Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TÂM SỰ VỚI NGƯỜI XUẤT GIA_TẦM QUAN TRỌNG CỦA QUÁN BẤT TỊNH

2026-03-03 00:52:54
TÂM SỰ VỚI NGƯỜI XUẤT GIA

TẦM QUAN TRỌNG CỦA QUÁN BẤT TỊNH

-Thích Minh Thành-

Kính thưa đại chúng, buổi học hôm trước, Minh Thành có chia sẻ với các huynh đệ phương pháp nhận diện năm uẩn, sau đó về nhà có thực tập không? Xin thưa các huynh đệ, lần nhập thất này Minh Thành đào được trúng kho báu. Lúc xưa Minh Thành nghĩ phải đi tìm vị thầy này, vị thầy kia để mà thu thập tất cả những kinh nghiệm, hoặc là đi các nước này, nước kia để tìm cái pháp hành. Nhưng không ngờ, nhờ quay trở lại tự thân, tự tâm của mình và y ký theo kinh tạng Pāli, mình sẽ thấy rõ con đường của Chánh pháp, không phải ở bên ngoài. Mình sẽ thấy một cách sáng tỏ, không còn nghi ngờ gì nữa hết, phương pháp tu tập không còn đi tìm ở đâu nữa hết. Cho nên, Minh Thành có trúng số độc đắc thì các huynh đệ cũng trúng an ủi, độc đắc.

Chưa có gì quý bằng sự thấy rõ pháp hành, lâu nay chúng ta tu học một cách chung chung, mơ hồ, không rõ ràng. Trong khi đó, Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác có một con đường tu tập cực viên mãn: sơ thiện, trung thiện và hậu thiện - tốt đẹp ban đầu, chặng giữa và rốt sau. Và Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, nói đơn giản là Tứ Niệm Xứ, Tứ Thánh Đế và Bát Chánh Đạo là con đường độc nhất đưa chúng sanh đến sự thanh tịnh, thành tựu Chánh trí và chứng ngộ Niết-bàn, không có con đường nào khác. Tâm phàm phu của mình là tâm hướng ngoại, cứ muốn cái lạ, cái mới. Chính vì chỗ đó nên lòng tin của mình đối với Phật pháp chưa thành tựu bất động tín, mình phải thành tựu được niềm tin bất động đối với Phật, Pháp, Tăng, đối với Giới thì đó là mình đã dự vào dòng pháp, đã tham dự vào Thánh trí gọi là Tu-đà-hoàn.

Tại sao cái pháp rất rõ ràng, nhưng mình học hoài mà lại không thấy đường tu? Tại vì niềm tin của mình đối với Phật pháp chưa trọn vẹn. Tại sao tất cả chúng ta ngồi đây, cạo tóc, đi vào chùa học đạo mà lại nói niềm tin chưa trọn vẹn? Các huynh đệ thấy, mình đi tìm Hòa thượng này, Hòa thượng kia dạy cho mình tu, mình đi tìm Tổ này, Tổ kia, Tổ Tàu, Tổ Tạng.., phải không? Tìm bao nhiêu Tổ nhưng pháp của Đức Phật mình để quên qua một bên. Đây là cái Minh Thành phát hiện ra, một điều cực kỳ quan trọng. Như vậy, các Hòa thượng, các Tổ, có phải là các vị đã thành tựu mười đức hiệu chưa? Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, các vị Hòa thượng đã thành tựu danh hiệu đó chưa, có vị Tổ nào thành tựu Chánh Đẳng Giác chưa? Vậy mà mình lại bỏ cái gốc, theo cái ngọn.

Cho nên trong kinh tạng gọi Đức Thế Tôn là Pháp chủ, Pháp nhãn và Pháp bổn. Thế Tôn là chủ của pháp, là con mắt của pháp, là cội gốc của tất cả các pháp. Tất cả pháp lấy Thế Tôn làm sự chỉ đạo, tất cả pháp lấy Thế Tôn làm chỗ y cứ, cho nên “Chúng con thỉnh Đức Thế Tôn giảng dạy, khi Đức Thế Tôn giảng dạy, chúng con sẽ lắng nghe, khéo suy xét và y theo đó mà thọ trì tu tập.” Đó là câu trong kinh tạng Pāli mà lúc nào các thầy Tỳ-kheo cũng đều nói như vậy. Và khi trở về, chúng ta sẽ thấy pháp Tứ Niệm Xứ, quán xét thân tâm mình, bao trùm hết tất cả giáo pháp. Tứ Niệm Xứ là một phần trong Bát Chánh Đạo, sắp tới đây chúng ta sẽ học những cách mới, mới của 2600 năm về trước. Cũ như giấc mộng nhưng mới như hiện bây giờ. Sắp tới chúng ta sẽ học, sẽ đi tìm, trở về nguồn cội của Đức Phật. Và khi chúng ta nắm vững nguyên tắc này rồi thì đạo quả Thánh đạo, Thánh quả này không còn xa, có thể trong tầm với của mình ngay trong kiếp này.

