy này, chúng ta sẽ bế tắc, sẽ đi đến chỗ cùng quẩn, bức bách. Thế Tôn đã nói rằng thế giới này bị rối rắm, rối ren giống như một tổ kén, lẩn quẩn trong đó không biết đường ra. Những lời dạy này đều là những lời để chúng ta thiền quán, đều là những câu định lý, khẩu quyết, bí kíp, mật mã, là tối thượng Thánh tuệ, Thánh trí, Thánh pháp. Những câu trong Tương Ưng Bộ (Tương ưng sáu xứ, Tương ưng uẩn) nói chung và những những câu, từ trong bốn bài kinh “Tùy pháp” nói riêng là mật khẩu, mật mã, khẩu quyết, định lý, những đề mục mà chúng ta tu suốt cả cuộc đời. Chúng ta cần thiền quán, chiêm nghiễm, nghiền ngẫm, gặm nhấm, suy tư, trăn trở, thao thức, ray rức, ôm ấp, nhìn ngó, soi xét theo những lời dạy đó.
Như vậy, trong bài “Tùy pháp 1”, Đức Phật tuyên bố rằng, đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp thì đối với sắc, vị ấy sống nhiều yếm ly – chán lìa; đối với thọ, vị ấy sống nhiều yếm ly – chán lìa; đối với tưởng, vị ấy sống nhiều chán lìa; đối với các dòng suy nghĩ, vị ấy sống nhiều với sự chán lìa, chán ngán, xa lìa, không còn yêu thích, không nắm giữ, không còn cho rằng những suy nghĩ này là tôi, là của tôi; đối với thức, đối với sự rõ biết, nhận thức vị ấy sống nhiều với sự chán lìa. Ai sống nhiều với sự chán lìa đối với sắc, ai sống nhiều với sự chán ngán, rời xa đối với thân xác này; ai sống nhiều với sự chán ngán, lìa xa với cảm giác này; ai sống nhiều với sự chán ngán, lìa xa với hình bóng trong tâm này; ai sống nhiều với sự chán lìa đối với dòng suy nghĩ, nhận thức này thì người đó sẽ thấu suốt trọn vẹn, tột cùng tất cả các phương diện, khía cạnh của thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng, ngũ uẩn này. Người nào sống chán lìa với năm uẩn, người đó sẽ thấu suốt năm uẩn. Người nào thấu suốt năm uẩn, người đó sẽ thoát ra khỏi năm uẩn. Người nào thoát ra khỏi năm uẩn, người đó sẽ giải thoát tất cả khổ đau.
Bài kinh “Tùy pháp 2”, Phật dạy phải sống tùy quán vô thường ở trong sắc, phải sống tùy quán khổ ở trong sắc, phải sống và luôn luôn nhìn thấy bản chất đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, bất thình lình đổi thay. Phải thấy được tính chất bất thình lình, đột ngột biến đổi ở trong sắc; bất thình lình, đột ngột biến đổi ở trong cảm giác; bất thình lình, đột ngột biến đổi trong hình bóng nội tâm, trong nghĩ tưởng suy tư; bất thình lình, đột ngột biến đổi ở trong nhận thức. Phải sống và nhìn thấy được khía cạnh, tính chất, bản chất, bản tính đó. Người nào thấy, sống, nhớ, quán được như vậy thì người đó sẽ thấu suốt trọn vẹn thân tâm của mình. Người nào thấu suốt trọn vẹn thân tâm của mình thì người đó sẽ thoát khỏi thân tâm, thoát khỏi sự ràng buộc trong thân tâm. Người nào thoát khỏi sự ràng buộc trong thân tâm thì người đó thoát khỏi tất cả khổ đau.
Bài kinh “Tùy quán 3”, Phật dạy hãy sống tùy quán khổ ở trong sắc, hãy sống và luôn luôn về nhớ sự khổ đau trong thân xác này, luôn nhớ và đừng quên về sự khổ đau trong cái thấy nghe, sự ngửi nếm này, luôn nhớ về sự khổ đau trong nhận thức, rõ biết này. Ai sống được như vậy người đó sẽ thấu suốt trọn vẹn thân tâm, thấu suốt trọn vẹn thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng, cảm xúc, thấu suốt trọn vẹn ngũ uẩn này. Người đó sẽ thoát ra khỏi tất cả khổ đau trong ngũ uẩn. Hãy sống tùy quán khổ trong các cảm thọ, hãy sống luôn luôn quán khổ trong nghĩ tưởng, những suy nghĩ, hình bóng trong tâm, hãy luôn thấy tính chất khổ trong đó. Thấy tính chất khổ trong sự thấy nghe, ngửi nếm, xúc biết, nhận thức này, phải thấy được tính chất khổ trong đó. Đó được gọi là tùy quán khổ trong ngũ uẩn. Nhớ, nhớ mãi không quên ngũ uẩn này là khổ, là vô thường, là đáng nhàm, đáng chán, đáng từ, đáng bỏ, ngũ uẩn này luôn trống rỗng, lắp ráp, kết hợp, trống không, vô ngã. Luôn nhớ lúc đi đứng, ngồi nằm, lúc nào và ở đâu, dù vui hay buồn, dù được hay mất, dù khổ hay sướng, dù khỏe hay yếu, dù bình thường hay biến động, cũng đừng bao giờ quên và không bao giờ quên phải sống chán nãn, lìa xa, sống với tính chất vô thường đối với ngũ uẩn, sống quán tính chất khổ đau, trống không, trống rỗng, vô ngã đối với ngũ uẩn.
