Trí Đức Như Lai
Tinh Hoa Nikāya
TRÍ ĐỨC NHƯ LAI 01
TỰ GIÁC - NHẬN DIỆN THÂN TÂM – NGŨ UẨN LÀ GÌ?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đảnh lễ trí đức Như Lai PAGEREF _Toc70148150 \h 1
II. Thánh trí năm uẩn PAGEREF _Toc70148151 \h 5
III. Phá thân kiến PAGEREF _Toc70148152 \h 8
IV. Cảm thọ PAGEREF _Toc70148153 \h 12
I. Đảnh lễ trí đức Như Lai
Thông thường tiết của Minh Thành, trước khi vào lớp, chúng ta có vài phút ngồi thở, tĩnh tâm. Từ buổi học sau sẽ bắt đầu, trước khi học sẽ tĩnh tâm đôi ba phút. Môn mà nhà trường phân công Minh Thành chia sẻ với các huynh đệ là Phật và Thánh chúng. Các huynh đệ ở đây, đại đa số đều đã đọc tiểu sử của Đức Phật, ai cũng biết. Lúc sơ cấp mình cũng có học qua, hoặc đã từng nghe, từng đọc, cho nên lần học môn Phật và Thánh chúng này chúng ta sẽ có cách học mới. Tức là sẽ khai thác phương diện trí tuệ của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.
Chúng ta sẽ nhìn Ngài với cái nhìn chân sát nhất, gần gũi nhất, chân thành nhất trong kinh tạng Nikāya. Sau đó, chúng ta sẽ nhìn những đức hạnh, thành tựu của các bậc Thánh tăng thời Đức Phật còn tại thế. Chẳng hạn như ngài Mahakassapa – ngài Ca Diếp, ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên, ngài A Nậu Lâu Đà, ngài A Nan Đa mà chúng ta chỉ dựa vào kinh tạng duy nhất là Nikāya, Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh hay Tiểu Bộ Kinh.
Chúng ta đang cầm trên tay quyển Nghi thức tu học Nikāya, lật trang ba mươi bảy “Đảnh lễ trí đức của Như Lai”. Bài này tóm thâu những trí tuệ, đức hạnh mà một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã thành tựu, sẽ giải thích về mười đức hiệu của Thế Tôn, của Như Lai. Chúng ta thường gọi Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hạnh Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Chư Phật Thế Tôn.
Chúng ta thường gọi, thường đọc, và đã quen nhưng để hiểu được những đức hiệu này thì những bài kệ này sẽ giảng giải một cách đầy đủ, sâu sắc về đức hạnh, trí tuệ của Đức Phật. Cho nên chúng ta thấy rằng, khi đọc lịch sử thì đã hiểu qua về con người, nhưng học ở đây sẽ thấy được rất nhiều phương diện, khía cạnh trí tuệ vượt ngoài sự tưởng tượng của chúng ta về Đức Phật, không giống như mình hiểu một cách chung chung thông thường.
Thường có một vấn đề gì Đức Phật nêu lên, ngài hỏi các thầy Tỳ-kheo điều đó như thế nào. Các thầy hay nói rằng:
“Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói về ý nghĩa của lời dạy ấy. Sau khi nghe Thế Tôn, chúng con sẽ tiếp nhận, thực hành, thọ trì”.
Đây là câu các bậc Thánh tăng thời xưa hay thưa thỉnh lên Đức Phật, khi Đức Phật muốn nói lên một vấn đề nào đó mà Ngài hỏi, các thầy hay nói: “Bạch bậc tôn quý nhất ở trên đời”.
Chữ Thế Tôn là được thế gian tôn kính. Chúng ta thấy không, khi chúng ta nói chữ Thế Tôn, mình không hiểu rõ nghĩa, nhưng mình nói thêm hai chữ: thế gian tôn kinh là nghĩa được sáng tỏ - bậc mà cả thế gian tôn kính gọi là Thế Tôn. Các thầy: “Bạch bậc tôn kính nhất trên đời, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, tức là làm gốc rễ, lấy Đức Thế Tôn làm lãnh đạo, các pháp lấy Thế Tôn làm chỗ nương dựa. Rất là tốt lành thay, quý báu thay, lợi ích thay nếu mà Thế Tôn nói cho chúng con nghe ý nghĩa của lời dạy ấy. Khi Thế Tôn nói rồi chúng con sẽ lắng nghe và tiếp nhận, thực tập hành trì”.
Sau đó Đức Phật nói: “Vậy này các Tỳ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng”. Bài này trở thành bài khai kinh kệ trên Linh Quy Pháp Ấn, chỗ Minh Thành tu học, cũng là bài khai kinh của các bậc Thánh tăng thời Đức Phật còn tại thế. Cho nên, chỗ này để chúng ta thấy rằng, khi Đức Phật còn tại thế, chính các bậc Thánh tăng, các ngài không tự ý giải thích hay trình bày một vấn đề gì mà chưa được Đức Thế Tôn thuyết giảng, chỉ dạy.
Đây là chỗ rất sâu sắc để cho chúng ta học đạo ngày hôm nay. Chính những bậc như Thánh tăng Xá Lợi Phất, Thánh tăng Mục Kiền Liên, Thánh tăng Ma Ha Ca Diếp, hay lúc đó là ngài A Nan cũng là bậc Dự lưu Thánh quả nhưng các ngài không tự ý nói ra pháp mà các vị đều phải nghe Đức Phật dạy trước. Ví dụ như Đức Phật nói về vô minh, Đức Phật định nghĩa vô minh là không thấy được ngũ uẩn, không thấy được thân tâm này là ngũ uẩn, vô ngã. Hoặc vô minh là không thấy được sự thật về khổ đau của đời sống này.
Đức Phật nói xong rồi, các vị Thánh tăng mới y cứ vô các lời dạy của Đức Phật nói lại không một ai dám vượt qua lời dạy của Thế Tôn. Tức Thế Tôn làm gốc rễ, Đức Thế Tôn làm lãnh đạo, Thế Tôn làm chỗ nương dựa của tất cả các pháp. Cho nên, chúng ta cần trở về lời dạy gốc của Đức Phật, Minh Thành dùng từ Phật Pháp nguyên chất, là những lời Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya. Đây là chỗ mà tại sao chúng ta phải học kỹ những trí tuệ, đức hạnh, giáo pháp trong kinh tạng Nikāya.
Chúng ta đi vào danh hiệu thứ nhất, giải thích về bậc A-La-Hán Chánh Đẳng Giác, cái đầu tiên ở đây là giải thích về chữ A-La-Hán Chánh Đẳng Giác.
Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc tự mình thấy rõ
Sự thật về thân tâm,
Sự thật về sanh tử,
Về phiền não, khổ đau.
Và Ngài cũng tìm thấy,
Lối thoát khỏi khổ đau,
Lối thoát khỏi sanh tử,
Ngài đạt sanh tử tận,
Ngài đạt khổ chấm dứt.
Vì vậy, Ngài được gọi:
Bậc La Hán Chánh Giác,
Bậc Lậu Tận Chánh Giác.
Con thật kính phục Ngài,
Con thật kính ngưỡng Ngài,
Con xin quy phục Ngài,
Con xin đảnh lễ Ngài”.
Đảnh lễ trí đức Như Lai – Nghi thức tu học Nikāya
Đây là danh hiệu đầu tiên giải thích về chữ bậc A-La-Hán Chánh Đẳng Giác. Ở đây, câu “Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu
Bậc tự mình thấy rõ
Sự thật về thân tâm”
Bốn chữ “tự mình thấy rõ” tức là chữ tự giác, Chánh Giác. “tự” là tự mình, tự thân, chính mình; chữ “giác” là sự thấu hiểu, rõ biết, giác ngộ, phát giác, phát hiện. Tức Đức Phật không nhờ một người khác, không phải từ một người khác, mà là tự mình thấy rõ chính mình. Cho nên, khi mình chứng thành Chánh Giác, Ngài nói rằng “Ta không có thầy, Ta tự mình giác ngộ”. Vì Ngài là con người khai sáng, bậc đạo sư, trong kinh dùng từ “mở ra con đường mà trước nay chưa từng mở ra”, trình bày, diễn thuyết, khai thuyết, hiển thị, hiện lộ một con đường mà trước nay chưa từng được ai khai thuyết, khai thị, chưa từng ai trình bày, hiển lộ.
Tự mình giác ngộ đó gọi là tự giác, đúng với nghĩa của chữ tự giác. Tự mình thấy rõ sự thật về thân, tâm. Như vậy, sự thật về thân tâm như thế nào, sự thật về sanh tử, về phiền não, khổ đau. Ngài cũng tìm thấy:
Lối thoát khỏi khổ đau,
Lối thoát khỏi sanh tử
Ngài đạt sanh tử tận,
Ngài đạt khổ chấm dứt
Khi nãy là giải thích chữ Chánh Giác, còn đây là giải thích chữ A-La-Hán, “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa”, “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, đây là đời sống cuối cùng, sau đời sống này không còn bất cứ một đời sống nào nữa”. Đó là chữ A-La-Hán, lậu tận, sự tận cùng của sanh tử và chứng đắc Niết-bàn tối thượng.
“Vì vậy, Ngài được gọi:
Bậc A-La-Hán Chánh Giác,
Bậc lậu tận Chánh Giác
Con thật kính phục Ngài,
Con thật kính ngưỡng Ngài,
Con xin quy phục Ngài,
Con xin đảnh lễ Ngài”.