Minh Thành tâm sự với các huynh đệ khi vào thất, các huynh đệ có nghĩ rằng tại sao chúng ta không ở một mình được, các huynh đệ biết không? Trong kinh Pāli tạng, Đức Phật nói trong bài kinh Khu rừng, trong bài kinh Khiếp đảm và Sợ hãi, có nhiều bài kinh, Đức Phật nói có rất nhiều lý do, nhưng ở đây mình nói lý do chính là “người có lòng tham dục mạnh mẽ thì không thể độc cư thiền định được; người sợ hãi thì không độc cư thiền định được; người thích giao thiệp, giao du thì không độc cư thiền định được; người thích danh văn, lợi dưỡng cúng dường, cung kính thì không độc cư thiền định được”. Tại sao? Mình vô đó ngồi, nhớ ở ngoài có Phật tử đang chờ, bao nhiêu người đang chờ, bao nhiêu công việc, chùa, bổn đạo.., mình ngồi nhớ bao nhiêu đó thôi, nó quậy mình cũng bung hết rồi. Cho nên, người ưa thích giao thiệp, giao du, người ưa thích tham danh, lợi dưỡng cúng dường, cung kính thì không độc cư thiền định được. Người xuất gia không độc cư thiền định được thì đối với Thánh đạo, Thánh quả là cực kỳ khó mong thành tựu.

Quan trọng nhất của mình, nói từ chuyên môn là dục lậu, quan ải thứ nhất của người tu là phải phá được dục lậu. Sự tu tập của chúng ta đòi hỏi phải có thời gian yên tịnh để nhìn lại thân tâm của mình. Mình ở bên ngoài, tiếp xúc cảnh nhiều quá, động thì mình thấy bình thường, ví dụ ở đây, những nhà sát đường lộ, thì tiếng xe là bình thường, mình ngủ quen, xe chạy ầm ầm nhưng mình vẫn cứ ngủ, nhưng những người ở quê lên hoặc trên vùng cao nguyên xuống thì “xe chạy sáng đêm, ồn quá, tôi ngủ không được.” Vì mình đã quen với cái động, cũng vậy, mình đã quen với cái động nên mình không thấy là động. Cho nên, giây phút mình đối diện, trực diện với chính mình là cực kỳ quan trọng, khi đối diện với chính mình, mình mới thấy rõ được mình. Có một bài kinh, Đức Phật nói “giống như người đứng trước gương soi, thấy gương mặt dính bùn, dính dơ, dính bẩn, thì mới phát hiện ra được.” Phải soi gương mới phát hiện gương mặt mình dơ, khi phát hiện mình dơ mới chùi, tẩy, rửa.., làm đủ mọi cách cho sạch. Sự tu hành cũng như vậy, để mình đối diện, trực diện với mình là rất cần thiết. Tất cả chúng ta thường thường là trốn tránh, khỏa lấp, mình tìm cái này lấp cái kia, lấy cái nọ để che lại, mình làm để cho nó lãng quên, biết dùng từ làm cho lãng quên này không? Tức là có những phiền não, tham dục, sân hận, những sự nội kết trong tâm, “thôi kệ, đừng nghĩ, hãy bỏ nó qua một bên cho khỏe, nghĩ mệt lắm.” Đó là mình không dám đối diện với chính mình, còn khi vào trong thất là phải đối diện với tất cả. Có những vị vào thất, không dám đối diện với mình bằng cách tụng kinh, niệm Phật, trì chú liên tục, chứ không dám ngồi một mình để nhìn vào tâm. Tuy là vào thất nhưng vẫn là chưa thể đối diện với chính mình.

Nhập thất có nhiều mức độ, không phải nhập thất là đóng cửa, rồi vài bữa mở cửa ra đi về. Đầu tiên của nhập thất, điều quan trọng nhất là đối diện, đối trị với dục tham, dục ái. Và chính chỗ này mà chúng ta phát hiện ra một sự thiếu sót, không thể thiếu nhưng mình lại thiếu. Đó là lúc khi Đức Phật còn tại thế, trong phương pháp thân, hành, niệm của Tứ Niệm Xứ và nhất định phải có Quán bất tịnh, Quán ba mươi hai thể trược và Quán chín giai đoạn của một tử thi. Mình bỏ quên, không tu tập điều này nên tham dục mình không nhiếp phục được. Quý huynh đệ nhìn lại xem, có phải như vậy không? Đây là phương pháp của bậc Chánh Đẳng Giác, không có một con đường thứ hai để diệt trừ tham dục bằng cách quán bất tịnh, thấy được sự nhơ nhớp, bẩn thỉu, hôi tanh, gớm ghiếc, rùng rợn.. của cái thân này và không có gì bằng chín giai đoạn của một tử thi. Như vậy huynh đệ sẽ đón xem phim nhiều tập, gần một chục buổi Minh Thành có nói về chuyện nhập thất chia sẻ, trong đó có bài thứ hai là Bất tịnh quán.

