Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Không Dừng Lại Một Chỗ

2026-03-03 00:52:55
KHÔNG DỪNG LẠI MỘT CHỖ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Phật Giáo Miến Điện PAGEREF _Toc112675932 \h 1

II. Bảy pháp bất thối PAGEREF _Toc112675933 \h 5

I. Phật Giáo Miến Điện

Hôm nay là ngày 14/9/2018. Chúng ta đang ở Yangon, Myanmar. Trong chuyến hành hương học đạo này chúng ta đã thăm viếng được nhiều rừng thiền của ngài Ajahn Chah ở Thái Lan cũng như là các rừng thiền của ngài Mahāsi và hiện tại chúng ta đang ở khu vực kề cận chùa Tháp Vàng, là nơi tôn trí rất nhiều tóc cũng như những pháp khí của các Đức Phật trong quá khứ. Chúng ta có ba buổi pháp thoại, hôm nay là buổi đầu tiên để mình cảm nhận sự tu học trong thời gian mình đi hành hương học đạo, tham vấn, tìm hiểu, nghiên cứu đời sống tu tập của các chư Tăng tại các nước Phật giáo nguyên thủy, những vị này là những bậc trì pháp, giữ gìn Phật giáo nguyên thủy của Đức Thế Tôn trong suốt gần 3000 năm.

Trong lần đi hành hương, học đạo này chúng ta đã thấy những điều rất đặc biệt mà trước nay mình chưa thấy, chưa nghe, chưa cảm nhận được. Chúng ta đang ở Miến Điện, người ta đã nói nhiều về các thiền viện ở tại nơi đây, điều nổi trội trong sự tu học của chư Tăng ở tại các thiền viện, các tu viện và các rừng thiền ở đây chính là thiền định, sự tọa thiền, sự hành thiền. Điều này làm chúng ta phải xét lại sự tu học hiện nay của chính mình trong nước. Trong các thiền viện, thời khóa của một ngày hành thiền khoảng 12 tiếng, sau đó tụng kinh và đi khất thực, trở về thì cứ ngồi thiền, hành thiền.

Ngồi thiền 1 tiếng sau đó đi kinh hành 1 tiếng xuyên suốt như vậy là mười mấy tiếng, nếu có làm việc thì cũng chỉ quét dọn chút ít thôi còn tất cả thời gian đều để dành cho việc hành trì, cũng như để thời gian học kinh pháp, nghe giảng pháp, nhất là trong các rừng thiền. Đây là một điểm rất nổi bật mà mình đang ở trên con đường học hỏi thêm cũng như đang thực tập theo, nếu mỗi một ngày ngồi thiền, hành thiền, tức là ngồi rồi đi kinh hành mười mấy tiếng mà không thấy pháp, không thể nhập, không thành tựu pháp và không chứng pháp thì mới là điều lạ.

Khi Minh Thành bị bất ngờ khi bước vào thiền đường của thiền viện Mahāsi, ngồi trong đó là hàng trăm vị thầy mà mình bước vào không nghe một tiếng động, không gian tĩnh lặng, nhưng trong sự tĩnh lặng đó là sức mạnh, một sự tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, một sự chánh niệm tỉnh giác, một sự quán chiếu nội soi. Sự im lặng đó mới là sự im lặng đáng nói ở đây, mình đi nhiều nơi cũng có sự im lặng nhưng im lặng để làm gì, im lặng của bậc thánh khác với sự im lặng của phàm phu, im lặng đúng ngay chánh pháp, có rất nhiều sự im lặng nhưng cái im lặng đó không phải đúng với chánh pháp.

Chẳng hạn mình đi đến chỗ đông người mà người ta chuẩn bị hội họp, thậm chí có những đạo tràng Phật tử cả ngàn người cũng có sự im lặng nhưng cái im lặng đó là im lặng để làm gì, im lặng như thế nào thì đó mới là cái đáng nói. Im lặng thì ai cũng im lặng, có nhiều chỗ im lặng nhưng sự im lặng đó có đúng chánh pháp hay không, nói năng thì có nhiều chỗ cũng nói rất hay nhưng cái nói đó có đúng chánh pháp hay không.