Chúng ta lạy, đọc như vậy bằng cả trái tim, cả tấm lòng, cả sự cung kính, tôn trọng, kính ngưỡng, đảnh lễ, quy kính, kính phục, quy phục. Mà chúng ta lạy xuống như vậy thì mỗi một cái lạy đó mới là một cái lạy chân chánh của sự cung kính đối với Đức Phật. Bây giờ chúng ta mới bắt đầu đi sâu vào chữ “tự giác” hay “Chánh Giác” là giác cái gì? Tự mình thấy rõ là thấy rõ cái gì? Tự mình thấy rõ sự thật về thân tâm, tất cả sự tu hành của chúng ta không ngoài mục đích để thấy rõ thân tâm chính mình. Nếu mình không thấy rõ thân tâm của chính mình thì dù mình có học hiểu bao nhiêu đi nữa vẫn là ở ngoài cửa thôi.
II. Thánh trí năm uẩn
Thân tâm của chính mình gồm những gì? Lật trang một trăm, sau khi ghi xong chúng ta cùng nhau đọc định nghĩa Ngũ uẩn:
- Thân người là Sắc
- Cảm giác là Thọ
- Hình bóng là Tưởng
- Suy nghĩ là Hành
- Rõ biết là Thức
Định nghĩa Ngũ uẩn - Nghi thức tu học Nikāya
Tự cho một tràng pháo tay luôn, vậy là thuộc bài hết rồi đúng không? Bây giờ chỉ bất cứ người nào, phải đứng lên, mời sư. Chúng ta thuộc bài ngay tại lớp, cái này xin thưa với các huynh đệ, rất quan trọng. Đây là cánh cửa mở ra tạng kinh Nikāya. Nếu mình không nhận diện được năm uẩn thì sẽ không thấy được thân tâm mình. Bây giờ, ở tại lớp chúng ta sẽ thực tập nhận diện ngũ uẩn, xin mời đại chúng nhắm mắt lại, nghĩ về hình ảnh lũ lụt của miền Trung, nước tràn ngập, những cảnh mất nhà, chết người, những đứa trẻ mấy tuổi phải lội ra giữa dòng để nhận đồ cứu trợ, không có một chiếc áo phao, những cụ già năm ngày mới được cầm hộp cơm mà tuôn trào nước mắt, những cảnh đưa quan tài treo lên nóc nhà, đưa đám tang trong nước lũ…
Cảm giác đau thương đó là gì? Chúng ta có những suy nghĩ, suy nghĩ về những điều lũ lụt đó, suy nghĩ đó là hành, chúng ta có sự rõ biết, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó là gì? Rõ biết là thức, rõ biết được hình bóng tang thương của lũ lụt miền Trung, cảm giác xót xa và những suy nghĩ về điều đó. Chúng ta rõ biết ba cái này, những cảm giác, hính bóng, suy nghĩ đang có mặt trong tâm, chúng ta rõ biết được thọ, tưởng, hành đó là thức.
Các huynh đệ nhớ nha, điều này quan trọng lắm, phải chú tâm. Đây là bí kíp của Chánh Pháp, rõ biết được cảm giác, hình bóng và suy nghĩ trong tâm là thức. Bây giờ chúng ta tiếp tục nhận diện ngũ uẩn, ít nhất là năm, ba lần chúng ta sẽ nhìn ra được thân tâm của chúng ta là cái gì, nó đang vận hành như thế nào. Xin mời tất cả huynh đệ nhắm mắt lại, chúng ta cùng nhau đi ra bến Bạch Đằng, thấy những du thuyền, dạo bên bờ sông, gió mát, những cây cảnh, những người, những căn nhà, tòa cao ốc.
Chúng ta thấy trong tâm có những hình bóng đó không? Hình bóng đó là tưởng. Có thấy cảm giác dễ chịu, mát mát không? Cảm giác đó là thọ. Rồi chúng ta có những suy nghĩ: thoải mái quá, mát mẻ quá, khỏe khoắn quá, sướng quá. Suy nghĩ đó là hành. Và hình bóng bến Bạch Đằng, cảm giác dễ chịu, gió mát đó, suy nghĩ về những điều đó đang có mặt trong tâm và chúng ta đang rõ biết được thọ, tưởng, hành, rõ biết được những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, đó là thức. Quá giỏi, cho một tràng pháo tay.
Bây giờ chúng ta tiếp tục nhận diện ngũ uẩn, nhắm mắt lại, nhìn vào bên trong, nhìn trong tâm, chúng ta thấy hình bóng tất cả mọi người đang ngồi trong lớp học, huynh đệ, những bạn đồng học, ngồi đầy hết cả một lớp, trong phòng, trong trường Trung cấp Phật học Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng ta nhớ những gương mặt mà mình đã quen, những gương mặt đó hiện ra, những người đã hiện ra. Hình bóng của những huynh đệ đồng học, đó là tưởng; cảm giác thường thường, đều đều đó là thọ; suy nghĩ là hành. Biết rõ được hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, biết rõ được thọ, tưởng, hành đó là thức.
Chúng ta nắm vững được chưa? Đây là nhận diện ngũ uẩn. Xin thưa, bài học này chúng ta sẽ học cho tới mãn khóa chứ không phải đơn giản, vì cái này rất sâu sắc để chúng ta nhận diện rõ thân tâm mình. Hình ảnh thứ nhất là khổ thọ - cảnh miền Trung, hình ảnh thứ hai, đi dạo bến Bạch Đằng là lạc thọ, cảm giác vui. Chúng ta thấy rõ vấn đề này chưa? Hình ảnh thứ ba là nhìn những khuôn mặt mốc, trơ trơ, không buồn không vui là bất khổ bất lạc thọ, là ba loại cảm giác, chúng ta thấy và biết được ba thọ này chưa?
Cảm giác vui, buồn, không vui, không buồn, chúng ta thấy được ba cảm thọ chưa? Chắc chưa? Như vậy, nãy giờ chúng ta đang học chữ tự giác, biết được chính mình. Trước nay ngồi thiền, chúng ta không biết được cái nào là thọ, tưởng, hành, thức. Và ngồi trong sự rối ren, không rõ tự thân mình, bây giờ ta bắt đầu mở được con mắt pháp nhãn. Khi nhận diện được năm uẩn là chúng ta bắt đầu mở ra pháp nhãn – con mắt pháp, của Chánh Pháp.
Và nếu như chúng ta phải giữ cái thấy này hoài về thực tập thì con mắt pháp mới mở, còn không, nó ra khỏi lớp là nhắm lại. Nếu như nó mở hoài để nhìn thấy ngũ uẩn hoài, không thấy có một cái tôi trong này mà năm thứ đang hoạt động thì đó gọi là đắc pháp nhãn tịnh. Tức được con mắt pháp trong sáng. Như vậy, nãy giờ chia sẻ bốn uẩn thuộc về tâm, bây giờ qua phần thân (sắc) “thân người là sắc”.
Bây giờ trở lại trang một trăm, bước qua định nghĩa số hai – định nghĩa Ngũ uẩn, bắt đầu mở rộng ra một chút. Hồi nãy là định nghĩa đơn giản, gần gũi nhất để dễ hiểu, bây giờ sẽ mở rộng ra, chúng ta cùng nhau đọc:
- Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.
- Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.
– Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.
- Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.
- Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.
Vị nào xung phong lên có thưởng, thưởng một bộ xuất gia toàn tập ba quyển.
Phật tử: Nam Mô A Di Đà Phật, bạch thầy giáo thọ, bạch đại chúng con xin đọc.
Sư phụ: Nãy giờ chúng ta học trong lớp cũng thuộc nhiều rồi, bây giờ đừng nhắc, chỉ ngồi yên lặng để nghe và bây giờ nâng cấp lên, không đọc theo thứ tự mà thầy chỉ ở đâu là đọc ở đó.
III. Phá thân kiến
Giờ chúng ta mở rộng phần nhận diện ngũ uẩn, rất quan trọng. Chúng ta phải biết chữ sắc này là đất, nước, gió, lửa. Tất cả các sắc nào, dù là sắc quá khứ, hiện tại hay vị lai, dù là sắc thô sắc tế, sắc đẹp sắc xấu, thắng liệt xa gần, tất cả các sắc đều là tứ đại. Chúng ta phải nhận diện được đây là phép quán, ví dụ giờ mình nhìn thấy viên phấn, cái bàn, chậu hoa này đều từ đất, nước, gió, lửa. Nếu dùng con mắt quán chiếu để nhìn thì thân này cũng từ đất, nước, gió, lửa, mà đó là cái nhìn của thiền quán, của sự quán chiếu, sự suy tư, sự nghiền ngẫm để chứng nhập sự thật về thân xác này chứ không phải lý thuyết suông để mình nói thân này là tứ đại, nói miệng vậy thôi, nói kiến thức thôi chứ thật sự cái thấy của mình chưa thấy được như vậy.
Đó chưa gọi là thành tựu, trí tuệ về sắc uẩn, những buổi sau chúng ta sẽ mở rộng, đi sâu từ từ. Cả một học kỳ của chúng ta suốt ba tháng mà chúng ta học cũng chưa xong phần nhận diện năm uẩn, nó rất thâm sâu. Đây chỉ là những định nghĩa hết sức căn bản để chúng ta thực tập, mà chúng ta nhận diện năm uẩn thì mới biết được chữ tự giác, Chánh Giác của Đức Phật là gì. Chúng ta mới nhìn thấy thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại là tất cả thân thể, đất đai, ruộng vườn, nhà cửa, tài sản, thậm chí cả quả núi, cả địa cầu, cả thế giới này cũng không ra ngoài một chữ sắc.