Bây giờ Minh Thành hỏi, quý huynh đệ hãy nói thật, sự khó khăn nhất của người xuất gia là gì, có phải là tham dục không, phải không? Khi đối diện với nội tâm của mình, tham dục có phải vấn đề khó khăn nhất của người tu không? Hòa thượng Lực Sư nói, “chỉ cần một giới này thôi là đã đủ để nhận sự cung kính, cúng dường.” Đó là giới quan trọng nhất của người tu, nhưng mình tu lại không động đậy gì đến vấn đề đó hết, đây là chỗ để mình nhìn ra vấn đề. Trong sự tu tập hằng ngày của mình, không có sự động đậy gì đến việc phải làm sao để chuyển hóa tham dục, nhiếp phục tham dục, tẩy sạch, diệt tân tham dục. Không có. Trong khi Đức Phật dạy rõ ràng trong Tứ Niệm Xứ là thân, hành, niệm, là phải quán tướng bất tịnh. Minh Thành sẽ kể cho quý huynh đệ nghe Minh Thành đã quán như thế nào.

Chuông vọng boong boong boong, để lên bảng: “Đại đức Thích Minh Thành viên tịch, sinh ngày 30/12/1975 và mất ngày 01/04/2018”. Đăng cái bảng lên, và cha mẹ khóc, đệ tử trong chùa khóc, báo tin cho Phật tử kéo về. Một cái thân xác bất động như một khúc cây vô dụng nằm đó, sáu người khiêng, bỏ lại hết chùa chiền, bổn đạo, Tăng Ni, trường học, tất cả những thứ đất đai, xe cộ, tiền bạc, đệ tử, Phật tử.., bỏ hết. Nằm đó như một khúc cây vô dụng. Lúc đó, để thêm vài ngày nữa, bắt đầu cái thân phình lên, cái mặt to ra, bụng bự lên, tay chân to ra, rồi xanh bầm, nứt nẻ, chảy nước ra, hôi hám, khủng khiếp. Bắt đầu giòi ăn ra, ăn từ bộ đồ lòng, từ trong hai con mắt, hai lỗ tai, giòi bò đầy hết ra, cùng khắp cơ thể. Bộ phận phía dưới giòi bò ra ăn hết, ăn chân, tay, giòi tràn ngập, toàn là giòi. Sau đó kênh kênh, quạ, diều hâu, chó rừng tới gặm, giật ra từng miếng thịt, miếng mỡ để ăn, máu chảy ra, ăn lần lần rồi chỉ còn một bộ xương vương vãi với những thịt, mỡ và máu. Rồi, nắng mưa dần dần còn lại bộ xương trắng trơ trọi. Rồi một, hai, ba năm, bộ xương rời rạc ra, xương sọ đằng kia, xương ống chân đằng đây, và vương vãi chỗ kia là xương sườn, xương bàn chân, xương vai, xương khuỷu tay, xương sống.. nằm rải rác. Nắng mưa thời gian, những khúc xương này mòn lần, sau cùng nát ra thành bụi.

Đó, bản tánh của thân này là như thế, không thể khác; tính chất của thân này là như thế, không thể khác; thân này cuối cùng chỉ là đến đó, không thể khác hơn nữa. Và những người khóc than chung quanh, ông bà Năm, mấy cô mấy chú, Phật tử, đệ tử… rồi từ từ cũng chết, thành bộ xương nằm la liệt hết. Tất cả đều chết hết. Và cuối cùng đều trở về chỗ tan hoại. Mình quán điều đó, nước mắt ràn rụa chảy, chấn động, rúng động hết, toàn thân nổi da gà. Chấn động hết thân tâm như vậy không chỉ một lần, mà cả chục lần, và mỗi lần quán là rúng động hết, và mùi hôi tanh nồng nặc, muốn ói mửa luôn.

Minh Thành quán như vậy xuyên suốt bốn tuần lễ, ngày nào cũng vậy, huynh đệ biết hiệu quả là cái gì không? Nhiếp phục được dục tham, suốt trong thời gian đó tâm không có sanh khởi, mình mới thấy, mới tin lời của Đức Phật. Có nhiều huynh đệ, mới gợi ý tu quán bất tịnh, nói “con quán bất tịnh, nhưng con thấy tịnh không thôi”, đó là một suy nghĩ cực kỳ tiêu cực, mình không tin vào Chánh pháp của Đức Phật, không tôn trọng pháp. Cho nên, đây cũng là nguyên nhân làm cho Chánh pháp bị sụp đổ, đưa đến mạt pháp.

Minh Thành chỉ kể sơ thôi, ngắn gọn, cái chính thôi, chứ Minh Thành quán còn dài lắm, huynh đệ ngồi nhập quán luôn, nghe tới đâu là quán tưởng đến đó, nhắm mắt quán, gọi là “tùy văn nhập quán.” Quan trọng là mình phát sanh ra được cảm thọ, cảm giác ngay lúc đó, chứ quán mà không sanh ra cảm giác thì quán đó không có công năng. Phát sanh cảm giác mình đang như vậy thật luôn, giòi đang bò trên mắt, trên mặt, mũi, miệng, thấy giòi bò mà mình rởn óc hết. Phải quán để phát sanh ra cảm giác, cảm giác này sẽ đánh tan cảm giác của tham dục, tẩy sạch cảm giác của tham dục. Quán ba mươi hai thể trược, lấy dao rọc, đại phẫu, rọc từ trên xuống, lột da ra. Đầu tiên là bứt hết tóc, lông trên cơ thể, nhổ từng cái răng, ba mươi mấy cái răng nhổ hết xuống, máu chảy ra. Tóc, lông, móng, răng, lột da ra, lột từng miếng da tay, da chân, da mình, da ngực, da đùi.., lột hết, máu chảy xuống. Để qua một bên da. Rồi tới thịt, lấy thịt ra. Ba trăm miếng thịt và mỡ, lấy mỡ ra; gân, xương, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim gan, tỳ, phế, thận, hoành cách mô, phổi, nước miếng, mủ, máu, đàm, nước khớp xương, phân, nước tiểu v.v.., ba mươi hai thể trược, lấy hết ra. Để từng bộ phận trước mặt mình hết.

