Nikāya Thiền Quán - Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết! 5
Nikāya Thiền Quán
Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết (5)
Thích Minh Thành
Ngày 22 tháng 08 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bồ tát Vipassì xuất gia PAGEREF _Toc154419230 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc154419231 \h 2
III. Thiền quán PAGEREF _Toc154419232 \h 3
IV. Bồ tát chứng ngộ PAGEREF _Toc154419233 \h 5
V. Trình pháp 2 PAGEREF _Toc154419234 \h 10
I. Bồ tát Vipassì xuất gia
“Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi người đánh xe: “Này khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến vườn ngự uyển để xem phong cảnh”. “Thưa vâng, Hoàng tử”.
Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì, cho thắng các cỗ xe thù thắng rồi bạch hoàng tử Vipassì: “Tâu Hoàng tử, các cỗ xe thù thắng đã thắng xong. Hãy làm những gì Hoàng tử xem là hợp thời”.
Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ hoàng tử Vipassì leo lên cỗ xe thù thắng và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn ngự uyển.
Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì trên đường đi đến ngự uyển thấy một vị xuất gia, đầu trọc, đắp áo cà sa. Thấy vậy, hoàng tử hỏi người đánh xe: “Này khanh, người này đã làm gì, mà đầu người ấy lại khác đầu của những người khác, và áo của người ấy cũng khác áo của những người khác?”: “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người xuất gia!”: “Này khanh, sao người ấy được gọi là người xuất gia?”: “Tâu Hoàng tử, xuất gia nghĩa là khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh!”: “Này khanh, hãy đánh xe đến gần vị xuất gia”. “Thưa vâng, Hoàng tử”.
Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử Vipassì, đánh xe đến gần người xuất gia. Này các Tỷ-kheo, rồi hoàng tử Vipassì hỏi vị xuất gia: “Thưa Hiền giả, Ngài đã làm gì, mà đầu của Ngài không giống những người khác, và áo của Ngài không giống các người khác?”: “Thưa Hoàng tử, tôi là một người xuất gia!”: “Thưa Hiền giả, thế nào gọi là người xuất gia?”: “Thưa Hoàng tử, tôi là người được gọi là xuất gia, vì tôi khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh”. “Thưa Hiền giả, lành thay hạnh xuất gia của Ngài, lành thay khéo tu phạm hạnh, khéo tu tính hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi hoàng tử Vipassì bảo người đánh xe: “Này khanh, hãy lấy xe này và cho đánh xe về cung. Còn Ta ở nơi đây, sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. “Thưa vâng, Hoàng tử”. Người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì lấy xe và đánh xe về cung. Còn hoàng tử Vipassì, chính tại chỗ ấy, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”
(Trường Bộ Kinh I – Trích Kinh Đại Bổn)
II. Trình pháp
Phật tử 1:
“Con chân thành đảnh lễ thâm ân vĩ đại của Đức Thế Tôn.
Con xin chân thành đảnh lễ bậc chư tôn tôn kính.
Con xin chân thành đảnh lễ chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng các bậc hiền trí.
Hiện tại cảm thọ trong con là 1 cảm xúc rất là dạt dào, trong niềm hạnh phúc khi bậc ân sư nói đoạn kinh, những câu kinh cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa xuất gia. Thì cảm thọ trong con rung bắn lên, trong niềm xúc cảm dạt dào. Thật sự sau những gì con đã trải qua, thì đối với con hình ảnh người xuất gia rất là thiêng liêng, rất là đáng trân quý. Khoảng thời gian con được về Linh Quy tu học, đối với con là khoảng thời gian vô giá, không phải trong kiếp nhân sinh này, mà là cả trong luân hồi sanh tử. Mỗi ngày đối với con đều là 1 món quà, ban tặng cho con.
Hiện tại trong con thì cái tâm biết ơn đối với Đức Thế Tôn, đối với Tam Bảo, đối với bậc đạo sư, cũng như đối với bậc ân sư. Chúng con thật là ngập tràn trong cái tâm biết ơn. Nếu như chúng con không gặp dòng Thánh pháp của Đức Thế Tôn, không có được trở về Linh Quy tu học, và quan trọng nhất là được sống đời sống xuất gia. Thì con không biết là con sẽ còn đau khổ như thế nào. Nghĩ đến đó thì lòng biết ơn, tâm biết ơn trong con nó dạt dào, không có thể nào mà con có thể diễn đạt được cảm xúc trong con. Con hứa với bậc ân sư là con sẽ cố gắng, sẽ nỗ lực nhiều hơn nữa. Con sẽ không có buông lung phóng dật, sẽ cố gắng để không làm cho bậc ân sư phải buồn lòng.
Con hứa là con sẽ tận sức mình, vì khi con được xuất gia thì đối với con là 1 niềm hạnh phúc tối thượng mà con cần phải trân quý. Niềm hạnh phúc mà con có được trong dòng luân hồi sanh từ này. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
III. Thiền quán
“Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ, tại kinh đô Bandhumatì có một đại chúng tám vạn bốn ngàn người nghe tin: “Hoàng tử Vipassì đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Khi nghe tin, các vị ấy suy nghĩ: “Pháp luật như vậy không phải tầm thường, xuất gia như vậy không phải tầm thường, vì hoàng tử Vipassì trong pháp luật ấy đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Nay hoàng tử Vipassì đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình tại sao chúng ta lại không?” Này các Tỷ-kheo, rồi đại chúng tám vạn bốn ngàn người ấy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, dưới sự lãnh đạo của Bồ-tát Vipassì. Rồi Bồ-tát Vipassì cùng với đồ chúng, du hành, đi ngang qua những làng, thị xã và đô thị.
Này các Tỷ-kheo, trong khi yên lặng tịnh cư, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Sao Ta lại sống bị bao vây bởi đồ chúng này. Tốt hơn là Ta sống một mình, lánh xa đồ chúng này!”
Này các Tỷ-kheo, sau một thời gian Bồ-tát Vipassì sống một mình, lánh xa đồ chúng, tám vạn bốn ngàn vị xuất gia này đi một ngả, Bồ-tát Vipassì đi một ngả.
Này các Tỷ-kheo, trong khi yên lặng tịnh cư tại chỗ thanh vắng, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Thế giới này thật rơi vào cảnh khổ não, phải sanh rồi già, rồi chết, rồi từ bỏ thế giới này để tái sanh thế giới khác. Không một ai biết một con đường giải thoát khỏi sự đau khổ này, thoát khỏi già và chết”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, già chết mới có mặt? Do duyên gì, già chết sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do sanh có mặt, nên già, chết có mặt. Do duyên sanh, già chết sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, sanh mới có mặt? Do duyên gì, sanh phát khởi?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến sau đây: “Do hữu có mặt nên sanh mới có mặt. Do duyên hữu, nên sanh phát khởi”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, hữu mới có mặt? Do duyên gì, hữu phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thủ có mặt nên hữu mới có mặt. Do duyên thủ, hữu phát sanh”.
