Kinh NIKAYA KANDARAKA Giảng Giải 1 - Hội Chúng Bậc Thánh An Tịnh Tuyệt Vời !
Kinh Kinh KANDARAKA Giảng Giải 1
Hội Chúng Bậc Thánh An Tịnh Tuyệt Vời !
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hội chúng an tịnh PAGEREF _Toc158991043 \h 1
II. Tứ Niệm Xứ PAGEREF _Toc158991044 \h 7
III. Đời sống bất ổn PAGEREF _Toc158991045 \h 10
I. Hội chúng an tịnh
Hôm nay chúng ta nghe bài kinh số 51 trong Trung Bộ Kinh, tập II, tên là kinh Kandaraka.
"Một thời Thế Tôn ở tại Campa, trên bờ hồ Gaggara cùng với đại chúng Tỳ-kheo. Rồi Pessa, con trai người huấn luyện voi và Du sĩ Kandaraka đi đến chỗ Thế Tôn ở Pessa, con trai người huấn luyện voi sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn du sĩ Kandaraka nói lên với Thế Tôn những lời hỏi thăm, sau khi nói lên những lời hỏi thăm thân hữu rồi đứng một bên. Du sĩ Kandaraka đứng một bên, sau khi nhìn quanh chúng Tỳ-kheo đang giữ im lặng, thật im lặng, liền bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Chúng Tỳ-kheo này được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn. Tôn giả Gotama, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, không biết quý vị Thế Tôn ấy đã có một chúng Tỳ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỳ-kheo được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn? Tôn giả Gotama, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong tương lai, không biết quý vị Thế Tôn ấy sẽ có một chúng Tỳ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy sẽ chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỳ-kheo được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn?" (Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)
Có một vị du sĩ theo đạo Bà-la-môn ngày đây mai đó, đi chỗ này chỗ kia để hành đạo, khi ông lại thăm Đức Thế Tôn thì nhìn thấy một chúng hội im lặng nên ông kinh ngạc, bất ngờ, ngỡ ngàng, trào dâng cảm xúc nên ông thốt lên hội chúng thật trang nghiêm, thanh tịnh, sự im lặng của bậc Thánh. Ông hỏi không biết các Đức Phật thuở xưa có một hội chúng Tỳ-kheo tuyệt như vậy, cũng được huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ có giống Thế Tôn bây giờ không. Ông liên tưởng đến chư Phật quá khứ và vị lai khi nhìn thấy chúng hội của Như Lai trong hiện tại.
Chúng ta có thể dùng thọ; tưởng; hành của mình để tưởng tượng ra hội chúng của Đức Phật trang nghiêm đến thế nào. Lúc đó không phải ngài đang thuyết pháp, các vị này đến chào hỏi, chúng ta có thể xuyên không về 2600 năm trước để được tham dự vào Thánh pháp hội, trong thiền trí hội, trong Linh Sơn hội, Kỳ Viên Tinh Xá hội, Trúc Lâm hội, Linh Thứu hội thì chúng ta biết sự an tịnh và lắng dịu của chư vị Thánh chúng và các bậc Tỳ-kheo ngày xưa là không thể tưởng tượng được. Con tâm đắc câu "Thế Tôn là bậc an tịnh, thuyết pháp đưa chúng sanh đạt đến chỗ an tịnh".
Ngày hôm qua các chú đi mà phát ra tiếng lớn là con nhắc, thân an tịnh trước, tâm an tịnh sau, các dục ái, tham sân, bản ngã sẽ lắng dịu. Thật sự con nghe đến đây là con đang quay trở về để tham dự pháp hội của các bậc Thánh, các bậc Thánh chúng và các bậc hiền trí ngày xưa không đợi nói như mình đâu, các ngài rất nhẹ nhàng và an tịnh, làm sao chúng ta phải đem những hình ảnh này khắc sâu vào tim, ấn vào tâm, lấy đó làm tiêu chí, làm nguyên tắc, làm cương lĩnh, làm gia phong, nề nếp trong đạo tràng Nikāya chúng ta từ trên xuống dưới.
Thật sự con nhìn đại chúng con rất hoan hỉ khi mỗi người đều biết quỳ phơi bày lỗi lầm, vạch trần lỗi lầm, tự mình đi đến mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình tàm, tự mình quý, tự mình hổ thẹn, tự mình lo lắng, sợ hãi. Con mong muốn những đức hạnh này, những sự hiền thiện này, những tâm khiêm hạ này càng ngày càng tăng trưởng, phát triển vững chắc thành căn cứ địa, thành thành quách, những sự hiền thiện, khiêm cung, cung kính, kính lễ, sự an tịnh, lắng dịu, hòa hợp, trang nghiêm, thanh tịnh, biết ơn này càng ngày càng viên mãn.
Nhiều khi con không nói nhưng con thấy trong chúng có những vị buông lung phóng dật là con không an tâm, nước mắt chảy trong tim. Con thấy một người không biết xấu hổ, không biết nhìn lại mình, không biết thực hành pháp là giống như có ai đang bóp lấy trái tim con nhưng lại không nói được. Con đã đem hết tâm tư, tình cảm mỗi ngày nhắc nhở và tạo điều kiện, khích lệ, khuyến khích, chỉ trích khéo léo trong khi giảng pháp, nhiều khi không dám nói thẳng mà thấy không tiến bộ, không để tâm là con xót xa lắm.
Bậc đạo sư giờ này như đèn treo trước gió, có thể ra đi bất cứ lúc nào, con cũng chưa thành tựu, còn phải lo việc của chính mình, nếu chúng ta không cố gắng, không nỗ lực thì chúng ta sẽ trở thành người tối hậu làm cho chánh pháp đoạn diệt cho nên mỗi người phải luôn luôn nhìn lại mình, đừng có quên việc quan trọng nhất của mình, mỗi ngày phải hỏi 8 lần, "mình bỏ ba bỏ mẹ, bỏ tình nghĩa thiêng liêng nhất của cuộc đời để vào đây làm gì?". Phải tự vấn bản thân, cho đến bây giờ con thưa các chư tôn đức, sau 30 năm xuất gia mỗi sáng dậy con phải lặp tức hỏi câu hỏi đó, đây là câu hỏi từ ngày xuất gia cho đến bây giờ không có ngày nào vừa thức giấc mà con không tác ý câu đó dù chưa đi vào dòng pháp Nikāya. "Từ bỏ cha me khoác lên mình chiếc áo này để làm gì?".
Đối với cha mẹ chẳng dâng được miếng ngon ngọt, bà con vốn đã bỏ lìa, không thể giúp đỡ an ninh của quốc gia, sự an ổn của nước nhà, cũng không thể nối nghiệp hương quả của dòng họ, vậy mình vào đây để làm gì? Như trong Quy Sơn Cảnh Sách có câu "Từ thân quyết chí phi tri, ý dục đẳng siêu hà sở, phụ mẫu bất cung cam chỉ, lục thân cố dĩ khí ly, bất năng an quốc trị bang, gia nghiệp đốn quyên kế tự, miến ly hương đảng, thế phát bẩm sư", xa lìa xóm làng cạo tóc theo thầy, đây là những bài học khi vừa vào chùa đã được học thuộc lòng.
"Nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng bất tránh chi đức, huýnh thoát trần thế, ký kỳ xuất ly", bên trong phải chuyên cần để khắc phục vọng niệm, bên ngoài là mở rộng cái đức của lục hòa, của hòa kính, hòa ái, hòa thuận, hiền hòa, xa rời trần thế, cầu mong giải thoát. Tuy nhiên mình tu một thời gian rồi quên hết nên sống nhởn nhơ, sống dửng dưng, sống vô cảm đối với sự thành tựu cứu cánh phạm hạnh. Mình nghĩ rằng sống an an ổn ổn, bình bình, đều đều như vầy là được rồi, cần gì phải tu thêm nhiều cho cực khổ, ý nghĩ này là giết người, ý nghĩ đó là thâm độc, ý nghĩ đó làm cho mình dừng lại rồi lùi lại và cuối cùng là rớt xuống vực sâu.