Khi các vị Tỳ-kheo, các vị xuất gia hội tụ lại chỉ có hai việc thôi: Một là im lặng của bậc thánh. Hai là nói về các chủ đề ít muốn, biết đủ, ly dục, viễn ly, giới – định – tuệ, giải thoát tri kiến. Như vậy mới là sự im lặng đúng như chánh pháp và nói năng đúng như chánh pháp, cho nên khi Minh Thành bước vào thiền đường với sự im lặng của các vị thầy thì bản thân mình cũng tỏa ra niềm cung kính, tôn trọng một cách sâu sắc.

Tuy rằng có một vài vị mới đến bị hôn trầm hoặc là ngồi cựa quậy, nhưng chuyện đó là bình thường, nhìn đại thể thì 70-80%, thậm chí nhìn những cư sĩ mà mình thấy hổ thẹn vì người ta ngồi bất động, thẳng người và rất trang nghiêm. Có những vị cư sĩ nam hoặc những người mới tu một thời gian ngắn thôi mà ngồi thẳng lưng suốt một tiếng đồng hồ, đó là thể hiện cái phạm hạnh, đó là rừng thiền, đó là trường thiền, đó là tu viện, và nó đúng như ý nghĩa của chữ Tu Viện. Nhiều khi vào tu viện mà không thấy tu tập nhiều, cho nên cái mà mình ấn tượng sâu sắc nhất là sự hành thiền.

Về phương pháp tu hành cũng vậy. Các ngài cũng y cứ vào Tứ Niệm Xứ từ thời Đức Phật dạy, có nguồn có gốc, có kinh luận y cứ, có căn cứ, có kinh có luật, có pháp. Trong phong thái của vị thiền sư chia sẻ pháp hành với mình thể hiện được chất thiền, thể hiện được sự hành thiền, thể hiện được phong thái của thiền, thể hiện được hành động của thiền và ngôn ngữ của thiền. Ngài ngồi thẳng lưng khi nói chuyện, mắt nhìn xuống hoặc là khép lại, ngài trầm tĩnh và mình thấy sự cung kính rất đặc biệt giữa người nhỏ với người lớn. Những người có tuổi hạ thấp khi nói chuyện với những vị có tuổi hạ cao phải chắp tay, khi đến thì phải đảnh lễ và lạy ba lạy, đó là một nét rất đẹp.

Chính những nét đẹp nhỏ này làm cho Phật giáo được phát triển mạnh mẽ, trường tồn, còn mình không khéo cứ làm cho đơn giản rồi xem thường thì sự cao thấp, trên dưới không phân biệt được, cho nên chỗ này là chỗ mình đáng học, ngoài sự hành thiền thì phải có sự cung kính hạ lạp những bậc trưởng thượng, sư trưởng, tôn trưởng và chính cái cung kính đó làm cho trang nghiêm, chính cái trang nghiêm làm cho thanh thịnh, chính vì có sự thanh tịnh nên khi các ngài chia sẻ pháp sẽ có sự chú ý, sự lắng tâm, sự chuyên chú thì lúc đó mình tiếp nhận pháp sẽ được trọn vẹn, sâu sắc. Còn khi vào nói chuyện như bình thường, có những vị đến ngồi nói chuyện giống như uống trà sẽ rất khác, cho nên chính sự giản lược nghi lễ từ từ, không có y theo giới luật, học pháp thì dần dần làm cho mai một diệu pháp.

Điều mà mình rất là hổ thẹn nhưng lại là điều mà ở đây người ta rất tự hào là ở đây có đến mười mấy bậc Tam Tạng pháp sư, Minh Thành được nghe nói lại ở đây có đến hàng trăm vị Nhất Tạng, Nhị Tạng, đây là điều tự hào nhất của Phật giáo Myanmar trên thế giới, ngoài đất nước này ra không có bậc Tam Tạng pháp sư nào khác trên thế giới, chỉ có ở Myanmar mới có. Đây là điều đáng tự hào, nên tự hào, duy nhất chỉ có ở đây mới có những bậc Tam Tạng pháp sư, có những bậc thuộc lòng tất cả giáo pháp của Đức Phật, tất cả những giới luật của Đức Phật, tất cả những lời chú giải, những vi diệu pháp.

Họ thuộc làu làu toàn bộ, những bậc này là bậc trì giữ pháp tạng mà trong kinh Đức Phật nói là những bậc trì pháp, những bậc tổng trì. Chính điều này để cho mình thấy rằng, Đức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn trên 2600 năm mà những bậc Tam Tạng pháp sư thuộc lòng như vậy thì mình suy ra hàng ngàn năm trước đó những vị thuộc lòng như vậy nên mới giữ gìn đến ngày nay.

