Cam giac nhan chim the gioi 1 - BT 8.2019
Linh Quy Pháp Ấn
Cảm giác
nhận chìm thế giới
(1)
- Thích Minh Thành –
NHÀ XUẤT BẢN ……………….
Thuyết giảng:
Thích Minh Thành.
Chuyển thành văn bản:
…………………
Biên tập:
Thiện Ngộ.
Sửa bản in:
………………………..
Ban Văn hóa Pháp Ấn
thực hiện
Biên tập 8.2019
MỤC LỤC
Luôn nhìn lại chính mình ………………………………………………………. 4
Cảnh giác trước mọi cảm giác ………………………………………………….. 6
Thường soi rọi vô thường để diệt ngã …………………………………………… 10
Luôn nhìn lại chính mình
Chúng ta cùng ngồi tĩnh tọa, thực hành ba pháp: Rõ biết trước mặt, trở về cùng hơi thở và nhận diện cảm giác toàn thân.
Rõ biết trước mặt một cách tỉnh sáng, không bị vọng niệm, ngoại cảnh tác động, chi phối.
Trở về hơi thở, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở lồng ngực, ở chóp mũi, ở bụng. Nhận diện rõ những cảm giác có mặt ở đầu, mặt, vai, mình, mông, chân, bàn chân, bàn tay, cảm giác ra toàn thân, nội tâm tỉnh giác.
Đây là cánh cửa để chúng ta mở ra tất cả pháp hành của Phật giáo. Hành giả thường xuyên thực tập nhìn lại nội tâm, nhận diện sự có mặt của các cảm giác ở trong cơ thể mọi lúc, mọi nơi. Thực hiện được điều này, sẽ giúp mình thành tựu về trí tuệ tự thân và khám phá được sự vận hành của tứ đại, năm uẩn, các cảm giác, cảm thọ, cảm xúc, tư tưởng, sự suy nghĩ, nhận thức ở trong tâm.
Nếu chúng ta thương xuyên thực tập nhận diện cảm giác toàn thân sẽ có hiệu quả tuyệt vời. Nhờ vậy, định tâm trên thân sẽ có mặt khi người tu tinh tấn, miên mật.
Thí dụ, khi mình chạy xe, mình xem lại cảm giác mình như thế nào? Nếu như cảm giác chạy xe lạc thọ sinh khởi, mình sung sướng với cảm giác đó rồi bắt đầu mình rồ ga phóng nhanh, không biết cảm giác trong thân hiện tại ra sao nữa. Đó là dục, ái, tham, si đang vận hành trong cảm giác mà mình không thấy. Phong đại có cả nội phong giới và ngoại phong giới kết hợp trong tà áo bay phấp phới khi mình chạy xe. Có tà áo nó sẽ quấn vào bánh xe mà bản thân không hay biết, chẳng để tâm cẩn thận trong việc chạy xe, chấn chỉnh trang phục khi ra đường, do bị cảm giác điều phối làm cho lâng lâng, làm cho vui thích, dễ chịu, không khéo sẽ dễ bị tai nạn. Cần quán chiếu về phong đại. Tất cả tai nạn giao thông cũng bắt đầu từ không kiểm soát phong đại, nội phong giới và ngoại phong giới, không kiểm soát cảm xúc của mình ở trong phong đại dẫn đến xảy ra những việc đáng thương, đáng buồn, đáng trách.
Chính vì thế, người tu chúng ta cần luôn nội soi, xoay trở lại cảm giác, nhìn thẳng và diệt tận nó. Ví như, đang ngồi thiền mà cái đầu nó quẹo một bên, nếu mình có chánh niệm, có cảm giác toàn thân, lập tức biết liền và chỉnh lại tư thế ngồi ngay ngắn, đúng tư thế. Còn không có cảm giác toàn thân, lúc đó mặc kệ cho nó phóng đi đâu tùy thích.
Hay khi ngồi thiền, mình thấy trong thân tâm có một trạng thái dao động, tức là trạo cử, một trong năm triền cái là dao động tâm, dao động thân. Lúc đó, bản thân điều chỉnh lại liền, nhiếp phục cảm giác mọi lúc mọi nơi mới vượt qua sự nhấn chìm của cảm giác hư ngụy.
Hành giả cần quán chiếu tứ đại, cảm giác, năm uẩn, rồi nhận diện được năm triền cái. Như vậy, quán pháp trong Tứ Niệm xứ một cách chân thật, đúng đắn, thường xuyên. Muốn được thì cần chịu khó, chịu khổ, nhẫn nại, kiên trì. Đức kham nhẫn của người tu là trọng yếu. Nếu không có đức kham nhẫn, trên bước đường tu sẽ khó thành tựu. Bởi đây là một trong những điều kiện của sự tu tập kham nhẫn và chịu khó. Lúc đầu nó làm cho mình khó chịu lắm, vì tập khí lâu đời cứ muốn phóng ra để ý bên ngoài, không muốn để ý bên trong, nhưng mình cứ tập từ từ rồi sẽ quen và thành thục.
Khi chúng ta ngồi nghe pháp, nếu khéo tác ý trong tu tập thì mình sẽ rời được năm triền. Đang nghe pháp, những tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử, nghi ngờ không có mặt. Vì chúng ta đang hướng tới điều thiện thượng lành nẹn bất thiện pháp không có cơ hội xuất hiện. Nghe được pháp và chánh niệm tỉnh thức là sự nghe tuyệt vời! Đây là bí mật, vì không có năm triền cái nên tâm hoàn toàn trong sáng. Tất cả pháp âm của Đức Phật được hành giả ghi nhận rõ ràng, đầy đủ, ngay đó người tu đang nghe pháp trở thành bậc truyền trì chánh pháp tạng, được người đời khen ngợi là:
Diện như thu mãn nguyệt
Nhãn tợ thanh liên hoa
Phật pháp như đại hải
Lưu nhập Anan tâm
Tạm dịch:
Mặt như trăng thu đầy,
Mắt như hoa sen xanh,
Phật pháp như biển cả,
Rót vào tâm Anan.
Bất cứ ai mà nghe pháp đều có thể trở thành đệ tử cưng của ngài Anan Tôn giả, sẽ là người nối nghiệp Đa văn Thánh đệ tử Anan và tất cả Pháp tạng thâm nhập trí huệ như hải. Ngược lại, chúng ta nghe pháp với thái độ thờ ơ, nghe cho xong, nghe không chú tâm, chưa đặt hết lòng mình vào pháp để hành trì thì khó thành tựu. Chúng ta bị bao vây bởi rất nhiều hình ảnh nội tâm, suy nghĩ liên miên dao động, nghi ngờ đầy dẫy. Cho nên, nghe pháp xong nhưng hỏi lại thì không nhớ gì cả. Vì một cái tâm rối bời, đầy ô nhiễm, tạp nhạp thì làm sao tiếp nhận pháp một cách trọn vẹn được.
Thời Đức Thế Tôn có rất nhiều vị đệ tử xuất gia, tại gia sau khi nghe pháp đều có khả năng chứng quả ngay tại đó. Đắc pháp hiện đời là một sự thật không hề chối cãi trong lịch sử Phật giáo. Muốn đạt được Thánh quả không phải tự dưng mà có. Sau khi Đức Phật nhập diệt không bao lâu, những vị đệ tử tiếp tục trùng tụng pháp Phật, nghe pháp chánh niệm và đắc pháp nhãn tịnh. Nghĩa là được con mắt sáng tỏ, thấy được pháp, ngộ được pháp, thậm chí là chứng được pháp.
Trong bài kinh Cội rễ của sự vật, Đức Phật có dạy: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”. Hành giả cần thường xuyên nhìn lại cảm giác, cảm xúc mình. Có như vậy, chúng ta mới kịp thời ngăn chặn bất thiện pháp hoặc có cách thanh lọc thân tâm, vì đã thấy được pháp ô nhiễm, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu ở trong cảm giác. Khi mình thấy được rồi, có cách nhiếp phục, phải đoạn tận nó một cách triệt để thì mới vượt qua đau khổ của sanh sanh tử tử.
Cảnh giác trước mọi cảm giác
Nhìn lại cảm giác không phải đâu xa, nó hiện diện trong sinh hoạt, oai nghi hàng ngày của mỗi người. Khi đi đứng nằm ngồi, lúc nói năng, làm việc, rồi ăn mặc mình như thế nào?
Ví như, ăn thì cảm giác ra sao? Mắt nhìn thấy thức ăn cảm giác động chuyển ra làm sao, nó vận hành như thế nào mình không thấy. Lúc đó chỉ thấy toàn là đồ ăn. Lo nhìn những món ăn trên mâm nên không có chánh niệm tỉnh giác xoay lại nhìn cảm giác tự thân tâm này nó muốn điều gì? Nó làm ra sao? Có phải là phàm phu hay là Đa văn Thánh đệ tử trong lúc ăn.
Mắt tuy nhìn xuống thức ăn nhưng mà hành giả cần nhìn sâu quán xét cảm giác mình nó động chuyển, sanh khởi theo chiều hướng nào. Lúc đó, dục, tham, ái có khởi lên không? Tuyến nước bọt có tràn ra vì bị kích thích bởi mùi vị thức ăn hay không? Hành động không thể cưỡng lại của tay cầm đũa gắp thức ăn lia lịa bỏ vào chén mình và ăn mau nuốt lẹ? Tất cả trí tuệ đó là sự tu tập, không phải nói suông.
Ăn uống không chánh niệm thì khó mà tiêu được. Tất cả vật chất mà người tu có được đều nhờ vào đàn-na tín thí khắp nơi cúng dường mới có. Mình không cố gắng tu hành làm sao tự độ, huống nữa là độ tha. Đừng đợi tham nó hiện rõ mới biết là tham, tới đó là cháy nhà, cháy chùa, cháy hết thân tâm này còn gì nữa. Phải nhận rõ, nhìn cho ra từng loại giặc qua chốt cửa cảm giác. Chúng sanh diệt liên miên bất tận, mình cần phải quán sát, phòng thủ, chế ngự và chặt đứt bất thiện pháp, không cho chúng sanh khởi ở đời, chẳng còn nơi cho chúng lưu trú nữa. Tham, sân, si, bản ngã, vô minh trói chặt chúng ta trong luân hồi bất tận. Phải vượt ngục, thoát ra bằng tâm hướng thượng thiện lành, trí tuệ sáng tỏ nhìn sâu xét kỹ, miên mật tu hành không gián đoạn mới đánh bạt chúng khỏi năm uẩn giả hợp.