Một ngày mình phải nhắc bản thân 8 lần, không thì gọi về cho cha mẹ đang nằm bệnh trên gường để xem cảm thọ của cha mẹ như thế nào để làm động lực cho mình tu. Mình quên hết mọi thứ, sống trong lãng quên, sống trong hững hờ, sống trong vô cảm, không có lòng xót thương chính mình, xót thương mẹ cha, ông bà, cô bác, xót thương những người cúng dường, cung kính mình. Hằng ngày phải niệm tứ ân, phải hoài niệm, tưởng niệm, suy niệm cha mẹ, tam bảo, thầy tổ có ân đức với mình như thế nào, Đàn-na tín thí công phu, công quả cho mình bữa cơm này, cho mình chiếc áo này, cho mình căn nhà này, cho mình thuốc men.
Hôm qua có một đại sự xảy ra, cô Phật tử này 82 tuổi từ nửa vòng trái đất tha thiết muốn về gặp con một lần thôi rồi về chết cũng được. Con nói cô lớn tuổi rồi nên đi ít thôi thì cô không chịu, khi đến Thánh Pháp Viện là cô ngất, nước miếng chảy ra, nước mũi chảy ra, mặt tái mét, lạnh ngắt, mắt trợn lên, do nhân duyên long thiên hộ pháp gia hộ chứ nếu không bây giờ chúng ta không còn ở đây tu được nữa đâu.
Cô Huệ Hải ở Đan Mạch đi theo, bình thường con không cho các cô đi chung xe, con nói phải xuống xe trước nhưng hôm nay con để tự nhiên, khi đi qua Thánh Pháp Viện xảy ra chuyện như vậy, con vừa nhìn thấy là con kêu lên liền thì cô Huệ Hải bước qua làm động tác chuyên môn của người điều dưỡng, cô nói chỉ cần chậm 2 phút thôi là bà cụ qua đời, nếu chuyện đó xảy ra thì chúng ta mệt rồi, giống như chết đi sống lại trong vòng 2 phút, mắt trợn trắng, tay chân lạnh ngắt, nước mũi chảy ra, nước miếng chảy ra, không còn cảm giác. Tuy nhiên vừa khỏe lại thì muốn đi nữa, con thật là thương, vừa nói cười như vậy mà tích tắc trong 2 phút không có cô điều dưỡng ở đó là chết thôi, không ai biết làm gì hết. Cô phải lấy kéo cắt quần bó, đó là chư thiên, long thiên hộ pháp tại Linh Quy, cô nói lạ lắm, cô đang rửa chén nhưng phải rửa nhanh lẹ xin đi theo, lúc đó nếu không có cô điều dưỡng ở đó mà kêu lên cũng không kịp.
Chúng ta mới thấy được sự vô thường nhưng không ai biết chuyện gì đã xảy ra, chúng ta vẫn bình thường, vẫn an ổn, chừng nào nó đến với mình thì mình mới biết. Sự vô thường rất đột ngột, bất thình lình, bất ngờ, bất trắc, bất an, bất ổn, bất thường, mình tu là để những giây phút như vậy đến. Trong ngày hôm qua con thấy được hai việc, cái vô thường, cái nghiệp quả, tử thần và cái phước báo, công đức, tuốt ở trên đồi thông người ta đào 4-5 cái giếng không có nước, ở chân núi đào mấy cái giếng ở dưới sâu 100-120m không có nước vậy mà trên mình đào một chỗ là có nước, biết bao nhiêu người trải tâm từ, chúng ta thấy chư thiên, địa thần, sơn thần, thọ thần, vân thần, hư không thần, các vị hữu hình, vô hình tại Linh Quy Pháp Ấn gia hộ cho chư Tăng Ni rất nhiều. Một ngày chúng ta có được 20.000 lít, các chú khuyến khích đào thêm nữa để sau này dù có lượng người đông trong khóa tu vẫn có nước đầy đủ.
Mình thấy được hai việc, nhân thiện quả lành, mình càng cố gắng tinh tấn, tịnh tín, có lòng tin vững chắc để tu học. Xung quanh mình là 6 cái giếng từ đỉnh núi xuống chân núi mà không giếng nào có nước, vì thế sự tu học của chúng ta rất quan trọng, để có một hội chúng hiền thiện như vầy thật quý báu. Con mong muốn tất cả các thành viên trở về đây phải biết tôn trọng, biết cung kính, biết giữ gìn, nếu thấy mình chưa tu được thì tự ý thức xuống núi, đừng làm động niệm, nhiễu động đại chúng, tội không thể tưởng tượng nổi. Về đây thì phải tu hiền, tu trí tuệ, nếu thấy tâm mình còn cứng cỏi không chấp nhận được thì thôi, đừng làm động đại chúng.
Khi vị du sĩ này cảm thán lên các Đức Thế Tôn quá khứ và vị lai có được một hội chúng Tỳ-kheo hiếm có, hy hữu, tuyệt vời như vậy hay không thì Đức Phật trả lời:
"-- Thật sự là vậy, này Kandaraka! Thật sự là vậy, này Kandaraka! Này Kandaraka, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, những vị Thế Tôn ấy đã có một chúng Tỳ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỳ-kheo được Ta chơn chánh hướng dẫn. Này Kandaraka, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời tương lai, những vị Thế Tôn ấy sẽ có một chúng Tỳ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỳ-kheo được Ta chơn chánh hướng dẫn.
Này Kandaraka, trong chúng Tỳ-kheo này, có những vị Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí. Này Kandaraka, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo là bậc hữu học, giới luật kiên trì, giới hạnh kiên trì, sáng suốt, hạnh nghiệp sáng suốt, sống với tâm khéo an trú Bốn Niệm xứ" (Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)
Tất cả những tâm mê lầm đã chấp dứt, tu hành đã thành tựu viên mãn, việc cần làm, việc nên làm các thầy ấy đã hoàn thành xong việc rồi, các thầy đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt được lý tưởng cứu cánh phạm hạnh lý tưởng của một người xuất gia, những sự trói buộc trong tam hữu, dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu trong tam giới này, tất cả những tâm trói cột trong thế giới này, trong thế giới chư thiên và trong thế giới cao hơn nữa, vô sắc của chư thiên thì những cái tâm trói cột này đã bị cắt đứt hết rồi, được giải thoát ra khỏi ngũ uẩn nhờ chánh trí. Trong chúng có những vị như vậy.
Đầu tiên là trong chúng có những bậc Thánh A-la-hán, kế đó ngài nói có những bậc hữu học, những bậc hữu học này thấp nhất là hướng Dự Lưu và cao nhất là Bất Lai, Thánh quả thứ ba hoặc là hướng Bất Lai. Những vị này giữ chặt cái giới nên gọi là kiên trì, giới luật là những giới mình đang học, giới hạnh là những đức hạnh thành tựu nhờ mình giữ giới. Do mình giữ giới nên mình thành tựu những đức hạnh trong cái giới, thành tựu thiện hạnh, đạo hạnh, phẩm hạnh trong giới nên gọi là giới hạnh. Ví dụ mình không giữ thu nhiếp lục căn thanh tịnh giới, mình hoàn toàn không giữ nên mình không có được giới hạnh của thu nhiếp lục căn, mình không có được thiện hạnh, đạo hạnh, phẩm hạnh trong sự thu nhiếp sáu căn.
Khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì làm các ác bất thiện pháp khởi lên thì mình phải dập tắt những nguyên nhân đó, mình phải diệt trừ những nguyên nhân đó tuy nhiên mình lại không diệt, để nhìn thoải mái, nghe thoải mái, mình không giữ giới luật đó nên không có được giới hạnh đó, không có giới đức đó cho nên người ta nhìn mình không có sự cung kính nhưng không phải mình bắt người ta kính là người ta sẽ kính, xã hội bây giờ trí thức rất nhiều, người ta rất thông minh, người ta có học vấn, có sự nhìn nhận sắc bén, không phải dễ kêu người ta kính đâu. Ý hành của mình người ta không đọc được nhưng khẩu hành mình người ta nghe được, thân hành mình người ta thấy được cho nên lời nói không hiền thiện, ví dụ huynh đệ tu với nhau mà chỉ vì cánh cửa lại không hài lòng, chỉ vì cây quạt cũng sân, dù không thô nhưng vẫn là sân, những chuyện nhỏ nhặt ruồi muỗi, kiến mà không có tu. Đã vậy vẫn không thấy sai, chỉ lỗi cho vẫn không thấy sai, đụng tới là phản ứng, là lý luận, biện luận thì làm sao tu?
"Giới luật kiên trì, giới hạnh kiên trì, sáng suốt, hạnh nghiệp sáng suốt, sống với tâm khéo an trú Bốn Niệm xứ", những cái này trên Thánh quả thứ ba, hướng đến Thánh quả thứ tư trở xuống hướng Dự Lưu gọi là bậc hữu học, đây là những bậc hiền Thánh trong chúng này, Đức Thế Tôn nói như vậy.
II. Tứ Niệm Xứ
"Thế nào là bốn? Ở đây này Kandaraka, Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời." (Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)
Người tu luôn luôn nhìn lại thân thể, hành vi, cử chỉ, động tác của mình, quán sát cái đi, đứng, ngồi, nằm, tu từ trong những cái nhỏ nhất, không quên để ý cử chỉ, hành động thì gọi là niệm thân. Nhất cử nhất động của mình đều được quán sát, quán niệm, quán chiếu, quán nhìn thì gọi là niệm thân, đó là chất liệu của người tu, tu mà không biết niệm thân giống như tài xế không biết lái xe, lên lái đại thì đưa mình và người đi vào đường chết. Tu mà không niệm thân chính mình, người xung quanh cũng ảnh hưởng, thậm chí sau này nhận đệ tử thì dạy cái gì? Tu suốt cuộc đời không có niệm thân, cho nên phải dò xét, quán sát, theo dõi, canh chừng, đề phòng những cử chỉ, hành động trong từng bước đi.
Sư cô tiến sĩ bên Myanmar được khắc tên vàng duy nhất, người tu nữ Việt Nam được khắc tên vàng bên Myanmar. Cô về chia sẻ với con một buổi trời, con cũng rất quý và mong muốn được về với chúng ta, con rất hoan nghênh, chào đón, cô nói bên đó một ngày tu học xem kẽ một tiếng ngồi rồi đến một tiếng đi, tu như vậy trong 14 tiếng, đó là thời khóa mỗi ngày. Tu không có thời gian để giặt đồ thì làm gì có thời gian nói chuyện với người này người kia, cô kể chỉ nói chuyện được 5 phút lúc đi tắm, lúc đó được gặp mấy người với nhau cho nên sẵn đây con gợi ý với các bậc tôn đức phải tăng thêm một giờ thiền định để không có thời gian rảnh để tâm mình phan duyên. Mười bốn tiếng tu học, ngủ bốn tiếng, đặc biệt là người ta rất kĩ về giới luật và oai nghi.
Một hòa thượng đức độ lớn đang đi thì có một tu nữ lạy ngài 3 lạy, do cô thực hành pháp nên khi cô thực hành lạy ba lạy thì rất lâu, trong nửa tiếng đồng hồ, ngài đang đi vẫn đứng lại chờ nửa tiếng để lạy xong. Cô rất hoan hỉ về trên mình chia sẻ những gì cô học bên đó, cô ở bên đó hai mươi mấy năm, bây giờ vẫn là tu nữ, tu một lượt với Ni sư Liễu Pháp, là huynh đệ tỉ muội. Chúng ta có phần nhận diện ngũ uẩn quá vi diệu, tối thượng của bậc tôn giả truyền thừa rồi, đó là phần tri kiến, bây giờ chúng ta đầu tư nhiều vào phần giới hạnh, giới đức trang nghiêm. Đức Phật nói một vị Tỳ-kheo muốn thành tựu thì thứ nhất giới hạnh phải trong sạch, thứ hai là tri kiến chánh trực, Đức Phật không đề cao nhiều về thiền định lắm.
Con thấy cái quen của người tu quốc độ chúng ta ở đây cũng như xã hội bây giờ thì trừ khi độc cư trong rừng hoặc nhập thất vì thiền định không phải dễ, vì vậy nếu thiền định được là tối thượng rồi nhưng ở đây nói kiểu vớt vát là chúng ta đang phát triển tu tập chánh tri kiến, phần hỗ trợ quan trọng là giới thanh tịnh, tri kiến chánh trực, hai cái này đủ sức đưa chúng ta Nhập Lưu, không nhất thiết phải có thiền định, còn nếu được là quá tuyệt vời.
Con dự định mời các vị tôn đức chia sẻ cho chúng ta về phần giới hạnh, nếu một người có chánh niệm, có niệm thân, niệm tâm, niệm thọ, niệm pháp một cách nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời sẽ không có chuyện lặt vặt xảy ra, còn người nào đụng tới đâu là phiền não tới đó, sân si tới đó là người đó không thực hành Tứ Niệm Xứ nên mới có chuyện xảy ra, người có thực hành thì không có những chuyện nhỏ nhặt, vặt vãnh tới đó, còn không thực hành là không có tu, đó là hệ quả tất yếu của một nội tâm không có hộ trì, không tu tâm hiền mới như vậy, có tu tâm hiền là không có như vậy, người ta thương không hết nữa, mình bỏ cha bỏ mẹ, cạo đầu vô chùa, mình đang bị hoạn nạn, tai nạn, khổ nạn, ách nạn, nguy nan, gặp những người ở chung cũng khổ nạn thì thương không hết, có đâu mà châm chích, ghim gút, đó là hệ quả tất yếu của tu và không tu, tất là những gì con đưa ra là không thực hành, không nhận diện ngũ uẩn, không thực tập tâm hiền, càng không hành trì tâm từ, không vận dụng lục hòa kính nên mới có ra những cái nhỏ nhặt, nếu có thực hành những cái này thì không bao giờ có những chuyện đó xảy ra vì thế chúng ta phải để ý để xây dựng một hội chúng đẹp, lành, thiện, hiền hòa, tinh ba chứ đừng làm hội chúng cặn bã, hội chúng hạ liệt, phàm phu đầy tham, sân, si.
Tu là phải lan tỏa ra cái hiền thiện, tâm từ, tâm dễ thương, ngọt ngào thì mới đúng pháp của Nikāya. Nếu mình có bốc mùi thì bốc mùi của chiên đàn, của trầm hương, bốc mùi của hoa giới hạnh chứ đừng bốc mùi sân si, bản ngã, hôi thối lắm, hèn hạ lắm, tồi bại lắm, hằng ngày mình phải tác ý như vậy đó.