Cho nên đây là phương pháp giữ gìn tuyệt vời nhất vì ngày xưa không có công nghệ thông tin, tin học chưa phát triển như bây giờ. Nếu không có những bậc này thì làm gì có Tam Tạng đến bây giờ? Đây là những bậc trì pháp, những bậc thủ pháp, những bậc nắm giữ cái pháp. Đây là những pháp tạng, những vị này là kho tàng chứa đựng giáo pháp, những bậc đó là những bậc đáng đảnh lễ, đáng tôn trọng, đáng được cung kính, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Bây giờ chưa cần nói đến những phương diện nào khác, chỉ cần thuộc một tạng thôi là mình chắp tay lạy đến hói trán cũng được.

Bây giờ vào chùa tu một ngày có hai thời công phu thôi, học một bài kinh Tứ Niệm Xứ mà học tới học lui còn chưa thuộc. Vì vậy để cho mình thấy những bậc trì pháp quá là tuyệt vời, khi nghe đến ngôi chùa đó của một vị Tam Tạng pháp sư thì mình rất là cung kính và họ nhận được rất nhiều sự ưu đãi của chính phủ cũng như sự cung kính của người dân. Còn nhìn lại mình rất hổ thẹn, hổ thẹn cho cá nhân mình cũng như cho cái chung, tìm một người ở Phật giáo trong nước thuộc một bộ kinh thôi đã khó chứ nói gì đến thuộc một tạng.

Chính vì thế mà Minh Thành có tâm huyết để các chú có khả năng học hỏi kinh thì cứ học thuộc kinh, mình là người Việt nói tiếng Việt thì cứ học kinh bằng tiếng Việt để mình giữ gìn pháp tạng bằng tiếng Việt. Mình ngước lên rồi mình cúi xuống, vì sao? Vì những vị pháp sư đó cũng là con người mà người ta có đủ nhân duyên, có sự nỗ lực, có sự cố gắng, có sự tinh tấn không ngừng nghỉ, có sự ghi nhớ như vậy.

Còn mình cũng là con người giống họ, cũng có đầy đủ sáu căn mà tự thân mình không có sự phấn đấu, nỗ lực, không có cố gắng. Mình phải cố gắng nhiều hơn nữa trong pháp học và pháp hành, cho nên buổi chia sẻ mỗi ngày cũng là một sự cố gắng, một sự tinh tấn. Mặc dù biết là khó làm nhưng cũng phải làm, chỉ có làm thì mình mới cúng dường lên chư Phật được, những bậc đó là những bậc trì pháp mà giờ mình không thể trì pháp được thì mình giải thích cái pháp, làm sao làm cho nó lưu thông, làm cho nó phổ cập, làm cho nó luân chuyển, làm cho cái pháp được giảng giải phổ biến rộng rãi ra.

Đây cũng là một thiện sự, thiện hạnh, thiện pháp mà cũng là cho mình, cho người, mỗi khi mình đọc lên, mỗi khi mình chiêm nghiệm chia sẻ thì tâm mình sẽ tương ưng với thiện pháp nhiều hơn, tương ứng với chánh pháp, tương ưng với trí, tương ưng với tuệ, tương ưng với quán, và những người nghe cũng sẽ có được những điều đó, đây là tự lợi lợi tha, trong đó bao gồm tinh tấn, tinh cần, tăng trưởng chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh niệm, chánh định, nó sẽ nuôi lớn thánh đạo, thánh quả cho mình. Vì vậy trong bảy pháp để làm cho mình được tăng trưởng, pháp triển rất hay. Bảy pháp này làm cho mình tiến lên không có lùi lại.

II. Bảy pháp bất thối

 Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỳ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, khi nào chúng Tỳ-kheo có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỳ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỳ-kheo, khi nào các vị Tỳ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. (Trung Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Bảy pháp bất thối, bảy pháp tiến lên không lùi lại. Một là tín tâm, tức là mình phải có lòng tin đối với Phật, đối với pháp, đối với Tăng, đối với thánh giới. Khi có lòng tin mạnh mẽ thì mình sẽ thấy tàm quý, hổ thẹn. Mỗi khi đọc pháp, nghe pháp mình sẽ thấy Đức Phật dạy vầy mà sao mình lại sống khác, tại sao Đức Phật chỉ một đằng mình lại làm một nẻo, tại sao Đức Phật khai thị như vầy mà mình lại suy nghĩ khác đi. Mình xem lại để đối chiếu mình với pháp, nếu thấy mình chưa tương ưng với pháp thì phải sanh tàm quý, hổ thẹn.

