Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

6 Lợi Ích Quán Vô Thường 2

2026-03-03 00:52:12
6 Lợi Ích Quán Vô Thường 2

Thích Minh Thành

Ngày 12 tháng 09 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài kinh PAGEREF _Toc115710230 \h 1

II. Lợi ích thứ nhất PAGEREF _Toc115710231 \h 3

III. Lợi ích thứ hai PAGEREF _Toc115710232 \h 4

IV. Lợi ích thứ ba, thứ tư PAGEREF _Toc115710233 \h 9

V. Lợi ích thứ năm, thứ sáu PAGEREF _Toc115710234 \h 11

VI. Trình pháp PAGEREF _Toc115710235 \h 11

VII. Tác ý PAGEREF _Toc115710236 \h 15

I. Bài kinh

Chiêm nghiệm về vô thường, khổ, vô ngã thì Đức Phật nói chúng ta là không hạn chế, có rất nhiều bài kinh tên là không hạn chế, Thế Tôn nói rằng có sáu lợi ích, sáu lợi ích này thật là vừa đủ cho một người tu làm cho mình an trú vào tưởng vô thường. Mình phải thường xuyên đặt tâm mình, an trú, ở yên, trú là cư trú, an là yên, an trú là ở yên, như mình nói tiếng Việt để dễ hiểu là trước tiên mình muốn ở yên thì mình nên đặt mình vào đó trước, đi vào đó trước nên là mình phải thường xuyên đặt mình vào tưởng vô thường. Đây là câu Minh Thành hay chia sẻ với đại chúng.

Mình phải thường quán tưởng đến sự vô thường, phải phá bỏ, phá vỡ tư tưởng như vậy hoài. Điều này rất quan trọng, tưởng thường chưa phá thì mình tu không tiến, mình sẽ thường ở trong cảm giác bất khổ bất lạc thọ, mình thường ở trong cảm giác đơ đơ, trơ trơ, lơ lơ, như lục bình trôi sông. Mình không nỗ lực nếu mình không an trú vào trong tưởng vô thường thì mình sẽ không thấy nó nguy hại, không thấy nguy hiểm, không thấy tác hại của tứ đại, của ngũ uẩn, của năm dục trưởng dưỡng, của thân tâm này.

Nếu mình không an trú vào tưởng vô thường thì mình sẽ sống với một tưởng, thọ, hành, sẽ sống với một cảm giác đều đều, sống với một tưởng bình yên, sống với một ý hành, suy nghĩ như vậy hoài. Nên an trú vào tưởng vô thường thì Đức Thế Tôn gọi là không hạn chế trong tất cả hành. Nghĩa gần là tất cả hành động, tất cả sự vận hành ở trong ngũ uẩn.

Lúc nào mình cũng nhớ về vô thường, mình không nghĩ rằng là trưa nay mình sẽ như vậy, không nghĩ chiều nay sẽ còn giống vậy nữa, mình không nghĩ sáng mai mình còn được nghe pháp nữa hay còn được ngồi thiền nữa. Trong tất cả hành vi, hành động của thân thể hay sự vận hành của cảm giác, suy tưởng, suy tư, nhận thức thì mình luôn luôn đưa tưởng vô thường vào trong đó. Mình để tâm mình vào trong tưởng vô thường, ở trong đó gọi là an trú tưởng vô thường. Năm chữ đó thôi là một pháp hành tuyệt diệu an trú tưởng vô thường.

Không phải là chỉ có ba mươi ba người chết trong quán karaoke ở Bình Dương mà mới đây có một chỗ ba mẹ con chết, thêm những chỗ ở ngoài miền bắc, miền trung cháy nữa. Một chỗ ở gần Bình Dương đó cũng bị cháy nữa. Vậy một ngày chúng ta có biết trên toàn cầu chết bao nhiêu người không? Chưa đầy một phút là chúng ta có biết chết bao nhiêu người không? Buổi sáng mà chúng ta ngồi nghe pháp vậy thì chúng ta có biết bên ngoài người ta chết bao nhiêu mạng không? Trong hai tiếng đồng hồ đó phải tính bằng giây người chết, ở trong nước và ở ngoài nước, là phải tính bằng giây. Mỗi một giây phút trôi qua là bao nhiêu sinh mạng đổ xuống, nằm xuống.

Nên Đức Thế Tôn từng nói: làm cho an trú tưởng vô thường, làm cho tâm mình, đặt tâm mình vào sự quán tưởng vô thường, làm cho tâm mình ở yên trong đó gọi là an trú tưởng vô thường. Nên mỗi giây mỗi phút mà chúng ta được bình an tu học thì chúng ta phải thấy hân hoan lắm, quý báu, trân trọng, trân quý, trân kính.

Ba bài kinh này là mười tám pháp an trú tâm, đây là bài kinh thứ nhất:

“1. - Thấy được sáu lợi ích, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để vị Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng vô thường, không có hạn chế trong tất cả hành.

2. Thế nào là sáu?

 Tất cả hành hiện ra với tôi, không có an trú.

 Ý của tôi không ưa thích tất cả thế giới.

 Ý của tôi sẽ xuất khỏi tất cả thế giới.

 Ý của tôi sẽ nghiêng về Niết-bàn.

 Các kiết sử của tôi đi đến đoạn diệt.

 Và tôi sẽ thành tựu tối thượng Sa-môn hạnh.

Thấy được sáu lợi ích, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để vị Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng vô thường, không có hạn chế trong tất cả hành.”

(Bài kinh Không Có Hạn Chế 1, Phẩm Lợi Ích – Chương Sáu Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)

II. Lợi ích thứ nhất

“Tất cả hành hiện ra với tôi, không có an trú” là ý nghĩa ra sao?

Phật tử số 1 trình pháp:

Theo con thì tất cả các hành có nghĩa là gồm có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, những cái đó mình không nghĩ là vô thường, những cái đó hiện ra mình cho là vô thường. Theo con nghĩ là như vậy, xin sư phụ chỉ dạy thêm cho con.

Đúng là như vậy, nhưng có ai khác chia sẻ thêm để được rõ hơn không?

Như Minh Thành đã nói: “Tất cả hành hiện ra với tôi, không có an trú” nghĩa là: Ví dụ mình đang đi là thân hành, trong cái đi đó mình không thấy có sự an ổn trong đó, mình không thấy có sự vững chắc trong đó. Mình không có nắm giữ hành động đi đó, mình biết cái đi này, cái thân này, cái hành động đi này là vô thường, là đổi thay.