Chẳng qua chúng ta bị nhìn cái biểu diện, nhìn vẻ ngoài, nhìn sự lòe loẹt mà không nhìn thấy được chất liệu làm ra nó, một yếu tố hình thành. Ví dụ bây giờ mình thấy rau xanh này tốt quá, ngon quá, mình thích quá, cảm giác rất dễ chịu, khoan khoái, chảy nước miếng, thích thú này kia, mình lại mình hái vô luộc ăn, chấm ngon lành, một hồi ra mới biết nó được trồng bằng phân người, ngay tại chỗ đó, dẫn qua nước tiểu với phân, lấy làm nước rồi tưới ngay tại chỗ, mình nghe đã muốn nôn ra.
Hoặc đang ăn mà nghe nói cái này của ông sư đệ đó “ngũ cốc luân hồi”, mình lại thất đó thăm ông đang tu, từ chỗ này là cầu tiêu, ông dẫn nước qua, bên đó ông trồng rau, đó gọi là hoàn toàn tự nhiên, không có phân hóa học. Bây giờ mình đang thích thú ngon lành, chấm, nhai, tự nhiên nói rau này là của ông đó... thì lúc đó mình muốn ói, muốn sặc. Tại vì sao? Mình không hiểu được tất cả bản chất của thân này, của mọi đồ vật, cảnh vật đều là đất, nước, gió, lửa hết. Vì mình thấy rau, thấy bông đó mà mình không biết, truy nguyên được từ cái gì làm thành nó.
Nhìn thân này mình thấy biết thân này chứ mình còn không thấy được qua khỏi lớp da. Chỉ cần rạch ngang trán một đường, lột xuống là lòi ra một cái đầu sọ, mình đâu thấy qua khỏi lớp da nên cách sống của mình là sống trong sự vô minh và tham ái, không thấy được bản chất của tứ đại. Chúng ta thấy một con người đẹp đẽ, sạch sẽ, thơm tho, láng mịn da, trắng trẻo như vậy mà chỉ cần rạch một đường ngang bụng là đổ ra phèo phổi, ruột gan, tim, bộ đồ lòng, máu, mỡ, thịt chảy ra, bọng đái, phân và nước tiểu... Đó là những pháp quán mà sau này chúng ta sẽ học để phá chấp vô sắc, thủ, uẩn.
Tất cả chúng ta đau khổ vì nắm chặt vô năm hình sắc này mà không biết sự thật của nó là gì. Giống như dĩa rau lúc nãy, mà không biết nó làm từ phân và nước tiểu. Mà khi biết rồi thì muốn ói, muốn mửa, ăn không vô nổi nữa. Cũng vậy, các bậc hiền thánh, các bậc đã chứng đắc, chứng trí huệ về sắc uẩn, nhìn sắc này cũng giống y như vậy, đống phân và nước tiểu, máu mủ, ruột gan, phèo phổi. Còn mình nhìn thấy hấp dẫn, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn nên chết trong đó, điên đảo và say mê, điên cuồng, cuồng nhiệt và đau khổ trong đó nên mình học nhận diện ngũ uẩn là thấy được sự thật thân tâm.
Chúng ta thấy không, chỉ cần đi vô phòng nhỏ nhỏ mà đóng cửa kín lại, thân thể này bài tiết ra cái gì là phải bấm nút ngay lập tức, xóa sạch vết tích một cách hoàn toàn, không cho lưu lại chút xíu nào, không cho dư tàn, không còn sót lại gì. Mà chỉ cần nó sót lại, người sau vô tá hỏa tam tinh, sầu bi khổ ưu não, sân si. Chỉ cần mình để lại một kết quả của chiến tranh ở trong toilet đó là... Chúng ta nhìn vô thấy một người trắng trẻo, đẹp trai, nhìn vô đẹp gái nhưng không biết bên trong làm bằng giống gì ở trỏng. Mủ, nước tiểu và phân, mà mình không thấy. Đức Phật nói mình bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, và chúng ta cứ khổ hoài. Hình bóng đó xâm chiếm vô tâm mình nên ta rất đau khổ.
Tướng là hình bóng, hình tướng, hình dáng, tướng mạo, thêm chữ này là hình bóng ở trong tâm là tưởng. Thấy rõ chưa? Mà hình bóng này ám ảnh trong tâm, thành ra tương tư, tức hình bóng này ám ảnh, ngự trị, xâm chiếm, áp đảo trong tâm này, thoát ra không khỏi hình bóng đó. Và người này đau khổ vì hình bóng ám ảnh, xâm chiếm, áp đảo, ngự trị trong đó. Và người này ăn, ngủ, nghỉ cũng nhớ, bất cứ lúc nào cũng nhớ, không ra khỏi hình bóng này được. Đó gọi là bị sắc ám ảnh.
“Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: " Sắc là ta, sắc là của ta ". Do bị ám ảnh: " Sắc là ta, sắc là của ta! " khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!”
Kinh Nakulapita – Phẩm Nakulapita – Phần 22 a Năm mươi kinh căn bản – Chương I Tương Ưng Uẩn – Tập III Thiên Uẩn – Kinh Tương Ưng Bộ
Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu bị sắc ám ảnh, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị đau khổ, thống khổ, bị đau nhức, bị tương tư, bị khổ sầu, bị hệ lụy, bị trói chăng, bị hệ phượt, bị ràng buộc, bị sai khiến, bị sầu khổ ở trong sắc này. Vì chúng sanh không biết được, không giác ngộ được sự thật của tứ đại này. Chúng sanh này bị vị ngọt của sắc chinh phục. Kẻ vô văn phàm phu, những chúng sanh không gặp được bậc Thánh, bậc chân nhân, không nghe được Chánh Pháp, không tu tập Chánh Pháp, không thuần thục Chánh Pháp, thì giữa chúng sanh phàm phu này bị đam mê trong vị ngọt của sắc, bị sắc hấp dẫn, bị sắc chinh phục, bị sắc đánh gục, bị sắc làm cho sụp đổ, tan vỡ.
Cho nên, mật ngọt chết ruồi, con ruồi chết trong tô mật. Tất cả phàm phu chúng sanh bị sắc chinh phục vì ở trong tâm bị ám ảnh vị ngọt của sắc. Thấy khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục hấp dẫn. Khả lạc là đáng vui, khả ý là thích thú, hấp dẫn, đẹp đẽ, thơm tho, sạch sẽ, ngon lành, đó là vị ngọt. Chính vị ngọt đó làm cho người này đam mê, sầu, bi, khổ, ưu, não. Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử, Đức Phật, các bậc Thánh và những đệ tử của Đức Phật thì ngài dạy quán sự nguy hiểm và tác hại.
Đây là ba loại trí tuệ, sự nguy hiểm và tác hại của sắc là một khi dính vô rồi thì nó buộc chặt mình suốt cuộc đời, không còn tự do nữa. Mình bị hệ lụy, trói chăng, ràng buộc, đau khổ và bị đày đọa. Cho nên, bậc Đa văn Thánh đệ tử là luôn luôn quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của sắc để thường thường quán, suy nghiệm, gặm nhấm, suy tư chứ không phải tu thiền là ngồi im ru thở ra thở vô. Đó mới là sự tỉnh tâm ban đầu thôi, và là suy nghĩ Chánh tư duy, suy tư một cách chân chánh đúng theo lời Đức Phật dạy. Còn gọi là Thánh tư duy, sự suy tư và trí huệ của bậc Thánh.
Chúng ta phải quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của sắc này để làm gì? Mình thấy nhàm chán nên hướng đến sự xuất ly và thoát ra, không ưa không thích không muốn nữa, hại nhiều hơn lợi, khổ nhiều hơn vui, buộc nhiều hơn là sự rảnh rang, thảnh thơi. Mình cứ suy nghĩ hoài, quán chiếu, nghiền ngẫm điều đó hoài thì như vậy, tâm mình sẽ nhàm chán đối với sắc, sẽ thoát ra, hướng đến sự xuất ly khỏi sắc, dục. Và trí tuệ để quán chiếu về sắc này, Đức Phật cho chúng ta những phương pháp rất cụ thể mà từ từ chúng ta sẽ học.
Ta sẽ đi từng bước để mà mình nhìn thấy được vị ngọt của sắc, của dục và sự nguy hiểm, tác hại của nó, cuối cùng là sự xuất ly, thoát ra khỏi nó. Bây giờ chúng ta hết sức khát nước, cực kỳ khát, khô cổ họng hết, nguyên ngày mình chưa uống nước nhưng người ta bưng lên một ly cam rất tươi mát, thơm ngon nhưng nói với mình trong này có độc, mình dám uống không? Tại sao? Vì nó nguy hiểm đưa đến chết.
Cũng vậy, bậc Đa văn Thánh đệ tử, bậc tu theo Đức Phật nhìn thấy sự nguy hiểm trong sắc, trong dục, trong tham ái mà các vị này từ bỏ, tránh xa, chứ không phải tự nhiên có thể ly dục được. Do thấy được mối nguy hiểm, tai họa khôn lường ở trong đó nên các vị này nhàm chán, tránh xa, tránh né, thoát ra, đi ra khỏi nó, như vậy gọi là ly dục. Khi các vị này ly dục, sanh ra một niềm hỷ lạc – hỷ lạc do ly dục sanh, các vị này sẽ trú trong trạng thái sơ thiền, tâm bình an, hạnh phúc, an lạc do ly dục sanh.