Nếu mình thấy sự tham ăn đang tăng mạnh, thì lúc đó nên dừng lại từ từ gắp thức ăn. Nhìn lại tứ đại, năm uẩn, sáu căn đang đối diện tiếp xúc với sáu trần đầy cám dỗ. Khởi tâm hổ thẹn, xấu hổ vô cùng thì giặt tham trốn mất, có cái gì mà phải sân, si trong thức ăn đó. Một lát nó sẽ đi ra ngoài. Vì có vào sẽ có ra, có nhai nuốt sẽ có tiêu hóa, bài tiết. Thơm tho đó rồi hôi dơ đó. Phải tự nhiếp phục những cảm giác gây sự chướng ngại trên bước đường tu hành của mỗi người. Cảm giác dục là muốn nhanh lẹ, được chúng ta làm cho nó lắng dịu lại, sau đó tiếp tục ăn. Có gì đâu mà vội vàng, ăn mà mình làm cho cạn kiệt phiền não; ăn để đoạn trừ ái trong cảm thọ; ăn nhằm đoạn trừ tham trong cảm thọ; ăn mà đoạn trừ dục trong cảm thọ; ăn, đoạn trừ si trong cảm thọ; ăn, đoạn trừ vô minh trong cảm thọ. Nếu có ăn được như vậy thì tuyệt vời của vô thượng phước điền, đó mới là người chân chánh xuất gia.
Tu hành đừng nhìn thấy cái ngọn bên ngoài. Diệt tam độc, phiền não thâm suâ vi tế, không phải chỉ thấy hiện ra tham kiểu như đi ăn cắp đồ. Thấy như vậy thì người không tu ở ngoài đời cũng biết. Đó là cái tham của kẻ Vô văn phàm phu. Còn cái tham mà bậc Đa văn Thánh đệ tử thấy biết bằng trí huệ thì nó nhỏ nhiệm, chỉ khẽ mấp máy động nhẹ trong cảm giác. Ngay lúc cảm giác vừa hiện diện sanh khởi thì những vị ấy đã thấy rõ và diệt tận ngay. Quá trình của cảm giác là sanh khởi, an trú, phát triển và chấm dứt, chúng ta cần thấy rõ để hành trì vượt thoát khỏi chấp ngã, vướng mắc.
Kinh Phạm Võng trong Trường Bộ, Đức Phật từng nói rằng, những người phàm phu khen Như Lai nhiều lắm, đủ thứ cách khen, khen đó là khen ở giới tướng bên ngoài. Đức Thế Tôn dạy rằng:
“Này các Tỷ-kheo, đấy là những vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu dùng để tán thán Như Lai.
Này các Tỷ-kheo, lại có những pháp khác, sâu kín, khó thấu, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị chỉ những người trí mới nhận hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, không thể nhận hiểu bởi luận lý suông, tế nhị, chỉ những người trí mới có thể nhận hiểu.”
Chỉ có thật sự thấy rõ pháp và nhận diện cảm giác mới ra khỏi phiền não, khổ đau. Hành giả tu tập để thực hiện được công việc nhiếp phục cảm thọ, đoạn tận cảm thọ, đoạn tận dục, tham, sân, si, bản ngã, vô minh. Đây là chỗ thâm sâu của trí huệ mà hằng ngày mình chết không biết bao nhiêu lần ở trong cảm giác nhưng lại không biết.
Vô minh, si ám, cảm giác đều chi phối mình trong sinh hoạt hàng ngày. Từ ăn uống, đi lại, gặp gỡ, cho tới ngủ mộng, cảm giác cũng làm quấn lấy chúng ta trong những giấc chiêm bao buồn, vui, cười, khóc. Chúng ta đã chết trong cảm giác này biết bao lần, trải qua bao nhiêu đời kiếp rồi, vẫn chưa dứt khỏi nói. Do đó, thường xuyên nhìn lại cảm giác, soi chiếu nội tâm, tự thân vượt thoát khỏi những ràng buộc của cảm giác, si ám kia. Phải nhận rõ từng loại cảm giác, xem coi nó động chuyển ra sao.
Khi nghe một lời góp ý chân thành, giúp mình sửa lỗi, nói đúng chỗ sai nhưng mình không nhận thấy lỗi mình. Bỏ ngoài tai những lời chỉ dạy của huynh đệ, thiện tri thức, minh sư rồi bản thân quay cuồng điên đảo trong sai lầm và thoái đọa là điều chắc chắn xảy đến. Chúng xem và nghe lời góp ý của người khác xuất phát từ đâu. Nếu từ bi tâm thì mình học. Ngược lại, đó là lời nói từ sân tâm, ganh tị, đố kỵ thì mình im lặng, không cần thiết phản ứng. Tập lắng sâu và thở, đừng vội phản ứng như cái lò xo hay như trái bóng quăng vào vách tường nó dội ngược trở lại. Nhận diện cảm giác vận hành, đưa tâm về hơi thở, thấy rõ các pháp sinh diệt. Thực pháp của Đức Thế Tôn để hành giả tu hành thiết thực, không phải chạy ra ngoài, lăng xăng làm cái này cái kia rồi vọng tâm phiền não, gây ra nghiệp từ thân, miệng, ý.
Chúng ta đọc lại kinh tạng Nikàya, thấy lối sống sinh hoạt của Đức Phật và các đại đệ tử của Ngài rất nhẹ nhàng, thanh tịnh, cao quý, sống đời Phạm hạnh, đáng tán thán, cúng dường xiết bao! Sáng đi khất thực về thọ trai, nghe pháp, sau đó là độc cư thiền tịnh, đầu hôm, giữa đêm, cuối canh đều là thiền quán. Bây giờ chúng ta đang làm điều gì? Phải nhìn lại để thấy biết được mình đã đi quá xa, cần ghìm cương ngựa lại, dừng lại sự mong cầu, ham muốn, chớ để danh hão, chức hờ làm cho một đời tu loay hoay không nơi an trú. Đừng để chức vị trụ trì, quản chúng, tri sự làm mình rối ren như sợi chỉ. Chính tự thân phải biết điều đó có vị ngọt và sự nguy hại, không biết tức là vô tri. Trong giáo pháp, luôn tự đặt câu hỏi cho bản thân ‘xuất gia để làm gì? Sống ở đời để làm gì? Mục đích của đời sống Phạm hạnh này là gì? Cuối cùng đạt được gì? Hiện tại đang làm gì?’. Chúng ta cần phải suy xét rõ ràng chân xác về những điều ấy, thực hành tinh tấn trên đường đạo mới có kết quả thực sự của người tu.
Luôn xem lại cách ngồi của mình đã oai nghi chánh hạnh chưa? Không có buông lung phóng dật bất cứ ở đâu, khi nào, việc gì đều xoay trở lại nội tâm hổ thẹn, thực hành thiện pháp. Mọi việc làm, lời nói đều mang pháp vào hành xử. Không hý luận, chẳng làm ngoài pháp, thường xuyên chiêm nghiệm lời pháp trong giờ ngồi thiền, tụng kinh, lạy Phật, nghe pháp, học pháp. Ngay cả những giờ không lao tác cũng không cho tâm ý chạy nhảy như thói đời. Chúng ta tu là thanh lọc dần những tập khí lâu đời nhiều kiếp nó còn dư tàn trong đây, phải làm cho nó cạn dần đi tới chỗ suy kiệt, khô cạn, không còn tái diễn si, sân, tham, bản ngã, chấp thủ, vô minh, thị phi, điên đảo mê lầm khen mình chê người.
Khi hành giả có thực hành chiếu soi cảm thọ, sẽ thấy từng khoảnh hắc sanh diệt cảm giác trong tâm biểu hiện như những thước phim được chiếu cho mình xem. Nếu mình rõ biết và vượt thoát khỏi những cảm giác bất thiện thì sẽ qua khỏi khổ đau, phiền lụy. Ngoài lớp da mỏng đẹp đẽ của tuổi thanh xuân. Bên ngoài là hương thơm dầu thoa, là trang sức, là trang phục chỉ là sự dối lừa chúng ta ở bên trong chỉ là bộ xương di động, là những thứ hôi dơ luôn chảy rỉ ra. Lúc mười tám, đôi mươi thì trắng trẻo, hồng hào, khi bảy mươi, tám mươi da nhăn, tóc bạc, răng rụng, mọi việc đều chậm chạp, bất như ý. Biểu pháp vô thường rõ ràng như vậy, thế nhưng mình không tin, chăng thấy được sự thật ấy, vẫn chạy đuổi mong cầu cảm giác, khoảnh khắc của ham thích để chết trong đó không biết bao nhiêu đời kiếp rồi.
Ác ma ở trong cảm giác, tưởng, lộng hành, xảo ngụy. Xưa, có một vị tỳ-kheo hỏi Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, mara thế nào?”, Mara tức là ma, Thế Tôn mới nói như thế này: “Này tỳ-kheo, sắc là ma, cảm giác là ma, tư tưởng là ma, nhận thức là ma, năm uẩn tức là ma. Đó là sự đam mê, yêu thích, tham ái, chấp thủ, sự dục nhiễm ở trong năm uẩn này, ở trong tứ đại, sắc thân này là ma”. Suốt ngày mình sống với ma, bị ma nhập. Đừng nghĩ bị ma nhập lắc lư, kêu gào, cười khóc. Chúng ta đang bị ma năm uẩn chi phối bởi dục, ái, tham, phiền não ma chướng. Lúc nào mà dục ái tham sân buông lung phóng dật, không hộ trì căn, chẳng nhiếp phục thân khẩu ý, chưa chế ngự các giác quan lúc đó là ma. Phải trị con ma đó, nhiếp phục được con ma đó trở thành bậc Chiến Thắng, bậc Sát Tặc, bậc Thượng Sĩ. Phải xoay trở lại nội tâm và tự thân lọc sạch uế nhiễm ấy mới mong chuyển phàm thành thánh, siêu phàm nhập thánh.
Hành giả xem lại trọn một ngày 24 giờ, chúng ta đã làm những gì thật sự có ý nghĩa, đúng như pháp hành trì? Lúc thì đi xe trên đường công việc, khi thì ngồi nghe pháp, rồi ăn, uống, nghỉ ngơi, giải trí… nếu không có tu thì nó hiện bày sự buông lung, chạy đuổi tìm cầu không khác chi người thế tục. Đừng để cảm giác nhận chìm mình! Khi lao tác trong chùa cần tỉnh sáng luôn soi chiếu vô thường. Lúc tiếp xúc ngoại cảnh, đạo hữu, Phật tử hay như đứng giữa chúng hội mình phải có oai nghi chánh hạnh ra sao, giữ được chánh niệm của người tu sĩ dù bất cứ ở nơi đâu. Trước đám đông, mình gặp gỡ có run hay không? Cần tìm hiểu nguyên nhân có cảm giác đó. Có phải do mình muốn nói pháp cho mọi người nhưng lại sợ mình nói không hay; mình muốn được người ta khen nhưng lại sợ bị chê; mình muốn được đẹp đẽ, dù đã cạo tóc rồi nhưng cũng xem gương xem có mục mụn nào không để nặn. Chỉ nêu một ít biểu hiện để chúng ta thấy bản ngã, danh, dục, tham, ái vận hành khủng khiếp, xoay chúng ta như chong chóng.