Người nào sống được như vậy người đó sẽ thấu suốt trọn vẹn thân tâm, sẽ biết tột cùng về tất cả các khía cạnh của đời sống, sẽ nhìn thấu hồng trần, nhìn ra được bản chất cuộc đời là trống rỗng, trống không, là cảnh mộng dễ dàng tan biến vào hư không. Người nào đã nhìn thấy được như vậy thì người ấy sẽ thoát ra khỏi bào thai, thoát ra khỏi bệnh tật, già nua và chết chóc, thoát ra khỏi những tham muốn nóng giận, hơn thua, đấu đá, giành giật của cuộc đời này. Ai nhìn thấy được như vậy sẽ không còn bước đi những bước theo đương thời, không còn cùng chung với phàm phu, không còn giành giật, tranh giành, tranh đấu, hơn thua, thắng bại, không còn so sánh, tính toán bằng, thua và hơn với ai, không còn sầu bi khổ não, không còn chung đường với thế giới này nữa, sẽ thoát ra khỏi cuộc đời, thế giới, trái đất, tam giới này. Sẽ giải thoát tất cả khổ đau.
Chúng ta phải dũng mạnh, mạnh mẽ, nổ lực, mãnh lực, đại hùng, đại lực lên, bước nhanh, mạnh và mau lên để thoát ra khỏi đống lửa, biển lửa, ra khỏi địa cầu, hành tinh, trái đất lửa này thì ngọn lửa dục vọng, sân hận, bản ngã này sẽ thoát ra. Cần thoát ra, thoát ra mau khỏi thân già bệnh chết, thoát ra khỏi hơn thua thắng bại, giành giật tranh đua, sầu bi u não, thoát ra khỏi nước mắt máu họng, thoát ra khỏi những sợi dây ái luyến, những hệ lụy tranh đấu, thoát ra khỏi yêu hận oán thù, tật đố ganh tỵ, được mất thấp hèn, ích kỷ mưu toan, thoát ra khỏi tâm nhỏ mọn, hẹp hòi, dòng luẩn quẩn tham sân. Hãy cố gắng thoát ra, thoát ra và thoát ra bằng tinh thần đại hùng, đại lực, đại dũng mạnh.
./.
GIẢNG GIẢI HÀNH PHÁP – TÙY PHÁP
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Giải mã hành pháp – tùy pháp PAGEREF _Toc102127480 \h 1
1.Bài kinh Tùy pháp số 1: PAGEREF _Toc102127481 \h 2
2.Bài kinh Tùy pháp số 2: PAGEREF _Toc102127482 \h 4
3.Bài kinh Tùy pháp số 3: PAGEREF _Toc102127483 \h 6
4.Bài kinh Tùy pháp số 4: PAGEREF _Toc102127484 \h 7
II.Giải thoát tất cả khổ đau PAGEREF _Toc102127485 \h 8
TOC \o "1-3" \h \z \u
Giải mã hành pháp – tùy pháp
Chúng ta phải mất bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, thời gian, công sức, tâm tư để có được căn nhà, ngôi chùa khang trang, hoành tráng, đẹp đẽ? Có khi mất nửa cuộc đời, cũng có khi là mất cả cuộc đời chỉ để có được một chút cảm giác, cảm thọ vui sướng, thích thú đó nhưng nó chỉ kéo dài trong những ngày đầu rồi sau đó tan biến. Cũng như khi được ăn những món hợp khẩu vị, những muỗng thức ăn đầu tiên rất ngon nhưng khi đến những muỗng cuối, nếu ăn quá nhiều thì những phần sau thật khó để ăn hết, khi đó lạc thọ ban đầu lại trở thành khổ thọ. Trong khi ăn uống, nhìn ngó, nghe ngóng và cả những khi cảm nhận, chúng ta phải tập nhìn thấy được tính chất biến đổi, tan hoại, tính chất thoáng qua, lướt qua, phớt qua của mọi vật, mong manh như hoa phù dung sáng nở tối tàn
Trong Tương Ưng Sáu Xứ, ba bài kinh “Tùy pháp”, Đức Phật nói một người bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, trong mỗ khi nghe, khi thấy, khi cảm nhận, khi suy tư về cái gì cũng luôn nhớ về tính chất vô thường của ngũ uẩn; tính chất khổ não của năm uẩn; người này luôn thấy được sự vô ngã, trống không, biến hoại của năm uẩn thì Đức Thế Tôn gọi vị đó là vị tùy pháp, hành pháp. Dầu cho đứng nhìn vườn hoa nở rộ, thấy rất đẹp, nhưng vẫn nhìn ra được tính chất tàn lụi, tính héo úa của nó, không vì đóa hoa tươi thắm, màu sắc lòe loẹt đó mà quên đi cái thấy biết về vô thường, về sinh diệt của sắc pháp.