Lúc đó mình xem, cái gì là tôi, cái gì là của tôi? Nhìn thấy sâu sắc cái bản chất hư ảo, tạm bợ, mong manh, nhớ nhớp, bất tinh của thân này, Minh Thành rúng động hết, nước mắt ràn rụa tràn ra. Mình nhìn thấy, xuất gia mấy chục năm mà khối vô minh, si mê, tham ái của mình vẫn còn cứng chắc. Thật nhục nhã cho một người tu khi không tẩy sạch được tham dục; thật xấu hổ cho người xuất gia khi cứ nuôi dưỡng tham ái, còn chấp nhận cho nó tồn tại trong nội tâm của mình. Đức Phật dạy phải tẩy sạch, từ bỏ, diệt tận, chặt bỏ nó như cây sala, không cho tái sanh nữa. Đó mới là người tinh tấn trong giáo pháp của Như Lai.

Quán tới lui, ngày nào cũng quán, quán liên tục, quán ra một bộ xương đang ngồi đây, quán tình ái của nam nữ, của sự tham dục, quán ra hình ảnh bộ xương này ôm bộ xương kia, bộ xương này khao khát, mong ngóng, chờ đợi bộ xương kia, đau khổ, quằn quại vì bộ xương kia. Những bộ xương đầy dẫy trên đường, một bộ xương hôi hám, dơ bẩn còn chưa đủ, lại đi tìm một bộ xương khác cho cùng nhau hôi dơ, bất tịnh và đau khổ. Cuối cùng tạo thêm một bộ xương nữa, và cứ như thế, tất cả các bộ xương được trau chuốt, tô điểm, bao bọc bởi một lớp da tanh hôi che đậy.

Thành này làm bằng xương

Quét tô bằng thịt máu

Trong ấy già và chết

Mạn, lừa đảo chất chứa.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)

Nó được quét tô bằng thịt máu, cái sườn bên trong được xây bằng bộ xương, kế đến là gân, thịt, mỡ, da, lớp bọc bên ngoài, và chính tấm thân nhơ nhớp bất tịnh này lừa dối mình, không phải một kiếp, một đời này mà đã nhiều đời nhiều kiếp mình bị nó lừa dối. Mình còn đắm đuối, si mê, còn mê say, ảo mộng ở trong tấm thân vô thường, hư ảo này. “Đó thật là si mê, ngu muội, điên đảo cho một cái tên Thích Minh Thành. Hãy mở mắt nhìn cho kỹ cái bản chất, cái thực tướng của thân này đi, hãy nhìn cho kỹ đi.” Quán như vậy, nước mắt Minh Thành ràn rụa hết, như người bị rúng động, mình mới tin lời của Phật rằng pháp quán bất tịnh là một pháp tuyệt diệu, giúp cho mình nhiếp phục. Không phải mình tu một lần là nó sạch hết, không phải vậy. Trong một giai đoạn, nếu mình bỏ không tu nữa thì nó sẽ trở lại.

Trong sự tinh tấn Đức Phật dạy “tinh cần hộ trì thiện pháp”, tức là mình được cái pháp rồi, mình phải giữ, không được cho nó mất, giữ liên tục hoài. Điều này rất quan trọng. Có một số người tu được một chút gì đó, ra ngoài nói ta đây chứng cái này, cái kia, điều đó nguy hiểm lắm. Mình không tu thì thôi, tu sẽ có kết quả, và kết quả đó mình phải giữ hoài, liên tục thì nó mới còn với mình; nếu mình buông lung phóng túng, tham dục sẽ liền tấn công trở lại. Sau đó Minh Thành cho đại chúng Linh Quy Pháp Ấn không tụng niệm nhiều nữa, lên chánh điện mở hình bất tịnh quán lên, mở hình mấy bộ xương, giòi ăn, cho ngồi đó xem, xem rồi sau đó thiền quán, để tấm hình trước mặt, ngồi thiền quán. Mấy chú còn nhỏ, trẻ ứng dụng tu như thế thì thấy được pháp hỷ, pháp lạc. Bây giờ tu thấy nhẹ, lúc trước tu mệt quá, thấy mấy thứ xanh xanh đỏ đỏ, đi du lịch, tâm cũng động. Bây giờ có sự tu như thế này là có sự bảo hộ, phòng vệ tâm mình, có sự nhiếp phục. Nếu mình cứ đúng y theo lời Phật dạy, nhất là trong kinh tạng, năm bộ Nikāya, các huynh đệ ngồi ở đây, từ Sơ quả đến Tứ quả, chắc chắn có trong một đời, chứ không phải là chuyện thường. Đây là Minh Thành bảo chứng cho quý huynh đệ luôn nếu mình tu đúng theo kinh tạng Pāli. Chuyện tham dự vào dòng trí huệ bậc nhất, quả thứ nhất của Tu-đà-hoàn đều trong tầm tay, tất cả chúng ta đều có thể được nếu mình gặp được thiện tri thức chỉ dẫn cho mình đúng. Đó là một sự thật.