Thường soi rọi vô thường để diệt ngã
Hành giả thường quán chiếu về sự vô thường luôn hiện hữu trong thân tứ đại này, trong năm uẩn trống rỗng, không có gì là tôi và không có gì là của tôi. Chúng ta có điềm nhiên, mạnh mẽ nhấc chân bước đi hay không? Có gì đâu phải sợ! Chỉ có tứ đại, năm uẩn sao lại hơn thua, tranh đấu cho khổ não trôi lăn trong vô minh. Tu đến chỗ vô ngã là điềm nhiên bất động, tu đến tận cùng đạt đến tâm bất động của bậc A-la-hán. Vì chúng ta luôn ám ảnh bởi một cái tôi trú ngụ trong nội tâm nên còn sầu bi.
Có lần trong lúc nhập thất trên rừng, hôm đó vị Tỷ-kheo vẫn như mọi lần tọa thiền công phu sớm mai lúc 4 giờ. Ở rưng núi, thời tiết lạnh lắm, vị Tỷ-kheo kia đã quấn vào người hai ba lớp áo chống lạnh rồi tọa thiền. Dưới ánh đèn lờ mờ in bóng vị tu sĩ ấy trên vách mùng. Thầy ấy vẫn mở mắt đặt niệm trước mặt nên thấy rõ sự lay động của cái bóng in trên vách mùng. Lúc này ý hành của vị ấy hiện lên ý nghĩ: “Chà, hôm nay tướng nhìn cũng được quá ta!”. Thật là ghê gớm thay! Chỉ có cái bóng chính mình mà đã chấp vào hình tướng đẹp xấu.
Ý hành chấp ngã nhưng đó chỉ là ảo ảnh không có thật. Chúng ta bị ba lớp ảo ảnh, sắc uẩn này lại cho là mình, bóng của sắc uẩn lại chấp thêm một lớp ảo cho là mình rồi soi gương lại thấy bóng mình cũng gán là mình. Khi ấy nội tâm vận hành về dáng của mình. Cái bóng gọi là thân kiến, kiến chấp về thân, là ảo ảnh, ảo tưởng về một cái tôi. Chỉ khi nào buông xả, thật sự vô ngã, thấy được Thánh trí mới buông những sai lầm về thân kiến.
Chúng ta hành trì quán 37 thể trược, quán bất tịnh để nhàm chán dục, xa lìa tham. Dưới lớp da trắng trẻo kia là gì? Rọc lớp da ra thì máu tràn, mỡ chảy, thịt lòi ra, phèo phổi trộn trạo, ruột gan phơi bày, tim thoi thóp. Như vậy, nguyên bộ đồ lòng cầm lên lủng lẳng, để xuống từng bộ phận, thử hỏi cái nào là mình, là của mình? Dạ dày trong nó chứa thức ăn thúi là mình hay bao tử là mình? Ngày nào mình cũng phải quán như vậy, nhằm làm cho cái bóng mờ của ảo ảnh đó từ từ teo tóp, tan biến. Khi trong đầu còn nói về cái tôi, bản ngã thì cần quán chiếu không có một hình bóng nào cả. Đó chỉ là cái giả danh tứ đại, năm uẩn. Lâu dần buông được, có được trí tuệ sáng tỏ mọi điều. Ngược lại, chấp cái bóng là mình, nó sẽ giết hành giả từ từ. Bởi vì còn có tôi là còn có của tôi, còn cái tôi là còn đi tìm phục dịch cho tôi, phụng sự cho tôi, tìm những điều làm cho tôi thỏa mãn, tìm mãi cho tới chết mới thôi.
Đức Phật từng dạy, do còn dục ái nên con người còn đi tìm. Nếu mọi người chấm dứt dục ái thì lúc đó sẽ không còn đi tìm kiếm. Khi không tìm kiếm nữa thì không có dao động. Không có dao động sẽ đi đến giải thoát, tránh trí giải thoát. Đó là tối thượng của người giải thoát.
Ai còn ái thì người đó còn dao động, ai còn dao động thì người đó còn chấp thủ sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ tiếp diễn. Cần thường xuyên thâm quán tứ đại, ba mươi hai thể trược, ngũ uẩn. Chúng ta phải quán sâu trong từng cảm giác. Nhìn cho nó lộ diện, thấy được bộ mặt thật, làm cho nó hiện nguyên hình những dục, tham, ái, bản ngã, vô minh, si ám ở nội tâm mình. Chúng ta đừng để bóng đen vô minh này qua mặt.
Không khéo tu chỉ là tu trên hình tướng. Vì mọi chuyện diễn ra trong ngày sẽ được tái hiện trong đêm, trong ngủ, nghĩ tưởng. Những điều này làm cho chúng ta vui, buồn, sầu khổ, vì đắm chìm bởi cảm giác. Không thoát được bàn tay vô hình tâm ma chính mình. Phải là chiến sĩ, dõng mãnh, quyết liệt, tinh cần hơn nữa trên bước đường tu thì mới sáng tỏ năm uẩn hư ngụy. Thực hành thâm quán mỗi ngày, không lơ là, chẳng nói suông được.
Tu mà có sắc pháp, sắc uẩn thì người tu thành sắc pháp. Còn thọ, tưởng, hành, thức sao không động đậy gì tới? Chúng ta tu trên tướng, sắc uẩn này dễ bị chi phối bởi cảm giác. Cảm giác điều khiển, chi phối, tóm thâu mình, nên nó là Mara, tức là ma. Nhìn kỹ, chúng ta sẽ thấy toàn bộ thế gian này ngập chìm trong cảm giác, cảm xúc, cảm thọ. Chúng ta là người tu, đã có nhiếp phục được cảm thọ chưa hay là mình vẫn đang bị nó chế ngự? Mỗi ngày đều đối duyên tiếp cảnh, cảm thọ diễn biến muôn hình vạn trạng khi tiếp xúc với muôn dạng người và vật, nhất là đối với Thầy, Tổ, đối với huynh đệ tỷ muội, đối với Phật tử, đối với thọ dụng.
Thí dụ, chúng ta đang đi trên đường gặp cụ già trên bảy mươi tuổi, tóc bạc phơ, lưng còng, má hóp, da nhăn, gối mỏi đi đến chìa cọc vé số mời mình mua thì cảm giác của mình như thế nào? Hoặc như có cô Phật tử vừa thi đoạt giải hoa hậu, ghé thăm chúng ta, nghe tiếng nói chuyện với nhau thì cảm giác mình như thế nào? Hay là chúng ta đã từng ngồi ăn chung với người bạn nào đó rất nhiều năm. Cuối cùng phát hiện ra họ bị ung thư gan thời kỳ cuối, vi khuẩn này có truyền qua đường ăn uống. Sau khi biết rõ thì cảm giác mình như thế nào?
Thật vậy, cảm giác chi phối toàn bộ vũ trụ này, cho nên chúng ta tu đến chỗ diệt thọ, tưởng, định của bậc A-la-hán là tất cả các cảm giác đều nhiếp phục, đoạn tận, không phải không biết cảm giác nhưng mà là vượt qua và chế ngự được nó, chỗ này là kỳ diệu.
Cảm giác sẽ thể hiện một cách rõ rệt hơn, khi chúng ta đi vào bệnh viện. Nơi đó là ung bướu, là tâm thần, là bại liệt, là ung thư, là đau khổ trùng trùng, là nghèo khó, là cô đơn, vô vọng. Ở bệnh viện, là bệnh nhân hay thân nhân hoặc chỉ là người ghé ngang qua khoảnh khắc, rồi sẽ thấy cuộc đời chẳng có gì là thú vị, không có gì phải ham thích, đua tranh, bao nhiêu dục, ái, tham được lắng dần xuống. Hành giả hãy một lần đến bệnh viện rồi sẽ thấy việc thực tập ly tham, từ bỏ những cảm giác làm trở ngại mình trên đường tu có hiệu quả nhiều hơn. Phải thường xuyên thấy được 32 thể trược, 9 giai đoạn của tử thi. Tất cả đều vô thường, hoại diệt, thế nhưng chúng ta bị bóng của cảm giác làm mờ lý trí, Vì còn chìm đắm trong sắc, thấy sắc là thật, cho rằng nó là thường, nên khổ lụy sầu bi cũng từ đây mà phát khởi.
Chúng ta sẽ chế ngự cảm giác như thế nào khi bất chợt có một cô Phật tử trẻ đẹp nói: “Trời ơi! Con nhớ thầy quá! Lâu rồi con bận việc mưu sinh nên không có dịp gặp thầy. Nay mới biết chùa thầy ở gần nhà con, dạ xin thầy cho con số điện thoại, để con tới lui con thăm viếng, cúng dường.” Hành giả nhận diện và phân loại ngay cảm giác hiện sinh khởi là cảm giác gì đang vận hành trong tâm mình. Khi ở bệnh viện thì sao? Khi nghe những âm thanh và gặp người Phật tử nói như vậy thì sao? Chúng ta có điều phục được tâm ma của chính nội tại này hay không?
Hãy thường xuyên và liên tục quán chiếu tất cả cảm giác là vô thường. Đây là đối tượng không được tham đắm, đừng hoan hỷ. Cảm thọ chúng ta sẽ biến đổi liên tục, mình không biết rõ chính mình sẽ bị ba loại cảm giác này phiền não, xoay cuộc đời mình như chong chóng, luân hồi sanh tử ở chỗ này đây. Khi người tu thấy được như vậy, tức là có sự thấy bằng trí tuệ. Ngược lại, học vô thường, khổ, không, vô ngã chỉ ở trên lý thuyết suông, từ ngữ, sách vở, ý hành. Còn quan trọng nhất vẫn là thực tập, hành trì miên mật thì mới mong đạt tới chỗ Thánh trí. Vì chúng ta thấy thật những gì đang diễn ra trong thân và tâm mình. Những gì chỉ nghe mà chưa thực hành thì chỉ là lý thuyết, còn mường tượng, cần phải hành trì mới thông tỏ. Cũng như nói hoa rơi lá rụng, bà kia chết, ông nọ bị thương… chỉ là ở ngoài tai. Một khi ta có thực thấy, chứng kiến bằng cả sáu căn, thấy rõ thật pháp mới ngộ chân lý vô thường mãnh liệt, cảm giác được chế ngự bằng nỗ lực tinh cần, tinh tấn, không thoái chuyển. Đó là ‘đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, người trí tự mình giác hiểu’.
Mắt thấy sắc rồi những căn phần còn lại tương tác, tiếp sức cho sư mê mờ, mụ mị ảo giác ấy sẽ làm mình chết, mãi đọa trong cõi khổ. Cẩn thận, cùng nhau nắm tay mạnh bước ra khỏi vũng lầy, vùng tối của khổ đau, đi lên bến bờ giác ngộ bằng con đường ly tham, lìa ái, đoạn tận dục. Đức Thế Tôn từng dạy, này các Tỳ-kheo, những kẻ vô văn phàm phu khi có cảm giác vui sướng thì người này giống như một người đang bị trói buộc. Kẻ vô văn phàm phu không được nghe chánh pháp, không có tu theo bậc Thánh, không thuần thục Pháp theo các bậc pháp. Do vậy, họ cảm giác bực bội thì họ giống như người bị ràng buộc. Khi mà họ bị cảm giác không buồn, chẳng vui, mất bóng dáng của khoan khoái, thích thú, tức là bất khổ bất lạc thọ, họ cũng giống như đang bị ràng buộc. Ba loại cảm giác này buộc tất cả chúng sanh chết trong đó, chìm ngập trong sầu, bi, khổ, ưu, não. Vậy mà mình lại nhận lầm cảm giác này đang là sung sướng, là thật có. Nghĩ như vậy, làm như vậy và sẽ chết như vậy.