(Trường Bộ Kinh I – Trích Kinh Đại Bổn)
Mà nói rộng ra là nghiệp, nói sâu xa là cái tâm yêu thích thiện hữu. Cho nên tất cả những bài thiền quán của chúng ta, là nhằm phơi bài tất cả cả mọi hiện hữu là nằm trong đau khổ. Vì cái tâm mê, cho nên nó chấp thủ vào trong cái hiện hữu của 5 uẩn này. Cái tâm hôn mê, cái tâm đam mê, cái tâm si mê vào trong hiện hữu của 5 uẩn này. Chữ “hữu” này chúng ta giải thích rất là nhiều phương diện, nhưng mà cái chỗ thâm sâu nhất của nó chính là cái tâm mê, đối với sự hiện hữu 5 thủ uẩn. Chính cái này nó mới có ra dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu. Mới có ra cái cõi dục, sự hiện hữu của cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Cái nguồn gốc của nó là 1 cái tâm hôn mê, si mê, đam mê, u mê.
Cái sự nắm giữ này từ đâu mà nó có? Thì Bồ Tát như lý tư duy, triển khai thiền quán, nhìn sâu vào dòng tâm tư thì Ngài thấy là do sự ưa thích. Là do ưa thích mới có sự nắm giữ, hiện hữu cho nên mới có nên dòng sống chết này. Một cái tâm yêu thích, nắm giữ ở trong 3 cõi: Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu. Và nó có mặt, có sanh, rồi có già.
IV. Bồ tát chứng ngộ
“Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt thủ mới có mặt? Do duyên gì, thủ phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do ái có mặt, thủ mới phát sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, ái mới có mặt. Do duyên gì, ái phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thọ có mặt, ái mới có mặt. Do duyên thọ, ái phát sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, thọ mới có mặt. Do duyên gì, thọ mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do xúc có mặt, thọ mới có mặt. Do duyên xúc, thọ mới phát sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, xúc mới có mặt. Do duyên gì xúc mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do lục nhập có mặt, xúc mới có mặt. Do duyên lục nhập, xúc mới phát sanh.”
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, lục nhập mới có mặt. Do duyên gì, lục nhập mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc có mặt, lục nhập mới có mặt. Do duyên danh sắc, lục nhập mới phát sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, danh sắc mới có mặt? Do duyên gì, danh sắc mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thức có mặt, danh sắc có mới có mặt. Do duyên thức, danh sắc mới phát sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, thức mới có mặt. Do duyên gì, thức mới phát sanh?”
(Trường Bộ Kinh I – Trích kinh Đại Bổn)
Đó là hồi nãy chúng ta thiền quán “tại sao mà con mắt này là 1 sự sỉ nhục”. Vì nó xúc, nó thọ, rồi nó ái, rồi sau đó nó thủ. Nhìn thấy 1 cái rồi nó yêu thích, nó yêu thích thì nó nắm giữ, nắm giữ thì nó phải có sự hiện hữu trong cái dòng sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đầy lo lắng, bất an, tai họa, bệnh tật, ốm đau, sợ hãi, kinh hoàng trong cái dòng sống chết oan nghiệt, quay cuồng và đảo điên này.
“Tại sao có 6 căn? Do có danh và sắc”, tức là ngũ uẩn. Sắc là tứ đại, danh là xúc tác ý, thọ, tưởng, tư. Cái này có thời gian chúng ta sẽ học đầy đủ, Đức Phật giải thích từng chặng của thập nhị nhân duyên. Ở đây chúng ta chỉ giới thiệu tổng quát, để chúng ta thấy được cái dòng sanh tử.
“Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc có mặt, thức mới có mặt. Do duyên danh sắc, thức mới phát sanh”.
Đây là cái thức đi đầu thai, cái tâm hôn mê, cái tâm thức hôn mê mà nó nhập vào thai mẹ cha khi quan hệ. Nó chui vô đó, nó tìm cái lạc, cái dục ở trong đó. Rồi lần lần nó mới tượng hình, đầy đủ các căn, rồi bắt đầu nó mới tiếp xúc. Sau khi tiếp xúc rồi nó sẽ có cảm thọ, cảm giác. Sau khi có cảm giác rồi nó mới yêu thích, đắm chìm, rồi nó tạo nghiệp. Từ đó nó mới có cái dòng sanh tử, sầu đau.
“Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ như sau: “Thức này xoay trở lui lại, từ nơi danh sắc, không vượt khỏi danh sắc. Chỉ như thế này, con người được sanh ra hay trở thành già, hay bị chết, hay từ biệt cõi này, hay sanh lại ở cõi khác, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh; do duyên thức, danh sắc sanh; do duyên danh sắc, lục nhập sanh; do duyên lục nhập, xúc sanh; do duyên xúc, thọ sanh; do duyên thọ, ái sanh; do duyên ái, thủ sanh; do duyên thủ, hữu sanh; do duyên hữu, sanh sanh; do duyên sanh, lão, tử, sầu bi, khổ ưu não sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này”.
Do cái tâm thức hôn mê này nó dẫn dắt, cho nên nó tượng hình ra 1 thai nhi. Khi nó đầy đủ 6 căn rồi có cảm giác, cảm thọ yêu thích, nắm giữ rồi tạo nghiệp. Rồi nó phải chịu cảnh tái sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy là sự tập khởi toàn bộ đống khổ to lớn này.