Thành ra niềm vui này là bắt đầu cho hương vị của sự viễn ly, ly tham, nhàm chán, xuất ly. Chừng nào chúng ta tu mà có được niềm vui này mới bắt đầu bước vào con đường của bậc Thánh, bắt đầu đi vào quỹ đạo, đạo lộ của tuệ giác, trí huệ của Đức Phật. Còn bây giờ chúng ta cứ bị năm dục trưởng dưỡng này (sắc, thanh, hương, vị, xúc), năm sự tham muốn, đối tượng tham muốn này nuôi lớn lòng dục của chúng sanh cho nên gọi là năm dục trưởng dưỡng.
IV. Cảm thọ
Chúng ta nhìn thấy một sắc đẹp là muốn, thích, khoái, tham sanh khởi lên. Nếu chúng ta không nhìn thấy đã không sanh khởi cái đó, mà do ta nhìn thấy. Rồi ta nghe một tiếng nào đó, một giọng nói hay một bài nhạc trữ tình nào đó. Bài nhạc đó, tiếng nói đó, giọng êm ấm du dương trầm bổng ngọt ngào đó đi vô trong tâm mình và thọ, ghê gớm như vậy.
Thọ là nhận vô một cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú, êm ấm, đã, sướng, phê, tê và chúng ta bị chết trong đó. Chúng ta bị lạc thọ làm trói buộc. Cho nên Đức Phật nói ở trong cảm giác dễ chịu, lạc thọ luôn luôn có tham trong đó, tham tùy miên. Hễ cảm giác dễ chịu là tham dục trú trong đó mà mình không thấy ái, dục, tham trong đó, khi một cảm giác dễ chịu.
Mùi vị cũng vậy, đừng tưởng đâu tham là tham sắc ở ngoài, tham tiền, tham quyền, tham đất đai, tham quyền chức mà là món ăn, mùi hương. Vô gặp đồ ăn đúng gu mình thích là gắp lia lịa, húp sột sột, miệng nhai chưa hết đã múc muỗng thứ hai để chực sẵn. Chúng ta thấy không, đó là sắc, thanh, hương, vị, xúc, mình không kiểm soát được, lúc đó trong này thúc giục, khoan khoái, thích thú. Đó là năm dục trưởng dưỡng, hương và vị, mùi và vị, đam mê vô, tê lưỡi không còn biết gì nữa, đó là cảm giác dễ chịu, nó là cho mình tham ái.
Nếu đưa món ăn lên mà món này mặn chát, hay không thích cay mà món này quá cay hoặc mình thích ăn cay mà không cay, thì lúc đó mình khó chịu, sân. Nãy giờ tham, bây giờ sân, trong bữa ăn của mình có đầy đủ tham, sân, si. Còn nếu món ăn không hấp dẫn mà cũng không dở thì mình si. Chúng ta thấy không, ba cảm thọ này nó ghê gớm, trùm chiếm thân tâm mình mỗi ngày. Ăn, ngủ, đi, đứng, nói, làm việc gì cũng xâm chiếm hoàn toàn trong tâm mà mình không biết. Mà mình lại nghĩ mình tu như vậy cũng được rồi, không thấy tham, sân, si gì, khi nào cãi nhau mới sân. Đó là phàm phu.
Mình phải nhìn thấy cảm xúc, cảm thọ, cảm giác mà nó bắt đầu sanh khởi lên. Khi nãy chúng ta thực tập nhận diễn ngũ uẩn là để nhìn thấy cái mà từ xưa đến giờ mình không thấy, phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho người có mắt có thể nhìn thấy những gì bị che mắt, dựng đứng lên những gì bị ngã đổ cho người lạc hướng. Đó là công năng của Chánh Pháp, là ân đức của Thế Tôn. Tuyệt diệu lắm, chúng ta học vô cái này rồi sẽ thấy nó vi diệu, thần diệu, Thánh diệu, tối diệu để chúng ta nhìn thấy thân tâm mà nào giờ mình không nhìn thấy, tưởng đâu mình tu ngon lắm, nhưng không ngờ là chưa ngon chút nào hết.
Chúng ta thấy không, nãy giờ mới nói ám ảnh của cái sắc ở bên ngoài, bây giờ cái ám ảnh sâu thẳm là hình bóng của tự thân mình, chấp ngã thân kiến. Thân kiến này rất nặng nề - kiến chấp về thân, cho rằng đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, một cái nhìn hoàn toàn sai lầm về thân xác này, thân thể này, thân hình này. Chúng ta cứ giữ chặt quan điểm sai lầm đó trong sâu thẳm tâm thức của mình, chính điều đó làm cho ta khổ đau.
“Con tôi, tài sản tôi
Người ngu sanh ưu não
Tự ta, ta không có
Con đâu, tài sản đâu”
Bài số 61 – Phẩm ngu - Kinh Pháp cú
Chúng ta thấy không, pháp của mình sáng rực ra hết, là tại sao , vì trong sâu thẳm trong tâm thức của mình, lúc nào mình cũng nghĩ, ví dụ nói tới cái đơn giản nhất là sáng ngủ thức dậy, rửa mặt nhìn vô tấm gương, nhìn khuôn mặt mốc của mình ta thấy sao? Chúng ta thấy con mắt này cũng được đó, mũi này cũng xài tạm, ngắm ngắm nghía nghía một hồi rồi mỉm cười, cũng được, không đến nỗi. Đó là thân kiến, không thấy được hình hài này, hình bóng này chỉ là tứ đại.
Thân này do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành, vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, diệt vong. Thân này là ổ chứa nhóm bệnh hoạn, làm bằng xương quét tô bằng thịt, máu, ở trong đây già và chết, ngã mạn, sự lừa đảo chất chứa. Cho nên, sự tu, quán chiếu của chúng ta càng sâu thẳm chừng nào, chúng ta càng mở ra, gỡ ra những lớp mê, lớp chấp, từ đó mới bớt khổ. Còn nếu không, nhìn đâu dính đó, dòm cái gì mắc cái nấy, thấy là sanh khởi lên đam mê, năm dục trưởng dưỡng sanh khởi, nuôi lớn lên sắc, thanh, hương, vị, xúc.
Xúc là sự tiếp xúc, cái xúc này ghê gớm lắm, khủng khiếp lắm, sự tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, sanh ra suy nghĩ, sanh ra những ham muốn. Nếu không tiếp xúc thì không sanh ra. Tại sao mình ham muốn những món đồ đó? Tại vì mình đã thấy món đồ đó, nếu mình không thấy thì mình không thích. Tại sao mình muốn sở hữu món đồ đó? Vì mình đã nhìn qua nó rồi. Nếu mình chưa nhìn, chưa gặp, chưa thấy thì mình không muốn, không thích, không khoái.
Cho nên, xúc sanh thọ, xúc sanh ra những tưởng, hành, sanh ra suy nghĩ, do tiếp xúc với thọ, tưởng, hành nó sanh. Nhớ, điều này quan trọng, là định lý, phải ghi vô. Sự tiếp xúc này khủng khiếp lắm, mình vừa tiếp xúc, hai con mắt mình vừa thấy là sanh ra cảm thọ liền, cảm giác, nếu đẹp thấy dễ chịu liền. Hình bóng của người hay món đồ mình tiếp xúc để lại trong tâm mình, bắt đầu mình trở lại suy nghĩ về món đồ đó, con người đó.
Nếu món đồ đó, con người đó đáng ưa đáng thích, rất đẹp thì lúc đó dục sanh, nghiệp sanh, cái muốn bên trong sanh khởi lên. Và thói quen của bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp bắt đầu vận hành, hoạt động. Chính vì vậy, chúng ta mới nghe tiếng sét của ái tình. Xẹt một cái, điện giật, và người này có thể chết sống với tiếng sét đó, là từ sự tiếp xúc, gặp một lần là sanh ra ham muốn, sanh ra ưa thích, sống chết với cái muốn đó. Đó là xúc sanh dục, sanh nghiệp, sanh tham ái. Cho nên, khi tu thì từ từ chúng ta sẽ học, phải hết sức hộ trì căn.
Trong thời Đức Phật còn tại thế, các vị Tỳ-kheo phải luôn luôn hộ trì căn, tức phải bảo hộ và giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý rất nhiều. Không được ngó giống như mình bây giờ, con mắt lúc nào cũng Chánh Niệm, không ngó lơ láo, không ngó đông tây, không để ý, lỗ tai, mũi, thân, tất cả những hành động đều có sự kiểm soát và cảnh giác.
Tại sao bây giờ mình tu thiền định không được? Vì mình không hộ trì căn mà thả lỏng các căn, mà khi thả lỏng các căn, nó xúc một cái là nó thọ rồi đem các cảm thọ đó vô. Khi đó, kho hàng của mình tồn kho rất nhiều những ác và bất thiện pháp, dục, tham, ái, sân. Cho nên, kho của mình là một cái kho quá tải. Chúng ta chỉ cần nghe tiếng chuông hết giờ, trong này mình nhận diện thọ, tưởng, hành của mình nó thúc giục liền, chúng ta thấy không.