Rồi khi mình gặp nơi ở đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, là nơi phồn hoa đô hội thì lại tỏ vẻ thích thú, mừng rỡ, dễ chịu, muốn có mãi. Vì xưa nay chỉ ở nơi am tranh vách lá, đồi núi khó nhọc. Nhờ đi học rồi được ở Thành phố, được mời dự cúng Trai Tăng ở nhà hàng sang trọng. Bị cảm giác lừa phỉnh xỏ mũi mình đi hồi nào mà mình chẳng hay biết, không làm chủ được cảm giác, chẳng chánh niệm là đi lạc ngay. Chỉ có đa văn Thánh đệ tử mới biết cảm giác chỉ là cảm giác.
Hay như đang hưng phấn với món ăn ngon, cầm đũa bưng gắp lia lịa, thất niệm làm rớt cái chén bể mất, bị sư phụ rầy la, lúc đó cảm giác hoan hỷ, dễ chịu còn không? Vui hay buồn, thích thú hay chán ngán cũng chỉ là khoảnh khắc của cảm giác đi ngang qua những ý niệm của hành giả. Chúng chỉ nhất thời, vô thường sinh diệt liên miên.
Cảm thọ vui, cảm thọ buồn thì dễ nhận biết, biết và chế ngự. Còn cảm thọ đều đều không buồn chẳng vui trong tình trạng si ám, làm cho mình lờ mờ không rõ gì hết, nhưng lại tưởng đang rtấ bình thường. Đây là tên giặc giết ngầm, vô cùng nguy hiểm. Chúng ta không hiểu nên đã xây lên căn nhà chất đầy pháp hữu lậu, dục, tham, ái, bản ngã, vô minh… mặc cho nó xâm chiếm ngã nó xâm chiếm hằng ngày.
Khi có cảm giác thích thú, cần ngay đó nhìn sâu bên trong xem nó là cái gì? Dùng phương pháp quán chiếu đoạn diệt, đoạn tận nó. Phải thấy rằng đây là dục, là nguy hại trên bước đường tu, khó giải thoát nếu bị chúng đeo bám, sai khiến chúng ta. Ví như, ngồi trên ghế nệm, lò xo êm ái, mặc áo đẹp, vải tốt, ăn món ngon, ở nơi sang trọng nhưng lại quên rằng ở quê nhà ông bà, cha mẹ, người thân đang chờ mình tu, đang mong được chúng ta thành tựu đạo pháp để còn quay về độ cho họ qua khỏi đắm nhiễm, vô minh. Chỉ là một chút xíu cảm giác khoan khoái này mà bản thân chẳng thể vượt qua được thì làm sao chúng ta chống đỡ cái nóng, lạnh của cuộc đời, của những cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục đang chờ giày vò những ai thoái chí, buông lung, phóng dật.
Pháp thấp hèn, yếu kém của phàm phu là dục lạc thô thiển, chính nó đem lại hậu quả khổ đau cũng đâu có thỏa mãn. Khổ vì con chết, khổ vì chồng có vợ bé, khổ vì trong thân đang bị bệnh nan y… Làm sao nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham ở trong cái cảm giác. Cần xuất ly đối với thọ, đi ra cảm giác đó, mình không có thọ cảm giác, thọ là chấp nhận, yêu thích nó. Có thọ là chấp trước, dính mắc ngay, sẽ chứa đựng, nuôi dưỡng nó, lâu dần nó thành một phần trong đời sống của chúng ta. Đây là điều rất nguy hiểm!
Mọi sự vật, hiện tương diễn ra quanh chúng ta đều có sự biết rõ, song không để sáu căn chạy theo sáu trần rồi kẹt trong cảm giác, thọ, tưởng vận hành. Phải làm chủ cảm giác, không để chúng nhận chìm chúng ta. Muốn vậy phải có định lực, chánh tri kiến dõng mãnh trên bước đường tu hành.
Ăn trộm, ăn cướp tới lấy trộm, giựt đồ mình thì phải biết và có cách phòng vệ. Không thể để chúng tự lấy đi và mình cho chúng tự nhiên ra vào ngôi nhà tứ đại của mình. Phải cảnh giác, điều phục, nhận diện, rõ biết từ manh nha nhằm khéo phòng hộ thân, miệng và ý. Không phải ngồi thiền là ngồi im, mặc kệ thọ, tưởng, hành, thức làm gì thì làm. Quán chiếu sâu sắc mọi cảm giác để biết nguyên nhan sanh diệt của chúng, giả huyễn nương gá của tứ đại này. Năm uẩn là đồ dỏm, hư mục, là phương tiện cho mình tu hành. Phải thấy được thân này rồi hoại diệt, cũng như củi mục, như xác thối, giòi bọ rúc rỉa. Có gì đâu mà ham ưa thích thú, đừng vì thân tứ đại mà trau dồi cho nó nhiều, phụng sự cả đời vì thân xác rồi nó cũng bỏ đi không lời chào.
Hành giả tu tập, thường xuyên quán chiếu thân tứ đại được ví dụ như là khúc xương, khổ não, nhiều tai họa. Khúc xương khô quắt queo làm gì còn thịt để con chó gặm. Khúc xương vô dụng, có gì để tham đắm vì nó. Cho nên, khi thấy như chân như thật với chánh trí huệ sau khi từ bỏ, loại bỏ thuộc loại đa chủng. Ở đây, mọi chấp thủ với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn. Quán chiếu sâu sắc về vô ngã, buông thân mạng này, những ái dục kia như khúc xương khô, bỏ xuống mạnh mẽ, dứt khoát, không đắm nhiễm, chẳng có đáng.
Hành giả lại tiếp tục quán chiếu thân tứ đại này như giống như miếng thịt, giống như con chim kênh hay diều hâu hay là chim ưng đang vây quanh tranh giành miếng thịt thối kia. Con này rỉa một miếng, con kia giành lấy một miếng, con nọ tranh nhau xé nát miếng thịt. Chúng ta quán chiếu về dục cũng như vậy. Lũ chim ấy tranh giành tới chết vẫn không buông miếng mồi ngon thịt thối ấy, thì chúng ta cũng chết vì ái dục. Do đó phải chế ngự, điều phục cảm giác, vượt qua sự lừa dối cảm giác của ái dục ấy. Con lớn hiếp con bé, con to ăn con nhỏ trong thế giới động vật. Con người chúng ta cũng vậy, vi tế hơn, nguy hiểm hơn và ác độc hơn nhiều! Vì ái dục mà ăn không ngon, ngủ không yên. Tán gia bại sản, sự nguy hiểm của dục đó là sự khốn đốn, sầu bi khổ ưu não.
Chúng ta tiếp tục quán chiếu thân tứ đại này như là bó đuốc bằng cỏ đang cháy rực. Nếu đi ngược gió không vứt bỏ ngay bó đuốc đó thì bó đuốc đó có thể đốt cháy bàn tay, đốt cháy cánh tay, đốt cháy thân phàm của người đó, có thể đi đến chết hoặc đi đến gần như chết. Dục cũng như vậy, vị Thánh đệ tử phải quán chiếu đây là sự thật của khổ, tai họa rình rập. Đoạn diệt dục có phương pháp dùng 37 phẩm trợ đạo. Đây là 37 vũ khí Như Lai thần chưởng, ngũ chảo thần công, là năm uẩn cùng 37 phẩm trợ đạo bắn cho tan tành dục tham. Chiến thuật tâm linh của Đức Thế Tôn sâu sắc lắm! Không phải ngồi thiền là chúng ta chỉ có biết hít vô thở ra, ngồi im và lim dim rồi ngoẹo đầu sang một bên đi vào giấc mộng vô minh. Phải nhận diện năm uẩn, rõ biết tứ đại, thấy được mình đang muốn gì, hiểu rõ và điều phục nó trong vận hành tư tưởng. Vi diệu lắm!
Chúng ta lại tiếp tục ví thân này như hố than hừng sâu, trong đó lửa than đang cháy đỏ rực. Nếu chúng ta bị hai lực sĩ kẹp lấy mình và ấn mình vào hầm than lửa ấy thì sao? Cháy chết ngay, đau đớn vô cùng, khốc liệt sầu ưu. Hố than hừng ví như tham sanh khởi, một khi nó sanh khởi là bạo liệt như vậy đó! Tham kích thích cho mọi cảm giác hân hoan, vui sướng lên, đam mê, vô minh, chìm đắm trong u tối. Mãi mãi không ra khỏi luân hồi.
Người tu cần tỉnh thức nghiền ngẫm tư duy, đời người như giấc mộng, ngủ một giấc mơ đủ thứ rồi khi tỉnh lại chẳng còn gì để nắm, tan hết theo giấc mơ. Tất cả là ảo giác, hư huyễn, mờ sương vậy mà chấp, vậy mà tham. Phải ly tham, buông xả mới an vui.
Cả cuộc đời này là chuỗi dài vay mượn. Từ vay mượn tinh cha huyết mẹ làm nên thân tứ đại rồi vay mượn thế gian có của cải vật chất, có món ăn, thức uống, có nơi mua sắm, giải trí đó đây… vay mượn và chỉ là khoảnh khắc từ nơi này sang nơi kia. Ccuối cùng cũng hoàn không, cũng trả lại những gì đã vay mượn, lại còn mang gánh theo nghiệp lực đen hay trắng là do mình tạo trong hiện kiếp. Không có gì là lõi chắc thật cả, vậy sao nắm níu, ngỡ là vô hạn, ngỡ là vĩnh cửu cho đau khổ thêm chất chồng? Hãy buông xuống mau, tỉnh mộng đi nào! Nhìn sâu nhận rõ sợi dây vay mượn đầy lãi suất gấp trăm vạn lần lúc đầu. Nguy hiểm lắm thay!
Sau cùng thì đời người cũng như trái chín cây, người ta rung cây, cơn gió đẩy đưa, con chim rúc rỉa, nắng mưa đúng thời tiết trái cây rơi rụng và hư mục, tan vào đất, mất tiêu. Chất chồng một đời dành dụm vì tiền, tài, danh vọng, vì tất cả bằng mưu toan ích kỷ, ganh tỵ, hiềm hận, tranh đấu, gian tham rồi ra đi ngửa bàn tay trắng, thân hoại dưới ba lớp đất cũng bằng không. Chẳng mang theo được gì ngoài nghiệp như bóng với hình theo mình để lãnh án lành dữ do hiện đời gây tạo.
Người tu luôn tỉnh thức và nhận rõ sự vận hành năm uẩn để làm chủ mình, làm chủ cảm giác đang chuyển vận xoay hướng. Phải điều phục chúng bằng tinh thần vô ngã, buông xả. Đó là những Đa văn Thánh đệ tử, là những đệ tử Phật chân chánh tu hành trên bước đường chông gai đầy hiểm trở của sự tu.