Như vậy, ở mọi lúc, mọi nơi, chúng ta đều không được quên sự vô thường, tan hoại của các pháp, mà phải luôn luôn nhớ đến điều đó, đây là việc rất quan trọng trong đời tu, trong công phu của mỗi người. Nhớ mãi không quên tính chất biến hoại của sắc pháp; sự vô thường của các thọ, cảm thọ; tính chất trống rỗng, trống không, trống trơn, không có cốt lõi chắc chắn của tưởng, hành, thức. Thấy cái gì cũng nhớ tính bại hoại, rạn nứt, đổ vỡ, sinh diệt; nghe gì cũng thấy được tính chất khổ; cảm nhận gì cũng thấy được tính chất trống rỗng, vô ngã ở trong đó. Đức Thế Tôn gọi đó là các vị Tỳ-kheo hành pháp, tùy pháp.
Tính chất vô thường, biến đổi này giải mã được Thánh trí tuệ của Đức Phật. Làm sao để khi chúng ta nhìn thấy cái cây xanh tươi mà chúng ta không khởi tâm tham, khi chúng ta nhìn thấy món đồ đẹp mà chúng ta không ham muốn? Tại sao các bậc Thánh nhìn thấy sắc, thanh, hương, vị xúc pháp mà các ngài không dao động tâm? Bởi các ngài luôn luôn nhớ tính chất tan hoại, biến đổi, rã nát, diệt tận, đổ vỡ của nó.
Đức Thế Tôn sẽ nói cho chúng ta biết thế nào là một người tùy pháp, thế nào là một người hành pháp. Những người này ở mọi nơi, trong mọi lúc, mọi thời, mọi chốn, mọi hoàn cảnh đều không quên tính chất biến đổi và tan hoại của sắc, thọ, tưởng, hành thức, không quên tính chất khổ não, trống không, vô ngã.
Bài kinh Tùy pháp số 1:
Đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Đối với sắc, vị ấy sống nhiều yếm ly. Tức là nhiều sự chán nãn và xa lìa. Đối với vị thực hành pháp và tùy pháp, tùy ở đây là tùy thuận, là thuận theo pháp, sống với pháp, thực hành pháp, thuận theo pháp, không trái nghịch với pháp là tùy pháp, tùy thuận. Một người thuận theo pháp, thực hành pháp, sống với pháp sẽ sống nhiều với sự nhàm chán, lìa xa đối với sắc, không ưa thích hình sắc, hình tướng. Những hình sắc, hình tướng đẹp đẽ người này sẽ muốn lìa xa, không say mê trong sắc tướng, không ưa thích, không tham đắm mà sống nhiều với sự nhàm chán và muốn rời xa nó… Đối với thọ, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với tưởng, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với các hành, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với thức, vị ấy sống nhiều yếm ly.
Tại sao người đó lại sống nhiều với sự chán nãn, xa lìa? Do người đó nhìn thấy tính chất già, bệnh, chết, sầu bi, phiền não, tính chất của sự sinh ra là rất mệt mỏi, thấy sự có mặt trên đời này là chán chường, bất an, ưu tư, lo lắng, bấp bênh, vô định, đầy bất trắc, bất ổn, bất thường, bất định. Vậy nên trong tâm người tu luôn hướng đến sự nhàm chán, ly tham, muốn rời xa. Hiện nay, các mối quan hệ khăng khít như cha con, mẹ con, thấy trò, anh em... đột nhiên trở mặt. Nhiều người đang là vợ chồng với nhau tự nhiên trở thành kẻ thù; cha con, mẹ con cũng có thể vì tiền bạc mà thành người dưng, tách hộ khẩu không nói câu nào, đưa nhau ra tòa kiện tụng, có khi dẫn đến đầu độc, giết hại nhau. Thầy trò với nhau nhưng khi lỡ nói gì không vừa lòng sẽ quay mặt, trở lưng, không còn tình thầy trò. Anh chị em ruột lỡ đụng chạm đến quyền lợi nhau như vụ con đường đi chung có thể xẩy ra án mạng, huynh đệ tương tàn chỉ vì một hai hay bốn năm tấc đất. Giết người, án mạng, chung thân, tử hình chỉ vì vài ba tờ giấy xanh đỏ, có thể giết hại, hủy diệt nhau.