"Ðược nghe nói vậy, Pessa, con trai người huấn luyện voi bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bốn Niệm xứ này đã được Thế Tôn khéo trình bày, để chúng sanh được thanh tịnh, để sầu bi được vượt qua, để khổ ưu được diệt trừ, để chánh lý được thành đạt, để Niết-bàn được chứng ngộ. Bạch Thế Tôn, chúng con là hàng tại gia, mặc đồ trắng, thỉnh thoảng chúng con sống khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ này. Ở đây, Bạch Thế Tôn, chúng con sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời" (Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)
Sống nhìn lại thân mình, nhìn lại cảm giác, nhìn lại nội tâm, nhìn lại những gì đang vận hành trong tâm, có năm triền cái hay không, cứ nhìn lại để gội rửa thì làm sao nó không giảm thiểu được, chuyện đó là vô lý không thể xảy ra, nếu mình tu như vậy mà không có kết quả là vô lý, không tu mới có kết quả như vậy, còn có tu thì kết quả phải khác. Mình đừng nghĩ là mình nói dối được người trí, họ nhìn thấy những cái mình không thấy, thậm chí họ nhìn được cả tâm mình, ngũ uẩn của mình ra sao người ta nhìn phớt qua là thấy biết hết, mình đừng có ngụy biện gì cả, đừng bao biện, đừng xảo biện, người ta thấy hết, chỉ có mình không thấy thôi vì mình không nhìn lại mình.
"Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiểu được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh trong khi loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bã như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người. Bạch Thế Tôn, cởi mở thay như loài thú vật. Bạch Thế Tôn, con có thể nhiếp phục con voi, một cách khiến con voi ấy mỗi khi đi hay đến Campa, liền trình bày mọi sự gian dối, giả dối, xảo trá, xảo quyệt. Nhưng bạch Thế Tôn, những người đầy tớ của chúng con, những người phục dịch, những người làm công, thân hành họ làm một cách, khẩu hành họ làm một cách khác, ý hành họ làm một cách khác nữa. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn biết được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh, trong khi loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bã như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người! Bạch Thế Tôn, cởi mở thay, như loài thú vật!
-- Thật như vậy, này Pessa! Thật như vậy, này Pessa! Này Pessa, rối ren thay, như loài người! Cởi mở thay, như loài thú vật!" (Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)
Con xin hỏi các chư tôn đức và các vị hiền trí là tại sao mình lại thương con mèo? Tại sao mình thương con thỏ? Tại sao mình thương con chó? Tại sao mình lại thích con bướm, khi nó đậu trên tay mình là mình thích thú?
III. Đời sống bất ổn
Cô Hiền Thuận: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Con xin trả lời câu hỏi của sư phụ, các con vật cởi mở, theo ý hành con suy nghĩ là cảm thọ của ái gần gũi, dễ chịu, ái khởi lên nhiều hơn cái trí làm gần gũi, làm các con vật dễ thương, mình chăm sóc, lo lắng cho nó không phản ứng, con vật hiểu được sự gần gũi đó cũng giống như sự đồng cảm, cái đó là cái dính mắc.
Sư Phụ: Ở đây đơn giản thôi, không có gì sâu xa. Ông huấn luyện voi khen ngợi Đức Phật hiểu được hạnh phúc và bất hạnh của chúng sanh, loài người sống trong sự rối ren, trong sự cặn bã, xảo quyệt, ba từ này là ba khía cạnh về tâm của hàng phàm phu. Những người làm công thân hành họ làm một cách, khẩu hành họ làm một cách khác, ý hành họ làm một cách khác nữa, nghĩa là làm một đường nhưng nói một nẻo và trong suy nghĩ của họ lại suy tính khác. Những điều này là đang nói đến mình, khi nghe như vậy thì đừng vội tin liền mà phải suy xét, quán sát lại, miệng nói như vậy nhưng tâm chưa chắc, miệng nói thương lắm, tha thứ hết nhưng trong tâm thì chưa chắc.
Con thỏ ăn cỏ, ăn cà rốt, nó nhảy nhót, ở đây chỉ nói những con vật bình thường chứ không nói đến hổ, báo, cọp beo, sư tử. Những con mèo con ăn rất ít, nó thường hay quấn quít bên người, cọ vào chân của mình, đó là cởi mở thay loài thú vật, nó không có sự xảo quyệt, nó không có sự ác độc, mưu hại như loài người. Con mới nghe tin từ sư cô tu ở chùa ở quê là có cô bán hàng bị giết chết, còn một cô bị tạt sơn xanh đầy đầu, đánh giết, hại nhau, buôn người, bán người, hãm hại người…
Thật là rối ren thay loài người! Sống trong sự cặn bã của lòng tham, cặn bã của lòng dục, cặn bã của lòng sân hận, cặn bã của tâm hơn thua, si mê, bản ngã, dối trá, xảo ngụy, gian trá. Thật là ngao ngán! Chạy lên rừng lên núi vẫn chưa yên, lên tới thùng phước sương để câu tiền, vào chùa lấy những tượng Phật đem bán lấy tiền, có nhóm vài người trẻ, thanh niên chuyên đi ăn cắp thùng tiền của chùa từ Bắc vào Nam. Mình trồng tre trong sâu trong núi cũng vào lấy, những đồ nghề làm việc để đó cũng ăn cắp, để máy bơm nước là ăn cắp máy bơm nước, để xuồng là ăn cắp xuồng, để cây cuốc, cây rựa cũng bị ăn cắp, con mèo đâu biết ăn cắp những thứ này, giỏi lắm nó ăn trộm những miếng bánh nhỏ.
Bây giờ vợ chồng hay anh chị em ruột, mẹ con, cha con đầu độc nhau, hãm hại nhau, lừa gạt nhau, đâm chém, giết hại nhau. Thật là khủng khiếp! Đó là lý do tại sao kinh Nikāya tán thán sống độc cư viễn ly, chỉ có liên tục quay lại nhìn bản thân mới gạn lọc được nội tâm mình thôi, mới đi ra khỏi thế giới này được thôi. Suốt ngày chỉ nhìn tâm mình thì làm gì có chuyện xảy ra, chỉ có một chuyện là trong tâm mình có chuyện và bây giờ mình làm cho hết chuyện. Trong bài kinh này tái hiện lại đạo tràng Thánh chúng, một chúng hội tối thượng, tinh ba, sự im lặng của bậc Thánh, các bậc Chánh Đẳng Giác giáo dục, huấn luyện, dạy dỗ như vậy.
"Này Kandaraka, trong chúng Tỳ-kheo này, có những vị Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí", đọc những câu này chúng ta phấn khởi, nhiệt huyết lên, khao khát, ước nguyện, ước vọng, dục như ý túc mạnh mẽ. Chúng ta ở trên núi là quá sung sướng, hạnh phúc, chỉ lo tu học thôi mà tu còn không được nữa thì làm cái gì?
Chúng ta có phước đức nhất trong tất cả những người phước đức, chúng ta là phước báo nhất trong tất cả những người phước báo, phước lành nhất trong những người phước lành, hy hữu hiếm có nhất trong những người hy hữu hiếm có nên chúng ta mà không tu được nữa thì không biết còn ai trên đời này tu được, phải tập trung tất cả thời gian vào học pháp, đàm luận pháp hoặc giữ sự im lặng của bậc Thánh, chúng ta tìm gốc cây, bụi trúc hoặc tảng đá nào đó, tịnh thất trống ngồi đó tác ý thiền quán, mở pháp lên nghe một mình hoặc thiền quán, thiền định hoặc là pháp đàm trong thời gian trống. Trong thời gian quét dọn cũng tu luôn, tác ý quét tâm mình, khi giặt đồ thì tác ý đang giặt tâm mình, giặt cái cấu nhiễm trong tâm, quét sạch cấu nhiễm trong tâm.
Cứ tâm tâm niệm niệm như vậy thì làm sao không an ổn? Làm sao không tịnh được? Làm sao không lạc được? Chắc chắn chúng ta làm được một hội chúng hiền thiện, an tịnh, hiền thiện, ngọt ngào, yêu thương để tất cả những người có duyên đang khổ đau trên khắp mọi miền đất nước, thậm chí là nước ngoài trở về có chỗ nương tựa tu học, có nguồn an ủi của chánh pháp tối thượng.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Hội Chúng Bậc Thánh An Tịnh Tuyệt Vời !
