Tương Ưng Sáu Xứ 4 - Thối Đọa và Phóng Dật
TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 4
THỐI ĐỌA VÀ PHÓNG DẬT
ĐĐ.Thích Minh Thành giảng
Bài kinh "Thối đọa" trong Tương Ưng Sáu Xứ.
Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp thối đọa, pháp bất thối đọa và sáu thắng xứ.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp thối đọa?
Tỳ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Nếu Tỳ-kheo đón nhận chúng không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Ta làm thối thất các thiện pháp". Ðây Như Lai gọi là pháp thối đọa.(Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, V.Phẩm Từ Bỏ, III.Thối Đọa)
Nãy giờ là pháp, nãy giờ cũng đang thuyết pháp. Nếu chúng ta đợi đến nói pháp, đợi giảng pháp mới gọi là pháp, mới nghe pháp thì cái đó là pháp của tiểu học. Mình thấy pháp đúng như thật sự nó đang diễn ra thì đó là thật pháp. Đường truyền mạng bị trục trặc chứ mình không có trục trặc, mình sẽ cố gắng nhưng mình không để cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình bị cuốn theo dòng thác lũ, đó là thánh pháp, là tối thượng pháp. Nãy giờ là bài thi, là thật pháp còn mấy ngày bình thường là bài học. Dù cho có bất cứ chuyện xảy ra, thuận hay nghịch, được hay mất, tiện hay không tiện thì mình phải an trú cảm giác toàn thân, mới có chút xíu mà mình sợ hãi, lo lắng, vậy khi mình gặp tai nạn thì sao? Nếu mình đối diện với bệnh tật và chết chóc thì sao? Nếu tối nay có cơn bão lớn cuốn hết cái chùa thì sao? Lúc đó ai cứu mình? Chính sự an trú vững chắc vào ba pháp, sự định tâm ở trên thân, kiểm soát và nhiếp phục làm chủ tất cả các cảm thọ, đó là hải đảo tự thân, là lá bùa hộ mạng, là trú xứ của sự bình an, nếu không thì mạng mất là mình mất mạng. Làm gì cũng phải đem hết sức ra làm, nếu không được thì phải chịu. Chúng ta dễ bị hai thái cực, một là lơ là, không để tâm, hai là khi đã để tâm thì bám chấp vào cái dục tham ái của mình, quyết định phải làm cho được, còn không được là khổ, đó là do mình chưa thấy pháp.
Hôm nay là bài thi, còn bảy tám ngày nay là học bình thường, đó là cơ phong, là có sự sắc bén trong cái nhìn của tuệ, bằng không mỗi một ngày như vậy mình chết không biết bao nhiêu lần, chạy theo các dòng cảm thọ, cảm xúc mà cảm giác là dòng thác lũ. Hằng ngày mình bất bênh, chìm nổi trong nó, bình thường mình còn tỉnh táo, còn đang tu học mà chỉ có cảm giác nhỏ như vậy mà mình còn không nhìn ra thì tới lúc lơ là, mất cảnh giác lỡ có chuyện gì xảy ra hay tuổi già ập đến thì làm sao mình an trú được? Mình sẽ hoảng loạn, lo lắng và sợ hãi khi tám ngọn gió của thế gian thổi lên. Những cảm giác dục là dòng thác lũ. Những cảm giác của ái luyến, ưa thích là dòng thác lũ. Những cảm giác của sự thúc giục, ham muốn tìm kiếm là dòng thác lũ. Những cảm giác lờ đờ, mông lung, trơ trơ, si mê, si ám là dòng thác lũ. Dòng thác này rất khủng khiếp. Dòng lũ này đã cuốn mình trôi đi, hai ba bốn chục năm mình bị dòng lũ của dục tham ái cuốn phăng mình, cảm giác bực bội và nóng giận là dòng thác lũ. Một ngày mình sanh khởi lên cảm giác đó bao nhiêu lần? Khó chịu, bực bội, ganh ghét, hơn thua…bao nhiêu lần?. Mình kiểm tra lại bao nhiêu tiếng trong một ngày mình ở trong trạng thái đó, không nhìn thấy rõ năm uẩn, không nhìn thấy các cảm giác sanh khởi, an trú và hoại diệt, không nhìn thấy trong năm uẩn chất chứa những cái gì. Đó là mình bị cuốn theo và bị nhận chìm trong dòng thác của si mê. Một ngày sinh ra bao nhiêu cảm giác buồn chán, không muốn tinh tấn, không muốn tu học mà uể oải, buông trôi thì đó là dòng thác lũ, một ngày có bao nhiêu cảm giác buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, không thâu nhiếp và không kiểm soát, hộ trì thì đó là dòng thác lũ. Nếu mình không có trí tuệ thực tập nhận diện cho sâu sắc các dòng cảm giác, nghĩ tưởng thì mình ở trong đó, phải nỗ lực thoát ra năm truyền cái đó thì mới có cơ hội bước vào dòng trí tuệ, nếu không là vĩnh viễn muôn đời vạn kiếp đắm chìm trôi nổi. Cho nên mới nói tất cả chúng sanh chìm đắm, lặn hụp trong biển khổ. Cho nên bài kinh hôm nay rất quan trọng. Chúng ta đang học về Tương Ưng sáu xứ, bài kinh "Thối đọa".