Mình đối chiếu với đời sống của Đức Phật, mình đối chiếu với đời sống của chư Tăng, mình thấy cái ngài ngồi thiền hoặc đi thiền hành trong vòng 4 tiếng, từ 1h trưa đến 5h chiều, mình kiểm tra lại một ngày mình ngồi thiền được mấy tiếng, như vậy mình sẽ thấy hổ thẹn, tàm quý trong khi các ngài học pháp cả tạng kinh như vậy, chẳng hạn như sư dẫn đoàn mình đi để giới thiệu tuổi còn trẻ mà đã rất am tường giáo pháp, giỏi tiếng Anh, giỏi tiếng Pali, giỏi tiếng Myanmar, thấy như vậy thì nhìn bản thân mình thấy hổ thẹn nên phải nỗ lực, tinh tấn lên, đó là mình đang thực tập bảy pháp bất thối. Mình thấy pháp rất hay, mình khen rồi mình xưng tán là xong, như vậy không được, ngoài việc đó ra mình còn cần phải nỗ lực để được như vậy.

Cho nên tàm quý rồi còn phải có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ. Phải nghe nhiều pháp tạng, kinh tạng, nghe luật tạng nhiều, nghe nhiều trăm ngàn lần không biết chán. Vị sư dẫn đoàn mình đi cũng giới thiệu cho mình biết các vị Tam Tạng nghe pháp không phải hàng ngàn lần mà phải nghe hàng triệu lần mới thuộc, rồi còn phải đọc tới đọc lui mới có thể thuộc được. Điều quan trọng là phải tinh tấn, hùng lực tiến lên không được dừng lại.

Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tổn giảm trong các thiện pháp, đứng một chỗ, không tăng trưởng?

 Ở đây, này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo đang cố gắng để đạt được lòng tin, giới đức, nghe nhiều, bố thí, biện tài với trí tuệ. Các pháp ấy đối với vị này đứng một chỗ, không tăng trưởng. Này các Tỳ-kheo, Ta gọi như vậy là tổn giảm trong các thiện pháp, đứng một chỗ, không tăng trưởng. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là tổn giảm trong các thiện pháp, đứng một chỗ, không tăng trưởng. 

(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III) (53) Ðứng Một Chỗ)

Những điều này mình rất dễ bị rơi vào, mình tu có khi 5 năm, 7 năm, 20 năm thì mình thấy đến đó đủ rồi thì đây gọi là đứng một chỗ, có khi bị tổn giảm mà mình còn không biết vì mình không có trí huệ để nhận diện các pháp trong thân tâm.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là đứng một chỗ trong các thiện pháp, không tổn giảm, không tăng trưởng?

- Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo cố gắng để đạt được lòng tin, giới đức, nghe nhiều, bố thí và biện tài với trí tuệ. Những pháp ấy đối với vị này, không tổn giảm, không tăng trưởng. Này các Tỳ-kheo, Ta gọi như vậy là đứng một chỗ trong các thiện pháp, không tổn giảm, không tăng trưởng. Như vậy, này các Tỷ kheo là đứng một chỗ trong các thiện pháp, không tổn giảm, không tăng trưởng. 

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo cố gắng để đạt được lòng tin, giới đức, nghe nhiều, bố thí và biện tài với trí tuệ. Những pháp ấy đối với vị này không đứng một chỗ, không tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta gọi như vậy là tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm.

Này các Tỳ-kheo, dầu Tỳ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thời cần phải nguyện rằng: "Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III) (53) Ðứng Một Chỗ)

Không thiện xảo trong hành tướng tâm người khác nghĩa là tâm của người ta đang nghĩ gì mình không biết được, người ta muốn cái gì, người đó tánh tình ra sao mình không khéo biết được nhưng cái đó không quan trọng. Mình cần phải mong muốn được thiện xảo trong hành tướng tâm của ta. Tức là luôn khéo léo nhận diện các pháp trong tự thân, tự tâm của mình, đó là quán chiếu năm uẩn, thấy rõ được sắc uẩn, thế nào là sắc sanh, thế nào là sắc diệt đạo, thế nào là sự nguy hiểm, vị ngọt và sự xuất ly của sắc, thấy rõ được các trí huệ về cảm giác, về tư tưởng, về nhận thức trong nội tâm của mình.