./.
Cảm giác
nhận chìm thế giới
(1)
- Thích Minh Thành –
NHÀ XUẤT BẢN ……………….
Thuyết giảng:
Thích Minh Thành.
Chuyển thành văn bản:
…………………
Biên tập:
Thiện Ngộ.
Sửa bản in:
………………………..
Ban Văn hóa Pháp Ấn
thực hiện
Biên tập 8.2019
MỤC LỤC
Luôn nhìn lại chính mình ………………………………………………………. 4
Cảnh giác trước mọi cảm giác ………………………………………………….. 6
Thường soi rọi vô thường để diệt ngã …………………………………………… 10
Luôn nhìn lại chính mình
Chúng ta cùng ngồi tĩnh tọa, thực hành ba pháp: Rõ biết trước mặt, trở về cùng hơi thở và nhận diện cảm giác toàn thân.
Rõ biết trước mặt một cách tỉnh sáng, không bị vọng niệm, ngoại cảnh tác động, chi phối.
Trở về hơi thở, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở lồng ngực, ở chóp mũi, ở bụng. Nhận diện rõ những cảm giác có mặt ở đầu, mặt, vai, mình, mông, chân, bàn chân, bàn tay, cảm giác ra toàn thân, nội tâm tỉnh giác.
Đây là cánh cửa để chúng ta mở ra tất cả pháp hành của Phật giáo. Hành giả thường xuyên thực tập nhìn lại nội tâm, nhận diện sự có mặt của các cảm giác ở trong cơ thể mọi lúc, mọi nơi. Thực hiện được điều này, sẽ giúp mình thành tựu về trí tuệ tự thân và khám phá được sự vận hành của tứ đại, năm uẩn, các cảm giác, cảm thọ, cảm xúc, tư tưởng, sự suy nghĩ, nhận thức ở trong tâm.
Nếu chúng ta thương xuyên thực tập nhận diện cảm giác toàn thân sẽ có hiệu quả tuyệt vời. Nhờ vậy, định tâm trên thân sẽ có mặt khi người tu tinh tấn, miên mật.
Thí dụ, khi mình chạy xe, mình xem lại cảm giác mình như thế nào? Nếu như cảm giác chạy xe lạc thọ sinh khởi, mình sung sướng với cảm giác đó rồi bắt đầu mình rồ ga phóng nhanh, không biết cảm giác trong thân hiện tại ra sao nữa. Đó là dục, ái, tham, si đang vận hành trong cảm giác mà mình không thấy. Phong đại có cả nội phong giới và ngoại phong giới kết hợp trong tà áo bay phấp phới khi mình chạy xe. Có tà áo nó sẽ quấn vào bánh xe mà bản thân không hay biết, chẳng để tâm cẩn thận trong việc chạy xe, chấn chỉnh trang phục khi ra đường, do bị cảm giác điều phối làm cho lâng lâng, làm cho vui thích, dễ chịu, không khéo sẽ dễ bị tai nạn. Cần quán chiếu về phong đại. Tất cả tai nạn giao thông cũng bắt đầu từ không kiểm soát phong đại, nội phong giới và ngoại phong giới, không kiểm soát cảm xúc của mình ở trong phong đại dẫn đến xảy ra những việc đáng thương, đáng buồn, đáng trách.
Chính vì thế, người tu chúng ta cần luôn nội soi, xoay trở lại cảm giác, nhìn thẳng và diệt tận nó. Ví như, đang ngồi thiền mà cái đầu nó quẹo một bên, nếu mình có chánh niệm, có cảm giác toàn thân, lập tức biết liền và chỉnh lại tư thế ngồi ngay ngắn, đúng tư thế. Còn không có cảm giác toàn thân, lúc đó mặc kệ cho nó phóng đi đâu tùy thích.
Hay khi ngồi thiền, mình thấy trong thân tâm có một trạng thái dao động, tức là trạo cử, một trong năm triền cái là dao động tâm, dao động thân. Lúc đó, bản thân điều chỉnh lại liền, nhiếp phục cảm giác mọi lúc mọi nơi mới vượt qua sự nhấn chìm của cảm giác hư ngụy.
Hành giả cần quán chiếu tứ đại, cảm giác, năm uẩn, rồi nhận diện được năm triền cái. Như vậy, quán pháp trong Tứ Niệm xứ một cách chân thật, đúng đắn, thường xuyên. Muốn được thì cần chịu khó, chịu khổ, nhẫn nại, kiên trì. Đức kham nhẫn của người tu là trọng yếu. Nếu không có đức kham nhẫn, trên bước đường tu sẽ khó thành tựu. Bởi đây là một trong những điều kiện của sự tu tập kham nhẫn và chịu khó. Lúc đầu nó làm cho mình khó chịu lắm, vì tập khí lâu đời cứ muốn phóng ra để ý bên ngoài, không muốn để ý bên trong, nhưng mình cứ tập từ từ rồi sẽ quen và thành thục.
Khi chúng ta ngồi nghe pháp, nếu khéo tác ý trong tu tập thì mình sẽ rời được năm triền. Đang nghe pháp, những tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử, nghi ngờ không có mặt. Vì chúng ta đang hướng tới điều thiện thượng lành nẹn bất thiện pháp không có cơ hội xuất hiện. Nghe được pháp và chánh niệm tỉnh thức là sự nghe tuyệt vời! Đây là bí mật, vì không có năm triền cái nên tâm hoàn toàn trong sáng. Tất cả pháp âm của Đức Phật được hành giả ghi nhận rõ ràng, đầy đủ, ngay đó người tu đang nghe pháp trở thành bậc truyền trì chánh pháp tạng, được người đời khen ngợi là:
Diện như thu mãn nguyệt
Nhãn tợ thanh liên hoa
Phật pháp như đại hải
Lưu nhập Anan tâm
Tạm dịch:
Mặt như trăng thu đầy,
Mắt như hoa sen xanh,
Phật pháp như biển cả,
Rót vào tâm Anan.
Bất cứ ai mà nghe pháp đều có thể trở thành đệ tử cưng của ngài Anan Tôn giả, sẽ là người nối nghiệp Đa văn Thánh đệ tử Anan và tất cả Pháp tạng thâm nhập trí huệ như hải. Ngược lại, chúng ta nghe pháp với thái độ thờ ơ, nghe cho xong, nghe không chú tâm, chưa đặt hết lòng mình vào pháp để hành trì thì khó thành tựu. Chúng ta bị bao vây bởi rất nhiều hình ảnh nội tâm, suy nghĩ liên miên dao động, nghi ngờ đầy dẫy. Cho nên, nghe pháp xong nhưng hỏi lại thì không nhớ gì cả. Vì một cái tâm rối bời, đầy ô nhiễm, tạp nhạp thì làm sao tiếp nhận pháp một cách trọn vẹn được.
Thời Đức Thế Tôn có rất nhiều vị đệ tử xuất gia, tại gia sau khi nghe pháp đều có khả năng chứng quả ngay tại đó. Đắc pháp hiện đời là một sự thật không hề chối cãi trong lịch sử Phật giáo. Muốn đạt được Thánh quả không phải tự dưng mà có. Sau khi Đức Phật nhập diệt không bao lâu, những vị đệ tử tiếp tục trùng tụng pháp Phật, nghe pháp chánh niệm và đắc pháp nhãn tịnh. Nghĩa là được con mắt sáng tỏ, thấy được pháp, ngộ được pháp, thậm chí là chứng được pháp.
Trong bài kinh Cội rễ của sự vật, Đức Phật có dạy: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”. Hành giả cần thường xuyên nhìn lại cảm giác, cảm xúc mình. Có như vậy, chúng ta mới kịp thời ngăn chặn bất thiện pháp hoặc có cách thanh lọc thân tâm, vì đã thấy được pháp ô nhiễm, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu ở trong cảm giác. Khi mình thấy được rồi, có cách nhiếp phục, phải đoạn tận nó một cách triệt để thì mới vượt qua đau khổ của sanh sanh tử tử.
Cảnh giác trước mọi cảm giác
Nhìn lại cảm giác không phải đâu xa, nó hiện diện trong sinh hoạt, oai nghi hàng ngày của mỗi người. Khi đi đứng nằm ngồi, lúc nói năng, làm việc, rồi ăn mặc mình như thế nào?
Ví như, ăn thì cảm giác ra sao? Mắt nhìn thấy thức ăn cảm giác động chuyển ra làm sao, nó vận hành như thế nào mình không thấy. Lúc đó chỉ thấy toàn là đồ ăn. Lo nhìn những món ăn trên mâm nên không có chánh niệm tỉnh giác xoay lại nhìn cảm giác tự thân tâm này nó muốn điều gì? Nó làm ra sao? Có phải là phàm phu hay là Đa văn Thánh đệ tử trong lúc ăn.
Mắt tuy nhìn xuống thức ăn nhưng mà hành giả cần nhìn sâu quán xét cảm giác mình nó động chuyển, sanh khởi theo chiều hướng nào. Lúc đó, dục, tham, ái có khởi lên không? Tuyến nước bọt có tràn ra vì bị kích thích bởi mùi vị thức ăn hay không? Hành động không thể cưỡng lại của tay cầm đũa gắp thức ăn lia lịa bỏ vào chén mình và ăn mau nuốt lẹ? Tất cả trí tuệ đó là sự tu tập, không phải nói suông.
Ăn uống không chánh niệm thì khó mà tiêu được. Tất cả vật chất mà người tu có được đều nhờ vào đàn-na tín thí khắp nơi cúng dường mới có. Mình không cố gắng tu hành làm sao tự độ, huống nữa là độ tha. Đừng đợi tham nó hiện rõ mới biết là tham, tới đó là cháy nhà, cháy chùa, cháy hết thân tâm này còn gì nữa. Phải nhận rõ, nhìn cho ra từng loại giặc qua chốt cửa cảm giác. Chúng sanh diệt liên miên bất tận, mình cần phải quán sát, phòng thủ, chế ngự và chặt đứt bất thiện pháp, không cho chúng sanh khởi ở đời, chẳng còn nơi cho chúng lưu trú nữa. Tham, sân, si, bản ngã, vô minh trói chặt chúng ta trong luân hồi bất tận. Phải vượt ngục, thoát ra bằng tâm hướng thượng thiện lành, trí tuệ sáng tỏ nhìn sâu xét kỹ, miên mật tu hành không gián đoạn mới đánh bạt chúng khỏi năm uẩn giả hợp.