Cái cảm giác đi này dễ chịu hay khó chịu, không dễ chịu hay không khó chịu sanh khởi ra cái này thì nó đổi thay. Cái suy nghĩ trong khi mình đi này là tất cả thân xác, nghĩ tưởng, nhận thức, suy tư, tất cả đều là đổi thay, đều là biến động, đều là đi đến hoại diệt, không có người đi. Thật sự không có một sự đi thật, đây là pháp duyên sanh phá cái ta, phá cái ý niệm, tư tưởng ta tôi trong con người đó, phá hành động đi đó, sự đi đó. Thấy rõ được thân tứ đại, sự chuyển động của nó là gió trong từng hơi thở vào ra, sự vận hành của nó là từ nơi lửa, đất, nước.

Có nhiều cách để mình quán pháp, đó là quán Tứ đại, mình quán Ba mươi hai thể trượt đều được, quán nội tại vận hành, vận động hay quán bộ xương, bộ xương đang đi, cái túi da, cái bị thịt đang đi. Như vậy là mình không an trú trong ý nghĩ, tư tưởng cho rằng có tôi đang đi, sắc pháp, sắc uẩn, sắc chất, tứ đại đang đi, sự đi này là pháp duyên sanh.

Tất cả những gì trong ngũ uẩn mà sanh khởi ra thì mình đều không an trú trong đó, mình không cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức đó là tôi, là nó như vậy mãi, không an trú là không ở yên trong đó, không chấp nhận cái đó, không có sự thường trú, bền vững, chắc chắn, an ổn, yên ổn, vững vàng, kiên cố trong đó.

“– Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành.

– Không kiên cố như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành.

– Bất an như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành.

Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.”

(Bài kinh Núi Vepulla, II. Phẩm Thứ Hai - Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ - Tập II. Thiên Nhân Duyên – Tương Ưng Bộ Kinh)

Chúng ta có thấy chúng liên kết và nhất quán với nhau không? Nên chữ hành trong kinh Nikāya là rất thâm sâu và rộng lớn, sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Như vậy nên “Tất cả hành hiện ra với tôi, không có an trú”, tôi không cho đó là tôi, là của tôi, là như vậy hoài, là thường trú, thường tồn, trường tồn. Một khi một người an trú tưởng vô thường thì người đó sẽ có lợi ích gì? Sẽ nhìn thấy được mọi sự thi vi, vận hành, đi lại, làm việc trong thế giới này, xây dựng kiến trúc, thành lập, người này nhìn vào mắt của người này thì không có sự an trú trong đó.

Cho nên đây là làm mà không chấp thủ, không cho đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, là sở hữu của tôi. Đó là lợi ích thứ nhất.

III. Lợi ích thứ hai

Lợi ích thứ hai là “Ý của tôi không ưa thích tất cả thế giới” làm sao ưa thích được khi một người đã an trú trong tưởng vô thường thì làm sao ưa thích được trong thế giới này? Ý của mình không ưa thích tất cả thế giới.

Giờ mình nói từ gần đến xa, lúc xưa mình chưa tu dòng pháp này thì mình có thích đi Vũng Tàu tắm biển không? Thích đi Nha Trang tắm biển không? Thích đi Hà Nội tham quan không? Thích đi Thái Lan, Hồng Kông, Mỹ, Úc? Thích đi đây đi đó, du lịch để ngắm nhìn nơi này đi thì sau khi mình tu cái này thì mình thấy tất cả đều là sắc uẩn, sắc pháp, tâm của mình không còn hân hoan, háo hức, không còn thèm muốn, không còn khao khát như lúc trước, khát ái đã giảm xuống và an tịnh, lắng dịu giảm xuống.

Đó là “Ý của tôi không ưa thích tất cả thế giới” và còn nhìn ra được sự nguy hiểm và tác hại trong đó như: đi thì tốn tiền bạc, bỏ thời gian, thời giờ tu học, bỏ công sức, bỏ thời gian, mệt mỏi, nhọc nhằn, phiền não hoặc tai nạn nữa… Chúng ta có thấy được điều này không? Hay là lên Linh Quy Pháp Ấn tu sướng hơn? Về đây tu và nghe được bài Về núi yên tu còn sướng hơn?

Như trước khi đi là phải lo, trong khi đi phải lo và sau khi đi về có khi còn có dục, tham, ái, sân si, phiền não như mất thời gian, công sức, mệt mỏi, tốn tiền tốn bạc, bỏ thời giờ tu rồi thêm phiền não, thêm tham dục ái thích, mê, có khi tai nạn rồi bệnh hoạn giữa đường, không có thuốc uống. Ví dụ có một em bé lên máy bay bị bệnh ra sao mà máy bay phải hạ cánh khẩn cấp để cấp cứu hay có những khi phụ nữ sanh con trên máy bay, hoặc có những người …28:00.

Nên mình nhìn cái này thì mình mới thấy được nhiều cái hay để mình tu, cái này khỏe vô cùng, khỏe tuyệt vời. Như có những người già bệnh tim nhưng muốn cảm giác mạnh, vào những chỗ người ta chơi cảm giác mạnh, leo lên rồi thì đưa lên quay, la, bước xuống thì mặt mày lanh lè xanh lét, rồi lại lên tim. Nhưng khi già, bệnh thì lên đó tìm cảm giác mạnh để làm gì? Chúng ta có thấy được cái dục, ái, tham hành hạ cho mình khổ không? Nhưng không chỉ làm khổ mình mà làm con cái của mình mệt mỏi, phải bỏ công ăn chuyện làm để lo cho mình, vì thú vui một chút cảm giác mạnh của mình. Vì đã lớn tuổi, bệnh tim nhưng còn ham vui, ham chơi.

Đó là mình nói già, còn người trẻ thì còn hơn như vậy. Như chú Hậu nếu không đi tu, không ngồi trong chùa thì giờ này làm gì? Là chạy theo những cảm giác bên ngoài, bạn bè rủ rê, rù quến, đưa mình đến chỗ sa đọa.

Nên chúng ta thấy sự tu này tuyệt vời không? Ý của tôi không ưa thích mọi thế giới, tức là mọi du lịch, vui chơi, ăn uống, hưởng thụ, vui thú ở thế gian này thì tâm mình, chưa nói là nó hết hoàn toàn, mà là nó nhẹ, giảm bớt. Chúng ta có thấy chỗ này chúng ta được hạnh phúc, an lành nhiều không? Sáng mình ngủ dậy, tối thì mình vào một giấc ngủ sau khi mình thiền quán, sáng mình thức dậy trong một thân thể, tâm thức tỉnh giác, chánh niệm, trùng tuyên Thánh điển, vang dội núi rừng sau đó mình ngồi an tịnh, lắng dịu trong một cảm giác dạt dào của từ tâm. Sau đó mình tưới được Thánh nhũ, Thánh trí, Thánh pháp, sáng bốn tiếng của mình có xứng đáng một ngày không?