Con cái học luật, dùng kiến thức do cha mẹ nuôi nấng, bảo bọc cho đi học rồi về đem kiến thức giết cha mẹ, tạo hiện trường giả... Đây là sự việc có thật về một cô gái học đại học Luật ở năm thứ 2, do người cha mắng chưởi, la rầy, cô gái ra tay giết cha và tạo hiện trường giả xây gạch, phóng hỏa. Vậy, còn chuyện gì người ta không thể làm? Thế nên, khi nhìn sâu vào bản chất đời sống này, chúng ta sinh ra sự nhàm chán tột độ, mạnh mẽ.
Đó là tính chất khổ đau, tính chất mù lòa, tính chất bất an, bất ổn, bất trắc, bất thường của đời sống ngũ uẩn này, của xác thân tứ đại đồ gốm này, bản chất của nhân sinh này. Phải nhìn, phải tác ý, quán chiếu, chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, không được quên, nếu quên là sẽ sụp bẫy, cái bẫy vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã của đời sống này, đừng ngây thơ và dại khờ, trẻ nít và ấu trĩ mà cho rằng thế gian này thật sự phải có cái gì đó chắc chắn ở trong tiền của hay trong sắc đẹp, sức khỏe hay tình cảm. Thật sự rất mong manh, dễ tan vỡ, dễ bể nát, dễ tàn hoại, dễ diệt vong.
Minh Thành đã chán ngán cuộc sống này nhưng vì sự tu tập, sự chia sẻ pháp mà mạng sống còn. Minh Thành thật sự ngao ngán, nhàm chán đối với đời sống vô tình, vô nghĩa này, bất cứ lúc nào cũng có thể là trở mặt, phản phúc, dối trá, lọc lừa, là khủng khiếp, sung mãn, là đầy rẫy, đầy mắt tai của mình trong cuộc đời này. Nhìn thấy chỗ nào cũng là mưu tính, là tham lam. Chúng ta phải học pháp này để thấy được những cái trước đây chưa từng thấy, biết được những cái trước đây chưa bao giờ biết, hiểu được những cái trước đây chưa từng hiểu, rõ được những điều trước đây chưa bao giờ rõ. Thấy, biết, hiểu ra rồi thì cảm thấy nhàm chán, ê chề, não nề và hướng đến sự rời xa, thoát ra và từ bỏ.
Song song với sự nhàm chán đó là sự hoan hỉ, hạnh phúc. Vừa chán ngán nhưng lại vừa hoan hỉ. Hoan hỉ, hạnh phúc vì chúng ta không ngờ rằng trong cuộc đời này chúng ta được nghe, được thực hành pháp thâm sâu, vi diệu với trí tuệ tối thượng của Đức Phật. Chúng ta không thể ngờ rằng Chánh Pháp lại thâm sâu đến như vậy, không ngờ rằng chúng ta lại có thể thấy được như vậy.
Vậy nên, chúng ta phải siêng năng và phải luôn ghi nhớ, không được quên sự vô thường, tan hoại của ngũ uẩn này. Khi chúng ta quên là lúc đó mình đã thất bại, mình sẽ chạy theo vị ngọt, chạy theo sự lòe loẹt, màu sắc, ảo ảnh, chạy theo những đóa hoa phù dung, chạy theo sự phù du, bọt bèo, mây khói trong cuộc đời này, sẽ sập bẩy, sẽ phiền não, phiền phức, phiền đau, phiền buồn, phiền khổ, phiền hận, phiền giận, sẽ bước vào vòng luẩn quẩn của sự bất an và hiểm nguy, tai họa. Cho nên phải nhớ, phải nhớ và luôn nhớ sống trong sự nhàm chán và xa lìa.
Đức Thế Tôn đã dạy: Ai sống nhiều yếm ly (chán lìa, nhàm chán và xa lìa) đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... ai sống nhiều yếm ly đối với thức, vị ấy liễu tri (thấu suốt tận cùng) sắc... liễu tri cảm thọ... liễu tri tưởng... liễu tri các hành... liễu tri thức. Ai chán lìa nhiều đối với năm uẩn thì sẽ thấu biết tần cùng đối với tất cả những suy nghĩ của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Liễu tri là biết rốt ráo, trọn vẹn, tận cùng. Khi một người biết tận cùng về ngũ uẩn, sống chán lìa trong ngũ uẩn thì người đó sẽ biết rốt ráo về ngũ uẩn, và rồi người đó sẽ thoát ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Do liễu tri sắc... thọ... tưởng... các hành... do liễu tri thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ. (Kinh Tương Ưng Bộ – tập III, chương I. Tương Ưng Uẩn, phẩm Không phải của các Ông, bài kinh Tùy Pháp 1)
Bài kinh Tùy pháp số 2:
Tiếp theo, chúng ta phải tập làm theo những lời Đức Phật chỉ dạy trong bài kinh “Tùy pháp 2”:
Đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô thường trong sắc... trong ngũ uẩn. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ. (Kinh Tương Ưng Bộ – tập III, chương I. Tương Ưng Uẩn, phẩm Không phải của các Ông, bài kinh Tùy Pháp 2)
Chúng ta thấy rằng, ở bài “Tùy pháp 1”, nói về sự nhàm chán, sống nhiều với sự chán lìa đối với ngũ uẩn. Ở bài “Tùy pháp 2” này, Phật dạy sống nhiều với sự quán về vô thường. Sống nhiều tức là thường nhớ, thường nghĩ, thường cảm thọ. Sống nhiều, thường nghĩ nhớ đến sự vô thường trong sắc; sư biến đổi trong cảm thọ; sự sinh diệt trong hình bóng của tưởng trong tâm; sự đổi thay, dịch chuyển trong các hành của suy nghĩ; sống nhiều quán nhìn thấy sự vô thường, sinh diệt trong nhận thức. Như vậy, bài 1 là sống nhiều với sự yếm ly – chán lìa, bài 2 là sống nhiều với sự quán về vô thường. Quán là nhớ nghĩ, nhớ biết, nhớ tưởng, nhớ tư niệm, nhớ tư sát, nhớ quán sát, thấy cái gì ở những cái vô thường đó.