Bốn Thánh quả thật ra không có gì ghê gớm. Bốn Thánh quả là bốn thành quả của một người xuất gia chơn chánh theo Phật giáo được Đức Phật xác nhận. Bốn thành quả đó giống như mình đi làm thì có tiền, đi học thì tốt nghiệp, vậy tại sao nghe nói Thánh quả thì mình sợ? Chính chỗ này là mình bị mê. Thánh quả là thành quả của con đường Thánh đạo, tu hành theo con đường đó thì mình có được thành quả đó. Bốn thành quả đó, quả thứ nhất là thấy được rác ở trong nhà, thấy trong nhà mình có một đống rác dơ. Hốt đống rác đó là quả thứ hai. Sau khi hốt còn dính lại chút dơ, mình chùi, đó là quả thứ ba. Và sạch hết không còn một chút nào dơ thì đó là quả thứ tư A-la-hán.

Đơn giản là như vậy, quý huynh đệ đừng nghĩ sơ quả Tu-đà-hoàn là cái gì ghê gớm. Tức là mình thấy được nội tâm của mình, thấy được tham dục, sân hận vận hành như thế nào, vô minh ra làm sao. Đầu tiên phải thấy được dục lậu, sự nhiễm dục ở trong tâm của mình, nếu không nhìn lại thì mình không thấy. Các huynh đệ có biết trong thân của mình, từ đỉnh đầu cho đến gót chân, chỗ nào cũng nhiễm dục cả. Mình tưởng tu nguyên một ngày “không có giận, buồn ai đâu, vậy là tôi tu không có phiền não”, là mình chưa thấy pháp gì hết. Các huynh đệ có muốn Minh Thành vạch mặt những phiền não cho các huynh đệ thấy không? Điều này vạch ra là đau đớn lắm, nhưng nếu không thấy được bộ mặt của phiền não thì mình không thể nào chinh phục được phiền não. Bây giờ Minh Thành hỏi, ai trả lời đúng, thưởng một trái dừa.

Sư cô:

“Kính bạch thầy, kính thưa toàn thể đại chúng. Cảm giác của con từ đỉnh đầu cho đến gót chân, tất cả những chỗ này đều có cảm thọ của nó, tại vì chưa có duyên, duyên vừa xúc chạm thì nó sẽ cảm thọ và cảm thọ đó ngay lập tức sanh phiền não, chấp thủ hoặc tham đắm.”

Phiền não ở trong cảm giác, cảm thọ của mình, điều này hôm trước Minh Thành đã có nói, nếu người nào để ý thì đã nghe được rồi. Phiền não nằm trong cảm giác, cho nên tại sao hôm trước Minh Thành cho mọi người nhận diện năm uẩn, phải thấy được ba thọ, ba cảm giác dễ chịu, khó chịu, và không dễ chịu cũng không khó chịu, mình phải biết mình đang ở cảm giác nào. Điều này rất quan trọng, nếu không nhận diện được cảm giác cảm thọ thì huynh đệ không biết được trú xứ của phiền não. Ví dụ, lúc nổi nóng lên thì mình như thế nào, cảm giác có thay đổi không? Thay đổi ở đâu? Nghe nóng trong ngực, ở hai lỗ tai, hai mắt nóng, đỏ lên.. Đó là hình tướng của sân biểu hiện. Mình thường nhìn, quán chiếu cảm thọ thì khi nó vừa nhúc nhích là mình thấy liền, đánh đuổi liền cho tơi tả, tan tành. Trong kinh Đức Phật nói trong đoạn Tinh cần đoạn tận: “Từ bỏ nó, diệt trừ nó, đoạn tận nó, chặt bỏ nó như chặt ngang cây cau, cây dừa, cây sala, bứng gốc rễ nó, làm cho nó không còn sanh khởi được nữa, thì đó là người tinh tấn, nhiệt tình, nỗ lực trong giáo pháp của Như Lai.” Nếu không thấy được trú xứ, căn cứ địa của tham, sân, si thì mình không thể đoạn diệt được hết. Quý huynh đệ để ý, tập nhận diện lại cảm thọ. Sắp tới Minh Thành sẽ chia sẻ pháp hành cho quý huynh đệ, cái trú xứ, căn cứ địa của phiền não là cảm thọ, nhưng nó liên hệ đến tưởng, hành, thức nên mình phải nhận diện được năm uẩn.