“Tập khởi, tập khởi”. Này các Tỷ-kheo, từ nơi Bồ-tát Vipassì, khởi sanh pháp nhãn từ trước chưa từng được nghe, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, ánh sáng sanh.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, già chết không có mặt? Cái gì diệt, già chết diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do sanh không có mặt, già chết không có mặt, do sanh diệt, già chết diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, sanh không có mặt? Cái gì diệt, sanh diệt! Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do hữu không có mặt, sanh không có mặt, do hữu diệt, sanh diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, hữu không có mặt? Cái gì diệt, hữu diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thủ không có mặt, hữu không có mặt, do thủ diệt, hữu diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, thủ không có mặt? Cái gì diệt, thủ diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do ái không có mặt, thủ không có mặt, do ái diệt, thủ diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, ái không có mặt? Cái gì diệt, ái diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thọ không có mặt, ái không có mặt, do thọ diệt, ái diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, thọ không có mặt? Cái gì diệt, thọ diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do xúc không có mặt, thọ không có mặt, do xúc diệt, thọ diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt xúc không có mặt? Cái gì diệt, xúc diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do lục nhập không có mặt, xúc không có mặt, do lục nhập diệt, xúc diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì có mặt, lục nhập không có mặt? Cái gì diệt, lục nhập diệt”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc không có mặt, lục nhập không có mặt, do danh sắc diệt, lục nhập diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, danh sắc không có mặt? Cái gì diệt danh sắc diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thức không có mặt, danh sắc không có mặt, do thức diệt, danh sắc diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì không có mặt, thức không có mặt? Do cái gì diệt, thức diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc không có mặt, thức không có mặt, do danh sắc diệt, thức diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Ôi, Ta đã chứng được con đường đưa đến Bồ-đề, nhờ pháp tu quán. Nghĩa là, do danh sắc diệt, thức diệt; do thức diệt, danh sắc diệt; do danh sắc diệt, lục nhập diệt; do lục nhập diệt, xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt, do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, già, chết, ưu, bi, khổ, sầu, não diệt. Như vậy, toàn bộ khổ uẩn diệt”.
“Diệt, diệt”. Này các Tỷ-kheo, từ nơi Bồ-tát Vipassì, khởi hành pháp nhãn từ trước chưa từng được nghe, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, ánh sáng sanh.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau một thời gian sống quán sự sanh diệt trong năm uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành diệt! Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức diệt”.
Và đối với Ngài, sau khi sống quán pháp sanh diệt trong năm thủ uẩn, chẳng bao lâu các lậu hoặc được tiêu trừ và Ngài được giải thoát.
(Trường Bộ Kinh I – Trích Kinh Đại Bổn)
Thế Tôn Tỳ-bà-thy trở thành bậc A-la-hán, vô nhân sư, vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Đối với Ngài sao sự quán chiếu về sự sanh diệt của 5 thủ uẩn, chẳng bao lâu các lậu hoặc được tiêu trừ, Người được giải thoát. Tất cả chúng ta đứng lên đảnh lễ Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thy.
Bằng tất cả tấm lòng chân thành cung kính, chúng con đảnh lễ Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thy, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác.
Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thy, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác.
Bằng tất cả tấm lòng chân thành kính, chúng con đảnh lễ Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thy, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác.
Chúng ta có cảm nhận gì khi chúng ta đọc Bồ Tá thành Chánh đẳng Chánh giác không ạ? Lúc đó có trời mưa trên mái vòm chúng ta có thấy không ạ? Cảm nhận cho sâu sắc, về sự rưới những giọt nước đó xuống là có nhân có duyên. Chúng ta ngồi quay mặt ra bầu trời chia sẻ cảm thọ. Bồ Tát thành Phật chúng ta có hoan hỉ, có hạnh phúc không? Tin Thánh trí ngũ uẩn chưa? Đó là Bồ Tát Tỳ-bà-thy mà Đức Phật kể lại đó. Ngài quán sanh diệt ở trong 5 thủ uẩn không bao lâu, là đoạn tất hết tất cả các lậu hoặc. Sát quyết chưa? Tin chắc chưa? Tịnh tính bất động chưa?
V. Trình pháp 2
Phật tử 2:
“Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác.
Con kính đảnh lễ trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cũng toàn thể đại chúng. Con xin được chia sẻ cảm thọ của con, trong khi sư phụ chia sẻ về việc thành đạo của Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thy trong quá khứ. Thì hiện giờ cảm thọ của con nó giống như vỡ nước ra, cảm thọ toàn thân của con mát lạnh. Con thấy niềm vui, niềm hỷ lạc ngay trong giờ phút hiện tại này còn hơn còn ngồi cõi trời nữa. Con thấy con rất là hạnh phúc, sung sướng, tuy là cõi trời theo kinh điển Đức Thế Tôn kể lại là hưởng thụ những dục lạc, cảnh đẹp, 5 dục công đức đầy đủ. Nhưng mà chưa chắc gì chư thiên biết rõ ràng về đạo lộ, con đường mà tất cả các Đức Phật quá khứ đã thành đạo.
Ngay đây, hiện giờ con được nghe sư phụ trùng tuyên lại những lời dạy của Đức Phật trong kinh Nikāya. Con thấy rất là hạnh phúc quá, thiêng liêng quá. Thì ngay bản thân con cũng như đại chúng, đang đi trên con đường mà tất cả các bậc Chánh đẳng giác đã từng đi. Con rất có niềm tin chúng con sẽ về đến đích, chúng con rất có niềm tin như vậy. Vì đạo lộ quá rõ ràng, nằm trong lòng bàn tay, cũng như chúng con có sơ đồ trong tay, bây giờ chỉ còn tinh tấn để mà đi. Đi theo cái bản đồ đó, rồi chúng con sẽ đạt được những gì cần đạt được. Chúng con sát quyết tinh tưởng vào điều đó, tin tưởng vào đạo lộ, con đường của các bậc Chánh đẳng chánh giác đã từng đi.
Và 1 điều con chia sẻ rất là hoan hỉ, hạnh phúc trong chiều nay là chúng con đã biết được tại sao có già chết, và phương pháp chấm dứt già chết. Đó là cắt đứt cái sự sanh, chính vì cắt đứt cái sự sanh, già chết không có mặt, không có hiện hữu. Cho nên tuy hiện giờ con ngồi đây, nhưng mà cái cảm thọ của con hoan hỉ quá sư phụ ơi. Giống như con không có chứa được nữa, nó hạnh phúc, nó dâng trào lắm. Vì khi mình đã có lòng tin đối với những gì trong kinh Nikāya, mà sư phụ đã truyền trao. Mà chúng con đang tu học, đang thực hành và đang đi trên con đường giải thoát đó. Con xin chia sẻ niềm vui, niềm hạnh phúc của con đến với sư phụ cùng đại chúng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Phật tử 3:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên sư phụ tôn kính của chúng con. Con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Con kính thưa trên sư phụ tôn kính, thật sự là sau khi nghe những lời dạy sư phụ về sự sỉ nhục của sanh, già, bệnh, chết. Sáng hôm nay con tiếp tục suy tư, nhưng vẫn chưa có được sự sâu sắc như là chiều nay sư phụ đã giảng giải cho chúng con. Những lời dạy chiều nay của sư phụ triển khai, thật sự là mở rộng ra rất là nhiều, phá đi cái tâm mê mồi của con. Thưa sư phụ hôm nay con mới hiểu ý nghĩa lời dạy của bậc đạo sư, khi mà để chúng con thực hành 3 pháp.