Tuy thấy đó, được người khen, được người thích thú, khoan khoái nhưng với bản thân mình luôn nghĩ đó chỉ là sự vô thường. Luôn âm thầm trong trí quán của mình mà không được quên. Khi các sư thầy được Phật tử đưa đi ngắm tượng Phật đẹp, tuy cái duyên bên ngoài là vậy nhưng cái trí quán ở bên trong luôn vô thường, vô ngã – đó là sự thiện xạo khéo léo của bản thân. Tuy cái duyên bên ngoài nó là như vậy nhưng cái trí của mình ở bên trong. Vẫn nói chuyện, vẫn làm việc nhưng cái tuệ về vô thường, vô ngã và sự biến hoại sắc pháp ở bên trong không được lu mờ, không lãng quên. Như vậy mới được gọi là người hành pháp, tùy pháp. Khi nhìn vườn hoa do chính tay mình trồng, mình tưới hàng ngày, bây giờ vườn hoa nở rộ, nhìn rất đẹp mắt, liệu rằng lúc đó còn pháp hay không, tuệ quán của mình còn không? Khi chúng ta đi chợ tết, chợ xuân hoa trái nở rộ, chúng ta có thấy tính chất điêu tàn, tan rã?
Trong bài kinh thứ hai này, Đức Phật dạy: đối với vị thực hành pháp và tùy pháp, vị ấy sống tùy quán vô thường ở trong sắc. Tức là lúc nào cũng sống, nhìn, nghe, cảm nhận, thức tri theo chiều hướng của vô thường, cho nên vị đó thấu suốt được bản chất thật sự của sắc. Cái vô thường mà người đời thường cảm ơn nhờ nó mà đóa hoa nở đẹp, đó không đúng theo lời Đức Phật dạy, hiểu như vậy là sai, là không ổn. Đức Phật dạy vô thường là để bản thân chúng ta nhàm chán cái tham muốn, nhưng chúng ta lại đi lấy cái vô thường để phát huy cái tham đó, vướng mắc, đây là phần sâu sắc để người ta biết về vô thường. Đức Thế Tôn trong bài kinh Đức phật dạy thế nào là vị Pháp sư, thế nào là vị giảng pháp cho mọi người, Đức Phật dạy vị đó phải giảng nhàm chán về sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì vị đó chúng ta mới gọi là vị Pháp sư. Nếu nói để người ta ưa thích, tham đắm trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì vị đó không phải là Pháp sư của Đức Phật, không được Đức Phật ấn chứng. Phải là người nói về cái vô thường, khổ não, vô ngã để đưa đến sự nhàm chán đối với năm uẩn thì Đức Phật mới ấn chứng vị đó là Pháp sư, Giảng sư, là bậc thầy. Nếu nói mà để người nghe yêu thích, khoan khoái trong ngũ uẩn thì đó là điều bất ổn. Nếu nói để người nghe yêu thích, khoan khoái trong cái thiện pháp, thánh pháp thì điều tốt. Còn nếu nói để người ta mê cái cảnh đẹp này, cái sắc uẩn này thì đó là không đúng theo thánh đạo của Đức Phật.
Bài kinh Tùy pháp số 3:
Đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán khổ trong sắc... Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ. (Kinh Tương Ưng Bộ – tập III, chương I. Tương Ưng Uẩn, phẩm Không phải của các Ông, bài kinh Tùy Pháp 3)
Vị ấy sống luôn luôn thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, suy nghĩ, nhận thức cái gì cũng thấy cái khổ nằm trong đó. Đó là vị Tùy pháp, hành pháp mà Đức Phật ấn chứng. Mọi lúc, mọi nơi luôn thấy được cái khổ ở trong sắc, sống tùy quán khổ ở trong sắc. Dù cho sắc đó là sắc đẹp hay xấu, trong hay ngoài, gần hay xa, sắc vi tế hay sắc thô phụ, sắc cao cấp hay sắc hạ đẳng, quá khứ, hiện tại hay vị lai, tất cả các sắc đó - vị ấy luôn sống tùy quán khổ trong sắc.