./.
TRÍ ĐỨC NHƯ LAI 01
TỰ GIÁC - NHẬN DIỆN THÂN TÂM – NGŨ UẨN LÀ GÌ?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đảnh lễ trí đức Như Lai PAGEREF _Toc70148150 \h 1
II. Thánh trí năm uẩn PAGEREF _Toc70148151 \h 5
III. Phá thân kiến PAGEREF _Toc70148152 \h 8
IV. Cảm thọ PAGEREF _Toc70148153 \h 12
I. Đảnh lễ trí đức Như Lai
Thông thường tiết của Minh Thành, trước khi vào lớp, chúng ta có vài phút ngồi thở, tĩnh tâm. Từ buổi học sau sẽ bắt đầu, trước khi học sẽ tĩnh tâm đôi ba phút. Môn mà nhà trường phân công Minh Thành chia sẻ với các huynh đệ là Phật và Thánh chúng. Các huynh đệ ở đây, đại đa số đều đã đọc tiểu sử của Đức Phật, ai cũng biết. Lúc sơ cấp mình cũng có học qua, hoặc đã từng nghe, từng đọc, cho nên lần học môn Phật và Thánh chúng này chúng ta sẽ có cách học mới. Tức là sẽ khai thác phương diện trí tuệ của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.
Chúng ta sẽ nhìn Ngài với cái nhìn chân sát nhất, gần gũi nhất, chân thành nhất trong kinh tạng Nikāya. Sau đó, chúng ta sẽ nhìn những đức hạnh, thành tựu của các bậc Thánh tăng thời Đức Phật còn tại thế. Chẳng hạn như ngài Mahakassapa – ngài Ca Diếp, ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên, ngài A Nậu Lâu Đà, ngài A Nan Đa mà chúng ta chỉ dựa vào kinh tạng duy nhất là Nikāya, Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh hay Tiểu Bộ Kinh.
Chúng ta đang cầm trên tay quyển Nghi thức tu học Nikāya, lật trang ba mươi bảy “Đảnh lễ trí đức của Như Lai”. Bài này tóm thâu những trí tuệ, đức hạnh mà một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã thành tựu, sẽ giải thích về mười đức hiệu của Thế Tôn, của Như Lai. Chúng ta thường gọi Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hạnh Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Chư Phật Thế Tôn.
Chúng ta thường gọi, thường đọc, và đã quen nhưng để hiểu được những đức hiệu này thì những bài kệ này sẽ giảng giải một cách đầy đủ, sâu sắc về đức hạnh, trí tuệ của Đức Phật. Cho nên chúng ta thấy rằng, khi đọc lịch sử thì đã hiểu qua về con người, nhưng học ở đây sẽ thấy được rất nhiều phương diện, khía cạnh trí tuệ vượt ngoài sự tưởng tượng của chúng ta về Đức Phật, không giống như mình hiểu một cách chung chung thông thường.
Thường có một vấn đề gì Đức Phật nêu lên, ngài hỏi các thầy Tỳ-kheo điều đó như thế nào. Các thầy hay nói rằng:
“Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói về ý nghĩa của lời dạy ấy. Sau khi nghe Thế Tôn, chúng con sẽ tiếp nhận, thực hành, thọ trì”.
Đây là câu các bậc Thánh tăng thời xưa hay thưa thỉnh lên Đức Phật, khi Đức Phật muốn nói lên một vấn đề nào đó mà Ngài hỏi, các thầy hay nói: “Bạch bậc tôn quý nhất ở trên đời”.
Chữ Thế Tôn là được thế gian tôn kính. Chúng ta thấy không, khi chúng ta nói chữ Thế Tôn, mình không hiểu rõ nghĩa, nhưng mình nói thêm hai chữ: thế gian tôn kinh là nghĩa được sáng tỏ - bậc mà cả thế gian tôn kính gọi là Thế Tôn. Các thầy: “Bạch bậc tôn kính nhất trên đời, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, tức là làm gốc rễ, lấy Đức Thế Tôn làm lãnh đạo, các pháp lấy Thế Tôn làm chỗ nương dựa. Rất là tốt lành thay, quý báu thay, lợi ích thay nếu mà Thế Tôn nói cho chúng con nghe ý nghĩa của lời dạy ấy. Khi Thế Tôn nói rồi chúng con sẽ lắng nghe và tiếp nhận, thực tập hành trì”.
Sau đó Đức Phật nói: “Vậy này các Tỳ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng”. Bài này trở thành bài khai kinh kệ trên Linh Quy Pháp Ấn, chỗ Minh Thành tu học, cũng là bài khai kinh của các bậc Thánh tăng thời Đức Phật còn tại thế. Cho nên, chỗ này để chúng ta thấy rằng, khi Đức Phật còn tại thế, chính các bậc Thánh tăng, các ngài không tự ý giải thích hay trình bày một vấn đề gì mà chưa được Đức Thế Tôn thuyết giảng, chỉ dạy.
Đây là chỗ rất sâu sắc để cho chúng ta học đạo ngày hôm nay. Chính những bậc như Thánh tăng Xá Lợi Phất, Thánh tăng Mục Kiền Liên, Thánh tăng Ma Ha Ca Diếp, hay lúc đó là ngài A Nan cũng là bậc Dự lưu Thánh quả nhưng các ngài không tự ý nói ra pháp mà các vị đều phải nghe Đức Phật dạy trước. Ví dụ như Đức Phật nói về vô minh, Đức Phật định nghĩa vô minh là không thấy được ngũ uẩn, không thấy được thân tâm này là ngũ uẩn, vô ngã. Hoặc vô minh là không thấy được sự thật về khổ đau của đời sống này.
Đức Phật nói xong rồi, các vị Thánh tăng mới y cứ vô các lời dạy của Đức Phật nói lại không một ai dám vượt qua lời dạy của Thế Tôn. Tức Thế Tôn làm gốc rễ, Đức Thế Tôn làm lãnh đạo, Thế Tôn làm chỗ nương dựa của tất cả các pháp. Cho nên, chúng ta cần trở về lời dạy gốc của Đức Phật, Minh Thành dùng từ Phật Pháp nguyên chất, là những lời Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya. Đây là chỗ mà tại sao chúng ta phải học kỹ những trí tuệ, đức hạnh, giáo pháp trong kinh tạng Nikāya.
Chúng ta đi vào danh hiệu thứ nhất, giải thích về bậc A-La-Hán Chánh Đẳng Giác, cái đầu tiên ở đây là giải thích về chữ A-La-Hán Chánh Đẳng Giác.
Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc tự mình thấy rõ
Sự thật về thân tâm,
Sự thật về sanh tử,
Về phiền não, khổ đau.
Và Ngài cũng tìm thấy,
Lối thoát khỏi khổ đau,
Lối thoát khỏi sanh tử,
Ngài đạt sanh tử tận,
Ngài đạt khổ chấm dứt.
Vì vậy, Ngài được gọi:
Bậc La Hán Chánh Giác,
Bậc Lậu Tận Chánh Giác.
Con thật kính phục Ngài,
Con thật kính ngưỡng Ngài,
Con xin quy phục Ngài,
Con xin đảnh lễ Ngài”.
Đảnh lễ trí đức Như Lai – Nghi thức tu học Nikāya
Đây là danh hiệu đầu tiên giải thích về chữ bậc A-La-Hán Chánh Đẳng Giác. Ở đây, câu “Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu
Bậc tự mình thấy rõ
Sự thật về thân tâm”
Bốn chữ “tự mình thấy rõ” tức là chữ tự giác, Chánh Giác. “tự” là tự mình, tự thân, chính mình; chữ “giác” là sự thấu hiểu, rõ biết, giác ngộ, phát giác, phát hiện. Tức Đức Phật không nhờ một người khác, không phải từ một người khác, mà là tự mình thấy rõ chính mình. Cho nên, khi mình chứng thành Chánh Giác, Ngài nói rằng “Ta không có thầy, Ta tự mình giác ngộ”. Vì Ngài là con người khai sáng, bậc đạo sư, trong kinh dùng từ “mở ra con đường mà trước nay chưa từng mở ra”, trình bày, diễn thuyết, khai thuyết, hiển thị, hiện lộ một con đường mà trước nay chưa từng được ai khai thuyết, khai thị, chưa từng ai trình bày, hiển lộ.
Tự mình giác ngộ đó gọi là tự giác, đúng với nghĩa của chữ tự giác. Tự mình thấy rõ sự thật về thân, tâm. Như vậy, sự thật về thân tâm như thế nào, sự thật về sanh tử, về phiền não, khổ đau. Ngài cũng tìm thấy:
Lối thoát khỏi khổ đau,
Lối thoát khỏi sanh tử
Ngài đạt sanh tử tận,
Ngài đạt khổ chấm dứt
Khi nãy là giải thích chữ Chánh Giác, còn đây là giải thích chữ A-La-Hán, “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa”, “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, đây là đời sống cuối cùng, sau đời sống này không còn bất cứ một đời sống nào nữa”. Đó là chữ A-La-Hán, lậu tận, sự tận cùng của sanh tử và chứng đắc Niết-bàn tối thượng.
“Vì vậy, Ngài được gọi:
Bậc A-La-Hán Chánh Giác,
Bậc lậu tận Chánh Giác
Con thật kính phục Ngài,
Con thật kính ngưỡng Ngài,
Con xin quy phục Ngài,
Con xin đảnh lễ Ngài”.