Và con kết nối với lời dạy của sư phụ về sanh, già, bệnh, chết. Con liên hệ với nhau và con thấy được rằng sự Chánh niệm trước mặt, để con thấy ra những gì con có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, những cái đó đều là sự sỉ nhục. Và con tiếp tục thiền quán, thì thấy rằng ví như nhìn cái nhà vệ sinh, thì mình biết đây là sự sỉ nhục. Từ đâu mà có cái nhà vệ sinh này? Vì do cái nhu cầu ăn uống của mình, nuôi cái mạ`ng sống này, rồi mới có cái nhà vệ sinh đó. Như vậy nhìn cái nhà vệ sinh, để mà khởi lên sự tàm quý, xấu hổ, nhục nhã. Nhìn một căn nhà như sư phụ đã chỉ dạy, mình phải biết rằng đó không phải là chỗ được gọi là tổ ấm, mà đó là nơi thực hành sự dâm dục.
Con nhớ trong kinh Đức Phật dạy: “Từ thuở ngày xưa, khi mà những sự dâm dục đầu tiên xảy ra, quần chúng xung quanh phải ném đá, chửi rủa những người dâm dục, khiến cho họ phải vào rừng thật sâu vì xấu hổ. Nhưng sau này để tiện cho sự dâm dục thì họ mới nghĩ làm những cái chòi, rồi lần lần thành cái nhà”. Ngày xưa chúng con nhìn cái nhà thì nghĩ ngay đó là nơi để về, là tổ ấm, là nới có người thân. Hôm nay qua lời dạy của sư phụ, chúng con biết quán tưởng, nhìn cái nhà chỉ là 1 cái nời rất là thấp kém, hạ liệt. Một cái nơi chỉ làm cho người ta thỏa mãn sự dâm dục, hèn hạ. Rồi sự quán tưởng về những tiếng chó tru, ríu rít côn trùng kêu rên.
Chánh niệm, lắng nghe những tiếng đó để biết đó là sự sỉ nhục của đời sống này. Đó là quả báo, là kết quả của những ác nghiệp hay là thiện nghiệp. Nhìn, thấy, nghe để biết đó là sự phản ánh của nhân quả, nghiệp báo. Có gì mà vui, mà cười, mà nói, có gì vui mà náo động tâm. Nhìn những nơi tiện nghi lúc trước chúng con rất là thích thú, nhưng hôm nay qua lời dạy của sư phụ. Con hiểu 1 cách sâu sắc rằng những chỗ càng tiện nghi, nó càng phản ánh là cái sự kham nhẫn của mình không có. Mình rất yếu kém trong sự kham nhẫn, rồi mình phải đáp ứng cho cái lòng thỏa mãn vì xác thân này. Càng tiện nghi bao nhiêu, thì càng thể hiện sự chịu khó, chịu kham nhẫn của mình càng kém bấy nhiêu.
Như vậy đó cũng là càng tiện nghie thì càng sỉ nhục, đó gì vì cái sự tiện nghi đó. Thậm chí lúc trước nhìn hoa nở, hay là có những cái quả gì nó lú lú ra con rất là thích. Hôm nay con quán tưởng, con thấy không có gì đáng yêu thích trong cái hoa nở, hay là cái quả nó lú ra. Bởi ngay cả cái cây, loài thực vật kia nó cũng phải biết tỏa ra mùi hương, để kêu gọi những con côn trùng tới để mà thụ phấn giúp nó. Trời ời cứ nghĩ loài người, loài hữu tình mới dâm dục, không ngờ loài thực vật nó cũng biết kêu gọi sự giao phối, giao hợp bằng mọi cách để mà ra hoa, ra quả. Khi quan stowis đó con thấy nhàm chán, kinh tởm, ghê gớm. Thấy thấp kém, hạ liệt trong cái cỏi nhân gian vô cùng tận này, rất nhiều sự quán của con không tiện kể ra hết.
Rồi đến cái thân này, cảm giác toàn thân là pháp thứ 2 trong 3 pháp. Như sư phụ dạy, nhìn từ đầu cho tới gót chân: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, những gì đang hiện hữu đây, đó chỉ là kết quả của cái nhân quá khứ. Những người có trí tuệ, những bậc Thánh nhìn cái hiện hữu của mình, thì các Ngài đủ biết đời trước mình đã gieo nhân gì, nghiệp gì. Càng đau khổ, càng kêu rên bất hạnh, thì càng phản ánh đời quá khứ của mình rất là tồi tệ, sống rất là dở, gây rất nhiều ác và bất thiện pháp mà thôi. Thật sự là sỉ nhục cái thân này, chẳng may cái thân này được tịnh tướng xinh đẹp, thì cũng chẳng mấy hay ho lắm đâu.
Vì cái nhân có sự tịnh tướng đó, sẽ kéo theo cái tâm mê mờ, kiêu căng, hống hách, tự phụ, ngã mạn cho cái thân này. Tưởng rằng nó trường tồn, vĩnh cửu với sự tịnh tướng đó. Khi mà quán tới đó, quán đến các bậc Thánh, các bậc có trí tuệ người ta nhìn lên kết quả, sự hiện hữu trên thân của mình. Các Ngài biết được, chắc có lẽ các Ngài chỉ mỉm cười nhẹ. Trong khi mình có cái thân bất hạnh, thì than khóc, kêu khổ, có cái thân tốt đẹp thì ngã mạn, ta đây. Còn các Ngài mỉm cười nhẹ thôi, mà đâu biết rằn nụ cười đó là sự sỉ nhục, là sự đang thương, đáng tội nghiệp cho những con người mê mồi không biết chi cả. Lúc này sư phụ có dạy “con mắt có ghèn”, “vô tình nói chuyện văng nước miếng vào thức ăn, mình hỷ nước mũi”.
Con nghe những lời đó, thì cái tưởng lặp tức nhớ ngay chuyện xảy ra với con thật sự rất là xấu hổ. Cái oai nghi thô tháo của con, nói cười to tiếng, văng nước miếng ra để người ta thấy được, người ta chê cười, thật sự là xấu hổ và nhục nhã. Rồi đến nội tâm tỉnh giác, con thấy trong lời dẫn thiền của sư phụ, chúng con cũng theo đó mà lên tưởng. Những cái thọ, tưởng, hành bất thiện của chúng con, nếu cho những bậc có trí tuệ, những bậc chứng tha tam thông, những bậc Thánh đọc được thật là xấu hổ, thật là nhục nhã, ê chề. Bởi 1 ngày trôi qua đối với những người đầy tâm mê, thì thiện pháp thì ít, ác bất thiện pháp thì nhiều.
Tham, sân, si, dục, ái, ngã mạn mà để cho các bậc Thánh đọc được, thì thật sự là chỉ muốn độn thổ không có chỗ nào có thể ngóc đầu lên. Khi mà con quán tưởng đến sự liên kết, thực hành 3 pháp.”
Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết (5)
Thích Minh Thành
Ngày 22 tháng 08 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bồ tát Vipassì xuất gia PAGEREF _Toc154419230 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc154419231 \h 2
III. Thiền quán PAGEREF _Toc154419232 \h 3
IV. Bồ tát chứng ngộ PAGEREF _Toc154419233 \h 5
V. Trình pháp 2 PAGEREF _Toc154419234 \h 10
I. Bồ tát Vipassì xuất gia
“Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi người đánh xe: “Này khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến vườn ngự uyển để xem phong cảnh”. “Thưa vâng, Hoàng tử”.
Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì, cho thắng các cỗ xe thù thắng rồi bạch hoàng tử Vipassì: “Tâu Hoàng tử, các cỗ xe thù thắng đã thắng xong. Hãy làm những gì Hoàng tử xem là hợp thời”.
Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ hoàng tử Vipassì leo lên cỗ xe thù thắng và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn ngự uyển.
Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì trên đường đi đến ngự uyển thấy một vị xuất gia, đầu trọc, đắp áo cà sa. Thấy vậy, hoàng tử hỏi người đánh xe: “Này khanh, người này đã làm gì, mà đầu người ấy lại khác đầu của những người khác, và áo của người ấy cũng khác áo của những người khác?”: “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người xuất gia!”: “Này khanh, sao người ấy được gọi là người xuất gia?”: “Tâu Hoàng tử, xuất gia nghĩa là khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh!”: “Này khanh, hãy đánh xe đến gần vị xuất gia”. “Thưa vâng, Hoàng tử”.
Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử Vipassì, đánh xe đến gần người xuất gia. Này các Tỷ-kheo, rồi hoàng tử Vipassì hỏi vị xuất gia: “Thưa Hiền giả, Ngài đã làm gì, mà đầu của Ngài không giống những người khác, và áo của Ngài không giống các người khác?”: “Thưa Hoàng tử, tôi là một người xuất gia!”: “Thưa Hiền giả, thế nào gọi là người xuất gia?”: “Thưa Hoàng tử, tôi là người được gọi là xuất gia, vì tôi khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh”. “Thưa Hiền giả, lành thay hạnh xuất gia của Ngài, lành thay khéo tu phạm hạnh, khéo tu tính hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi hoàng tử Vipassì bảo người đánh xe: “Này khanh, hãy lấy xe này và cho đánh xe về cung. Còn Ta ở nơi đây, sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. “Thưa vâng, Hoàng tử”. Người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì lấy xe và đánh xe về cung. Còn hoàng tử Vipassì, chính tại chỗ ấy, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”
(Trường Bộ Kinh I – Trích Kinh Đại Bổn)
II. Trình pháp
Phật tử 1:
“Con chân thành đảnh lễ thâm ân vĩ đại của Đức Thế Tôn.
Con xin chân thành đảnh lễ bậc chư tôn tôn kính.
Con xin chân thành đảnh lễ chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng các bậc hiền trí.
Hiện tại cảm thọ trong con là 1 cảm xúc rất là dạt dào, trong niềm hạnh phúc khi bậc ân sư nói đoạn kinh, những câu kinh cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa xuất gia. Thì cảm thọ trong con rung bắn lên, trong niềm xúc cảm dạt dào. Thật sự sau những gì con đã trải qua, thì đối với con hình ảnh người xuất gia rất là thiêng liêng, rất là đáng trân quý. Khoảng thời gian con được về Linh Quy tu học, đối với con là khoảng thời gian vô giá, không phải trong kiếp nhân sinh này, mà là cả trong luân hồi sanh tử. Mỗi ngày đối với con đều là 1 món quà, ban tặng cho con.
Hiện tại trong con thì cái tâm biết ơn đối với Đức Thế Tôn, đối với Tam Bảo, đối với bậc đạo sư, cũng như đối với bậc ân sư. Chúng con thật là ngập tràn trong cái tâm biết ơn. Nếu như chúng con không gặp dòng Thánh pháp của Đức Thế Tôn, không có được trở về Linh Quy tu học, và quan trọng nhất là được sống đời sống xuất gia. Thì con không biết là con sẽ còn đau khổ như thế nào. Nghĩ đến đó thì lòng biết ơn, tâm biết ơn trong con nó dạt dào, không có thể nào mà con có thể diễn đạt được cảm xúc trong con. Con hứa với bậc ân sư là con sẽ cố gắng, sẽ nỗ lực nhiều hơn nữa. Con sẽ không có buông lung phóng dật, sẽ cố gắng để không làm cho bậc ân sư phải buồn lòng.
Con hứa là con sẽ tận sức mình, vì khi con được xuất gia thì đối với con là 1 niềm hạnh phúc tối thượng mà con cần phải trân quý. Niềm hạnh phúc mà con có được trong dòng luân hồi sanh từ này. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
III. Thiền quán
“Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ, tại kinh đô Bandhumatì có một đại chúng tám vạn bốn ngàn người nghe tin: “Hoàng tử Vipassì đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Khi nghe tin, các vị ấy suy nghĩ: “Pháp luật như vậy không phải tầm thường, xuất gia như vậy không phải tầm thường, vì hoàng tử Vipassì trong pháp luật ấy đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Nay hoàng tử Vipassì đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình tại sao chúng ta lại không?” Này các Tỷ-kheo, rồi đại chúng tám vạn bốn ngàn người ấy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, dưới sự lãnh đạo của Bồ-tát Vipassì. Rồi Bồ-tát Vipassì cùng với đồ chúng, du hành, đi ngang qua những làng, thị xã và đô thị.
Này các Tỷ-kheo, trong khi yên lặng tịnh cư, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Sao Ta lại sống bị bao vây bởi đồ chúng này. Tốt hơn là Ta sống một mình, lánh xa đồ chúng này!”
Này các Tỷ-kheo, sau một thời gian Bồ-tát Vipassì sống một mình, lánh xa đồ chúng, tám vạn bốn ngàn vị xuất gia này đi một ngả, Bồ-tát Vipassì đi một ngả.
Này các Tỷ-kheo, trong khi yên lặng tịnh cư tại chỗ thanh vắng, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Thế giới này thật rơi vào cảnh khổ não, phải sanh rồi già, rồi chết, rồi từ bỏ thế giới này để tái sanh thế giới khác. Không một ai biết một con đường giải thoát khỏi sự đau khổ này, thoát khỏi già và chết”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, già chết mới có mặt? Do duyên gì, già chết sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do sanh có mặt, nên già, chết có mặt. Do duyên sanh, già chết sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, sanh mới có mặt? Do duyên gì, sanh phát khởi?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến sau đây: “Do hữu có mặt nên sanh mới có mặt. Do duyên hữu, nên sanh phát khởi”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, hữu mới có mặt? Do duyên gì, hữu phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thủ có mặt nên hữu mới có mặt. Do duyên thủ, hữu phát sanh”.