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hội chúng an tịnh PAGEREF _Toc158991043 \h 1
II. Tứ Niệm Xứ PAGEREF _Toc158991044 \h 7
III. Đời sống bất ổn PAGEREF _Toc158991045 \h 10
I. Hội chúng an tịnh
Hôm nay chúng ta nghe bài kinh số 51 trong Trung Bộ Kinh, tập II, tên là kinh Kandaraka.
"Một thời Thế Tôn ở tại Campa, trên bờ hồ Gaggara cùng với đại chúng Tỳ-kheo. Rồi Pessa, con trai người huấn luyện voi và Du sĩ Kandaraka đi đến chỗ Thế Tôn ở Pessa, con trai người huấn luyện voi sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn du sĩ Kandaraka nói lên với Thế Tôn những lời hỏi thăm, sau khi nói lên những lời hỏi thăm thân hữu rồi đứng một bên. Du sĩ Kandaraka đứng một bên, sau khi nhìn quanh chúng Tỳ-kheo đang giữ im lặng, thật im lặng, liền bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Chúng Tỳ-kheo này được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn. Tôn giả Gotama, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, không biết quý vị Thế Tôn ấy đã có một chúng Tỳ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỳ-kheo được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn? Tôn giả Gotama, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong tương lai, không biết quý vị Thế Tôn ấy sẽ có một chúng Tỳ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy sẽ chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỳ-kheo được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn?" (Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)
Có một vị du sĩ theo đạo Bà-la-môn ngày đây mai đó, đi chỗ này chỗ kia để hành đạo, khi ông lại thăm Đức Thế Tôn thì nhìn thấy một chúng hội im lặng nên ông kinh ngạc, bất ngờ, ngỡ ngàng, trào dâng cảm xúc nên ông thốt lên hội chúng thật trang nghiêm, thanh tịnh, sự im lặng của bậc Thánh. Ông hỏi không biết các Đức Phật thuở xưa có một hội chúng Tỳ-kheo tuyệt như vậy, cũng được huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ có giống Thế Tôn bây giờ không. Ông liên tưởng đến chư Phật quá khứ và vị lai khi nhìn thấy chúng hội của Như Lai trong hiện tại.
Chúng ta có thể dùng thọ; tưởng; hành của mình để tưởng tượng ra hội chúng của Đức Phật trang nghiêm đến thế nào. Lúc đó không phải ngài đang thuyết pháp, các vị này đến chào hỏi, chúng ta có thể xuyên không về 2600 năm trước để được tham dự vào Thánh pháp hội, trong thiền trí hội, trong Linh Sơn hội, Kỳ Viên Tinh Xá hội, Trúc Lâm hội, Linh Thứu hội thì chúng ta biết sự an tịnh và lắng dịu của chư vị Thánh chúng và các bậc Tỳ-kheo ngày xưa là không thể tưởng tượng được. Con tâm đắc câu "Thế Tôn là bậc an tịnh, thuyết pháp đưa chúng sanh đạt đến chỗ an tịnh".
Ngày hôm qua các chú đi mà phát ra tiếng lớn là con nhắc, thân an tịnh trước, tâm an tịnh sau, các dục ái, tham sân, bản ngã sẽ lắng dịu. Thật sự con nghe đến đây là con đang quay trở về để tham dự pháp hội của các bậc Thánh, các bậc Thánh chúng và các bậc hiền trí ngày xưa không đợi nói như mình đâu, các ngài rất nhẹ nhàng và an tịnh, làm sao chúng ta phải đem những hình ảnh này khắc sâu vào tim, ấn vào tâm, lấy đó làm tiêu chí, làm nguyên tắc, làm cương lĩnh, làm gia phong, nề nếp trong đạo tràng Nikāya chúng ta từ trên xuống dưới.
Thật sự con nhìn đại chúng con rất hoan hỉ khi mỗi người đều biết quỳ phơi bày lỗi lầm, vạch trần lỗi lầm, tự mình đi đến mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình tàm, tự mình quý, tự mình hổ thẹn, tự mình lo lắng, sợ hãi. Con mong muốn những đức hạnh này, những sự hiền thiện này, những tâm khiêm hạ này càng ngày càng tăng trưởng, phát triển vững chắc thành căn cứ địa, thành thành quách, những sự hiền thiện, khiêm cung, cung kính, kính lễ, sự an tịnh, lắng dịu, hòa hợp, trang nghiêm, thanh tịnh, biết ơn này càng ngày càng viên mãn.
Nhiều khi con không nói nhưng con thấy trong chúng có những vị buông lung phóng dật là con không an tâm, nước mắt chảy trong tim. Con thấy một người không biết xấu hổ, không biết nhìn lại mình, không biết thực hành pháp là giống như có ai đang bóp lấy trái tim con nhưng lại không nói được. Con đã đem hết tâm tư, tình cảm mỗi ngày nhắc nhở và tạo điều kiện, khích lệ, khuyến khích, chỉ trích khéo léo trong khi giảng pháp, nhiều khi không dám nói thẳng mà thấy không tiến bộ, không để tâm là con xót xa lắm.
Bậc đạo sư giờ này như đèn treo trước gió, có thể ra đi bất cứ lúc nào, con cũng chưa thành tựu, còn phải lo việc của chính mình, nếu chúng ta không cố gắng, không nỗ lực thì chúng ta sẽ trở thành người tối hậu làm cho chánh pháp đoạn diệt cho nên mỗi người phải luôn luôn nhìn lại mình, đừng có quên việc quan trọng nhất của mình, mỗi ngày phải hỏi 8 lần, "mình bỏ ba bỏ mẹ, bỏ tình nghĩa thiêng liêng nhất của cuộc đời để vào đây làm gì?". Phải tự vấn bản thân, cho đến bây giờ con thưa các chư tôn đức, sau 30 năm xuất gia mỗi sáng dậy con phải lặp tức hỏi câu hỏi đó, đây là câu hỏi từ ngày xuất gia cho đến bây giờ không có ngày nào vừa thức giấc mà con không tác ý câu đó dù chưa đi vào dòng pháp Nikāya. "Từ bỏ cha me khoác lên mình chiếc áo này để làm gì?".
Đối với cha mẹ chẳng dâng được miếng ngon ngọt, bà con vốn đã bỏ lìa, không thể giúp đỡ an ninh của quốc gia, sự an ổn của nước nhà, cũng không thể nối nghiệp hương quả của dòng họ, vậy mình vào đây để làm gì? Như trong Quy Sơn Cảnh Sách có câu "Từ thân quyết chí phi tri, ý dục đẳng siêu hà sở, phụ mẫu bất cung cam chỉ, lục thân cố dĩ khí ly, bất năng an quốc trị bang, gia nghiệp đốn quyên kế tự, miến ly hương đảng, thế phát bẩm sư", xa lìa xóm làng cạo tóc theo thầy, đây là những bài học khi vừa vào chùa đã được học thuộc lòng.
"Nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng bất tránh chi đức, huýnh thoát trần thế, ký kỳ xuất ly", bên trong phải chuyên cần để khắc phục vọng niệm, bên ngoài là mở rộng cái đức của lục hòa, của hòa kính, hòa ái, hòa thuận, hiền hòa, xa rời trần thế, cầu mong giải thoát. Tuy nhiên mình tu một thời gian rồi quên hết nên sống nhởn nhơ, sống dửng dưng, sống vô cảm đối với sự thành tựu cứu cánh phạm hạnh. Mình nghĩ rằng sống an an ổn ổn, bình bình, đều đều như vầy là được rồi, cần gì phải tu thêm nhiều cho cực khổ, ý nghĩ này là giết người, ý nghĩ đó là thâm độc, ý nghĩ đó làm cho mình dừng lại rồi lùi lại và cuối cùng là rớt xuống vực sâu.