Chúng ta lạy, đọc như vậy bằng cả trái tim, cả tấm lòng, cả sự cung kính, tôn trọng, kính ngưỡng, đảnh lễ, quy kính, kính phục, quy phục. Mà chúng ta lạy xuống như vậy thì mỗi một cái lạy đó mới là một cái lạy chân chánh của sự cung kính đối với Đức Phật. Bây giờ chúng ta mới bắt đầu đi sâu vào chữ “tự giác” hay “Chánh Giác” là giác cái gì? Tự mình thấy rõ là thấy rõ cái gì? Tự mình thấy rõ sự thật về thân tâm, tất cả sự tu hành của chúng ta không ngoài mục đích để thấy rõ thân tâm chính mình. Nếu mình không thấy rõ thân tâm của chính mình thì dù mình có học hiểu bao nhiêu đi nữa vẫn là ở ngoài cửa thôi.
II. Thánh trí năm uẩn
Thân tâm của chính mình gồm những gì? Lật trang một trăm, sau khi ghi xong chúng ta cùng nhau đọc định nghĩa Ngũ uẩn:
- Thân người là Sắc
- Cảm giác là Thọ
- Hình bóng là Tưởng
- Suy nghĩ là Hành
- Rõ biết là Thức
Định nghĩa Ngũ uẩn - Nghi thức tu học Nikāya
Tự cho một tràng pháo tay luôn, vậy là thuộc bài hết rồi đúng không? Bây giờ chỉ bất cứ người nào, phải đứng lên, mời sư. Chúng ta thuộc bài ngay tại lớp, cái này xin thưa với các huynh đệ, rất quan trọng. Đây là cánh cửa mở ra tạng kinh Nikāya. Nếu mình không nhận diện được năm uẩn thì sẽ không thấy được thân tâm mình. Bây giờ, ở tại lớp chúng ta sẽ thực tập nhận diện ngũ uẩn, xin mời đại chúng nhắm mắt lại, nghĩ về hình ảnh lũ lụt của miền Trung, nước tràn ngập, những cảnh mất nhà, chết người, những đứa trẻ mấy tuổi phải lội ra giữa dòng để nhận đồ cứu trợ, không có một chiếc áo phao, những cụ già năm ngày mới được cầm hộp cơm mà tuôn trào nước mắt, những cảnh đưa quan tài treo lên nóc nhà, đưa đám tang trong nước lũ…
Cảm giác đau thương đó là gì? Chúng ta có những suy nghĩ, suy nghĩ về những điều lũ lụt đó, suy nghĩ đó là hành, chúng ta có sự rõ biết, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó là gì? Rõ biết là thức, rõ biết được hình bóng tang thương của lũ lụt miền Trung, cảm giác xót xa và những suy nghĩ về điều đó. Chúng ta rõ biết ba cái này, những cảm giác, hính bóng, suy nghĩ đang có mặt trong tâm, chúng ta rõ biết được thọ, tưởng, hành đó là thức.
Các huynh đệ nhớ nha, điều này quan trọng lắm, phải chú tâm. Đây là bí kíp của Chánh Pháp, rõ biết được cảm giác, hình bóng và suy nghĩ trong tâm là thức. Bây giờ chúng ta tiếp tục nhận diện ngũ uẩn, ít nhất là năm, ba lần chúng ta sẽ nhìn ra được thân tâm của chúng ta là cái gì, nó đang vận hành như thế nào. Xin mời tất cả huynh đệ nhắm mắt lại, chúng ta cùng nhau đi ra bến Bạch Đằng, thấy những du thuyền, dạo bên bờ sông, gió mát, những cây cảnh, những người, những căn nhà, tòa cao ốc.
Chúng ta thấy trong tâm có những hình bóng đó không? Hình bóng đó là tưởng. Có thấy cảm giác dễ chịu, mát mát không? Cảm giác đó là thọ. Rồi chúng ta có những suy nghĩ: thoải mái quá, mát mẻ quá, khỏe khoắn quá, sướng quá. Suy nghĩ đó là hành. Và hình bóng bến Bạch Đằng, cảm giác dễ chịu, gió mát đó, suy nghĩ về những điều đó đang có mặt trong tâm và chúng ta đang rõ biết được thọ, tưởng, hành, rõ biết được những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, đó là thức. Quá giỏi, cho một tràng pháo tay.
Bây giờ chúng ta tiếp tục nhận diện ngũ uẩn, nhắm mắt lại, nhìn vào bên trong, nhìn trong tâm, chúng ta thấy hình bóng tất cả mọi người đang ngồi trong lớp học, huynh đệ, những bạn đồng học, ngồi đầy hết cả một lớp, trong phòng, trong trường Trung cấp Phật học Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng ta nhớ những gương mặt mà mình đã quen, những gương mặt đó hiện ra, những người đã hiện ra. Hình bóng của những huynh đệ đồng học, đó là tưởng; cảm giác thường thường, đều đều đó là thọ; suy nghĩ là hành. Biết rõ được hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, biết rõ được thọ, tưởng, hành đó là thức.
Chúng ta nắm vững được chưa? Đây là nhận diện ngũ uẩn. Xin thưa, bài học này chúng ta sẽ học cho tới mãn khóa chứ không phải đơn giản, vì cái này rất sâu sắc để chúng ta nhận diện rõ thân tâm mình. Hình ảnh thứ nhất là khổ thọ - cảnh miền Trung, hình ảnh thứ hai, đi dạo bến Bạch Đằng là lạc thọ, cảm giác vui. Chúng ta thấy rõ vấn đề này chưa? Hình ảnh thứ ba là nhìn những khuôn mặt mốc, trơ trơ, không buồn không vui là bất khổ bất lạc thọ, là ba loại cảm giác, chúng ta thấy và biết được ba thọ này chưa?
Cảm giác vui, buồn, không vui, không buồn, chúng ta thấy được ba cảm thọ chưa? Chắc chưa? Như vậy, nãy giờ chúng ta đang học chữ tự giác, biết được chính mình. Trước nay ngồi thiền, chúng ta không biết được cái nào là thọ, tưởng, hành, thức. Và ngồi trong sự rối ren, không rõ tự thân mình, bây giờ ta bắt đầu mở được con mắt pháp nhãn. Khi nhận diện được năm uẩn là chúng ta bắt đầu mở ra pháp nhãn – con mắt pháp, của Chánh Pháp.
Và nếu như chúng ta phải giữ cái thấy này hoài về thực tập thì con mắt pháp mới mở, còn không, nó ra khỏi lớp là nhắm lại. Nếu như nó mở hoài để nhìn thấy ngũ uẩn hoài, không thấy có một cái tôi trong này mà năm thứ đang hoạt động thì đó gọi là đắc pháp nhãn tịnh. Tức được con mắt pháp trong sáng. Như vậy, nãy giờ chia sẻ bốn uẩn thuộc về tâm, bây giờ qua phần thân (sắc) “thân người là sắc”.
Bây giờ trở lại trang một trăm, bước qua định nghĩa số hai – định nghĩa Ngũ uẩn, bắt đầu mở rộng ra một chút. Hồi nãy là định nghĩa đơn giản, gần gũi nhất để dễ hiểu, bây giờ sẽ mở rộng ra, chúng ta cùng nhau đọc:
- Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.
- Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.
– Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.
- Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.
- Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.
Vị nào xung phong lên có thưởng, thưởng một bộ xuất gia toàn tập ba quyển.
Phật tử: Nam Mô A Di Đà Phật, bạch thầy giáo thọ, bạch đại chúng con xin đọc.
Sư phụ: Nãy giờ chúng ta học trong lớp cũng thuộc nhiều rồi, bây giờ đừng nhắc, chỉ ngồi yên lặng để nghe và bây giờ nâng cấp lên, không đọc theo thứ tự mà thầy chỉ ở đâu là đọc ở đó.
III. Phá thân kiến
Giờ chúng ta mở rộng phần nhận diện ngũ uẩn, rất quan trọng. Chúng ta phải biết chữ sắc này là đất, nước, gió, lửa. Tất cả các sắc nào, dù là sắc quá khứ, hiện tại hay vị lai, dù là sắc thô sắc tế, sắc đẹp sắc xấu, thắng liệt xa gần, tất cả các sắc đều là tứ đại. Chúng ta phải nhận diện được đây là phép quán, ví dụ giờ mình nhìn thấy viên phấn, cái bàn, chậu hoa này đều từ đất, nước, gió, lửa. Nếu dùng con mắt quán chiếu để nhìn thì thân này cũng từ đất, nước, gió, lửa, mà đó là cái nhìn của thiền quán, của sự quán chiếu, sự suy tư, sự nghiền ngẫm để chứng nhập sự thật về thân xác này chứ không phải lý thuyết suông để mình nói thân này là tứ đại, nói miệng vậy thôi, nói kiến thức thôi chứ thật sự cái thấy của mình chưa thấy được như vậy.
Đó chưa gọi là thành tựu, trí tuệ về sắc uẩn, những buổi sau chúng ta sẽ mở rộng, đi sâu từ từ. Cả một học kỳ của chúng ta suốt ba tháng mà chúng ta học cũng chưa xong phần nhận diện năm uẩn, nó rất thâm sâu. Đây chỉ là những định nghĩa hết sức căn bản để chúng ta thực tập, mà chúng ta nhận diện năm uẩn thì mới biết được chữ tự giác, Chánh Giác của Đức Phật là gì. Chúng ta mới nhìn thấy thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại là tất cả thân thể, đất đai, ruộng vườn, nhà cửa, tài sản, thậm chí cả quả núi, cả địa cầu, cả thế giới này cũng không ra ngoài một chữ sắc.