(Trường Bộ Kinh I – Trích Kinh Đại Bổn)
Mà nói rộng ra là nghiệp, nói sâu xa là cái tâm yêu thích thiện hữu. Cho nên tất cả những bài thiền quán của chúng ta, là nhằm phơi bài tất cả cả mọi hiện hữu là nằm trong đau khổ. Vì cái tâm mê, cho nên nó chấp thủ vào trong cái hiện hữu của 5 uẩn này. Cái tâm hôn mê, cái tâm đam mê, cái tâm si mê vào trong hiện hữu của 5 uẩn này. Chữ “hữu” này chúng ta giải thích rất là nhiều phương diện, nhưng mà cái chỗ thâm sâu nhất của nó chính là cái tâm mê, đối với sự hiện hữu 5 thủ uẩn. Chính cái này nó mới có ra dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu. Mới có ra cái cõi dục, sự hiện hữu của cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Cái nguồn gốc của nó là 1 cái tâm hôn mê, si mê, đam mê, u mê.
Cái sự nắm giữ này từ đâu mà nó có? Thì Bồ Tát như lý tư duy, triển khai thiền quán, nhìn sâu vào dòng tâm tư thì Ngài thấy là do sự ưa thích. Là do ưa thích mới có sự nắm giữ, hiện hữu cho nên mới có nên dòng sống chết này. Một cái tâm yêu thích, nắm giữ ở trong 3 cõi: Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu. Và nó có mặt, có sanh, rồi có già.
IV. Bồ tát chứng ngộ
“Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt thủ mới có mặt? Do duyên gì, thủ phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do ái có mặt, thủ mới phát sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, ái mới có mặt. Do duyên gì, ái phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thọ có mặt, ái mới có mặt. Do duyên thọ, ái phát sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, thọ mới có mặt. Do duyên gì, thọ mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do xúc có mặt, thọ mới có mặt. Do duyên xúc, thọ mới phát sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, xúc mới có mặt. Do duyên gì xúc mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do lục nhập có mặt, xúc mới có mặt. Do duyên lục nhập, xúc mới phát sanh.”
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, lục nhập mới có mặt. Do duyên gì, lục nhập mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc có mặt, lục nhập mới có mặt. Do duyên danh sắc, lục nhập mới phát sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, danh sắc mới có mặt? Do duyên gì, danh sắc mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thức có mặt, danh sắc có mới có mặt. Do duyên thức, danh sắc mới phát sanh”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, thức mới có mặt. Do duyên gì, thức mới phát sanh?”
(Trường Bộ Kinh I – Trích kinh Đại Bổn)
Đó là hồi nãy chúng ta thiền quán “tại sao mà con mắt này là 1 sự sỉ nhục”. Vì nó xúc, nó thọ, rồi nó ái, rồi sau đó nó thủ. Nhìn thấy 1 cái rồi nó yêu thích, nó yêu thích thì nó nắm giữ, nắm giữ thì nó phải có sự hiện hữu trong cái dòng sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đầy lo lắng, bất an, tai họa, bệnh tật, ốm đau, sợ hãi, kinh hoàng trong cái dòng sống chết oan nghiệt, quay cuồng và đảo điên này.
“Tại sao có 6 căn? Do có danh và sắc”, tức là ngũ uẩn. Sắc là tứ đại, danh là xúc tác ý, thọ, tưởng, tư. Cái này có thời gian chúng ta sẽ học đầy đủ, Đức Phật giải thích từng chặng của thập nhị nhân duyên. Ở đây chúng ta chỉ giới thiệu tổng quát, để chúng ta thấy được cái dòng sanh tử.
“Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc có mặt, thức mới có mặt. Do duyên danh sắc, thức mới phát sanh”.
Đây là cái thức đi đầu thai, cái tâm hôn mê, cái tâm thức hôn mê mà nó nhập vào thai mẹ cha khi quan hệ. Nó chui vô đó, nó tìm cái lạc, cái dục ở trong đó. Rồi lần lần nó mới tượng hình, đầy đủ các căn, rồi bắt đầu nó mới tiếp xúc. Sau khi tiếp xúc rồi nó sẽ có cảm thọ, cảm giác. Sau khi có cảm giác rồi nó mới yêu thích, đắm chìm, rồi nó tạo nghiệp. Từ đó nó mới có cái dòng sanh tử, sầu đau.
“Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ như sau: “Thức này xoay trở lui lại, từ nơi danh sắc, không vượt khỏi danh sắc. Chỉ như thế này, con người được sanh ra hay trở thành già, hay bị chết, hay từ biệt cõi này, hay sanh lại ở cõi khác, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh; do duyên thức, danh sắc sanh; do duyên danh sắc, lục nhập sanh; do duyên lục nhập, xúc sanh; do duyên xúc, thọ sanh; do duyên thọ, ái sanh; do duyên ái, thủ sanh; do duyên thủ, hữu sanh; do duyên hữu, sanh sanh; do duyên sanh, lão, tử, sầu bi, khổ ưu não sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này”.
Do cái tâm thức hôn mê này nó dẫn dắt, cho nên nó tượng hình ra 1 thai nhi. Khi nó đầy đủ 6 căn rồi có cảm giác, cảm thọ yêu thích, nắm giữ rồi tạo nghiệp. Rồi nó phải chịu cảnh tái sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy là sự tập khởi toàn bộ đống khổ to lớn này.
“Tập khởi, tập khởi”. Này các Tỷ-kheo, từ nơi Bồ-tát Vipassì, khởi sanh pháp nhãn từ trước chưa từng được nghe, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, ánh sáng sanh.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, già chết không có mặt? Cái gì diệt, già chết diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do sanh không có mặt, già chết không có mặt, do sanh diệt, già chết diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, sanh không có mặt? Cái gì diệt, sanh diệt! Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do hữu không có mặt, sanh không có mặt, do hữu diệt, sanh diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, hữu không có mặt? Cái gì diệt, hữu diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thủ không có mặt, hữu không có mặt, do thủ diệt, hữu diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, thủ không có mặt? Cái gì diệt, thủ diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do ái không có mặt, thủ không có mặt, do ái diệt, thủ diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, ái không có mặt? Cái gì diệt, ái diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thọ không có mặt, ái không có mặt, do thọ diệt, ái diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, thọ không có mặt? Cái gì diệt, thọ diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do xúc không có mặt, thọ không có mặt, do xúc diệt, thọ diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt xúc không có mặt? Cái gì diệt, xúc diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do lục nhập không có mặt, xúc không có mặt, do lục nhập diệt, xúc diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì có mặt, lục nhập không có mặt? Cái gì diệt, lục nhập diệt”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc không có mặt, lục nhập không có mặt, do danh sắc diệt, lục nhập diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, danh sắc không có mặt? Cái gì diệt danh sắc diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thức không có mặt, danh sắc không có mặt, do thức diệt, danh sắc diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì không có mặt, thức không có mặt? Do cái gì diệt, thức diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc không có mặt, thức không có mặt, do danh sắc diệt, thức diệt”.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Ôi, Ta đã chứng được con đường đưa đến Bồ-đề, nhờ pháp tu quán. Nghĩa là, do danh sắc diệt, thức diệt; do thức diệt, danh sắc diệt; do danh sắc diệt, lục nhập diệt; do lục nhập diệt, xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt, do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, già, chết, ưu, bi, khổ, sầu, não diệt. Như vậy, toàn bộ khổ uẩn diệt”.