Mỗi ngày như vậy mình được bao nhiêu tiếp, bao nhiêu nguồn năng lượng, những Thánh nhũ của Đức Phật, sữa Thánh, Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo, Thánh ngôn, Thánh huệ.

Dùng bữa sáng sau đó đi công tác một chút cho máu huyết lưu thông, quét lá tre, quét lá đa, lau chùi, quét chùa rồi tiếp tục học kinh nên buổi chiều Minh Thành đi thì thấy mỗi người ở một góc tre, học kinh, đi tới đi lui thiền hành thì Minh Thành thấy rất vui, hạnh phúc. Buổi chiều nhìn thấy người đi thiền hành, người ôn bài kinh Nikāya, người tĩnh tâm hay chia sẻ pháp với nhau, nên thấy ngọt ngào, an lạc, hạnh phúc, thấy nó tuyệt vời, vi diệu, hạnh phúc, an lạc.

Ý của mình là không ưa thích tất cả thế giới mà mình ưa thích đời sống viễn ly, núi rừng, ưa thích đời sống xa vắng, ưa thích pháp, yêu mến, suy tư, nghiền ngẫm, an trú, tu tập, quán chiếu và sống với pháp.

Chúng ta có thấy còn hạnh phúc nào trên đời bằng được không? Chư thiên còn phải khát khao, vì chư thiên còn bận hưởng thụ dục lạc, bận hưởng thụ phước của mình, không có thời gian để nghe pháp, tu tập. Ví như người có một tỉ đô thì giờ họ có rảnh ngồi nghe pháp như mình không? Họ bận bịu để xài tiền, tiêu tiền, đừng nói chi là chư thiên.

Nên phước nhiều, mà không có tuệ, chướng ngại trong sự tăng thượng giới đức, thiền định, trí tuệ. Chúng ta mỗi ngày được tưới tẩm Thánh trí huệ, Thánh tri kiến, Thánh đạo lộ, Thánh sự thật. Mỗi ngày chúng ta được xông ướp thượng nhân pháp của Thánh hiền. Ý của mình là không ưa thích tất cả thế giới, ý của mình là ra khỏi tất cả thế giới này. Ý của mình sẽ nghiêng về Niết-bàn.

Không ưa thích tất cả thế giới tức là mọi hình tướng, hình thái, tài sản, sự nghiệp, cảnh sắc, tiền bạc, danh vọng, địa vị, xe cộ, đất đai, ruộng vườn, sổ đỏ, sổ hồng, tất cả vàng, đô la, tất cả những cái gì mình không ưa thích, không nắm giữ, không trói buộc vì mình biết nó vô thường.

Chúng ta biết mới là người con, người chồng, người vợ, người cha đó, với mặt mày khôi ngô, tuấn tú, tiền bạc, thành đạt, giàu có, học vị, tài sản nhưng bất ngờ tới hát rồi trở ra không nhìn ra được, không biết người này là ai, chỉ là một khối, một đống đen thui như vậy. Và những dòng nước mắt của hàng trăm người, đứng xếp hàng chờ nhận xác người thân nhưng vào nhận cũng không biết người đó có phải là người thân của mình không, phải đi xét nghiệm ADN.

Vậy thì chúng ta nghĩ sự vô thường như thế nào? Mà đó là rõ ràng trước mắt, nhãn tiền của chúng ta. Khóc trong nghẹn ngào, trong tức tưởi, bất ngờ, không thể chấp nhận, tin tưởng được, mà chính bản thân của mình mà còn biến đổi như vậy thì huống hồ chi vật ngoài thân. Nên Thế Tôn đã nói trong Tương Ưng Sáu Xứ, thân này là vô thường, những cái làm ra nó cũng vô thường thì làm sao nó thường được? Ví như căn nhà chúng ta đang ở, những cái làm nên cánh cửa, làm nên đòn tay, la-phông, nóc nhà là những thứ vô thường thì căn nhà làm sao thường được?

Con mắt này là những thứ vô thường làm nên, là những thứ bất tịnh, dơ bẩn làm nên thì làm sao con mắt này thường được? Những thứ làm nên nó là vô thường, bất tịnh thì làm sao nó thường còn, thanh tịnh, trong sạch được?

Lỗ tai này là những thứ bất tịnh, mủ máu, da thịt, là những thứ vô thường, bất tịnh làm nên thì làm sao nó thường còn, trong sạch được? Gương mặt, thân xác này là những thứ vô thường, bất tịnh, nhớp nhúa, tan hoại, tan rã, những thứ đó làm nên thì làm sao nó làm ra được những cái thường còn, chắc chắn, trong sạch, làm sao làm ra được như vậy?

Mình lấy đất làm ra thì tất cả những món đồ đó cũng là đất, làm sao đất làm ra vàng được? Mình lấy một viên phân bò mình nắn ra thành hình một cái hoa thì nó cũng chỉ là phân bò, không thể trở thành hoa mai được, dù cho mình làm thành hoa mai nhưng nó cũng được làm ra từ phân bò.

Cũng vậy, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý làm từ những thứ vô thường, bất tịnh thì làm sao nó thường hằng, thanh tịnh được? Chính vì mình nhìn thấy vậy nên mình không ưa thích, mình muốn thoát ra khỏi tất cả thế giới này.

Nên nhiều khi mình bị người ta mắng, chửi, chê, trách, giành, giựt, lấn, ép, nhiều khi người ta ăn cướp, ăn trộm của mình thì mình cũng bình thường, vì mình không có ở đây, mình đâu phải mình, của mình mà mình phiền não trong đây làm gì? Ý xuất ra khỏi tất cả thế giới thì ý đó rất tối thượng, thượng nhân pháp, siêu việt, đó là đức hạnh của Thánh hiền.

Tâm của người đó không đặt để vào những thứ đó, tất cả thế giới là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Mình muốn đi ra khỏi tất cả thế giới. Nếu có người nào lại chỉ mặt mình nói là “Chị hôi rình hà! Dơ quá! Nhìn mà muốn bệnh, thấy thảm sầu quá!” thì trả lời là “Dạ đúng rồi! Thân này là bất tịnh! Dạo này con bệnh, thân này là ổ bệnh hoạn. Con thấy nhàm chán thân này lắm, con muốn thoát ra khỏi thân này lắm, con tu để con từ bỏ thân này.” Như vậy có khỏe không? Tối thượng không?