Một ngày mình phải nhắc bản thân 8 lần, không thì gọi về cho cha mẹ đang nằm bệnh trên gường để xem cảm thọ của cha mẹ như thế nào để làm động lực cho mình tu. Mình quên hết mọi thứ, sống trong lãng quên, sống trong hững hờ, sống trong vô cảm, không có lòng xót thương chính mình, xót thương mẹ cha, ông bà, cô bác, xót thương những người cúng dường, cung kính mình. Hằng ngày phải niệm tứ ân, phải hoài niệm, tưởng niệm, suy niệm cha mẹ, tam bảo, thầy tổ có ân đức với mình như thế nào, Đàn-na tín thí công phu, công quả cho mình bữa cơm này, cho mình chiếc áo này, cho mình căn nhà này, cho mình thuốc men.
Hôm qua có một đại sự xảy ra, cô Phật tử này 82 tuổi từ nửa vòng trái đất tha thiết muốn về gặp con một lần thôi rồi về chết cũng được. Con nói cô lớn tuổi rồi nên đi ít thôi thì cô không chịu, khi đến Thánh Pháp Viện là cô ngất, nước miếng chảy ra, nước mũi chảy ra, mặt tái mét, lạnh ngắt, mắt trợn lên, do nhân duyên long thiên hộ pháp gia hộ chứ nếu không bây giờ chúng ta không còn ở đây tu được nữa đâu.
Cô Huệ Hải ở Đan Mạch đi theo, bình thường con không cho các cô đi chung xe, con nói phải xuống xe trước nhưng hôm nay con để tự nhiên, khi đi qua Thánh Pháp Viện xảy ra chuyện như vậy, con vừa nhìn thấy là con kêu lên liền thì cô Huệ Hải bước qua làm động tác chuyên môn của người điều dưỡng, cô nói chỉ cần chậm 2 phút thôi là bà cụ qua đời, nếu chuyện đó xảy ra thì chúng ta mệt rồi, giống như chết đi sống lại trong vòng 2 phút, mắt trợn trắng, tay chân lạnh ngắt, nước mũi chảy ra, nước miếng chảy ra, không còn cảm giác. Tuy nhiên vừa khỏe lại thì muốn đi nữa, con thật là thương, vừa nói cười như vậy mà tích tắc trong 2 phút không có cô điều dưỡng ở đó là chết thôi, không ai biết làm gì hết. Cô phải lấy kéo cắt quần bó, đó là chư thiên, long thiên hộ pháp tại Linh Quy, cô nói lạ lắm, cô đang rửa chén nhưng phải rửa nhanh lẹ xin đi theo, lúc đó nếu không có cô điều dưỡng ở đó mà kêu lên cũng không kịp.
Chúng ta mới thấy được sự vô thường nhưng không ai biết chuyện gì đã xảy ra, chúng ta vẫn bình thường, vẫn an ổn, chừng nào nó đến với mình thì mình mới biết. Sự vô thường rất đột ngột, bất thình lình, bất ngờ, bất trắc, bất an, bất ổn, bất thường, mình tu là để những giây phút như vậy đến. Trong ngày hôm qua con thấy được hai việc, cái vô thường, cái nghiệp quả, tử thần và cái phước báo, công đức, tuốt ở trên đồi thông người ta đào 4-5 cái giếng không có nước, ở chân núi đào mấy cái giếng ở dưới sâu 100-120m không có nước vậy mà trên mình đào một chỗ là có nước, biết bao nhiêu người trải tâm từ, chúng ta thấy chư thiên, địa thần, sơn thần, thọ thần, vân thần, hư không thần, các vị hữu hình, vô hình tại Linh Quy Pháp Ấn gia hộ cho chư Tăng Ni rất nhiều. Một ngày chúng ta có được 20.000 lít, các chú khuyến khích đào thêm nữa để sau này dù có lượng người đông trong khóa tu vẫn có nước đầy đủ.
Mình thấy được hai việc, nhân thiện quả lành, mình càng cố gắng tinh tấn, tịnh tín, có lòng tin vững chắc để tu học. Xung quanh mình là 6 cái giếng từ đỉnh núi xuống chân núi mà không giếng nào có nước, vì thế sự tu học của chúng ta rất quan trọng, để có một hội chúng hiền thiện như vầy thật quý báu. Con mong muốn tất cả các thành viên trở về đây phải biết tôn trọng, biết cung kính, biết giữ gìn, nếu thấy mình chưa tu được thì tự ý thức xuống núi, đừng làm động niệm, nhiễu động đại chúng, tội không thể tưởng tượng nổi. Về đây thì phải tu hiền, tu trí tuệ, nếu thấy tâm mình còn cứng cỏi không chấp nhận được thì thôi, đừng làm động đại chúng.
Khi vị du sĩ này cảm thán lên các Đức Thế Tôn quá khứ và vị lai có được một hội chúng Tỳ-kheo hiếm có, hy hữu, tuyệt vời như vậy hay không thì Đức Phật trả lời:
"-- Thật sự là vậy, này Kandaraka! Thật sự là vậy, này Kandaraka! Này Kandaraka, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, những vị Thế Tôn ấy đã có một chúng Tỳ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỳ-kheo được Ta chơn chánh hướng dẫn. Này Kandaraka, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời tương lai, những vị Thế Tôn ấy sẽ có một chúng Tỳ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỳ-kheo được Ta chơn chánh hướng dẫn.
Này Kandaraka, trong chúng Tỳ-kheo này, có những vị Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí. Này Kandaraka, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo là bậc hữu học, giới luật kiên trì, giới hạnh kiên trì, sáng suốt, hạnh nghiệp sáng suốt, sống với tâm khéo an trú Bốn Niệm xứ" (Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)
Tất cả những tâm mê lầm đã chấp dứt, tu hành đã thành tựu viên mãn, việc cần làm, việc nên làm các thầy ấy đã hoàn thành xong việc rồi, các thầy đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt được lý tưởng cứu cánh phạm hạnh lý tưởng của một người xuất gia, những sự trói buộc trong tam hữu, dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu trong tam giới này, tất cả những tâm trói cột trong thế giới này, trong thế giới chư thiên và trong thế giới cao hơn nữa, vô sắc của chư thiên thì những cái tâm trói cột này đã bị cắt đứt hết rồi, được giải thoát ra khỏi ngũ uẩn nhờ chánh trí. Trong chúng có những vị như vậy.
Đầu tiên là trong chúng có những bậc Thánh A-la-hán, kế đó ngài nói có những bậc hữu học, những bậc hữu học này thấp nhất là hướng Dự Lưu và cao nhất là Bất Lai, Thánh quả thứ ba hoặc là hướng Bất Lai. Những vị này giữ chặt cái giới nên gọi là kiên trì, giới luật là những giới mình đang học, giới hạnh là những đức hạnh thành tựu nhờ mình giữ giới. Do mình giữ giới nên mình thành tựu những đức hạnh trong cái giới, thành tựu thiện hạnh, đạo hạnh, phẩm hạnh trong giới nên gọi là giới hạnh. Ví dụ mình không giữ thu nhiếp lục căn thanh tịnh giới, mình hoàn toàn không giữ nên mình không có được giới hạnh của thu nhiếp lục căn, mình không có được thiện hạnh, đạo hạnh, phẩm hạnh trong sự thu nhiếp sáu căn.
Khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì làm các ác bất thiện pháp khởi lên thì mình phải dập tắt những nguyên nhân đó, mình phải diệt trừ những nguyên nhân đó tuy nhiên mình lại không diệt, để nhìn thoải mái, nghe thoải mái, mình không giữ giới luật đó nên không có được giới hạnh đó, không có giới đức đó cho nên người ta nhìn mình không có sự cung kính nhưng không phải mình bắt người ta kính là người ta sẽ kính, xã hội bây giờ trí thức rất nhiều, người ta rất thông minh, người ta có học vấn, có sự nhìn nhận sắc bén, không phải dễ kêu người ta kính đâu. Ý hành của mình người ta không đọc được nhưng khẩu hành mình người ta nghe được, thân hành mình người ta thấy được cho nên lời nói không hiền thiện, ví dụ huynh đệ tu với nhau mà chỉ vì cánh cửa lại không hài lòng, chỉ vì cây quạt cũng sân, dù không thô nhưng vẫn là sân, những chuyện nhỏ nhặt ruồi muỗi, kiến mà không có tu. Đã vậy vẫn không thấy sai, chỉ lỗi cho vẫn không thấy sai, đụng tới là phản ứng, là lý luận, biện luận thì làm sao tu?
"Giới luật kiên trì, giới hạnh kiên trì, sáng suốt, hạnh nghiệp sáng suốt, sống với tâm khéo an trú Bốn Niệm xứ", những cái này trên Thánh quả thứ ba, hướng đến Thánh quả thứ tư trở xuống hướng Dự Lưu gọi là bậc hữu học, đây là những bậc hiền Thánh trong chúng này, Đức Thế Tôn nói như vậy.
II. Tứ Niệm Xứ
"Thế nào là bốn? Ở đây này Kandaraka, Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời." (Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)
Người tu luôn luôn nhìn lại thân thể, hành vi, cử chỉ, động tác của mình, quán sát cái đi, đứng, ngồi, nằm, tu từ trong những cái nhỏ nhất, không quên để ý cử chỉ, hành động thì gọi là niệm thân. Nhất cử nhất động của mình đều được quán sát, quán niệm, quán chiếu, quán nhìn thì gọi là niệm thân, đó là chất liệu của người tu, tu mà không biết niệm thân giống như tài xế không biết lái xe, lên lái đại thì đưa mình và người đi vào đường chết. Tu mà không niệm thân chính mình, người xung quanh cũng ảnh hưởng, thậm chí sau này nhận đệ tử thì dạy cái gì? Tu suốt cuộc đời không có niệm thân, cho nên phải dò xét, quán sát, theo dõi, canh chừng, đề phòng những cử chỉ, hành động trong từng bước đi.
Sư cô tiến sĩ bên Myanmar được khắc tên vàng duy nhất, người tu nữ Việt Nam được khắc tên vàng bên Myanmar. Cô về chia sẻ với con một buổi trời, con cũng rất quý và mong muốn được về với chúng ta, con rất hoan nghênh, chào đón, cô nói bên đó một ngày tu học xem kẽ một tiếng ngồi rồi đến một tiếng đi, tu như vậy trong 14 tiếng, đó là thời khóa mỗi ngày. Tu không có thời gian để giặt đồ thì làm gì có thời gian nói chuyện với người này người kia, cô kể chỉ nói chuyện được 5 phút lúc đi tắm, lúc đó được gặp mấy người với nhau cho nên sẵn đây con gợi ý với các bậc tôn đức phải tăng thêm một giờ thiền định để không có thời gian rảnh để tâm mình phan duyên. Mười bốn tiếng tu học, ngủ bốn tiếng, đặc biệt là người ta rất kĩ về giới luật và oai nghi.
Một hòa thượng đức độ lớn đang đi thì có một tu nữ lạy ngài 3 lạy, do cô thực hành pháp nên khi cô thực hành lạy ba lạy thì rất lâu, trong nửa tiếng đồng hồ, ngài đang đi vẫn đứng lại chờ nửa tiếng để lạy xong. Cô rất hoan hỉ về trên mình chia sẻ những gì cô học bên đó, cô ở bên đó hai mươi mấy năm, bây giờ vẫn là tu nữ, tu một lượt với Ni sư Liễu Pháp, là huynh đệ tỉ muội. Chúng ta có phần nhận diện ngũ uẩn quá vi diệu, tối thượng của bậc tôn giả truyền thừa rồi, đó là phần tri kiến, bây giờ chúng ta đầu tư nhiều vào phần giới hạnh, giới đức trang nghiêm. Đức Phật nói một vị Tỳ-kheo muốn thành tựu thì thứ nhất giới hạnh phải trong sạch, thứ hai là tri kiến chánh trực, Đức Phật không đề cao nhiều về thiền định lắm.
Con thấy cái quen của người tu quốc độ chúng ta ở đây cũng như xã hội bây giờ thì trừ khi độc cư trong rừng hoặc nhập thất vì thiền định không phải dễ, vì vậy nếu thiền định được là tối thượng rồi nhưng ở đây nói kiểu vớt vát là chúng ta đang phát triển tu tập chánh tri kiến, phần hỗ trợ quan trọng là giới thanh tịnh, tri kiến chánh trực, hai cái này đủ sức đưa chúng ta Nhập Lưu, không nhất thiết phải có thiền định, còn nếu được là quá tuyệt vời.
Con dự định mời các vị tôn đức chia sẻ cho chúng ta về phần giới hạnh, nếu một người có chánh niệm, có niệm thân, niệm tâm, niệm thọ, niệm pháp một cách nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời sẽ không có chuyện lặt vặt xảy ra, còn người nào đụng tới đâu là phiền não tới đó, sân si tới đó là người đó không thực hành Tứ Niệm Xứ nên mới có chuyện xảy ra, người có thực hành thì không có những chuyện nhỏ nhặt, vặt vãnh tới đó, còn không thực hành là không có tu, đó là hệ quả tất yếu của một nội tâm không có hộ trì, không tu tâm hiền mới như vậy, có tu tâm hiền là không có như vậy, người ta thương không hết nữa, mình bỏ cha bỏ mẹ, cạo đầu vô chùa, mình đang bị hoạn nạn, tai nạn, khổ nạn, ách nạn, nguy nan, gặp những người ở chung cũng khổ nạn thì thương không hết, có đâu mà châm chích, ghim gút, đó là hệ quả tất yếu của tu và không tu, tất là những gì con đưa ra là không thực hành, không nhận diện ngũ uẩn, không thực tập tâm hiền, càng không hành trì tâm từ, không vận dụng lục hòa kính nên mới có ra những cái nhỏ nhặt, nếu có thực hành những cái này thì không bao giờ có những chuyện đó xảy ra vì thế chúng ta phải để ý để xây dựng một hội chúng đẹp, lành, thiện, hiền hòa, tinh ba chứ đừng làm hội chúng cặn bã, hội chúng hạ liệt, phàm phu đầy tham, sân, si.
Tu là phải lan tỏa ra cái hiền thiện, tâm từ, tâm dễ thương, ngọt ngào thì mới đúng pháp của Nikāya. Nếu mình có bốc mùi thì bốc mùi của chiên đàn, của trầm hương, bốc mùi của hoa giới hạnh chứ đừng bốc mùi sân si, bản ngã, hôi thối lắm, hèn hạ lắm, tồi bại lắm, hằng ngày mình phải tác ý như vậy đó.