Nếu mình thấy sự tham ăn đang tăng mạnh, thì lúc đó nên dừng lại từ từ gắp thức ăn. Nhìn lại tứ đại, năm uẩn, sáu căn đang đối diện tiếp xúc với sáu trần đầy cám dỗ. Khởi tâm hổ thẹn, xấu hổ vô cùng thì giặt tham trốn mất, có cái gì mà phải sân, si trong thức ăn đó. Một lát nó sẽ đi ra ngoài. Vì có vào sẽ có ra, có nhai nuốt sẽ có tiêu hóa, bài tiết. Thơm tho đó rồi hôi dơ đó. Phải tự nhiếp phục những cảm giác gây sự chướng ngại trên bước đường tu hành của mỗi người. Cảm giác dục là muốn nhanh lẹ, được chúng ta làm cho nó lắng dịu lại, sau đó tiếp tục ăn. Có gì đâu mà vội vàng, ăn mà mình làm cho cạn kiệt phiền não; ăn để đoạn trừ ái trong cảm thọ; ăn nhằm đoạn trừ tham trong cảm thọ; ăn mà đoạn trừ dục trong cảm thọ; ăn, đoạn trừ si trong cảm thọ; ăn, đoạn trừ vô minh trong cảm thọ. Nếu có ăn được như vậy thì tuyệt vời của vô thượng phước điền, đó mới là người chân chánh xuất gia.
Tu hành đừng nhìn thấy cái ngọn bên ngoài. Diệt tam độc, phiền não thâm suâ vi tế, không phải chỉ thấy hiện ra tham kiểu như đi ăn cắp đồ. Thấy như vậy thì người không tu ở ngoài đời cũng biết. Đó là cái tham của kẻ Vô văn phàm phu. Còn cái tham mà bậc Đa văn Thánh đệ tử thấy biết bằng trí huệ thì nó nhỏ nhiệm, chỉ khẽ mấp máy động nhẹ trong cảm giác. Ngay lúc cảm giác vừa hiện diện sanh khởi thì những vị ấy đã thấy rõ và diệt tận ngay. Quá trình của cảm giác là sanh khởi, an trú, phát triển và chấm dứt, chúng ta cần thấy rõ để hành trì vượt thoát khỏi chấp ngã, vướng mắc.
Kinh Phạm Võng trong Trường Bộ, Đức Phật từng nói rằng, những người phàm phu khen Như Lai nhiều lắm, đủ thứ cách khen, khen đó là khen ở giới tướng bên ngoài. Đức Thế Tôn dạy rằng:
“Này các Tỷ-kheo, đấy là những vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu dùng để tán thán Như Lai.
Này các Tỷ-kheo, lại có những pháp khác, sâu kín, khó thấu, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị chỉ những người trí mới nhận hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, không thể nhận hiểu bởi luận lý suông, tế nhị, chỉ những người trí mới có thể nhận hiểu.”
Chỉ có thật sự thấy rõ pháp và nhận diện cảm giác mới ra khỏi phiền não, khổ đau. Hành giả tu tập để thực hiện được công việc nhiếp phục cảm thọ, đoạn tận cảm thọ, đoạn tận dục, tham, sân, si, bản ngã, vô minh. Đây là chỗ thâm sâu của trí huệ mà hằng ngày mình chết không biết bao nhiêu lần ở trong cảm giác nhưng lại không biết.
Vô minh, si ám, cảm giác đều chi phối mình trong sinh hoạt hàng ngày. Từ ăn uống, đi lại, gặp gỡ, cho tới ngủ mộng, cảm giác cũng làm quấn lấy chúng ta trong những giấc chiêm bao buồn, vui, cười, khóc. Chúng ta đã chết trong cảm giác này biết bao lần, trải qua bao nhiêu đời kiếp rồi, vẫn chưa dứt khỏi nói. Do đó, thường xuyên nhìn lại cảm giác, soi chiếu nội tâm, tự thân vượt thoát khỏi những ràng buộc của cảm giác, si ám kia. Phải nhận rõ từng loại cảm giác, xem coi nó động chuyển ra sao.
Khi nghe một lời góp ý chân thành, giúp mình sửa lỗi, nói đúng chỗ sai nhưng mình không nhận thấy lỗi mình. Bỏ ngoài tai những lời chỉ dạy của huynh đệ, thiện tri thức, minh sư rồi bản thân quay cuồng điên đảo trong sai lầm và thoái đọa là điều chắc chắn xảy đến. Chúng xem và nghe lời góp ý của người khác xuất phát từ đâu. Nếu từ bi tâm thì mình học. Ngược lại, đó là lời nói từ sân tâm, ganh tị, đố kỵ thì mình im lặng, không cần thiết phản ứng. Tập lắng sâu và thở, đừng vội phản ứng như cái lò xo hay như trái bóng quăng vào vách tường nó dội ngược trở lại. Nhận diện cảm giác vận hành, đưa tâm về hơi thở, thấy rõ các pháp sinh diệt. Thực pháp của Đức Thế Tôn để hành giả tu hành thiết thực, không phải chạy ra ngoài, lăng xăng làm cái này cái kia rồi vọng tâm phiền não, gây ra nghiệp từ thân, miệng, ý.
Chúng ta đọc lại kinh tạng Nikàya, thấy lối sống sinh hoạt của Đức Phật và các đại đệ tử của Ngài rất nhẹ nhàng, thanh tịnh, cao quý, sống đời Phạm hạnh, đáng tán thán, cúng dường xiết bao! Sáng đi khất thực về thọ trai, nghe pháp, sau đó là độc cư thiền tịnh, đầu hôm, giữa đêm, cuối canh đều là thiền quán. Bây giờ chúng ta đang làm điều gì? Phải nhìn lại để thấy biết được mình đã đi quá xa, cần ghìm cương ngựa lại, dừng lại sự mong cầu, ham muốn, chớ để danh hão, chức hờ làm cho một đời tu loay hoay không nơi an trú. Đừng để chức vị trụ trì, quản chúng, tri sự làm mình rối ren như sợi chỉ. Chính tự thân phải biết điều đó có vị ngọt và sự nguy hại, không biết tức là vô tri. Trong giáo pháp, luôn tự đặt câu hỏi cho bản thân ‘xuất gia để làm gì? Sống ở đời để làm gì? Mục đích của đời sống Phạm hạnh này là gì? Cuối cùng đạt được gì? Hiện tại đang làm gì?’. Chúng ta cần phải suy xét rõ ràng chân xác về những điều ấy, thực hành tinh tấn trên đường đạo mới có kết quả thực sự của người tu.
Luôn xem lại cách ngồi của mình đã oai nghi chánh hạnh chưa? Không có buông lung phóng dật bất cứ ở đâu, khi nào, việc gì đều xoay trở lại nội tâm hổ thẹn, thực hành thiện pháp. Mọi việc làm, lời nói đều mang pháp vào hành xử. Không hý luận, chẳng làm ngoài pháp, thường xuyên chiêm nghiệm lời pháp trong giờ ngồi thiền, tụng kinh, lạy Phật, nghe pháp, học pháp. Ngay cả những giờ không lao tác cũng không cho tâm ý chạy nhảy như thói đời. Chúng ta tu là thanh lọc dần những tập khí lâu đời nhiều kiếp nó còn dư tàn trong đây, phải làm cho nó cạn dần đi tới chỗ suy kiệt, khô cạn, không còn tái diễn si, sân, tham, bản ngã, chấp thủ, vô minh, thị phi, điên đảo mê lầm khen mình chê người.
Khi hành giả có thực hành chiếu soi cảm thọ, sẽ thấy từng khoảnh hắc sanh diệt cảm giác trong tâm biểu hiện như những thước phim được chiếu cho mình xem. Nếu mình rõ biết và vượt thoát khỏi những cảm giác bất thiện thì sẽ qua khỏi khổ đau, phiền lụy. Ngoài lớp da mỏng đẹp đẽ của tuổi thanh xuân. Bên ngoài là hương thơm dầu thoa, là trang sức, là trang phục chỉ là sự dối lừa chúng ta ở bên trong chỉ là bộ xương di động, là những thứ hôi dơ luôn chảy rỉ ra. Lúc mười tám, đôi mươi thì trắng trẻo, hồng hào, khi bảy mươi, tám mươi da nhăn, tóc bạc, răng rụng, mọi việc đều chậm chạp, bất như ý. Biểu pháp vô thường rõ ràng như vậy, thế nhưng mình không tin, chăng thấy được sự thật ấy, vẫn chạy đuổi mong cầu cảm giác, khoảnh khắc của ham thích để chết trong đó không biết bao nhiêu đời kiếp rồi.
Ác ma ở trong cảm giác, tưởng, lộng hành, xảo ngụy. Xưa, có một vị tỳ-kheo hỏi Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, mara thế nào?”, Mara tức là ma, Thế Tôn mới nói như thế này: “Này tỳ-kheo, sắc là ma, cảm giác là ma, tư tưởng là ma, nhận thức là ma, năm uẩn tức là ma. Đó là sự đam mê, yêu thích, tham ái, chấp thủ, sự dục nhiễm ở trong năm uẩn này, ở trong tứ đại, sắc thân này là ma”. Suốt ngày mình sống với ma, bị ma nhập. Đừng nghĩ bị ma nhập lắc lư, kêu gào, cười khóc. Chúng ta đang bị ma năm uẩn chi phối bởi dục, ái, tham, phiền não ma chướng. Lúc nào mà dục ái tham sân buông lung phóng dật, không hộ trì căn, chẳng nhiếp phục thân khẩu ý, chưa chế ngự các giác quan lúc đó là ma. Phải trị con ma đó, nhiếp phục được con ma đó trở thành bậc Chiến Thắng, bậc Sát Tặc, bậc Thượng Sĩ. Phải xoay trở lại nội tâm và tự thân lọc sạch uế nhiễm ấy mới mong chuyển phàm thành thánh, siêu phàm nhập thánh.
Hành giả xem lại trọn một ngày 24 giờ, chúng ta đã làm những gì thật sự có ý nghĩa, đúng như pháp hành trì? Lúc thì đi xe trên đường công việc, khi thì ngồi nghe pháp, rồi ăn, uống, nghỉ ngơi, giải trí… nếu không có tu thì nó hiện bày sự buông lung, chạy đuổi tìm cầu không khác chi người thế tục. Đừng để cảm giác nhận chìm mình! Khi lao tác trong chùa cần tỉnh sáng luôn soi chiếu vô thường. Lúc tiếp xúc ngoại cảnh, đạo hữu, Phật tử hay như đứng giữa chúng hội mình phải có oai nghi chánh hạnh ra sao, giữ được chánh niệm của người tu sĩ dù bất cứ ở nơi đâu. Trước đám đông, mình gặp gỡ có run hay không? Cần tìm hiểu nguyên nhân có cảm giác đó. Có phải do mình muốn nói pháp cho mọi người nhưng lại sợ mình nói không hay; mình muốn được người ta khen nhưng lại sợ bị chê; mình muốn được đẹp đẽ, dù đã cạo tóc rồi nhưng cũng xem gương xem có mục mụn nào không để nặn. Chỉ nêu một ít biểu hiện để chúng ta thấy bản ngã, danh, dục, tham, ái vận hành khủng khiếp, xoay chúng ta như chong chóng.
Thường soi rọi vô thường để diệt ngã
Hành giả thường quán chiếu về sự vô thường luôn hiện hữu trong thân tứ đại này, trong năm uẩn trống rỗng, không có gì là tôi và không có gì là của tôi. Chúng ta có điềm nhiên, mạnh mẽ nhấc chân bước đi hay không? Có gì đâu phải sợ! Chỉ có tứ đại, năm uẩn sao lại hơn thua, tranh đấu cho khổ não trôi lăn trong vô minh. Tu đến chỗ vô ngã là điềm nhiên bất động, tu đến tận cùng đạt đến tâm bất động của bậc A-la-hán. Vì chúng ta luôn ám ảnh bởi một cái tôi trú ngụ trong nội tâm nên còn sầu bi.