Đó là thượng nhân khi an trú được tư tưởng, cảm thọ như vậy, tu tập được cái tâm như vậy thì đó là bậc thượng nhân. Còn nếu không muốn làm thượng nhân mà làm hạ nhân thì ra sao? Ai đến chê thì mặt chằm dằm “Tôi mới tắm xà-bông thơm mà sao nói tôi vậy?” Khi ở trong này đã thối thì dù có là xà-bông thơm, dầu thơm gì thì bản chất thối của nó cũng là thối thôi.

Bản chất của nó đi ra ngoài là phân, nước tiểu, máu mủ mà quý vị đem xà-bông thơm hay quý vị gội cái gì thì bản chất hôi thối của nó cũng là thối thôi. Cũng như đem phân bò nắn thành hình hoa mai thì vẫn là phân bò, không thể thành hoa mai được.

Nên tứ đại này thành hình con người, bên trong nó là phân và nước tiểu, máu mủ, tanh hôi. Phải dùng từ như vậy thì mới có thọ, để phơi bày nên những gì bị che kín. Như vậy nên mình nhàm chán tất cả thế giới, mình không ưa thích nó mà mình muốn thoát ra khỏi nó: “Không có ai ở đây hết mà giành giựt với nhau chi cho mệt, mình đúng sai với nhau để làm gì? Hơn thua với nhau để làm gì? Tranh giành với nhau để làm gì? Mình có ở đây đâu?” Quý vị thấy có tâm được như vậy thì khỏe ra sao? Đó là bậc thượng nhân. Vậy mình muốn làm thượng nhân hay hạ nhân?

Tại sao mình lo chi những thứ nhỏ nhặt đó làm gì? Nên mình phải quán những thứ từ nhỏ nhoi, nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ nhặt, nhỏ nhít, nhỏ bé đó. Chúng ta nhớ ngày hôm qua chúng ta có nghe bài Tám đức hạnh của Thánh hiền không? Chúng ta thấy các tầng trời, mình bốn trăm năm có một ngày một đêm ở chư thiên thì là bao nhiêu ngàn năm, một ngàn sáu trăm năm? Nhưng Đức Thế Tôn nói đó nhỏ nhoi như là cây quyền, chủ quyền của loài người như vậy. Làm vua của mười sáu nước mà Đức Phật còn nói là nhỏ nhoi, giờ mình là ăn mày, gác cổng, bảo vệ mà mặt của mình hất hất lên, ta đây, vênh váo, hách dịch thì thấy nhục không? Hay quán khi bước vào chó cứ sủa thì đó là kiếp chó. Mình cứ vênh váo hoài là trong thân súc sanh, thú vật, thân thấp hèn, hèn hạ như vậy.

IV. Lợi ích thứ ba, thứ tư

Phải đập được bản ngã, nhiếp phục được bản ngã, hạ gục được bản ngã, một tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, cúi đầu, hạ thấp xuống lạy thì đó mới là thượng nhân pháp.

“ Ý của tôi không ưa thích tất cả thế giới.

 Ý của tôi sẽ xuất khỏi tất cả thế giới.

 Ý của tôi sẽ nghiêng về Niết-bàn.”

Nghiêng về Niết-bàn tức là lắng dịu, nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt, đoạn diệt tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đó là ý của tôi sẽ nghiêng về Niết-bàn, không ưa thích và đi ra khỏi tất cả thế giới này.

Chúng ta nhìn thấy sau lưng Minh Thành không? Đó là bong bóng, bọt bèo, cứ chụp bắt, hơn thua, giành giựt, đấu đá mãi. Chúng ta thấy chiến tranh chết bao nhiêu ngàn sinh mạng? Bao nhiêu gia đình ly tan, bao nhiêu dòng lệ, bao nhiêu máu, sinh mạng chỉ vì một ý niệm sương sương, tham lam? Bao nhiêu sự đau khổ trên cuộc đời này rồi, khổ như vậy còn chưa đủ nữa hay sao? Mà chúng ta thấy vì vô minh, ngu si mà chúng sanh phải chịu đựng thống khổ, tai họa như vậy, một phần ngày một lớn lên như vậy.

Vậy mình có còn gây khổ với nhau làm chi? Khổ vậy chưa vừa đủ hay sao? Nên chúng ta học khổ mà chúng ta vui không? Ngày nào chúng ta cũng nghe khổ nhưng chúng ta ở trên núi an vui không? Có không? Học, nói, quán, nhớ, nghĩ về khổ để mình lìa khổ, dứt khổ và mình hết khổ.

Vậy nên “Ý của tôi sẽ nghiêng về Niết-bàn” nghiêng về chỗ mình chấm dứt tất cả các dục, tham, ái, ngu si, vô minh, bản ngã đối với ngũ uẩn này, đối với tất cả thế gian, thế giới này, đối với vòng luân hồi oan nghiệt này, đối với tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức ác độc này.

Phải nhàm chán chúng, nhàm chán thật nhiều nên Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, ai nhàm chán sắc thật nhiều, viễn ly, ly tham thì người đó sẽ biến tri sắc. Còn người nào nhàm chán với sắc nhiều, người đó sẽ biết, thấu suốt tất cả phương diện, khía cạnh, đầy đủ hết tất cả mọi góc độ của sắc, biến tri sắc, liễu tri sắc. Người đó thấu triệt hết tất cả mọi khía cạnh, góc độ, phương diện về sự thật của sắc thì người đó sẽ giải thoát khỏi sắc.”

Chúng ta thấy lời của bậc Thánh trung chi vương, Thánh trung chi Thánh tối tôn, tối thượng của chư thiên và loài người. Thì người nào sống nhiều với sự nhàm chán đối với sắc thì người đó sẽ thấu rõ bản chất của sắc, người đó sẽ giải thoát khỏi sắc nên:

“Này các Tỳ-kheo, hãy sống nhiều với sự nhàm chán các cảm giác, cảm thọ, sống nhiều với sự nhàm chán những tưởng, hành, suy nghĩ, nhận thức. Người nào sống nhiều với cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức thì người đó sẽ biết rõ, biết đầy đủ, tất cả mọi phương diện, góc độ, khía cạnh về sự thật của cảm giác, nhận thức, suy tư, nghĩ tưởng. Người biết rõ tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ, liễu tri, biến tri, thắng tri, tuệ tri đối với ngũ uẩn thì người đó sẽ giải thoát khỏi ngũ uẩn.”