Cảm giác của mình, Minh Thành vạch mặt cảm giác dục và tham cho các huynh đệ thấy, đừng nghĩ sống đều đều như vậy là không có phiền não, mình tu như vậy là tốt rồi. Nếu không nhìn sâu trở lại cảm giác, không quán chiếu thì mình sẽ không biết. Lúc ra ngồi ở quả đường, dọn lên cúng trai tăng bảy, tám món ngon, nhất là những món mình thích, món ruột của mình thì lúc đó có gì trong tâm của mình, nếu mình nhìn lại? Về phần cơ thể sinh lý tự nhiên thì nước bọt tươm ra; thứ hai, bên trong có rạo rực, có mong muốn nhanh nhanh, gấp gấp để ăn không? Đó là dục và tham, cái đó nằm bên trong cảm giác. Nếu lúc đó không chánh niệm nhìn ra, thì mình đang nuôi dưỡng dục và tham mà mình không biết. Sẽ như thế nào nếu lúc đó, trong mâm bảy món có một món ruột mình thích nhất, nhưng có khách tới, chùa cần đãi khách, ban trai soạn bưng mâm thức ăn có món ruột mình thích đi đãi cho bàn khách, lúc đó điều gì nổi lên? Mình tưởng mình tu hay lắm, nhưng chỉ vì một miếng ăn nhỏ thôi, nếu để ý mình sẽ thấy cái tham, dục và sân sanh khởi trong đó. Không phải chỉ nói một câu, nó rì rào trong đó, cứ nói tới nói lui, nói nhảm hoài cho đến tối, về ngồi thiền mà vẫn còn nói nữa. Vài hôm sau nó lại tiếp tục nói, “tại sao cái mâm của tôi mà mang đi chỗ khác?” Cái nói nhảm đó là ý hành, là hành là những lời nói thầm thầm trong tâm. Và khi nói những lời đó thì hình ảnh người bưng mâm tái hiện lại, là tưởng. Cảm giác lúc bị bưng mâm thức ăn đi hiện lại, là thọ; nhưng tất cả những cái đó đều là sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Tức là những cái đó là quá khứ, nhưng hình bóng tái hiện lại gọi là sắc tưởng; tiếng nói của người đó hiện lên gọi là thanh tưởng; mùi hương của món ăn hiện lên là hương tưởng; vị tưởng cảm giác món ăn đó ngon như thế nào, tại sao mình bị lấy đi, đó là vị tưởng. Ghê gớm không?

Mình đau khổ với thực tại đó ít nhưng đau khổ với cái bóng dáng đó mới dài, đó mới là vô minh. Cái tiếng nói chỉ hai phút thôi là xong, nhưng mình đau khổ cả tháng với tiếng nói đó, đó là mình đau khổ với thanh tưởng. Quý vị có thấy ghê gớm với cái ngu si của mình không, đó là vô minh. Vì mình thấy đó là thật, câu nói đó là mất rồi nhưng mình hồi tưởng câu nói đó, là thanh tưởng. Chỉ có một chút ở chỗ ăn thôi, lúc ngồi trong thất, Minh Thành thấy khiếp đảm, khiếp đảm quá. Trong khi ăn cơm mình thấy xuất hiện, nhưng chẳng lẽ nói, khi tu rồi mình không có cảm giác, không phải. Món ngon mình biết món ngon, món dở mình biết món dở, khi đưa vào miệng, lưỡi tiếp xúc mình biết là cảm giác dễ chịu; nhưng kế đó, trong cảm giác dễ chịu có dục tham. Điều này phải nhận ra, nếu không biết mình sẽ bị lẫn lộn. Cảm giác ngon và dễ chịu là bình thường, nhưng trong đó có dục tham, biết ngon, muốn gắp món này nhiều nữa, xong rồi mình sẽ hỏi món đó làm như thế nào, để sau đó mình làm tiếp, đó là dục tham. Trong cảm giác khó chịu, đi trong nắng gắt 38℃, cảm giác khó chịu là bình thường nhưng trong đó mình bực bội, thì cảm giác bực đó là sân. Quý huynh đệ thấy vi tế không?

Cảm giác khó chịu là cảm giác của thân, còn cảm giác khó chịu mà bực là cảm giác của tâm, là sân. Cảm giác không dễ chịu không khó chịu, tưởng là tốt rồi, không phải, là si, tức là mình không thấy được, không thân, hành, niệm, tức là mình không biết thân này là pháp duyên khởi kết hợp vô thường. Nó tồn tại do ăn mặc, tắm gội, do tinh cha huyết mẹ, do bao nhiêu thứ hỗ trợ.., nó mới sinh tồn, chứ nó không tự có. Mình không quán chiếu, không vô thường tưởng, không vô ngã tưởng; mình đang học ba sự thật vĩ đại, nhìn thấy được như vậy, mình mới phá được si.