"Ðược nghe nói vậy, Pessa, con trai người huấn luyện voi bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bốn Niệm xứ này đã được Thế Tôn khéo trình bày, để chúng sanh được thanh tịnh, để sầu bi được vượt qua, để khổ ưu được diệt trừ, để chánh lý được thành đạt, để Niết-bàn được chứng ngộ. Bạch Thế Tôn, chúng con là hàng tại gia, mặc đồ trắng, thỉnh thoảng chúng con sống khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ này. Ở đây, Bạch Thế Tôn, chúng con sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời" (Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)
Sống nhìn lại thân mình, nhìn lại cảm giác, nhìn lại nội tâm, nhìn lại những gì đang vận hành trong tâm, có năm triền cái hay không, cứ nhìn lại để gội rửa thì làm sao nó không giảm thiểu được, chuyện đó là vô lý không thể xảy ra, nếu mình tu như vậy mà không có kết quả là vô lý, không tu mới có kết quả như vậy, còn có tu thì kết quả phải khác. Mình đừng nghĩ là mình nói dối được người trí, họ nhìn thấy những cái mình không thấy, thậm chí họ nhìn được cả tâm mình, ngũ uẩn của mình ra sao người ta nhìn phớt qua là thấy biết hết, mình đừng có ngụy biện gì cả, đừng bao biện, đừng xảo biện, người ta thấy hết, chỉ có mình không thấy thôi vì mình không nhìn lại mình.
"Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiểu được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh trong khi loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bã như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người. Bạch Thế Tôn, cởi mở thay như loài thú vật. Bạch Thế Tôn, con có thể nhiếp phục con voi, một cách khiến con voi ấy mỗi khi đi hay đến Campa, liền trình bày mọi sự gian dối, giả dối, xảo trá, xảo quyệt. Nhưng bạch Thế Tôn, những người đầy tớ của chúng con, những người phục dịch, những người làm công, thân hành họ làm một cách, khẩu hành họ làm một cách khác, ý hành họ làm một cách khác nữa. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn biết được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh, trong khi loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bã như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người! Bạch Thế Tôn, cởi mở thay, như loài thú vật!
-- Thật như vậy, này Pessa! Thật như vậy, này Pessa! Này Pessa, rối ren thay, như loài người! Cởi mở thay, như loài thú vật!" (Trung Bộ Kinh, 51. Kinh Kandaraka)
Con xin hỏi các chư tôn đức và các vị hiền trí là tại sao mình lại thương con mèo? Tại sao mình thương con thỏ? Tại sao mình thương con chó? Tại sao mình lại thích con bướm, khi nó đậu trên tay mình là mình thích thú?
III. Đời sống bất ổn
Cô Hiền Thuận: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Con xin trả lời câu hỏi của sư phụ, các con vật cởi mở, theo ý hành con suy nghĩ là cảm thọ của ái gần gũi, dễ chịu, ái khởi lên nhiều hơn cái trí làm gần gũi, làm các con vật dễ thương, mình chăm sóc, lo lắng cho nó không phản ứng, con vật hiểu được sự gần gũi đó cũng giống như sự đồng cảm, cái đó là cái dính mắc.
Sư Phụ: Ở đây đơn giản thôi, không có gì sâu xa. Ông huấn luyện voi khen ngợi Đức Phật hiểu được hạnh phúc và bất hạnh của chúng sanh, loài người sống trong sự rối ren, trong sự cặn bã, xảo quyệt, ba từ này là ba khía cạnh về tâm của hàng phàm phu. Những người làm công thân hành họ làm một cách, khẩu hành họ làm một cách khác, ý hành họ làm một cách khác nữa, nghĩa là làm một đường nhưng nói một nẻo và trong suy nghĩ của họ lại suy tính khác. Những điều này là đang nói đến mình, khi nghe như vậy thì đừng vội tin liền mà phải suy xét, quán sát lại, miệng nói như vậy nhưng tâm chưa chắc, miệng nói thương lắm, tha thứ hết nhưng trong tâm thì chưa chắc.
Con thỏ ăn cỏ, ăn cà rốt, nó nhảy nhót, ở đây chỉ nói những con vật bình thường chứ không nói đến hổ, báo, cọp beo, sư tử. Những con mèo con ăn rất ít, nó thường hay quấn quít bên người, cọ vào chân của mình, đó là cởi mở thay loài thú vật, nó không có sự xảo quyệt, nó không có sự ác độc, mưu hại như loài người. Con mới nghe tin từ sư cô tu ở chùa ở quê là có cô bán hàng bị giết chết, còn một cô bị tạt sơn xanh đầy đầu, đánh giết, hại nhau, buôn người, bán người, hãm hại người…
Thật là rối ren thay loài người! Sống trong sự cặn bã của lòng tham, cặn bã của lòng dục, cặn bã của lòng sân hận, cặn bã của tâm hơn thua, si mê, bản ngã, dối trá, xảo ngụy, gian trá. Thật là ngao ngán! Chạy lên rừng lên núi vẫn chưa yên, lên tới thùng phước sương để câu tiền, vào chùa lấy những tượng Phật đem bán lấy tiền, có nhóm vài người trẻ, thanh niên chuyên đi ăn cắp thùng tiền của chùa từ Bắc vào Nam. Mình trồng tre trong sâu trong núi cũng vào lấy, những đồ nghề làm việc để đó cũng ăn cắp, để máy bơm nước là ăn cắp máy bơm nước, để xuồng là ăn cắp xuồng, để cây cuốc, cây rựa cũng bị ăn cắp, con mèo đâu biết ăn cắp những thứ này, giỏi lắm nó ăn trộm những miếng bánh nhỏ.
Bây giờ vợ chồng hay anh chị em ruột, mẹ con, cha con đầu độc nhau, hãm hại nhau, lừa gạt nhau, đâm chém, giết hại nhau. Thật là khủng khiếp! Đó là lý do tại sao kinh Nikāya tán thán sống độc cư viễn ly, chỉ có liên tục quay lại nhìn bản thân mới gạn lọc được nội tâm mình thôi, mới đi ra khỏi thế giới này được thôi. Suốt ngày chỉ nhìn tâm mình thì làm gì có chuyện xảy ra, chỉ có một chuyện là trong tâm mình có chuyện và bây giờ mình làm cho hết chuyện. Trong bài kinh này tái hiện lại đạo tràng Thánh chúng, một chúng hội tối thượng, tinh ba, sự im lặng của bậc Thánh, các bậc Chánh Đẳng Giác giáo dục, huấn luyện, dạy dỗ như vậy.
"Này Kandaraka, trong chúng Tỳ-kheo này, có những vị Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí", đọc những câu này chúng ta phấn khởi, nhiệt huyết lên, khao khát, ước nguyện, ước vọng, dục như ý túc mạnh mẽ. Chúng ta ở trên núi là quá sung sướng, hạnh phúc, chỉ lo tu học thôi mà tu còn không được nữa thì làm cái gì?
Chúng ta có phước đức nhất trong tất cả những người phước đức, chúng ta là phước báo nhất trong tất cả những người phước báo, phước lành nhất trong những người phước lành, hy hữu hiếm có nhất trong những người hy hữu hiếm có nên chúng ta mà không tu được nữa thì không biết còn ai trên đời này tu được, phải tập trung tất cả thời gian vào học pháp, đàm luận pháp hoặc giữ sự im lặng của bậc Thánh, chúng ta tìm gốc cây, bụi trúc hoặc tảng đá nào đó, tịnh thất trống ngồi đó tác ý thiền quán, mở pháp lên nghe một mình hoặc thiền quán, thiền định hoặc là pháp đàm trong thời gian trống. Trong thời gian quét dọn cũng tu luôn, tác ý quét tâm mình, khi giặt đồ thì tác ý đang giặt tâm mình, giặt cái cấu nhiễm trong tâm, quét sạch cấu nhiễm trong tâm.
Cứ tâm tâm niệm niệm như vậy thì làm sao không an ổn? Làm sao không tịnh được? Làm sao không lạc được? Chắc chắn chúng ta làm được một hội chúng hiền thiện, an tịnh, hiền thiện, ngọt ngào, yêu thương để tất cả những người có duyên đang khổ đau trên khắp mọi miền đất nước, thậm chí là nước ngoài trở về có chỗ nương tựa tu học, có nguồn an ủi của chánh pháp tối thượng.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.