Chúng ta thấy lời của Đức Thế Tôn giống như tràng hoa xâu kết lại, nhất quán xuyên suốt hệ thống, giống như mình xỏ xâu một vòng hoa lài cúng ngày Phật Đản, sợi chỉ của mình xuyên qua những đóa hoa thơm và trở thành một vòng hoa. Tất cả Ba mươi bảy phẩm trợ đạo của Đức Phật, tất cả các pháp của Đức Phật nhất quán, xuyên suốt, hệ thống, chặt chẽ, khít khao, tương trợ, tương thành, tương tác, tương thông, tương nhập.

Ý của mình là không ưa thích tất cả thế giới, ý của mình muốn thoát ra khỏi tất cả thế giới này, là muốn nghiêng về, xuôi về, nhập vào Niết-bàn. Niết-bàn là dập tắt những ham muốn, nóng giận, si mê trong ngũ uẩn này, nghiêng về sự an tịnh, sự cứu cánh của nó là Niết-bàn, an tịnh sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

V. Lợi ích thứ năm, thứ sáu

“Các kiết sử của tôi đi đến đoạn diệt”

Làm sao không đoạn diệt được với một tư tưởng, suy nghĩ, nhận thức, quán chiếu, cảm thọ, tâm hành như vậy thì những trói buộc, sai khiến, sẽ đi đến chỗ chấm dứt. “Thân kiến hoài nghi, giới cấm thủ” Tham và sân, những kiết sử này sẽ đi đến chỗ chấm dứt.

“Và tôi sẽ thành tựu tối thượng Sa-môn hạnh”

Sẽ thành tựu đức hạnh cao nhất của bậc tu hành, tức là đoạn tận tất cả lậu hoặc, thành tựu Thánh quả A-la-hán, tối thượng Sa-môn hạnh, đức hạnh cao tột của bậc tu hành.

Đó chỉ là bài kinh Không có hạn chế số một, có đến ba bài. Cảm thọ của chúng ta hiện tại ra sao?

VI. Trình pháp

Phật tử số 2 trình pháp:

Con kính thưa sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Hiện tại cảm thọ của con có nhiều cảm xúc đối lại với nhau, một là cảm xúc hỷ lạc, một là cảm xúc buồn man mác cho con người. Con ngồi cảm giác khởi lên khiến con khởi lên câu chuyện ngày hôm qua con mới nhận được từ gia đình, những người hàng xóm của con cũng là câu chuyện con người không biết được sự vô thường, cứ chấp vào vật chất, chấp vào những cái mà mình đã làm ra rồi từ đó tranh chấp mà không biết rằng bản thân mình còn không giữ được, sống nay, chết mai.

Suy nghĩ của con khởi lên, không biết làm sao để truyền trao Chánh pháp đến tất cả. Cứ tưởng hình bóng của mọi người đang đấu tranh, hơn thua, sân si với nhau. Thật sự, suy nghĩ của con lúc đó thật là khó để cho mọi người hiểu được sự vô thường. Giờ con ngồi đây tưởng lại tất cả những thọ, tưởng, hành ngày hôm qua, giống như bài pháp sư phụ giảng sáng nay thì cảm giác con quay lại làm con thấy rất hạnh phúc cho mình nhưng càng hạnh phúc cho mình thì càng lại thấy thương cho người.

Con lại có thêm suy nghĩ là sao mình lại có thể may mắn, có thể hiện tại tạm từ bỏ được các dục trần ở bên ngoài trong khi đó bạn bè, người thân của mình còn đang quay cuồng trong các dục thì thật là xót xa cho họ.

Phật tử số 3 trình pháp:

Con cung kính kính bạch trên thầy tôn kính, trên Chư Tôn viện đức tăng ni cùng quý chư hiền. Đệ tử con pháp danh Nguyên Thủy xin trình pháp về bài pháp sáng nay.

Thầy đã giảng cho con trong bài kinh Không Hạn Chế 1, phần thứ nhất gồm sáu phần, trong phần đầu con cũng nắm giữ được không an trú vào sự vô thường bởi vì thọ trong con lúc nào cũng nhận rõ biết được sự sanh diệt của các pháp.

Thứ hai là con không an trú, nắm giữ, con đẩy những ý nghĩ ra ngoài thế giới bởi vì con biết tất cả các hành khởi lên trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Con muốn đẩy ra những ý nghĩ ngoài, con không an trú vào những pháp thiện, con luôn an trú trong các pháp thiện. Và thọ trong con lúc này, con thọ hỷ lạc sanh khởi, rất vui bởi vì ý hành của con muốn cởi trói những sợi dây kiết sử.

Thứ tư là thọ của con tỉnh táo để suy ngẫm về con an trú trong cõi Niết-bàn vì con nghĩ Niết-bàn là một trạng thái, Niết là không, bàn là sân, là si, không tham, sân si thì con sẽ an trú vào được Niết-bàn. Và thọ của con bây giờ rất hoan hỷ, khi con được tu tập ở một không gian rất an tịnh, lắng dịu, thọ hân hoan, vui vẻ. Cảm thọ của con lúc này chỉ biết an trú vào bốn câu:

“Cảnh trí nào hơn cảnh trí này,

Niết-bàn cực lạc tại nơi đây

Trăm năm cuộc sống không tìm dễ,

Tịnh độ đừng mơ cõi phía Tây.”

Phật tử số 4 trình pháp:

Con kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Cảm thọ trong con sáng nay rất hoan hỷ, hỷ lạc. Bình thường con cũng trú tâm vào vô thường, nhưng rác bẩn trong con còn nhiều, hằng ngày thì những rác bẩn khởi lên, tham, sân, si làm mất chánh niệm nên con hay quay về trị những rác bẩn nên thời gian quán vô thường không được nhiều. Nhưng sáng hôm nay được sư phụ truyền lửa nên con thấy hạnh phúc, như một người đang đi giữa đường mà hết xăng, được sư phụ tiếp thêm xăng nên cảm giác hỷ lạc trong con dâng trào.

Con thấy thật hạnh phúc khi mỗi sáng được sư phụ truyền năng lượng, những cảm thọ hỷ lạc, những cảm thọ về vô thường, khổ, vô ngã để con có năng lượng để tu tập, hỷ lạc. Sáng nay con rất hỷ lạc và con tác ý theo lời dạy của sư phụ nên trong thời gian nghe pháp con không bị tham, sân, si, bản ngã, những tập khí quấy rầy nên con thấy thật hỷ lạc.