Phải thường nhận biết, nội soi, thường nhìn lại, quán sát, quán chiếu thì cái đó là mình thiện xảo trong việc hành tướng tâm của mình. Lúc nào có dục, lúc nào có sân, lúc nào có si, lúc nào có ngã mạn, tật đố, ta đây, lúc nào tâm rộng lớn, lúc nào tâm cao thượng, lúc đó tâm có định hay không đều phải được thấy rõ. Đây là pháp quán tâm trên tâm trong Tứ Niệm Xứ, trong 16 trạng thái của tâm mình đều phải thấy rõ, có tham sân si hay không có tham sân si, lúc đó có từ tâm hay không có từ tâm. Tâm như thế nào phải thấy được như thế ấy, như vậy là mình tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng lại một chỗ, không có tổn giảm.

Mình phải nhớ bảy pháp bất thối đó: Có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ. Chánh niệm là luôn luôn thực tập Tứ Niệm Xứ, quán thân – thọ – tâm – pháp, luôn luôn nhận diện năm uẩn. Có trí huệ là trí huệ sanh diệt của các pháp, thấy được tính chất sanh diệt của các pháp, thấy được sắc tập khởi, sắc đoạn diệt, thấy được thọ; tưởng; hành; thức tập khởi và đoạn diệt, nói đơn giản là thấy rõ được sanh khởi lên của cảm giác, thấy được sự an trú của cảm giác và thấy được sự chấm dứt của cảm giác, thấy được sự sanh khởi của các tưởng, sự an trú và chấm dứt của các tưởng, hành cũng như vậy, sự sanh khởi của các suy nghĩ, sự vận hành, an trú và sự chấm dứt của các suy nghĩ, thấy rõ được sự sanh diệt của nó thì gọi là có trí huệ. Bảy pháp này đưa mình đến bất thối, không còn lui sụp nữa.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Moggallàna cùng ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc, chung một tịnh xá.

Rồi Tôn giả Sàriputta, từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Moggallàna những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu bèn ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:

-- Này Hiền giả Moggallàna, các căn của Hiền giả thật là tịch tịnh; sắc mặt thật là thanh tịnh, trong sáng. Có phải hôm nay Tôn giả Mahà Moggallàna an trú với sự an trú tịnh lạc?

-- Thưa Hiền giả, hôm nay tôi an trú với sự an trú thô thiển. Tôi có được một cuộc pháp thoại.

-- Với ai, Tôn giả Mahà Moggallàna có được một cuộc đàm luận về Chánh pháp?

-- Thưa Hiền giả, tôi có một cuộc pháp thoại với Thế Tôn.

-- Ở xa, thưa Hiền giả, là Thế Tôn. Hiện nay Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Có phải Tôn giả Mahà Moggallàna đi đến Thế Tôn bằng thần thông hay Thế Tôn đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna bằng thần thông?

-- Thưa Hiền giả, tôi không đi đến Thế Tôn bằng thần thông. Và Thế Tôn cũng không đi đến tôi bằng thần thông. Tôi như thế nào thời Thế Tôn được thiên nhãn thanh tịnh, cả thiên nhĩ nữa như vậy! Thế Tôn như thế nào thời tôi được thiên nhãn thanh tịnh, cả thiên nhĩ nữa như vậy.

(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương X. Tương Ưng Tỷ Kheo, III. Cái Ghè)

Đây là sự xác nhận của ngài Mục-kiền-liên, thiên nhãn và thiên nhĩ của ngài với Thế Tôn không có sự khác nhau mà ngang bằng với nhau. Tức là Thế Tôn có thiên nhãn, thiên nhĩ an tịnh như thế nào thì ngài Mục-kiền-liên có thiên nhãn, thiên nhĩ an tịnh như thế đó.

 -- Như thế nào là cuộc pháp thoại giữa Tôn giả Mahà Moggallàna với Thế Tôn?

-- Ở đây, thưa Hiền giả, tôi bạch với Thế Tôn:

"-- Bạch Thế Tôn ở đây tinh cần, tinh tấn, được gọi là tinh cần, tinh tấn. Như thế nào, bạch Thế Tôn, là tinh cần, tinh tấn?".