“Diệt, diệt”. Này các Tỷ-kheo, từ nơi Bồ-tát Vipassì, khởi hành pháp nhãn từ trước chưa từng được nghe, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, ánh sáng sanh.
Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau một thời gian sống quán sự sanh diệt trong năm uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành diệt! Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức diệt”.
Và đối với Ngài, sau khi sống quán pháp sanh diệt trong năm thủ uẩn, chẳng bao lâu các lậu hoặc được tiêu trừ và Ngài được giải thoát.
(Trường Bộ Kinh I – Trích Kinh Đại Bổn)
Thế Tôn Tỳ-bà-thy trở thành bậc A-la-hán, vô nhân sư, vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Đối với Ngài sao sự quán chiếu về sự sanh diệt của 5 thủ uẩn, chẳng bao lâu các lậu hoặc được tiêu trừ, Người được giải thoát. Tất cả chúng ta đứng lên đảnh lễ Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thy.
Bằng tất cả tấm lòng chân thành cung kính, chúng con đảnh lễ Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thy, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác.
Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thy, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác.
Bằng tất cả tấm lòng chân thành kính, chúng con đảnh lễ Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thy, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác.
Chúng ta có cảm nhận gì khi chúng ta đọc Bồ Tá thành Chánh đẳng Chánh giác không ạ? Lúc đó có trời mưa trên mái vòm chúng ta có thấy không ạ? Cảm nhận cho sâu sắc, về sự rưới những giọt nước đó xuống là có nhân có duyên. Chúng ta ngồi quay mặt ra bầu trời chia sẻ cảm thọ. Bồ Tát thành Phật chúng ta có hoan hỉ, có hạnh phúc không? Tin Thánh trí ngũ uẩn chưa? Đó là Bồ Tát Tỳ-bà-thy mà Đức Phật kể lại đó. Ngài quán sanh diệt ở trong 5 thủ uẩn không bao lâu, là đoạn tất hết tất cả các lậu hoặc. Sát quyết chưa? Tin chắc chưa? Tịnh tính bất động chưa?
V. Trình pháp 2
Phật tử 2:
“Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác.
Con kính đảnh lễ trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cũng toàn thể đại chúng. Con xin được chia sẻ cảm thọ của con, trong khi sư phụ chia sẻ về việc thành đạo của Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thy trong quá khứ. Thì hiện giờ cảm thọ của con nó giống như vỡ nước ra, cảm thọ toàn thân của con mát lạnh. Con thấy niềm vui, niềm hỷ lạc ngay trong giờ phút hiện tại này còn hơn còn ngồi cõi trời nữa. Con thấy con rất là hạnh phúc, sung sướng, tuy là cõi trời theo kinh điển Đức Thế Tôn kể lại là hưởng thụ những dục lạc, cảnh đẹp, 5 dục công đức đầy đủ. Nhưng mà chưa chắc gì chư thiên biết rõ ràng về đạo lộ, con đường mà tất cả các Đức Phật quá khứ đã thành đạo.
Ngay đây, hiện giờ con được nghe sư phụ trùng tuyên lại những lời dạy của Đức Phật trong kinh Nikāya. Con thấy rất là hạnh phúc quá, thiêng liêng quá. Thì ngay bản thân con cũng như đại chúng, đang đi trên con đường mà tất cả các bậc Chánh đẳng giác đã từng đi. Con rất có niềm tin chúng con sẽ về đến đích, chúng con rất có niềm tin như vậy. Vì đạo lộ quá rõ ràng, nằm trong lòng bàn tay, cũng như chúng con có sơ đồ trong tay, bây giờ chỉ còn tinh tấn để mà đi. Đi theo cái bản đồ đó, rồi chúng con sẽ đạt được những gì cần đạt được. Chúng con sát quyết tinh tưởng vào điều đó, tin tưởng vào đạo lộ, con đường của các bậc Chánh đẳng chánh giác đã từng đi.
Và 1 điều con chia sẻ rất là hoan hỉ, hạnh phúc trong chiều nay là chúng con đã biết được tại sao có già chết, và phương pháp chấm dứt già chết. Đó là cắt đứt cái sự sanh, chính vì cắt đứt cái sự sanh, già chết không có mặt, không có hiện hữu. Cho nên tuy hiện giờ con ngồi đây, nhưng mà cái cảm thọ của con hoan hỉ quá sư phụ ơi. Giống như con không có chứa được nữa, nó hạnh phúc, nó dâng trào lắm. Vì khi mình đã có lòng tin đối với những gì trong kinh Nikāya, mà sư phụ đã truyền trao. Mà chúng con đang tu học, đang thực hành và đang đi trên con đường giải thoát đó. Con xin chia sẻ niềm vui, niềm hạnh phúc của con đến với sư phụ cùng đại chúng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Phật tử 3:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên sư phụ tôn kính của chúng con. Con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Con kính thưa trên sư phụ tôn kính, thật sự là sau khi nghe những lời dạy sư phụ về sự sỉ nhục của sanh, già, bệnh, chết. Sáng hôm nay con tiếp tục suy tư, nhưng vẫn chưa có được sự sâu sắc như là chiều nay sư phụ đã giảng giải cho chúng con. Những lời dạy chiều nay của sư phụ triển khai, thật sự là mở rộng ra rất là nhiều, phá đi cái tâm mê mồi của con. Thưa sư phụ hôm nay con mới hiểu ý nghĩa lời dạy của bậc đạo sư, khi mà để chúng con thực hành 3 pháp.