Con xin tri ân sư phụ.

Khi mình tu học thì phải năng nổ hơn, nhiệt tâm lên, sáng nay còn thụ động, không hân hoan nhiều trong pháp.

Phật tử số 5 trình pháp:

Con cung kính trên sư phụ tôn kính, trên chư tôn đức, tăng ni cùng quý chư hiền. Con pháp danh Nhượng Huệ, xin nói lên cảm xúc của mình khi nghe bài của sư phụ giảng.

Cảm thọ của con rất hỷ lạc, khi sư phụ nói “Giờ này được ở trên núi tu tập một Thánh pháp tối thượng, cảm xúc của con dâng trào, niềm hỷ lạc. Vì sư phụ đã khơi dậy trong con, xưa kia con ở nhà, con vui thích hỷ lạc ở chỗ này chỗ kia, chưa đi vào vòng pháp này con thích đi du lịch nước này nước nọ để cho biết. Nhưng từ ngày đi vào dòng pháp này thì con không còn thích đi chơi nữa mà con thường an trú trong pháp. Ngày nào cong cũng tắm gội mình trong dòng pháp Thánh hiền, con rất hỷ lạc, nếu con ở nhà thì con sống trong cảnh tham, sân, si, dục ái, nó lôi cuốn con. Giờ này con về đây ngồi với ngôi nhà Chánh pháp con thật là hạnh phúc, vì các căn con được chế ngự, khi con nghe pháp, con để tâm mình không có mặt của năm triền cái, không tham, sân, si, trạo cử, hối tiếc, nghi ngờ để tâm con những lời pháp vi diệu, rót vào tâm con thật ngọt ngào, sâu lắng.

Cảm xúc sáng nay của con thật hỷ lạc. Con xin tri ân sư phụ cùng chư tôn đức tăng ni, chư hiền đã lắng nghe lời cảm xúc của con.

Phật tử số 6 trình pháp:

Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý chư ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Sáng nay trong bài pháp, khi con được nghe thì con có hai dòng cảm thọ, dòng cảm thọ thứ nhất là con không hoan hỷ đối với tất cả các hành, bởi khi nhắc đến hai từ vô thường thì tâm con lại rúng động, cảm nhận được sự vận hành của ngũ uẩn này là đau khổ. Con luôn đặt mình trong cái niệm của vô thường, con sẽ thấu suốt được và con cũng đã nếm trải được vị của vô thường. Cảm thọ thật ngao ngán đối với sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Con ngao ngán, một cảm giác nhàm chán, chỉ muốn chán lìa, thoát xa, thoát lẹ.

Dòng cảm thọ thứ hai là con lại thật hoan hỷ, thật hạnh phúc khi con được nghe những lời tác ý của Đức Thế Tôn, đã dạy cho con những pháp hành, con an trú vào những pháp hành mà Ngài đã truyền trao qua lời dạy của sư phụ. Cảm thọ dâng trào trong niềm hạnh phúc, con an lạc.

Và con cảm ơn Đức Thế Tôn, nếu không có những lời dạy của Ngài, những pháp hành, để con thực hành. Thật sự con không thoát ra được trạng thái đau khổ, nhờ những pháp hành của Ngài mà con có được sự an lạc trong nội tâm của mình, trạng thái tâm của con. Sau khi con nghe được bài pháp này thì một trạng thái an lạc và hoan hỷ, con chỉ biết cố gắng, cố gắng để thực hành những pháp hành mà Đức Phật đã truyền trao, cũng như qua lời dạy của Đức ân sư đã hết lòng vì chúng con. Chúng con xin tri ân sư phụ.

Chúng ta chiêm nghiệm bài pháp này, có thời gian rảnh thì mình viết để khắc sâu vào thọ, tưởng, hành của mình. Nên khi Minh Thành kêu trình pháp là để quý vị tô đậm hơn lần nữa, để cho quý vị nhớ, để khơi gợi cho quý vị về thọ, tưởng, hành về pháp, để tiếp tục duy trì trong mỗi người. Đó cũng là sự thực hành pháp.

Khi mình đứng lên trình pháp thì lúc đó sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình sẽ trú trong pháp, sẽ sanh khởi lên những thiện pháp. Tô đậm, đồ nét lại, khơi gợi lại, an trú thêm nữa vào các sự thật của bậc Chánh Đẳng Giác.

VII. Tác ý

Vậy nên mình đừng thụ động khi trình pháp. Đó là cơ hội để cho mình tu, tác ý, ngay lúc đó cũng là lúc cho mình quán chiếu. Thời gian sau không những chúng ta trình pháp mà chúng ta còn ghi bài nữa. Những bài nào mình học mà mình tâm đắc, mình có thọ rất nhiều, có thấm thía nhiều thì buổi chiều mình viết ra hoặc một lúc sau dùng sáng xong là mình vào viết ngay, nếu không sẽ quên. Chẳng những chúng ta trình pháp bằng miệng mà chúng ta còn viết ra bằng tay, những hàng chữ còn đó, chúng ta gửi lên, mọi người đọc và chúng ta để dành để đọc, lâu lâu chúng ta đọc hoặc chúng ta ghi âm lại, đó là cách của Minh Thành học. Đọc và ghi âm lại, lâu lâu mở lên nghe để nhắc mình. Đó là mình nhiệt tâm, tinh cần, năng nổ trong học, hành pháp.

Nhiều khi kêu mình trình pháp thì mình lại ngồi thiền, đó là chỗ mình chưa khéo léo trong thiện pháp, để cho mình được sanh khởi lên. Nên mình viết bài, viết những gì mà mình cảm thọ được nhiều, ví dụ như những buổi nào tu học mà cảm thọ của mình rất nhiều thì mình viết lại, ghi lại, học lại. Còn những người không biết viết thì bấm máy ghi âm nói lại. Mình đi ra gốc cây, bụi trúc, tảng đá, đi lên Thánh pháp viện trống trong buổi chiều không có ai thì mình lên đó nói lại. Nói lại cảm thọ của mình trong bài pháp, nếu mà mình ghi không được.

Chúng ta thấy trong này toàn là tác ý, chúng ta thấy mười tám phương diện này trong ba bài kinh Không hạn chế này toàn là tác ý.

Bài kinh thứ hai:

“1. - Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng khổ, không có hạn chế trong tất cả hành.

2. Thế nào là sáu?

 Trong tất cả hành, tưởng Niết-bàn sẽ được an trú trong tôi, ví như kẻ giết người đang đưa dao lên chém.