Có lần trong lúc nhập thất trên rừng, hôm đó vị Tỷ-kheo vẫn như mọi lần tọa thiền công phu sớm mai lúc 4 giờ. Ở rưng núi, thời tiết lạnh lắm, vị Tỷ-kheo kia đã quấn vào người hai ba lớp áo chống lạnh rồi tọa thiền. Dưới ánh đèn lờ mờ in bóng vị tu sĩ ấy trên vách mùng. Thầy ấy vẫn mở mắt đặt niệm trước mặt nên thấy rõ sự lay động của cái bóng in trên vách mùng. Lúc này ý hành của vị ấy hiện lên ý nghĩ: “Chà, hôm nay tướng nhìn cũng được quá ta!”. Thật là ghê gớm thay! Chỉ có cái bóng chính mình mà đã chấp vào hình tướng đẹp xấu.
Ý hành chấp ngã nhưng đó chỉ là ảo ảnh không có thật. Chúng ta bị ba lớp ảo ảnh, sắc uẩn này lại cho là mình, bóng của sắc uẩn lại chấp thêm một lớp ảo cho là mình rồi soi gương lại thấy bóng mình cũng gán là mình. Khi ấy nội tâm vận hành về dáng của mình. Cái bóng gọi là thân kiến, kiến chấp về thân, là ảo ảnh, ảo tưởng về một cái tôi. Chỉ khi nào buông xả, thật sự vô ngã, thấy được Thánh trí mới buông những sai lầm về thân kiến.
Chúng ta hành trì quán 37 thể trược, quán bất tịnh để nhàm chán dục, xa lìa tham. Dưới lớp da trắng trẻo kia là gì? Rọc lớp da ra thì máu tràn, mỡ chảy, thịt lòi ra, phèo phổi trộn trạo, ruột gan phơi bày, tim thoi thóp. Như vậy, nguyên bộ đồ lòng cầm lên lủng lẳng, để xuống từng bộ phận, thử hỏi cái nào là mình, là của mình? Dạ dày trong nó chứa thức ăn thúi là mình hay bao tử là mình? Ngày nào mình cũng phải quán như vậy, nhằm làm cho cái bóng mờ của ảo ảnh đó từ từ teo tóp, tan biến. Khi trong đầu còn nói về cái tôi, bản ngã thì cần quán chiếu không có một hình bóng nào cả. Đó chỉ là cái giả danh tứ đại, năm uẩn. Lâu dần buông được, có được trí tuệ sáng tỏ mọi điều. Ngược lại, chấp cái bóng là mình, nó sẽ giết hành giả từ từ. Bởi vì còn có tôi là còn có của tôi, còn cái tôi là còn đi tìm phục dịch cho tôi, phụng sự cho tôi, tìm những điều làm cho tôi thỏa mãn, tìm mãi cho tới chết mới thôi.
Đức Phật từng dạy, do còn dục ái nên con người còn đi tìm. Nếu mọi người chấm dứt dục ái thì lúc đó sẽ không còn đi tìm kiếm. Khi không tìm kiếm nữa thì không có dao động. Không có dao động sẽ đi đến giải thoát, tránh trí giải thoát. Đó là tối thượng của người giải thoát.
Ai còn ái thì người đó còn dao động, ai còn dao động thì người đó còn chấp thủ sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ tiếp diễn. Cần thường xuyên thâm quán tứ đại, ba mươi hai thể trược, ngũ uẩn. Chúng ta phải quán sâu trong từng cảm giác. Nhìn cho nó lộ diện, thấy được bộ mặt thật, làm cho nó hiện nguyên hình những dục, tham, ái, bản ngã, vô minh, si ám ở nội tâm mình. Chúng ta đừng để bóng đen vô minh này qua mặt.
Không khéo tu chỉ là tu trên hình tướng. Vì mọi chuyện diễn ra trong ngày sẽ được tái hiện trong đêm, trong ngủ, nghĩ tưởng. Những điều này làm cho chúng ta vui, buồn, sầu khổ, vì đắm chìm bởi cảm giác. Không thoát được bàn tay vô hình tâm ma chính mình. Phải là chiến sĩ, dõng mãnh, quyết liệt, tinh cần hơn nữa trên bước đường tu thì mới sáng tỏ năm uẩn hư ngụy. Thực hành thâm quán mỗi ngày, không lơ là, chẳng nói suông được.
Tu mà có sắc pháp, sắc uẩn thì người tu thành sắc pháp. Còn thọ, tưởng, hành, thức sao không động đậy gì tới? Chúng ta tu trên tướng, sắc uẩn này dễ bị chi phối bởi cảm giác. Cảm giác điều khiển, chi phối, tóm thâu mình, nên nó là Mara, tức là ma. Nhìn kỹ, chúng ta sẽ thấy toàn bộ thế gian này ngập chìm trong cảm giác, cảm xúc, cảm thọ. Chúng ta là người tu, đã có nhiếp phục được cảm thọ chưa hay là mình vẫn đang bị nó chế ngự? Mỗi ngày đều đối duyên tiếp cảnh, cảm thọ diễn biến muôn hình vạn trạng khi tiếp xúc với muôn dạng người và vật, nhất là đối với Thầy, Tổ, đối với huynh đệ tỷ muội, đối với Phật tử, đối với thọ dụng.
Thí dụ, chúng ta đang đi trên đường gặp cụ già trên bảy mươi tuổi, tóc bạc phơ, lưng còng, má hóp, da nhăn, gối mỏi đi đến chìa cọc vé số mời mình mua thì cảm giác của mình như thế nào? Hoặc như có cô Phật tử vừa thi đoạt giải hoa hậu, ghé thăm chúng ta, nghe tiếng nói chuyện với nhau thì cảm giác mình như thế nào? Hay là chúng ta đã từng ngồi ăn chung với người bạn nào đó rất nhiều năm. Cuối cùng phát hiện ra họ bị ung thư gan thời kỳ cuối, vi khuẩn này có truyền qua đường ăn uống. Sau khi biết rõ thì cảm giác mình như thế nào?
Thật vậy, cảm giác chi phối toàn bộ vũ trụ này, cho nên chúng ta tu đến chỗ diệt thọ, tưởng, định của bậc A-la-hán là tất cả các cảm giác đều nhiếp phục, đoạn tận, không phải không biết cảm giác nhưng mà là vượt qua và chế ngự được nó, chỗ này là kỳ diệu.
Cảm giác sẽ thể hiện một cách rõ rệt hơn, khi chúng ta đi vào bệnh viện. Nơi đó là ung bướu, là tâm thần, là bại liệt, là ung thư, là đau khổ trùng trùng, là nghèo khó, là cô đơn, vô vọng. Ở bệnh viện, là bệnh nhân hay thân nhân hoặc chỉ là người ghé ngang qua khoảnh khắc, rồi sẽ thấy cuộc đời chẳng có gì là thú vị, không có gì phải ham thích, đua tranh, bao nhiêu dục, ái, tham được lắng dần xuống. Hành giả hãy một lần đến bệnh viện rồi sẽ thấy việc thực tập ly tham, từ bỏ những cảm giác làm trở ngại mình trên đường tu có hiệu quả nhiều hơn. Phải thường xuyên thấy được 32 thể trược, 9 giai đoạn của tử thi. Tất cả đều vô thường, hoại diệt, thế nhưng chúng ta bị bóng của cảm giác làm mờ lý trí, Vì còn chìm đắm trong sắc, thấy sắc là thật, cho rằng nó là thường, nên khổ lụy sầu bi cũng từ đây mà phát khởi.
Chúng ta sẽ chế ngự cảm giác như thế nào khi bất chợt có một cô Phật tử trẻ đẹp nói: “Trời ơi! Con nhớ thầy quá! Lâu rồi con bận việc mưu sinh nên không có dịp gặp thầy. Nay mới biết chùa thầy ở gần nhà con, dạ xin thầy cho con số điện thoại, để con tới lui con thăm viếng, cúng dường.” Hành giả nhận diện và phân loại ngay cảm giác hiện sinh khởi là cảm giác gì đang vận hành trong tâm mình. Khi ở bệnh viện thì sao? Khi nghe những âm thanh và gặp người Phật tử nói như vậy thì sao? Chúng ta có điều phục được tâm ma của chính nội tại này hay không?
Hãy thường xuyên và liên tục quán chiếu tất cả cảm giác là vô thường. Đây là đối tượng không được tham đắm, đừng hoan hỷ. Cảm thọ chúng ta sẽ biến đổi liên tục, mình không biết rõ chính mình sẽ bị ba loại cảm giác này phiền não, xoay cuộc đời mình như chong chóng, luân hồi sanh tử ở chỗ này đây. Khi người tu thấy được như vậy, tức là có sự thấy bằng trí tuệ. Ngược lại, học vô thường, khổ, không, vô ngã chỉ ở trên lý thuyết suông, từ ngữ, sách vở, ý hành. Còn quan trọng nhất vẫn là thực tập, hành trì miên mật thì mới mong đạt tới chỗ Thánh trí. Vì chúng ta thấy thật những gì đang diễn ra trong thân và tâm mình. Những gì chỉ nghe mà chưa thực hành thì chỉ là lý thuyết, còn mường tượng, cần phải hành trì mới thông tỏ. Cũng như nói hoa rơi lá rụng, bà kia chết, ông nọ bị thương… chỉ là ở ngoài tai. Một khi ta có thực thấy, chứng kiến bằng cả sáu căn, thấy rõ thật pháp mới ngộ chân lý vô thường mãnh liệt, cảm giác được chế ngự bằng nỗ lực tinh cần, tinh tấn, không thoái chuyển. Đó là ‘đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, người trí tự mình giác hiểu’.
Mắt thấy sắc rồi những căn phần còn lại tương tác, tiếp sức cho sư mê mờ, mụ mị ảo giác ấy sẽ làm mình chết, mãi đọa trong cõi khổ. Cẩn thận, cùng nhau nắm tay mạnh bước ra khỏi vũng lầy, vùng tối của khổ đau, đi lên bến bờ giác ngộ bằng con đường ly tham, lìa ái, đoạn tận dục. Đức Thế Tôn từng dạy, này các Tỳ-kheo, những kẻ vô văn phàm phu khi có cảm giác vui sướng thì người này giống như một người đang bị trói buộc. Kẻ vô văn phàm phu không được nghe chánh pháp, không có tu theo bậc Thánh, không thuần thục Pháp theo các bậc pháp. Do vậy, họ cảm giác bực bội thì họ giống như người bị ràng buộc. Khi mà họ bị cảm giác không buồn, chẳng vui, mất bóng dáng của khoan khoái, thích thú, tức là bất khổ bất lạc thọ, họ cũng giống như đang bị ràng buộc. Ba loại cảm giác này buộc tất cả chúng sanh chết trong đó, chìm ngập trong sầu, bi, khổ, ưu, não. Vậy mà mình lại nhận lầm cảm giác này đang là sung sướng, là thật có. Nghĩ như vậy, làm như vậy và sẽ chết như vậy.