Và con kết nối với lời dạy của sư phụ về sanh, già, bệnh, chết. Con liên hệ với nhau và con thấy được rằng sự Chánh niệm trước mặt, để con thấy ra những gì con có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, những cái đó đều là sự sỉ nhục. Và con tiếp tục thiền quán, thì thấy rằng ví như nhìn cái nhà vệ sinh, thì mình biết đây là sự sỉ nhục. Từ đâu mà có cái nhà vệ sinh này? Vì do cái nhu cầu ăn uống của mình, nuôi cái mạ`ng sống này, rồi mới có cái nhà vệ sinh đó. Như vậy nhìn cái nhà vệ sinh, để mà khởi lên sự tàm quý, xấu hổ, nhục nhã. Nhìn một căn nhà như sư phụ đã chỉ dạy, mình phải biết rằng đó không phải là chỗ được gọi là tổ ấm, mà đó là nơi thực hành sự dâm dục.
Con nhớ trong kinh Đức Phật dạy: “Từ thuở ngày xưa, khi mà những sự dâm dục đầu tiên xảy ra, quần chúng xung quanh phải ném đá, chửi rủa những người dâm dục, khiến cho họ phải vào rừng thật sâu vì xấu hổ. Nhưng sau này để tiện cho sự dâm dục thì họ mới nghĩ làm những cái chòi, rồi lần lần thành cái nhà”. Ngày xưa chúng con nhìn cái nhà thì nghĩ ngay đó là nơi để về, là tổ ấm, là nới có người thân. Hôm nay qua lời dạy của sư phụ, chúng con biết quán tưởng, nhìn cái nhà chỉ là 1 cái nời rất là thấp kém, hạ liệt. Một cái nơi chỉ làm cho người ta thỏa mãn sự dâm dục, hèn hạ. Rồi sự quán tưởng về những tiếng chó tru, ríu rít côn trùng kêu rên.
Chánh niệm, lắng nghe những tiếng đó để biết đó là sự sỉ nhục của đời sống này. Đó là quả báo, là kết quả của những ác nghiệp hay là thiện nghiệp. Nhìn, thấy, nghe để biết đó là sự phản ánh của nhân quả, nghiệp báo. Có gì mà vui, mà cười, mà nói, có gì vui mà náo động tâm. Nhìn những nơi tiện nghi lúc trước chúng con rất là thích thú, nhưng hôm nay qua lời dạy của sư phụ. Con hiểu 1 cách sâu sắc rằng những chỗ càng tiện nghi, nó càng phản ánh là cái sự kham nhẫn của mình không có. Mình rất yếu kém trong sự kham nhẫn, rồi mình phải đáp ứng cho cái lòng thỏa mãn vì xác thân này. Càng tiện nghi bao nhiêu, thì càng thể hiện sự chịu khó, chịu kham nhẫn của mình càng kém bấy nhiêu.
Như vậy đó cũng là càng tiện nghie thì càng sỉ nhục, đó gì vì cái sự tiện nghi đó. Thậm chí lúc trước nhìn hoa nở, hay là có những cái quả gì nó lú lú ra con rất là thích. Hôm nay con quán tưởng, con thấy không có gì đáng yêu thích trong cái hoa nở, hay là cái quả nó lú ra. Bởi ngay cả cái cây, loài thực vật kia nó cũng phải biết tỏa ra mùi hương, để kêu gọi những con côn trùng tới để mà thụ phấn giúp nó. Trời ời cứ nghĩ loài người, loài hữu tình mới dâm dục, không ngờ loài thực vật nó cũng biết kêu gọi sự giao phối, giao hợp bằng mọi cách để mà ra hoa, ra quả. Khi quan stowis đó con thấy nhàm chán, kinh tởm, ghê gớm. Thấy thấp kém, hạ liệt trong cái cỏi nhân gian vô cùng tận này, rất nhiều sự quán của con không tiện kể ra hết.
Rồi đến cái thân này, cảm giác toàn thân là pháp thứ 2 trong 3 pháp. Như sư phụ dạy, nhìn từ đầu cho tới gót chân: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, những gì đang hiện hữu đây, đó chỉ là kết quả của cái nhân quá khứ. Những người có trí tuệ, những bậc Thánh nhìn cái hiện hữu của mình, thì các Ngài đủ biết đời trước mình đã gieo nhân gì, nghiệp gì. Càng đau khổ, càng kêu rên bất hạnh, thì càng phản ánh đời quá khứ của mình rất là tồi tệ, sống rất là dở, gây rất nhiều ác và bất thiện pháp mà thôi. Thật sự là sỉ nhục cái thân này, chẳng may cái thân này được tịnh tướng xinh đẹp, thì cũng chẳng mấy hay ho lắm đâu.
Vì cái nhân có sự tịnh tướng đó, sẽ kéo theo cái tâm mê mờ, kiêu căng, hống hách, tự phụ, ngã mạn cho cái thân này. Tưởng rằng nó trường tồn, vĩnh cửu với sự tịnh tướng đó. Khi mà quán tới đó, quán đến các bậc Thánh, các bậc có trí tuệ người ta nhìn lên kết quả, sự hiện hữu trên thân của mình. Các Ngài biết được, chắc có lẽ các Ngài chỉ mỉm cười nhẹ. Trong khi mình có cái thân bất hạnh, thì than khóc, kêu khổ, có cái thân tốt đẹp thì ngã mạn, ta đây. Còn các Ngài mỉm cười nhẹ thôi, mà đâu biết rằn nụ cười đó là sự sỉ nhục, là sự đang thương, đáng tội nghiệp cho những con người mê mồi không biết chi cả. Lúc này sư phụ có dạy “con mắt có ghèn”, “vô tình nói chuyện văng nước miếng vào thức ăn, mình hỷ nước mũi”.
Con nghe những lời đó, thì cái tưởng lặp tức nhớ ngay chuyện xảy ra với con thật sự rất là xấu hổ. Cái oai nghi thô tháo của con, nói cười to tiếng, văng nước miếng ra để người ta thấy được, người ta chê cười, thật sự là xấu hổ và nhục nhã. Rồi đến nội tâm tỉnh giác, con thấy trong lời dẫn thiền của sư phụ, chúng con cũng theo đó mà lên tưởng. Những cái thọ, tưởng, hành bất thiện của chúng con, nếu cho những bậc có trí tuệ, những bậc chứng tha tam thông, những bậc Thánh đọc được thật là xấu hổ, thật là nhục nhã, ê chề. Bởi 1 ngày trôi qua đối với những người đầy tâm mê, thì thiện pháp thì ít, ác bất thiện pháp thì nhiều.
Tham, sân, si, dục, ái, ngã mạn mà để cho các bậc Thánh đọc được, thì thật sự là chỉ muốn độn thổ không có chỗ nào có thể ngóc đầu lên. Khi mà con quán tưởng đến sự liên kết, thực hành 3 pháp.”