 Ý của tôi sẽ xuất khỏi tất cả thế giới.

 Tôi sẽ trở thành một người thấy được tịnh lạc trong Niết-bàn.

 Các tùy miên trong tôi sẽ được nhổ lên.

 Tôi sẽ là người đã làm các việc nên làm.

 Tôi sẽ với từ tâm hầu hạ bậc Đạo Sư.

Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng khổ không có hạn chế trong tất cả hành.”

(Bài kinh Không Có Hạn Chế 2, Phẩm Lợi Ích – Chương Sáu Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)

Bài số ba là:

“1. - Thấy được sáu lợi ích, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành.

2. Thế nào là sáu?

 Trong tất cả thế giới, tôi sẽ không dự phần vào trong ấy.

 Cái gì tạo ra cái "tôi" trong tôi sẽ được chận đứng.

 Cái gì tạo ra cái "của tôi" trong tôi sẽ được chận đứng.

 Tôi sẽ thành tựu trí.

 Không cùng chia sẻ với người khác.”

Là người khác không chia sẻ với mình được, đây thuộc về pháp bất cộng của bậc Thánh. Chỉ có người nào thực tập, trải nghiệm thực chứng thì mới biết được, còn không thể chia sẻ với người khác được. Đó là bất cộng pháp, pháp không chung cùng với phàm phu.

“ Nguyên nhân và các pháp do nhân sanh được tôi khéo thấy.

Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành.”

(Bài kinh Không Có Hạn Chế 3, Phẩm Lợi Ích – Chương Sáu Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)

Tất cả đều là tác ý, nếu mình không khéo chịu khó tác ý, khi mình đứng trình pháp cũng là tác ý, mà mình làm biếng, thụ động thì uổng cơ hội của mình. Còn nếu mình ngại, không quen nói chuyện trước đại chúng thì mình viết. Viết không được nữa thì nói ghi âm hoặc là nhờ người nào đó “Giờ tôi có tác ý này hay lắm, mà tôi dốt không biết viết chữ”, mượn Minh Thành viết dùm cũng được, khi nào Minh Thành rảnh sẽ viết cho. Kêu là “Chú tiểu Minh Thành ơi, giờ tôi không biết viết, chú tiểu cứ kêu tôi viết hoài, lại đây viết dùm tôi đi!” Khi đó chú tiểu Minh Thành cầm giấy viết lại ghi dùm.

Hãy chịu khó tác ý, nên dạo này có một số vị trình pháp gửi bài, lâu lâu Minh Thành có đăng trên nhóm, phải chịu khó viết bài, gửi bài. Tô đậm những pháp mà mình đã được nghe, hiểu, khắc sâu, tô đậm cho nó được an trú, để thọ, tưởng, hành của mình không bị mất.

Khi Minh Thành đi xuống núi thì thấy không khí không bằng khi ở nhà thì phải, làm cho phấn khởi, hân hoan, hỷ lạc ở trong pháp, đó là bổn phận của quý thầy ở nhà cho trả bài, pháp đàm.

VIII. Trình pháp 2

Phật tử số 7 trình pháp:

Sáng nay nghe pháp thì con cũng quán vô thường, không cho thọ, tưởng, hành không phải là của mình, con rời xa nó để cho tâm mình được yên hơn. Con quán về những cảnh chiến tranh bị chết chóc trong oán thán, con thấy đau xót rất nhiều, chiến tranh thương tâm.

Con đọc một đoạn kinh mà con đã học thuộc.

Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau. Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái. Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và khát ái. Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. Bát Chánh Đạo, chánh tri kiến thấy biết đúng, chánh tư duy suy nghĩ đúng, chánh ngữ nói lời đúng, chánh nghiệp hành động đúng, chánh mạng nuôi mạng đúng, chánh tinh tấn siêng đúng, chánh niệm quán đúng chỗ, chánh định định đúng cách.

Khi mình nhiệt tình, năng nổ trình pháp là siêng đúng việc, là chánh tinh tấn. Còn mình ngồi im ru như vậy là không có chánh tinh tấn.

Phật tử số 8 trình pháp:

Con kính trên sư phụ, chư tôn, hiền đức, tăng ni và đại chúng. Con xin đọc bài Niệm lời cuối của Đức Phật, lời nhắn nhủ của Đức Phật:

“- Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.

Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:

Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,

Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.

Tự mình làm sở y cho chính mình,

Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,

Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.

Ai tinh tấn trong pháp và luật này

Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.”

(Tụng phẩm III – Kinh Đại Bát Niết Bàn– Trường Bộ Kinh)

Lời cuối của Đức Phật:

“Này Chư Tỳ Kheo, đây là lời dạy cuối cùng của Như Lai:

Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường.

Hãy tinh tấn tìm cầu giải thoát!”

Các hành là vô thường khi các hành nghĩa là gì vậy chú?

Theo con hiểu là sắc, thọ, tưởng, hành rõ biết.

Các hành nghĩa là gì?

Các hành là sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nãy giờ thầy giảng thì sự vận hành của pháp, thọ, tưởng, hành của thức gọi là các hành. Sự vận hành của ngũ uẩn là vô thường.

Các vị mới lên núi thuộc gì cứ trả bài cho Minh Thành nghe:

Phật tử số 9 trình pháp:

Kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng quý hiền giả. Con xin đọc bài kinh Sợi dây tái sanh:

Niệm an tinh, lắng dịu, dễ chịu.

“1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

-- " Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh ", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là sợi dây tái sanh, bạch Thế Tôn? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?

4) -- Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.

5-7) ... đối với thọ... với tưởng... với các hành...

8) Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.”

(Bài kinh Sợi dây tái sanh, Phẩm Thứ Nhất – Chương Tương Ưng Radha – Phần Năm Mươi Kinh Sau – Tập III. Thiên Uẩn – Tương Ưng Bộ Kinh)

Con đã học được ở tại sư phụ giảng là con nhìn nhận được sáu căn, là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Nhận diện ngũ uẩn ngay giờ phút này.

Sắc là con đang đứng, thọ thân là con rất run, cảm giác tâm con rất hồi hộp khi trình pháp với sư phụ và có một cảm thọ hỷ lạc.

Tiếp tục tác ý cảm thọ hỷ lạc đó, xem nó hỷ lạc ra sao.