Nói đơn giản hơn, tuy chúng ta rất ưa thích một bức tượng phật, nhưng do sơ suất lúc vận chuyển bị rơi rớt, gãy mất lỗ mũi, liệu rằng chúng ta có khổ, có sân si hay không? Đó chính là khổ trong sắc, tượng phật đó chính là sắc. Nếu chúng ta có tùy quán khổ ở trong sắc thì lỡ có bể, có gãy chúng ta sẽ nghĩ ngay rằng đây chính là sắc vô thường, chỉ cần sửa lại là ổn. Nhưng nếu không có tùy quán vô thường ở trong sắc, khổ ở trong sắc, không tùy quán cái nhàm chán, chán lìa ở trong sắc thì chúng ta sẽ đau khổ, tức giận, sân hận. Lời dạy của Đức Phật chúng ta phải luôn tác ý mỗi ngày, chúng ta phải ngồi lại để tác ý, tư duy, để nhắc nhở bản thân mỗi ngày đều không được quên, phải luôn nhớ những thứ này là những thứ đáng nhàm, đáng chán, đáng xa, đáng lìa, những thứ này là những thứ vô thường, biến hoại, bại hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, nhớ rằng những thứ này là những thứ khổ đau, khổ sầu, khổ não, không có gì đáng, không hề có một thú vui nào thật sự ở trong sắc.
Khi chúng ta có một căn nhà mới đúng theo ý của mình, chúng ta sẽ vui được bao lâu, khi dọn vào đó ở, chúng ta sẽ thích được bao nhiêu ngày? Thật chất, chúng ta chỉ vui thích được trong một khoảng thời gian ngắn khi chúng ta nghĩ tới nó, rồi sau đó thường xuyên phải quét, lau, dọn, phải làm cỏ, cắt cỏ để nhìn cho nó đẹp, để được khen, để được thích. Được ở trong ngôi nhà mình thích rồi phải ở đợ, làm nô lệ, tội đồ, phục vụ cho căn nhà đó. Con người ta ở đời cứ cố mua căn nhà thật to, sang trọng, để rồi mỗi ngày sáng tối lo đi cày để kiếm tiền trả góp, trả tiền nhà, thời gian lên đến vài ba chục năm, cũng có khi là cả đời. Chủ thì lo cày để trả nợ, còn những người làm công thì được hưởng, được ăn ngon nằm mát. Người đi ở đợ, làm mướn, làm công ăn lương tuy vẫn rất khổ cực nhưng chúng ta nói đến ở đây là nói đến vòng luẩn quẩn của cuộc đời, cho nên: Sống – tùy quán khổ ở trong sắc, tùy quán khổ trong thọ. Tùy quán là luôn luôn nhìn thấy cái khía cạnh khổ đau, luôn luôn nhìn thấy khía cạnh khổ trong những cảm giác, trong tài sản, vật chất, tiền của, hình hài này, luôn nhìn thấy bản chất khổ trong hình bóng nội tâm, trong những dòng suy nghĩ, trong nhận thức rõ biết của mình. Đó được gọi là tùy pháp, hành pháp.
Phải thấy được bản chất, tính chất, bản tính đó, không được quên, không quên dù trong cảm thọ vui sướng cũng phải nhìn thấy được cái bản chất khổ ở trong đó. Đang vui nhưng cũng nên nhớ cái vui này đang ẩn nấp gai nhọn, kiếm bén, dao mác ở bên trong. Như tấm hình tuy tay bắt mặt mừng nhưng tay phía sau lại cầm dao nhọn ở phía sau lưng – đó chính là pháp, là bản chất của ngũ uẩn. Phải sống tùy quán khổ trong ngũ uẩn, sống tùy quán vô thường trong ngũ uẩn, sống tùy quán sự yểm ly, chán lìa trong ngũ uẩn. Phải nhớ, nhớ, nhớ và đừng quên, phải luôn tác ý, luôn nhắc nhở bản thân.