Quý vị thấy nguy hiểm không, ba loại cảm giác mình đều chết hết. Nếu mình không có chánh trí, không chánh niệm, không tỉnh giác là mình chết. Cảm giác tham, cảm giác dễ chịu, lạc thọ, là tham; cảm giác khó chịu, khổ thọ, là sân; cảm giác không dễ chịu không khó chịu, là si. Ghê gớm không? Mình tưởng mình tu vậy là ngon rồi. Đây là một điều sâu xa. Lúc Minh Thành vào phòng tắm, xối nước tắm, tất nhiên là có cảm giác dễ chịu vì trưa nắng mà mình xối nước như vậy thì rất mát. Nhưng mình thấy ở trong cái xúc trần, thân mình tiếp xúc với nước là xúc, thân căn tiếp xúc với nước tức là pháp trần bên ngoài, phát sanh ra sự rõ biết, đó gọi là thân thức. Thân thức là sự rõ biết sự xúc chạm của thân, ba pháp này giao thoa với nhau, xúc sanh ra thọ, sanh ra một cảm giác. Nếu không tu thì mình chết ngay ở cái cảm giác này; thọ sanh ra tưởng, hành. Khi mình xúc, cảm giác sanh ra là cảm giác dễ chịu, nếu mình không chánh niệm, không biết cảm giác này là do duyên hợp, do mình có thân, do có nước xối lên, do mình rõ biết sự tiếp xúc của thân với nước này, nó là pháp duyên hợp, xúc mới sanh ra cảm thọ. Nhìn thấy được pháp như vậy thì mình không bị xúc nhận chìm, còn nếu không, xúc này sẽ sanh thọ, thọ sanh tưởng, mình sẽ tưởng những cảnh mát, liên hệ tới dục, liên hệ tới sự êm ái, liên hệ tới tham. Thọ, tưởng, hành, thức vận hành, và tiếp tục thọ sanh xúc, xúc sanh tưởng.., cứ như vậy ngũ uẩn vận hành liên tục suốt ngày đêm. Như vậy gọi là chúng sanh tức là ngũ uẩn cứ sanh khởi liên tục, không bao giờ dừng lại.

Các bậc A-la-hán, các bậc Thánh nhân nhìn thấy, quán chiếu điều đó thì nó dừng lại, không còn sanh. Các bậc A-la-hán là diệt tận năm uẩn, phá được ngũ thủ uẩn, là sự bám chấp vào năm uẩn. Năm uẩn đó, cảm giác đó mình cho là mình, tất cả vô văn phàm phu không nghe pháp, không thấy được năm uẩn nên luôn luôn cho là mình. Chính cái nghĩ này là thân kiến, kiến chấp về thân, cái nghĩ này sẽ đưa mình vào chỗ đen tối, vô minh, tăm tối, âm u, đau khổ bất tận. Những người nào thấy được năm uẩn này, không cho đó là mình nữa, thì người đó dự lưu, tham dự vào dòng trí huệ. Điều này là điều mà tất cả chúng ta ngồi đây ai cũng có thể thành tựu được hết, đây là trí Dự lưu.

Thấy rõ được năm uẩn, sự sanh diệt, sự kết hợp của năm uẩn, không thấy đây là mình nữa, thấy rõ đây là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đây là sắc thân, đây là những cảm giác, những hình bóng, tư tưởng, là những suy nghĩ, rõ biết đây là năm uẩn, không phải mình. Đó là pháp duyên hợp. Như vậy là quý huynh đệ bước vào giới trí huệ thứ nhất, bốn thành quả của một người tu. Khi nhìn thấy được năm uẩn, mình thấy rằng tham, sân, si tích tụ trong thọ giống như cội đại cổ thụ ngàn năm. Minh Thành dùng từ là “kẻ thù ngàn năm, ta phải tiêu diệt mi, không cho mi sanh trưởng.” Đây là chỗ quan trọng, nếu mình không quay lại nhìn cảm thọ, tư tưởng, nhìn những cái suy nghĩ của mình thì mình chết, suốt ngày mình chỉ sống trong vô minh, cứ nghĩ đây là mình, đây là của mình. Đây là chỗ chúng ta cần phải thực tập. Quý huynh đệ thấy được chỗ dục tham ẩn nấp chưa? Chỉ cái sự tắm thôi, thân mà nước tắm mát, mình thích thú trong đó, thì tất cả những hỷ, tham, ưa thích, thích thú ở trong đó, đó là vị ngọt của sắc.

Thế nào là sự nguy hiểm của sắc? Là nó vô thường, khi biến đổi nó sẽ đi đến chỗ tan hoại, đổ vỡ, chấm dứt, diệt tận. Đây là sự nguy hiểm của sắc. Thế nào là sự xuất ly khỏi sắc? Là sự nhiếp phục, dục và tham ở trong sắc. Đó là sự ra khỏi. Bất cứ ai nhiếp phục được dục và tham trong ngũ uẩn thì người đó thành tựu A-la-hán quả. Tức là, nhiếp phục là giai đoạn đầu, là những pháp hữu học, nhiếp phục xong hết là vô học, A-la-hán.

Các huynh đệ thấy sự tu sâu sắc không? Nó đòi hỏi sự tinh cần nỗ lực, quyết chí của mình, chứ không phải là một sự tu phớt phớt, chơi chơi, an ổn trong sinh hoạt hằng ngày của mình, trong hai thời khóa tụng. Phải tu theo Đức Phật, mình mới thành tựu, phải đi theo con đường Đức Phật đã đi. Chỉ đi theo con đường đó, chứ không phải đi theo con đường của những người sau này. Chỉ đi theo con đường đó, kết quả thành tựu sẽ giống như Phật và các bậc A-la-hán ngày xưa. Tối thiểu mình cũng phải có vé Nhập lưu, tức là thành tựu trí huệ, chứ không phải tu mấy chục năm giờ mình lờ mờ, sống trong vô minh, tham dục, chấp ngã, không biết phiền não ở đâu hết. Vậy thì mình tu cái gì?