Hỷ lạc của con là sáng hôm nay con được nghe sư phụ giảng, những điều con chưa biết và hôm nay con được nghe và biết. Con có một niềm vui khi về núi tu, tâm con rất nhẹ nhàng, thanh tịnh, đây là cảm xúc rất dạt dào, hân hoan khi được mỗi buổi sáng sư phụ giảng pháp, được quý thầy hướng dẫn, chúng con thấy biết được thân tâm con rất nhiều uế nhiễm và con từ đó con phải từ bỏ những gì xấu của cảm thọ trong con.

Đó là về sắc, thọ, vậy còn về tưởng, hành, thức ra sao?

Tưởng con có hình bóng của sư phụ đang giảng bài, ý hành của con…

Hãy nhắm mắt lại xem có hình bóng gì trong tâm trong giờ phút này.

Hình bóng con là sư phụ và đại chúng, quý thầy, quý cô trong màn hình. Ý hành của con suy nghĩ sư phụ giảng pháp những điều mà lâu nay con không biết, hôm nay được sư phụ giảng dạy, chỉ rõ. Thức của con rõ biết thọ, tưởng, hành.

Nay cô ngồi thiền, trong khi thiền thì ngũ uẩn như thế nào?

Trong lúc con ngồi thiền, con đặt niệm trước mặt, con rõ biết, khi trở về cảm giác của toàn thân và con chánh niệm nội tâm con luôn tỉnh giác và con thấy tưởng của con khi ngồi có khi có hình bóng của con của con hiện ra. Con liền tác ý “Đây chỉ là tưởng, lâu lắm mới đủ nhân duyên lên núi tu nên không được đi theo suy nghĩ đó. Bóng trong tâm con là con của con, khi suy nghĩ của con chưa kịp khởi lên thì con lại chặn đứng nó và con lại trở về với hơi thở để chánh niệm tỉnh giác và rõ biết toàn thân.

Ngoài đó ra thì còn gì khác không trong lúc ngồi thiền?

Trong giờ ngồi thiền thì có lúc rất tĩnh lặng, từ đầu tới cuối buổi cũng không có tưởng gì, ý hành gì khởi lên và thức con rõ biết.

Như vậy là tốt!

Phật tử số 10 trình pháp:

Con kính thưa sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Pháp danh con là …101:4. Con lên núi tu học với các sư cô và quý thầy nay đã được nửa tháng. Con thấy cảm thọ của con rất vui, hạnh phúc. Con cũng nhờ quý thầy, quý cô giảng dạy cho con, con rất hạnh phúc. Khi lên núi thì cảm thọ của con rất hoan hỷ. Con biết là con không biết viết bài, con chỉ biết là học trong kinh Nikāya. Con kính mong sư phụ giảng dạy cho con thêm.

Cô hạnh phúc ra sao? Cô diễn tả hạnh phúc nó ra.

Hạnh phúc của con là con được lên núi tu học, nhờ các sư cô, các thầy giảng dạy cho con, con biết về kinh Nikāya. Hạnh phúc của con là lên trên núi rất mát mẻ, con biết an tịnh tâm của con lại. Ở nhà thì con phóng dật rất nhiều.

Thấy sư cô Tăng Phổ cười hoài sáng giờ, không biết cô hạnh phúc gì? Cô hãy chia sẻ cho đại chúng về hạnh phúc của cô.

Sư cô Tăng Phổ trình pháp:

Con kính bạch sư phụ, kính bạch quý tăng ni và quý hiền giả đại chúng.

Nói về hạnh phúc thì không có ngôn ngữ nào, bút mực nào có thể tả xiết được niềm hạnh phúc khi chúng ta cảm nhận được con đường chúng ta đi trước mặt là con đường đúng. Và chúng ta sống trong pháp, thực hành pháp trong dòng pháp Nikāya này thì hàng ngày con lên tu tập, con lạy Pháp Bảo, con đi thiền hành, hay là con đọc bài, học kinh, viết bài, viết nhật ký hay là được trình pháp. Con đều cảm thấy rất hạnh phúc.

Hạnh phúc của con rất đơn sơ, rất giản dị, bình thường. Lúc nào trong tâm con cũng hân hoan, rất mê, sai mê học pháp, say mê hành pháp, lúc nào con cũng trú trong đó. Hạnh phúc lúc nào cũng ngọt ngào, nhẹ nhàng, yên ả nhưng rất thâm sâu, vì thế con rất hay cười, lúc nào con có ý tưởng khởi lên mà vui thích về một pháp nào hay là một điều gì mà con chưa biết mà bây giờ qua lời giảng của sư phụ hay là được đại chúng trình pháp tác ý lên thì con lại thấy vui nên con cười. Con viết bài cũng hay cười, con đi đâu cũng thấy vui, ở trên núi này thì chỗ nào cũng là niềm vui của con, từng gốc cây, bụi trúc hay bông hoa đẹp, con nhìn thấy thì khởi lên niềm hỷ lạc rất vui sướng, hạnh phúc. Con cứ trú mãi trong hạnh phúc này.

Có hạnh phúc về vật chất không thưa cô?

Dạ hạnh phúc, thọ về vật chất thì không có, có hạnh phúc về tinh thần. Như về hoa là sự tiếp xúc của mắt khi nhìn thấy sắc.

Khi cô nhìn thấy hoa mà cô vui thì hỷ lạc đó liên hệ về vật chất. Còn khi cô tác ý về pháp thì hỷ lạc đó không liên hệ với vật chất. Cần phân biệt được hai cái này. Nếu cái vui của mình mà có tác động từ vật chất là vui hỷ lạc liên hệ tới vật chất, nhưng vật chất này là cảnh thiền vị, thanh thoát thì cũng tạm được.

Đây là nói cái mới, để hỷ lạc để tu. Vì dạo này đi xuống núi, giờ về núi mà hoan hỷ như vậy thì mới ở được. Còn nếu về núi mà nhìn thấy trúc, thấy mây mà rầu buồn thì lúc đó ở cũng không được. Chúng ta phân tích sâu sắc để biết thêm.

Con chỉ biết là con hạnh phúc hoài, khi con lên học pháp và nghe pháp, nhất là con được nhìn thấy hình ảnh của thầy dù là trực tiếp hay giảng online ở xa, con thấy rất hoan hỷ, rất vui. Con nhận thấy được là con rất thích hợp với dòng pháp này, con hạnh phúc khi con được tu tập trong dòng pháp này.

Con mong rằng, hy vọng rằng con sẽ đầy đủ sức khỏe để con tu tập, hành trì theo dòng pháp này đến suốt quãng đời còn lại của con.

Con cảm ơn sư phụ và chư hiền giả đã lắng nghe con chia sẻ sự hạnh phúc của con.

Tâm thương này tỏa rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm thương này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.