Chẳng qua chúng ta bị nhìn cái biểu diện, nhìn vẻ ngoài, nhìn sự lòe loẹt mà không nhìn thấy được chất liệu làm ra nó, một yếu tố hình thành. Ví dụ bây giờ mình thấy rau xanh này tốt quá, ngon quá, mình thích quá, cảm giác rất dễ chịu, khoan khoái, chảy nước miếng, thích thú này kia, mình lại mình hái vô luộc ăn, chấm ngon lành, một hồi ra mới biết nó được trồng bằng phân người, ngay tại chỗ đó, dẫn qua nước tiểu với phân, lấy làm nước rồi tưới ngay tại chỗ, mình nghe đã muốn nôn ra.
Hoặc đang ăn mà nghe nói cái này của ông sư đệ đó “ngũ cốc luân hồi”, mình lại thất đó thăm ông đang tu, từ chỗ này là cầu tiêu, ông dẫn nước qua, bên đó ông trồng rau, đó gọi là hoàn toàn tự nhiên, không có phân hóa học. Bây giờ mình đang thích thú ngon lành, chấm, nhai, tự nhiên nói rau này là của ông đó... thì lúc đó mình muốn ói, muốn sặc. Tại vì sao? Mình không hiểu được tất cả bản chất của thân này, của mọi đồ vật, cảnh vật đều là đất, nước, gió, lửa hết. Vì mình thấy rau, thấy bông đó mà mình không biết, truy nguyên được từ cái gì làm thành nó.
Nhìn thân này mình thấy biết thân này chứ mình còn không thấy được qua khỏi lớp da. Chỉ cần rạch ngang trán một đường, lột xuống là lòi ra một cái đầu sọ, mình đâu thấy qua khỏi lớp da nên cách sống của mình là sống trong sự vô minh và tham ái, không thấy được bản chất của tứ đại. Chúng ta thấy một con người đẹp đẽ, sạch sẽ, thơm tho, láng mịn da, trắng trẻo như vậy mà chỉ cần rạch một đường ngang bụng là đổ ra phèo phổi, ruột gan, tim, bộ đồ lòng, máu, mỡ, thịt chảy ra, bọng đái, phân và nước tiểu... Đó là những pháp quán mà sau này chúng ta sẽ học để phá chấp vô sắc, thủ, uẩn.
Tất cả chúng ta đau khổ vì nắm chặt vô năm hình sắc này mà không biết sự thật của nó là gì. Giống như dĩa rau lúc nãy, mà không biết nó làm từ phân và nước tiểu. Mà khi biết rồi thì muốn ói, muốn mửa, ăn không vô nổi nữa. Cũng vậy, các bậc hiền thánh, các bậc đã chứng đắc, chứng trí huệ về sắc uẩn, nhìn sắc này cũng giống y như vậy, đống phân và nước tiểu, máu mủ, ruột gan, phèo phổi. Còn mình nhìn thấy hấp dẫn, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn nên chết trong đó, điên đảo và say mê, điên cuồng, cuồng nhiệt và đau khổ trong đó nên mình học nhận diện ngũ uẩn là thấy được sự thật thân tâm.
Chúng ta thấy không, chỉ cần đi vô phòng nhỏ nhỏ mà đóng cửa kín lại, thân thể này bài tiết ra cái gì là phải bấm nút ngay lập tức, xóa sạch vết tích một cách hoàn toàn, không cho lưu lại chút xíu nào, không cho dư tàn, không còn sót lại gì. Mà chỉ cần nó sót lại, người sau vô tá hỏa tam tinh, sầu bi khổ ưu não, sân si. Chỉ cần mình để lại một kết quả của chiến tranh ở trong toilet đó là... Chúng ta nhìn vô thấy một người trắng trẻo, đẹp trai, nhìn vô đẹp gái nhưng không biết bên trong làm bằng giống gì ở trỏng. Mủ, nước tiểu và phân, mà mình không thấy. Đức Phật nói mình bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, và chúng ta cứ khổ hoài. Hình bóng đó xâm chiếm vô tâm mình nên ta rất đau khổ.
Tướng là hình bóng, hình tướng, hình dáng, tướng mạo, thêm chữ này là hình bóng ở trong tâm là tưởng. Thấy rõ chưa? Mà hình bóng này ám ảnh trong tâm, thành ra tương tư, tức hình bóng này ám ảnh, ngự trị, xâm chiếm, áp đảo trong tâm này, thoát ra không khỏi hình bóng đó. Và người này đau khổ vì hình bóng ám ảnh, xâm chiếm, áp đảo, ngự trị trong đó. Và người này ăn, ngủ, nghỉ cũng nhớ, bất cứ lúc nào cũng nhớ, không ra khỏi hình bóng này được. Đó gọi là bị sắc ám ảnh.
“Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: " Sắc là ta, sắc là của ta ". Do bị ám ảnh: " Sắc là ta, sắc là của ta! " khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!”
Kinh Nakulapita – Phẩm Nakulapita – Phần 22 a Năm mươi kinh căn bản – Chương I Tương Ưng Uẩn – Tập III Thiên Uẩn – Kinh Tương Ưng Bộ
Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu bị sắc ám ảnh, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị đau khổ, thống khổ, bị đau nhức, bị tương tư, bị khổ sầu, bị hệ lụy, bị trói chăng, bị hệ phượt, bị ràng buộc, bị sai khiến, bị sầu khổ ở trong sắc này. Vì chúng sanh không biết được, không giác ngộ được sự thật của tứ đại này. Chúng sanh này bị vị ngọt của sắc chinh phục. Kẻ vô văn phàm phu, những chúng sanh không gặp được bậc Thánh, bậc chân nhân, không nghe được Chánh Pháp, không tu tập Chánh Pháp, không thuần thục Chánh Pháp, thì giữa chúng sanh phàm phu này bị đam mê trong vị ngọt của sắc, bị sắc hấp dẫn, bị sắc chinh phục, bị sắc đánh gục, bị sắc làm cho sụp đổ, tan vỡ.
Cho nên, mật ngọt chết ruồi, con ruồi chết trong tô mật. Tất cả phàm phu chúng sanh bị sắc chinh phục vì ở trong tâm bị ám ảnh vị ngọt của sắc. Thấy khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục hấp dẫn. Khả lạc là đáng vui, khả ý là thích thú, hấp dẫn, đẹp đẽ, thơm tho, sạch sẽ, ngon lành, đó là vị ngọt. Chính vị ngọt đó làm cho người này đam mê, sầu, bi, khổ, ưu, não. Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử, Đức Phật, các bậc Thánh và những đệ tử của Đức Phật thì ngài dạy quán sự nguy hiểm và tác hại.
Đây là ba loại trí tuệ, sự nguy hiểm và tác hại của sắc là một khi dính vô rồi thì nó buộc chặt mình suốt cuộc đời, không còn tự do nữa. Mình bị hệ lụy, trói chăng, ràng buộc, đau khổ và bị đày đọa. Cho nên, bậc Đa văn Thánh đệ tử là luôn luôn quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của sắc để thường thường quán, suy nghiệm, gặm nhấm, suy tư chứ không phải tu thiền là ngồi im ru thở ra thở vô. Đó mới là sự tỉnh tâm ban đầu thôi, và là suy nghĩ Chánh tư duy, suy tư một cách chân chánh đúng theo lời Đức Phật dạy. Còn gọi là Thánh tư duy, sự suy tư và trí huệ của bậc Thánh.
Chúng ta phải quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của sắc này để làm gì? Mình thấy nhàm chán nên hướng đến sự xuất ly và thoát ra, không ưa không thích không muốn nữa, hại nhiều hơn lợi, khổ nhiều hơn vui, buộc nhiều hơn là sự rảnh rang, thảnh thơi. Mình cứ suy nghĩ hoài, quán chiếu, nghiền ngẫm điều đó hoài thì như vậy, tâm mình sẽ nhàm chán đối với sắc, sẽ thoát ra, hướng đến sự xuất ly khỏi sắc, dục. Và trí tuệ để quán chiếu về sắc này, Đức Phật cho chúng ta những phương pháp rất cụ thể mà từ từ chúng ta sẽ học.
Ta sẽ đi từng bước để mà mình nhìn thấy được vị ngọt của sắc, của dục và sự nguy hiểm, tác hại của nó, cuối cùng là sự xuất ly, thoát ra khỏi nó. Bây giờ chúng ta hết sức khát nước, cực kỳ khát, khô cổ họng hết, nguyên ngày mình chưa uống nước nhưng người ta bưng lên một ly cam rất tươi mát, thơm ngon nhưng nói với mình trong này có độc, mình dám uống không? Tại sao? Vì nó nguy hiểm đưa đến chết.
Cũng vậy, bậc Đa văn Thánh đệ tử, bậc tu theo Đức Phật nhìn thấy sự nguy hiểm trong sắc, trong dục, trong tham ái mà các vị này từ bỏ, tránh xa, chứ không phải tự nhiên có thể ly dục được. Do thấy được mối nguy hiểm, tai họa khôn lường ở trong đó nên các vị này nhàm chán, tránh xa, tránh né, thoát ra, đi ra khỏi nó, như vậy gọi là ly dục. Khi các vị này ly dục, sanh ra một niềm hỷ lạc – hỷ lạc do ly dục sanh, các vị này sẽ trú trong trạng thái sơ thiền, tâm bình an, hạnh phúc, an lạc do ly dục sanh.