Nếu không nhận thức những điều này, quý huynh đệ nhìn thử xem, toàn là tài sắc, danh lợi, tiền bạc. Đau lòng không, cay đắng, xót xa không? Mình phải cố gắng thật nhiều, đem tất cả tâm của mình chân thành, cung kính cầu pháp, đem hết tấm lòng tha thiết của mình để học hỏi, thực tập, quý huynh đệ sẽ thấy được hoa trái. Hoa trái là kết quả, chứng quả chính là hoa trái. Giống như trồng cây phải có trái, mình tu phải có thành tựu, đương nhiên phải là như vậy, không thể không như vậy. Quý huynh đệ phải nhìn từ trong chiếc xe, mình có gì trong chiếc xe này, chỗ mình đang ngồi, chiếc áo mình đang mặc, đôi dép mình đang mang, cái phòng mình đang ở. Tất cả phải nhìn kỹ cảm giác của mình khi tiếp xúc với những thứ đó. Mình phải sâu sắc để nhìn thấy những sự sanh diệt trong đó. Cảm giác đó không phải là mình, cảm giác đó là vô thường, đó là pháp duyên sanh. Đó là sự kết hợp, sự giao thoa của căn, trần, thức; sanh ra xúc, từ xúc sanh cảm thọ, chứ đâu tự nhiên mà có cảm thọ. Mình phải để tâm thực tập, để tâm quán chiếu, để tâm hành trì. Quý huynh đệ có còn nhớ ba pháp Minh Thành nói không: đặt niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác? Có nhớ, nhưng có thực hành không? Đây là điều rất quan trọng, chính là chỗ thực hành. Đây là nền tảng, kế đó là nhận diện năm uẩn, mình mới thấy những gì Đức Phật nói là sự thật. Những gì Đức Phật nói, mình có thể thực tập, thực hành, những gì các bậc A-la-hán đã chứng ngộ, mình có thể thành tựu, mình không phải vô phần.

Còn hữu lậu là gì? nói cho dễ hiểu là tâm mình cứ muốn làm này làm kia, không yên, nó muốn suy nghĩ, muốn kiếm chuyện hoài, không chịu im, nó phải làm, phải đi.., đó là hữu lậu. Đó là nói nghĩa cạn, nói nghĩa sâu là luôn luôn bên trong mình có sự khao khát hiện hữu, là muốn mình còn tiếp tục những đời sau, trong nội tâm mình luôn có sắc tưởng về mình. Ví dụ, nói “chiều nay tôi đi qua chùa bên kia dự lễ”, khi nói như vậy là trong mình có sắc tưởng, có hình bóng mờ mờ, thấy mình trong đó. Ghê gớm không? Đó là sắc tưởng về mình. Mình tu là để nhìn cho thấu được những hình bóng này đang tiêm nhiễm trong tâm mình. Một sự khao khát hiện hữu, tiếp tục hiện hữu, phải có mình, có cái tôi mới được, không có cái tôi là không được. Cho nên người ta mới hỏi, “Khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn, là còn hay không còn?” Vừa còn vừa không còn, không phải còn cũng không phải không còn, những cái đó là chấp thường chấp đoạn, khao khát hiện hữu. Sâu nữa là vô minh lậu, là trí mình không sáng tỏ, mình không thấy được sự vận hành của năm uẩn, sự sanh diệt của các uẩn, mình chỉ thấy mình, không thấy đây là năm uẩn, không phải mình.

Nếu mình thường thức tập, nhớ ba pháp, không nhìn, không trú vào một cái gì hết, mở rộng tầm mắt của mình nhìn, sáng tỏ hết trước mặt của mình, đi đứng nằm ngồi gì cũng vậy, rõ biết trước mặt. Cảm giác toàn thân, là từ hơi thở của mình, mình mở cảm giác ở đầu, vai, tay, chân.., lúc nào mình cũng nhìn cảm giác toàn thân, nếu có cảm giác gì là mình biết liền, cảm nhận cảm giác toàn thân. Nội tâm tỉnh giác là mình rõ biết hai pháp kia, rõ biết chánh niệm trước mặt, rõ biết cảm giác toàn thân, rõ biết hết, trong tâm mình sáng tỏ, có gì trong tâm, mình phải thấy rõ, là nội tâm tỉnh giác. Kế đó, mình phải nhận diện cho được năm uẩn, cái nào là sắc, cái nào là cảm giác, cái nào là những tưởng tượng, cái nào là suy nghĩ nói thầm trong tâm và cái nào là rõ biết những điều đó. Đó là mình nhận diện năm uẩn. Quý huynh đệ phải thực tập thường xuyên, nhuần nhuyễn nhận diện được năm uẩn. Hiểu được năm uẩn, mình mới dự vào dòng pháp được, nếu không mình không vào được.

Đây là cánh cửa mở vào Thánh đạo, Thánh quả chứ không phải là việc bình thường, trừ chuyện mình không muốn vào cửa thì thôi, cái đó miễn bàn. Còn ai muốn vào thì thực tập thật kỹ hai điều đó thì huynh đệ sẽ bước vào căn nhà giác ngộ giải thoát, an lạc tự tại của Đức Thế Tôn trong nay mai chứ không lâu, ngay trong đời này sẽ thành công.

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều chứng thành Phật đạo./.