Khi được nói vậy, thưa Hiền giả, Thế Tôn nói với tôi:

"-- Ở đây, này Moggallàna, Tỳ-kheo sống tinh cần, tinh tấn: ‘Dầu cho da, dây gân và xương có khô héo, dầu thịt và máu có héo tàn trên thân tôi, cái gì có thể lấy sức lực của người, tinh tấn của người, nỗ lực của người có thể đạt được; nếu chưa đạt được, thời tinh tấn sẽ không bao giờ dừng nghỉ’. Như vậy, này Moggallàna, là sự tinh cần, tinh tấn".

(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương X. Tương Ưng Tỷ Kheo, III. Cái Ghè)

Mình phải thuộc lòng câu này: Dầu cho da, dây gân và xương có khô héo, dầu thịt và máu có héo tàn trên thân tôi, cái gì có thể lấy sức lực của người, tinh tấn của người, nỗ lực của người có thể đạt được; nếu chưa đạt được, thời tinh tấn sẽ không bao giờ dừng nghỉ. Cái gì có thể lấy được sức lực, sự tinh tấn, nỗ lực của mình để đạt đến thì mình hãy lấy nó ra để làm, làm cho bằng được. Trong các thiền viện, trong các trường thiền có vận dụng điều này không?

Thiền viện của ngài Ajahn Chah một ngày chỉ ăn một bữa thì mình có chịu được không? Sự thiền định được giữ liên tục thì mình có cố gắng làm nổi không? Chỉ có thiền định tĩnh lặng mà không hề có Internet, không có điện thoại, Ipad hay laptop gì cả thì mình có dám buông bỏ không? Đó là những điều mình cần chiêm nghiệm lại để bản thân cố gắng, nỗ lực hơn nữa chứ không phải thiền đơn giản như mình nghĩ.

Như vậy, này Hiền giả, là cuộc pháp thoại giữa Thế Tôn và tôi.

Ví như, này Hiền giả, một đống hòn sạn nhỏ đem đặt dài theo Hy-mã-lạp sơn, vua các loài núi. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Mahà Moggallàna. Mong rằng Tôn giả Mahà Moggallàna, bậc đại thần thông, đại uy lực, nếu muốn hãy sống cho đến một kiếp.

Ví như, này Hiền giả, một nắm muối nhỏ được đem đặt dài theo một ghè muối lớn. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Sàriputta.

(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương X. Tương Ưng Tỷ Kheo, III. Cái Ghè)

Hai bậc tướng quân chánh pháp, hai bậc long tượng, thượng thủ khen ngợi nhau qua lại, tuyên dương diệu pháp của Đức Thế Tôn. Ngài Xá-lợi-phất nói rằng một đống hòn sạn nhỏ đem đặt dài theo Hy-mã-lạp sơn, chúng tôi nhỏ bé còn ngài Mục-kiền-liên là lớn lao, mong rằng ngài Mục-kiền liên bậc đại thần thông, đại uy lực, nếu muốn hãy sống cho đến một kiếp. Còn ngài Mục-kiền-liên khen ngài Xá-lợi-phất giống như một nắm muối nhỏ được đem đặt dài theo một ghè muối lớn. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Xá-lợi-phất. Hai bậc A-la-hán khen ngợi, tán thán lẫn nhau.

Tôn giả Sàriputta được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện xưng tán, tán thán, tán dương:

Như vị Xá-lợi-phất,

Về trí tuệ, giới luật,

Và cả về tịch tịnh,

Ông là bậc đệ nhất.

Tỳ-kheo đạt bỉ ngạn,

Cũng là bậc tối thượng.

Như vậy, hai bậc Long Tượng ấy (Nàgà) cùng nhau hoan hỷ, tán thán trong câu chuyện khéo nói, khéo thuyết.

(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương X. Tương Ưng Tỷ Kheo, III. Cái Ghè)

Từ Long Tượng xuất phát từ trong kinh Nikāya, Long Tượng nghĩa là voi chúa. Hai bậc này là hai bậc voi chúa trong chánh pháp. Qua chuyến hành hương học đạo ở đây mình cảm nhận được những điều rất hay, rất đẹp, đáng cho mình noi gương để học hỏi hành trì, ngoài ra còn có thêm lời dạy của Đức Phật làm cho tín tâm mình phát triển, làm cho sự hổ thẹn của mình lớn mạnh, làm cho sự nghe nhiều thêm nữa, làm cho chánh niệm và trí huệ được phát huy, không đứng lại trong thiện pháp mà luôn luôn tăng trưởng và tiến tới những thành tựu cứu cánh của đời sống phạm hạnh, đó là mục đích tối thượng của người xuất gia.

./.