Thành ra niềm vui này là bắt đầu cho hương vị của sự viễn ly, ly tham, nhàm chán, xuất ly. Chừng nào chúng ta tu mà có được niềm vui này mới bắt đầu bước vào con đường của bậc Thánh, bắt đầu đi vào quỹ đạo, đạo lộ của tuệ giác, trí huệ của Đức Phật. Còn bây giờ chúng ta cứ bị năm dục trưởng dưỡng này (sắc, thanh, hương, vị, xúc), năm sự tham muốn, đối tượng tham muốn này nuôi lớn lòng dục của chúng sanh cho nên gọi là năm dục trưởng dưỡng.
IV. Cảm thọ
Chúng ta nhìn thấy một sắc đẹp là muốn, thích, khoái, tham sanh khởi lên. Nếu chúng ta không nhìn thấy đã không sanh khởi cái đó, mà do ta nhìn thấy. Rồi ta nghe một tiếng nào đó, một giọng nói hay một bài nhạc trữ tình nào đó. Bài nhạc đó, tiếng nói đó, giọng êm ấm du dương trầm bổng ngọt ngào đó đi vô trong tâm mình và thọ, ghê gớm như vậy.
Thọ là nhận vô một cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú, êm ấm, đã, sướng, phê, tê và chúng ta bị chết trong đó. Chúng ta bị lạc thọ làm trói buộc. Cho nên Đức Phật nói ở trong cảm giác dễ chịu, lạc thọ luôn luôn có tham trong đó, tham tùy miên. Hễ cảm giác dễ chịu là tham dục trú trong đó mà mình không thấy ái, dục, tham trong đó, khi một cảm giác dễ chịu.
Mùi vị cũng vậy, đừng tưởng đâu tham là tham sắc ở ngoài, tham tiền, tham quyền, tham đất đai, tham quyền chức mà là món ăn, mùi hương. Vô gặp đồ ăn đúng gu mình thích là gắp lia lịa, húp sột sột, miệng nhai chưa hết đã múc muỗng thứ hai để chực sẵn. Chúng ta thấy không, đó là sắc, thanh, hương, vị, xúc, mình không kiểm soát được, lúc đó trong này thúc giục, khoan khoái, thích thú. Đó là năm dục trưởng dưỡng, hương và vị, mùi và vị, đam mê vô, tê lưỡi không còn biết gì nữa, đó là cảm giác dễ chịu, nó là cho mình tham ái.
Nếu đưa món ăn lên mà món này mặn chát, hay không thích cay mà món này quá cay hoặc mình thích ăn cay mà không cay, thì lúc đó mình khó chịu, sân. Nãy giờ tham, bây giờ sân, trong bữa ăn của mình có đầy đủ tham, sân, si. Còn nếu món ăn không hấp dẫn mà cũng không dở thì mình si. Chúng ta thấy không, ba cảm thọ này nó ghê gớm, trùm chiếm thân tâm mình mỗi ngày. Ăn, ngủ, đi, đứng, nói, làm việc gì cũng xâm chiếm hoàn toàn trong tâm mà mình không biết. Mà mình lại nghĩ mình tu như vậy cũng được rồi, không thấy tham, sân, si gì, khi nào cãi nhau mới sân. Đó là phàm phu.
Mình phải nhìn thấy cảm xúc, cảm thọ, cảm giác mà nó bắt đầu sanh khởi lên. Khi nãy chúng ta thực tập nhận diễn ngũ uẩn là để nhìn thấy cái mà từ xưa đến giờ mình không thấy, phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho người có mắt có thể nhìn thấy những gì bị che mắt, dựng đứng lên những gì bị ngã đổ cho người lạc hướng. Đó là công năng của Chánh Pháp, là ân đức của Thế Tôn. Tuyệt diệu lắm, chúng ta học vô cái này rồi sẽ thấy nó vi diệu, thần diệu, Thánh diệu, tối diệu để chúng ta nhìn thấy thân tâm mà nào giờ mình không nhìn thấy, tưởng đâu mình tu ngon lắm, nhưng không ngờ là chưa ngon chút nào hết.
Chúng ta thấy không, nãy giờ mới nói ám ảnh của cái sắc ở bên ngoài, bây giờ cái ám ảnh sâu thẳm là hình bóng của tự thân mình, chấp ngã thân kiến. Thân kiến này rất nặng nề - kiến chấp về thân, cho rằng đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, một cái nhìn hoàn toàn sai lầm về thân xác này, thân thể này, thân hình này. Chúng ta cứ giữ chặt quan điểm sai lầm đó trong sâu thẳm tâm thức của mình, chính điều đó làm cho ta khổ đau.
“Con tôi, tài sản tôi
Người ngu sanh ưu não
Tự ta, ta không có
Con đâu, tài sản đâu”
Bài số 61 – Phẩm ngu - Kinh Pháp cú
Chúng ta thấy không, pháp của mình sáng rực ra hết, là tại sao , vì trong sâu thẳm trong tâm thức của mình, lúc nào mình cũng nghĩ, ví dụ nói tới cái đơn giản nhất là sáng ngủ thức dậy, rửa mặt nhìn vô tấm gương, nhìn khuôn mặt mốc của mình ta thấy sao? Chúng ta thấy con mắt này cũng được đó, mũi này cũng xài tạm, ngắm ngắm nghía nghía một hồi rồi mỉm cười, cũng được, không đến nỗi. Đó là thân kiến, không thấy được hình hài này, hình bóng này chỉ là tứ đại.
Thân này do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành, vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, diệt vong. Thân này là ổ chứa nhóm bệnh hoạn, làm bằng xương quét tô bằng thịt, máu, ở trong đây già và chết, ngã mạn, sự lừa đảo chất chứa. Cho nên, sự tu, quán chiếu của chúng ta càng sâu thẳm chừng nào, chúng ta càng mở ra, gỡ ra những lớp mê, lớp chấp, từ đó mới bớt khổ. Còn nếu không, nhìn đâu dính đó, dòm cái gì mắc cái nấy, thấy là sanh khởi lên đam mê, năm dục trưởng dưỡng sanh khởi, nuôi lớn lên sắc, thanh, hương, vị, xúc.
Xúc là sự tiếp xúc, cái xúc này ghê gớm lắm, khủng khiếp lắm, sự tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, sanh ra suy nghĩ, sanh ra những ham muốn. Nếu không tiếp xúc thì không sanh ra. Tại sao mình ham muốn những món đồ đó? Tại vì mình đã thấy món đồ đó, nếu mình không thấy thì mình không thích. Tại sao mình muốn sở hữu món đồ đó? Vì mình đã nhìn qua nó rồi. Nếu mình chưa nhìn, chưa gặp, chưa thấy thì mình không muốn, không thích, không khoái.
Cho nên, xúc sanh thọ, xúc sanh ra những tưởng, hành, sanh ra suy nghĩ, do tiếp xúc với thọ, tưởng, hành nó sanh. Nhớ, điều này quan trọng, là định lý, phải ghi vô. Sự tiếp xúc này khủng khiếp lắm, mình vừa tiếp xúc, hai con mắt mình vừa thấy là sanh ra cảm thọ liền, cảm giác, nếu đẹp thấy dễ chịu liền. Hình bóng của người hay món đồ mình tiếp xúc để lại trong tâm mình, bắt đầu mình trở lại suy nghĩ về món đồ đó, con người đó.
Nếu món đồ đó, con người đó đáng ưa đáng thích, rất đẹp thì lúc đó dục sanh, nghiệp sanh, cái muốn bên trong sanh khởi lên. Và thói quen của bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp bắt đầu vận hành, hoạt động. Chính vì vậy, chúng ta mới nghe tiếng sét của ái tình. Xẹt một cái, điện giật, và người này có thể chết sống với tiếng sét đó, là từ sự tiếp xúc, gặp một lần là sanh ra ham muốn, sanh ra ưa thích, sống chết với cái muốn đó. Đó là xúc sanh dục, sanh nghiệp, sanh tham ái. Cho nên, khi tu thì từ từ chúng ta sẽ học, phải hết sức hộ trì căn.
Trong thời Đức Phật còn tại thế, các vị Tỳ-kheo phải luôn luôn hộ trì căn, tức phải bảo hộ và giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý rất nhiều. Không được ngó giống như mình bây giờ, con mắt lúc nào cũng Chánh Niệm, không ngó lơ láo, không ngó đông tây, không để ý, lỗ tai, mũi, thân, tất cả những hành động đều có sự kiểm soát và cảnh giác.
Tại sao bây giờ mình tu thiền định không được? Vì mình không hộ trì căn mà thả lỏng các căn, mà khi thả lỏng các căn, nó xúc một cái là nó thọ rồi đem các cảm thọ đó vô. Khi đó, kho hàng của mình tồn kho rất nhiều những ác và bất thiện pháp, dục, tham, ái, sân. Cho nên, kho của mình là một cái kho quá tải. Chúng ta chỉ cần nghe tiếng chuông hết giờ, trong này mình nhận diện thọ, tưởng, hành của mình nó thúc giục liền, chúng ta thấy không.
./.