Bài kinh Tùy pháp số 4:
Nhân duyên ở Sàvatthi... Đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong sắc... trong thọ... trong tưởng... trong các hành. Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong thức... Ai sống tùy quán vô ngã trong sắc, trong thọ, trong tưởng, trong các hành, trong thức; vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức. Do vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức; vị ấy giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ. (Kinh Tương Ưng Bộ – tập III, chương I. Tương Ưng Uẩn, phẩm Không phải của các Ông, bài kinh Tùy Pháp 4)
Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong ngũ uẩn cho nên thấu biết một cách trọn vẹn về sắc, thọ, tưởng, hành, thức; luôn luôn nhìn vào bản chất trống rỗng ở trong hình hài, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức. Luôn luôn nhìn vào tính chất trống rỗng, trống không, trống trơn, tính chất không có lõi ở bên trong hình hài, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này. Vì vậy vị ấy luôn thấu suốt nó một cách trọn vẹn, gọi là vị ấy liễu tri sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Do luôn luôn nhìn thấy tính chất trống rỗng, trống trơn, trống không, rỗng không của đồ đạc, cảnh vật, thân xác và luôn luôn nhìn thấy tính chất, bản chất trống rỗng, trống không của cảm xúc, cảm giác, cảm thọ. Thường xuyên chăm chú, quán sát, như lý giác sát, chăm chăm, theo dõi, để ý, nhìn sâu vào các dòng tư tưởng để thấy bản tính của nó là trống rỗng, trống không, trống trơn. Các nhận thức để nhìn thấy sự trống rỗng, trống không, trống trơn và do nhìn được như vậy nên thấu suốt được sự thật tột cùng, trọn vẹn tất cả góc độ, khía cạnh của thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức này.
Vì biết rốt ráo về năm uẩn này nên người này thoát ra khỏi ngũ uẩn, thoát khỏi sự sinh ra, có mặt trong năm uẩn, thoát khỏi sự già nua ở trong năm uẩn, thoát khỏi sự chết chóc, tử vong trong nước mắt, trong buồn đau ở trong năm uẩn, thoát khỏi những khổ sầu, lo lắng, bất an ở trong năm uẩn. Chúng ta nói người đó thoát khỏi tất cả khổ đau.
Giải thoát tất cả khổ đau
Sâu xa làm sao, tuyệt diệu làm sao, chân thật làm sao, tối thượng làm sao! Vô thượng pháp luân được trình bày, được hiển lộ, hiển thị, tuyên thuyết, minh thị, chỉ rõ cho chúng ta cách để thoát khỏi đời sống đầy hoạn nạn, đau khổ, bất an, tệ nạn, đầy rẫy những sự khốn nạn, khổ đau, sợ hãi trong thế giới vô minh, khát ái đầy tham sân si và bản ngã này. Thật sự là không có lối thoát nếu chúng ta không được nghe những lời dạy này, chúng ta sẽ bế tắc, sẽ đi đến chỗ cùng quẩn, bức bách. Thế Tôn đã nói rằng thế giới này bị rối rắm, rối ren giống như một tổ kén, lẩn quẩn trong đó không biết đường ra. Những lời dạy này đều là những lời để chúng ta thiền quán, đều là những câu định lý, khẩu quyết, bí kíp, mật mã, là tối thượng Thánh tuệ, Thánh trí, Thánh pháp. Những câu trong Tương Ưng Bộ (Tương ưng sáu xứ, Tương ưng uẩn) nói chung và những những câu, từ trong bốn bài kinh “Tùy pháp” nói riêng là mật khẩu, mật mã, khẩu quyết, định lý, những đề mục mà chúng ta tu suốt cả cuộc đời. Chúng ta cần thiền quán, chiêm nghiễm, nghiền ngẫm, gặm nhấm, suy tư, trăn trở, thao thức, ray rức, ôm ấp, nhìn ngó, soi xét theo những lời dạy đó.
Như vậy, trong bài “Tùy pháp 1”, Đức Phật tuyên bố rằng, đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp thì đối với sắc, vị ấy sống nhiều yếm ly – chán lìa; đối với thọ, vị ấy sống nhiều yếm ly – chán lìa; đối với tưởng, vị ấy sống nhiều chán lìa; đối với các dòng suy nghĩ, vị ấy sống nhiều với sự chán lìa, chán ngán, xa lìa, không còn yêu thích, không nắm giữ, không còn cho rằng những suy nghĩ này là tôi, là của tôi; đối với thức, đối với sự rõ biết, nhận thức vị ấy sống nhiều với sự chán lìa. Ai sống nhiều với sự chán lìa đối với sắc, ai sống nhiều với sự chán ngán, rời xa đối với thân xác này; ai sống nhiều với sự chán ngán, lìa xa với cảm giác này; ai sống nhiều với sự chán ngán, lìa xa với hình bóng trong tâm này; ai sống nhiều với sự chán lìa đối với dòng suy nghĩ, nhận thức này thì người đó sẽ thấu suốt trọn vẹn, tột cùng tất cả các phương diện, khía cạnh của thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng, ngũ uẩn này. Người nào sống chán lìa với năm uẩn, người đó sẽ thấu suốt năm uẩn. Người nào thấu suốt năm uẩn, người đó sẽ thoát ra khỏi năm uẩn. Người nào thoát ra khỏi năm uẩn, người đó sẽ giải thoát tất cả khổ đau.