Rồi khi mình gặp nơi ở đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, là nơi phồn hoa đô hội thì lại tỏ vẻ thích thú, mừng rỡ, dễ chịu, muốn có mãi. Vì xưa nay chỉ ở nơi am tranh vách lá, đồi núi khó nhọc. Nhờ đi học rồi được ở Thành phố, được mời dự cúng Trai Tăng ở nhà hàng sang trọng. Bị cảm giác lừa phỉnh xỏ mũi mình đi hồi nào mà mình chẳng hay biết, không làm chủ được cảm giác, chẳng chánh niệm là đi lạc ngay. Chỉ có đa văn Thánh đệ tử mới biết cảm giác chỉ là cảm giác.
Hay như đang hưng phấn với món ăn ngon, cầm đũa bưng gắp lia lịa, thất niệm làm rớt cái chén bể mất, bị sư phụ rầy la, lúc đó cảm giác hoan hỷ, dễ chịu còn không? Vui hay buồn, thích thú hay chán ngán cũng chỉ là khoảnh khắc của cảm giác đi ngang qua những ý niệm của hành giả. Chúng chỉ nhất thời, vô thường sinh diệt liên miên.
Cảm thọ vui, cảm thọ buồn thì dễ nhận biết, biết và chế ngự. Còn cảm thọ đều đều không buồn chẳng vui trong tình trạng si ám, làm cho mình lờ mờ không rõ gì hết, nhưng lại tưởng đang rtấ bình thường. Đây là tên giặc giết ngầm, vô cùng nguy hiểm. Chúng ta không hiểu nên đã xây lên căn nhà chất đầy pháp hữu lậu, dục, tham, ái, bản ngã, vô minh… mặc cho nó xâm chiếm ngã nó xâm chiếm hằng ngày.
Khi có cảm giác thích thú, cần ngay đó nhìn sâu bên trong xem nó là cái gì? Dùng phương pháp quán chiếu đoạn diệt, đoạn tận nó. Phải thấy rằng đây là dục, là nguy hại trên bước đường tu, khó giải thoát nếu bị chúng đeo bám, sai khiến chúng ta. Ví như, ngồi trên ghế nệm, lò xo êm ái, mặc áo đẹp, vải tốt, ăn món ngon, ở nơi sang trọng nhưng lại quên rằng ở quê nhà ông bà, cha mẹ, người thân đang chờ mình tu, đang mong được chúng ta thành tựu đạo pháp để còn quay về độ cho họ qua khỏi đắm nhiễm, vô minh. Chỉ là một chút xíu cảm giác khoan khoái này mà bản thân chẳng thể vượt qua được thì làm sao chúng ta chống đỡ cái nóng, lạnh của cuộc đời, của những cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục đang chờ giày vò những ai thoái chí, buông lung, phóng dật.
Pháp thấp hèn, yếu kém của phàm phu là dục lạc thô thiển, chính nó đem lại hậu quả khổ đau cũng đâu có thỏa mãn. Khổ vì con chết, khổ vì chồng có vợ bé, khổ vì trong thân đang bị bệnh nan y… Làm sao nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham ở trong cái cảm giác. Cần xuất ly đối với thọ, đi ra cảm giác đó, mình không có thọ cảm giác, thọ là chấp nhận, yêu thích nó. Có thọ là chấp trước, dính mắc ngay, sẽ chứa đựng, nuôi dưỡng nó, lâu dần nó thành một phần trong đời sống của chúng ta. Đây là điều rất nguy hiểm!
Mọi sự vật, hiện tương diễn ra quanh chúng ta đều có sự biết rõ, song không để sáu căn chạy theo sáu trần rồi kẹt trong cảm giác, thọ, tưởng vận hành. Phải làm chủ cảm giác, không để chúng nhận chìm chúng ta. Muốn vậy phải có định lực, chánh tri kiến dõng mãnh trên bước đường tu hành.
Ăn trộm, ăn cướp tới lấy trộm, giựt đồ mình thì phải biết và có cách phòng vệ. Không thể để chúng tự lấy đi và mình cho chúng tự nhiên ra vào ngôi nhà tứ đại của mình. Phải cảnh giác, điều phục, nhận diện, rõ biết từ manh nha nhằm khéo phòng hộ thân, miệng và ý. Không phải ngồi thiền là ngồi im, mặc kệ thọ, tưởng, hành, thức làm gì thì làm. Quán chiếu sâu sắc mọi cảm giác để biết nguyên nhan sanh diệt của chúng, giả huyễn nương gá của tứ đại này. Năm uẩn là đồ dỏm, hư mục, là phương tiện cho mình tu hành. Phải thấy được thân này rồi hoại diệt, cũng như củi mục, như xác thối, giòi bọ rúc rỉa. Có gì đâu mà ham ưa thích thú, đừng vì thân tứ đại mà trau dồi cho nó nhiều, phụng sự cả đời vì thân xác rồi nó cũng bỏ đi không lời chào.
Hành giả tu tập, thường xuyên quán chiếu thân tứ đại được ví dụ như là khúc xương, khổ não, nhiều tai họa. Khúc xương khô quắt queo làm gì còn thịt để con chó gặm. Khúc xương vô dụng, có gì để tham đắm vì nó. Cho nên, khi thấy như chân như thật với chánh trí huệ sau khi từ bỏ, loại bỏ thuộc loại đa chủng. Ở đây, mọi chấp thủ với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn. Quán chiếu sâu sắc về vô ngã, buông thân mạng này, những ái dục kia như khúc xương khô, bỏ xuống mạnh mẽ, dứt khoát, không đắm nhiễm, chẳng có đáng.
Hành giả lại tiếp tục quán chiếu thân tứ đại này như giống như miếng thịt, giống như con chim kênh hay diều hâu hay là chim ưng đang vây quanh tranh giành miếng thịt thối kia. Con này rỉa một miếng, con kia giành lấy một miếng, con nọ tranh nhau xé nát miếng thịt. Chúng ta quán chiếu về dục cũng như vậy. Lũ chim ấy tranh giành tới chết vẫn không buông miếng mồi ngon thịt thối ấy, thì chúng ta cũng chết vì ái dục. Do đó phải chế ngự, điều phục cảm giác, vượt qua sự lừa dối cảm giác của ái dục ấy. Con lớn hiếp con bé, con to ăn con nhỏ trong thế giới động vật. Con người chúng ta cũng vậy, vi tế hơn, nguy hiểm hơn và ác độc hơn nhiều! Vì ái dục mà ăn không ngon, ngủ không yên. Tán gia bại sản, sự nguy hiểm của dục đó là sự khốn đốn, sầu bi khổ ưu não.
Chúng ta tiếp tục quán chiếu thân tứ đại này như là bó đuốc bằng cỏ đang cháy rực. Nếu đi ngược gió không vứt bỏ ngay bó đuốc đó thì bó đuốc đó có thể đốt cháy bàn tay, đốt cháy cánh tay, đốt cháy thân phàm của người đó, có thể đi đến chết hoặc đi đến gần như chết. Dục cũng như vậy, vị Thánh đệ tử phải quán chiếu đây là sự thật của khổ, tai họa rình rập. Đoạn diệt dục có phương pháp dùng 37 phẩm trợ đạo. Đây là 37 vũ khí Như Lai thần chưởng, ngũ chảo thần công, là năm uẩn cùng 37 phẩm trợ đạo bắn cho tan tành dục tham. Chiến thuật tâm linh của Đức Thế Tôn sâu sắc lắm! Không phải ngồi thiền là chúng ta chỉ có biết hít vô thở ra, ngồi im và lim dim rồi ngoẹo đầu sang một bên đi vào giấc mộng vô minh. Phải nhận diện năm uẩn, rõ biết tứ đại, thấy được mình đang muốn gì, hiểu rõ và điều phục nó trong vận hành tư tưởng. Vi diệu lắm!
Chúng ta lại tiếp tục ví thân này như hố than hừng sâu, trong đó lửa than đang cháy đỏ rực. Nếu chúng ta bị hai lực sĩ kẹp lấy mình và ấn mình vào hầm than lửa ấy thì sao? Cháy chết ngay, đau đớn vô cùng, khốc liệt sầu ưu. Hố than hừng ví như tham sanh khởi, một khi nó sanh khởi là bạo liệt như vậy đó! Tham kích thích cho mọi cảm giác hân hoan, vui sướng lên, đam mê, vô minh, chìm đắm trong u tối. Mãi mãi không ra khỏi luân hồi.
Người tu cần tỉnh thức nghiền ngẫm tư duy, đời người như giấc mộng, ngủ một giấc mơ đủ thứ rồi khi tỉnh lại chẳng còn gì để nắm, tan hết theo giấc mơ. Tất cả là ảo giác, hư huyễn, mờ sương vậy mà chấp, vậy mà tham. Phải ly tham, buông xả mới an vui.
Cả cuộc đời này là chuỗi dài vay mượn. Từ vay mượn tinh cha huyết mẹ làm nên thân tứ đại rồi vay mượn thế gian có của cải vật chất, có món ăn, thức uống, có nơi mua sắm, giải trí đó đây… vay mượn và chỉ là khoảnh khắc từ nơi này sang nơi kia. Ccuối cùng cũng hoàn không, cũng trả lại những gì đã vay mượn, lại còn mang gánh theo nghiệp lực đen hay trắng là do mình tạo trong hiện kiếp. Không có gì là lõi chắc thật cả, vậy sao nắm níu, ngỡ là vô hạn, ngỡ là vĩnh cửu cho đau khổ thêm chất chồng? Hãy buông xuống mau, tỉnh mộng đi nào! Nhìn sâu nhận rõ sợi dây vay mượn đầy lãi suất gấp trăm vạn lần lúc đầu. Nguy hiểm lắm thay!
Sau cùng thì đời người cũng như trái chín cây, người ta rung cây, cơn gió đẩy đưa, con chim rúc rỉa, nắng mưa đúng thời tiết trái cây rơi rụng và hư mục, tan vào đất, mất tiêu. Chất chồng một đời dành dụm vì tiền, tài, danh vọng, vì tất cả bằng mưu toan ích kỷ, ganh tỵ, hiềm hận, tranh đấu, gian tham rồi ra đi ngửa bàn tay trắng, thân hoại dưới ba lớp đất cũng bằng không. Chẳng mang theo được gì ngoài nghiệp như bóng với hình theo mình để lãnh án lành dữ do hiện đời gây tạo.
Người tu luôn tỉnh thức và nhận rõ sự vận hành năm uẩn để làm chủ mình, làm chủ cảm giác đang chuyển vận xoay hướng. Phải điều phục chúng bằng tinh thần vô ngã, buông xả. Đó là những Đa văn Thánh đệ tử, là những đệ tử Phật chân chánh tu hành trên bước đường chông gai đầy hiểm trở của sự tu.
./.