Bài kinh “Tùy pháp 2”, Phật dạy phải sống tùy quán vô thường ở trong sắc, phải sống tùy quán khổ ở trong sắc, phải sống và luôn luôn nhìn thấy bản chất đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, bất thình lình đổi thay. Phải thấy được tính chất bất thình lình, đột ngột biến đổi ở trong sắc; bất thình lình, đột ngột biến đổi ở trong cảm giác; bất thình lình, đột ngột biến đổi trong hình bóng nội tâm, trong nghĩ tưởng suy tư; bất thình lình, đột ngột biến đổi ở trong nhận thức. Phải sống và nhìn thấy được khía cạnh, tính chất, bản chất, bản tính đó. Người nào thấy, sống, nhớ, quán được như vậy thì người đó sẽ thấu suốt trọn vẹn thân tâm của mình. Người nào thấu suốt trọn vẹn thân tâm của mình thì người đó sẽ thoát khỏi thân tâm, thoát khỏi sự ràng buộc trong thân tâm. Người nào thoát khỏi sự ràng buộc trong thân tâm thì người đó thoát khỏi tất cả khổ đau.
Bài kinh “Tùy quán 3”, Phật dạy hãy sống tùy quán khổ ở trong sắc, hãy sống và luôn luôn về nhớ sự khổ đau trong thân xác này, luôn nhớ và đừng quên về sự khổ đau trong cái thấy nghe, sự ngửi nếm này, luôn nhớ về sự khổ đau trong nhận thức, rõ biết này. Ai sống được như vậy người đó sẽ thấu suốt trọn vẹn thân tâm, thấu suốt trọn vẹn thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng, cảm xúc, thấu suốt trọn vẹn ngũ uẩn này. Người đó sẽ thoát ra khỏi tất cả khổ đau trong ngũ uẩn. Hãy sống tùy quán khổ trong các cảm thọ, hãy sống luôn luôn quán khổ trong nghĩ tưởng, những suy nghĩ, hình bóng trong tâm, hãy luôn thấy tính chất khổ trong đó. Thấy tính chất khổ trong sự thấy nghe, ngửi nếm, xúc biết, nhận thức này, phải thấy được tính chất khổ trong đó. Đó được gọi là tùy quán khổ trong ngũ uẩn. Nhớ, nhớ mãi không quên ngũ uẩn này là khổ, là vô thường, là đáng nhàm, đáng chán, đáng từ, đáng bỏ, ngũ uẩn này luôn trống rỗng, lắp ráp, kết hợp, trống không, vô ngã. Luôn nhớ lúc đi đứng, ngồi nằm, lúc nào và ở đâu, dù vui hay buồn, dù được hay mất, dù khổ hay sướng, dù khỏe hay yếu, dù bình thường hay biến động, cũng đừng bao giờ quên và không bao giờ quên phải sống chán nãn, lìa xa, sống với tính chất vô thường đối với ngũ uẩn, sống quán tính chất khổ đau, trống không, trống rỗng, vô ngã đối với ngũ uẩn.
Người nào sống được như vậy người đó sẽ thấu suốt trọn vẹn thân tâm, sẽ biết tột cùng về tất cả các khía cạnh của đời sống, sẽ nhìn thấu hồng trần, nhìn ra được bản chất cuộc đời là trống rỗng, trống không, là cảnh mộng dễ dàng tan biến vào hư không. Người nào đã nhìn thấy được như vậy thì người ấy sẽ thoát ra khỏi bào thai, thoát ra khỏi bệnh tật, già nua và chết chóc, thoát ra khỏi những tham muốn nóng giận, hơn thua, đấu đá, giành giật của cuộc đời này. Ai nhìn thấy được như vậy sẽ không còn bước đi những bước theo đương thời, không còn cùng chung với phàm phu, không còn giành giật, tranh giành, tranh đấu, hơn thua, thắng bại, không còn so sánh, tính toán bằng, thua và hơn với ai, không còn sầu bi khổ não, không còn chung đường với thế giới này nữa, sẽ thoát ra khỏi cuộc đời, thế giới, trái đất, tam giới này. Sẽ giải thoát tất cả khổ đau.
Chúng ta phải dũng mạnh, mạnh mẽ, nổ lực, mãnh lực, đại hùng, đại lực lên, bước nhanh, mạnh và mau lên để thoát ra khỏi đống lửa, biển lửa, ra khỏi địa cầu, hành tinh, trái đất lửa này thì ngọn lửa dục vọng, sân hận, bản ngã này sẽ thoát ra. Cần thoát ra, thoát ra mau khỏi thân già bệnh chết, thoát ra khỏi hơn thua thắng bại, giành giật tranh đua, sầu bi u não, thoát ra khỏi nước mắt máu họng, thoát ra khỏi những sợi dây ái luyến, những hệ lụy tranh đấu, thoát ra khỏi yêu hận oán thù, tật đố ganh tỵ, được mất thấp hèn, ích kỷ mưu toan, thoát ra khỏi tâm nhỏ mọn, hẹp hòi, dòng luẩn quẩn tham sân. Hãy cố gắng thoát ra, thoát ra và thoát ra bằng tinh thần đại hùng, đại lực, đại dũng mạnh.
./.