Trong bài kinh này Đức Phật chỉ cho mình pháp hành rất rõ ràng, khi con mắt thấy sắc thì "các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên", ức niệm là nghĩ nhớ, tu duy là suy tư, khi con mắt tiếp xúc với sắc sanh khởi lên nghĩ nhớ, suy tư, liên hệ đến kiết sử, liên hệ đến những sự trói buộc, sai khiến thì đây gọi là các ác bất thiện pháp. Những cái suy tư, những cái phiền não và bất thiện pháp như vậy mà vị này đón nhận chúng," không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: Ta làm thối thất các thiện pháp". Mình học chỗ này mới hiểu được phần niệm tâm trong Tứ Niệm Xứ "nội tâm có tham biết nội tâm có tham, nội tâm có sân biết nội tâm có sân…". Cái biết đó chỉ là nói vắn tắt, thực ra là phải từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt và khiến cho chúng không sanh khởi lên nữa thì đó mới là không bị thối đọa. Chỗ này thật sự vi diệu, thâm thúy và đòi hỏi mình phải có ánh nhìn sắc bén, tinh vi, đó phải là mắt tâm, con mắt chánh pháp. Thầy nói một ví dụ để làm sáng tỏ vấn đề này: Ví dụ mấy chú vào tập sự xuất gia hoặc là đã xuất gia, hay làm công quả, mình đang làm gì đó thì bỗng nhiên có bóng hồng phớt ngang qua mình thì đó là sự tiếp xúc của con mắt. Bóng hồng này lại giống người con gái mình đã từng quen trước khi mình vào chùa thì đó là ức niệm, lúc đó mình có suy tư không? Suy tư về những chuyện đã qua, đó là tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Tư duy cái gì, nhớ nghĩ cái gì, suy nghĩ cái gì là liên hệ đến những sự ràng buộc ưa thích, những kỉ niệm ngày xưa, đó là những kiết sử. Kỉ niệm chính là tham sân si, dục tham ái chứ còn gì khác, đó là ác và bất thiện pháp nhưng nếu những suy nghĩ, những hình bóng, cảm giác sanh khởi lên mà mình đón nhận chúng, mình không tiêu diệt, không từ bỏ, không khiến cho chúng không sanh khởi thì người đó đang thối đọa, dù cho người này không nói ra gì, không có hành động gì, chỉ là những cảm giác, nghĩ tưởng khởi lên, những tư duy ức niệm khởi lên thôi thì cũng là đang thối đọa. "Thời này các Tỳ-kheo", hãy nhớ Tỳ-kheo là chỉ chung cho tất cả người tu chứ không phải chuyện riêng của các thầy Tỳ-kheo. "Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: Ta làm thối thất các thiện pháp. Ðây Như Lai gọi là pháp thối đọa, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm giác". Ví dụ bỗng dưng mình nghe âm thanh hoặc là nhớ lại thanh trần và thanh tưởng đều như vậy, cho nên các huynh đệ mới thấy chỗ sâu sắc khi học pháp này. Trước khi học mình không biết thanh tưởng là gì, mình nhớ lại âm thanh, đó là âm thanh chê trách, nói nặng hoặc là mình nghe trực tiếp thanh trần bên ngoài mà lúc đó những suy tư liên hệ đến kiết sử, đến sự trói cột, tức là sân hận, bực bội khó chịu khởi lên như vậy là những pháp ác và bất thiện mà mình đón nhận, không từ bỏ, không tiêu diệt, không thể khiến cho chúng không thể sanh khởi thì người này thối thất các thiện pháp cho dù mình đang ngồi trên bồ đoàn. Nó sâu xa như vậy đó. Đang ngồi thiền mà là thối đọa các thiện pháp, vì đón nhận kiết sử, không từ bỏ, mình đón nhận sự trói buộc, tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng liên hệ đến tham sân si và bản ngã đều là kiết sử, đều là sự trói cột thân tâm và nó sai khiến, hành hạ mình, là tập đế, là sự tích tập của tất cả khổ uẩn và nguyên nhân để hình thành đau khổ. Mà bây giờ mình đón nhận nó, mình chấp nhận nó, để cho nó đi vào trong thân tâm và an trú, lớn mạnh quảng đại thì không thối đọa là cái gì? Cho nên chỗ này là chỗ người tu thấy được là hay lắm, tức là cẩn thận từ xúc chứ không phải đợi tới thọ cho nên sự hộ trì căn mắt; tai; mũi; lưỡi hết sức quan trọng, nếu không có cái này thì làm sao giữ giới để từ đó đi đến chánh định. Cho nên tại sao thầy hay nhắc các huynh đệ đừng có lăng xăng. Trước đại chúng, trước pháp hội trang nghiêm, trước thầy mà còn như vậy thì nếu ra chợ hoặc ở một mình thì lúc đó ra sao? Chỗ đáng phòng hộ, hộ trì mà không phòng hộ thì đến những chỗ không đáng thì ra sao? Bung ra hết những tập khí vô minh, phàm tục, hạ liệt thấp hèn. Từ chỗ xúc sanh ra thọ, tiếp xúc sẽ sanh khở ra các cảm giác và mình phải nhìn thấy nó, phải biết cái nào mình đón nhận thì cho nó sanh, cái nào mình không cho phép nó sanh, và cái nào mình phải từ bỏ, diệt tận thì người đó là người "không làm thối thất các thiện pháp". Còn nếu mình đón nhận chúng là mình rước giặc, đón trộm vào nhà, cho nó ăn, nuôi dưỡng nó và nó tàn phá thân tâm mình. Mỗi một lần sân hận sanh khởi lên là nó tàn phá thân tâm của mình, đó là mới chỉ nói sân sanh khởi trong cảm giác còn bung ra miệng, ra hành động thì nó tàn phá cơ thể mình và những người khác. Những vụ án diễn ra hằng ngày, mới hôm qua chú Phật tử qua thăm thì gần nhà chú đó có người mua nước sâm làm sao mà nói qua nói lại bị chặt rớt cánh tay, tất cả những cái đó là từ việc đón nhận cảm giác sân hận mà họ có biết cảm giác gì đâu, một khi cảm giác sân ập tới là đốt cháy ngũ uẩn của họ, nhưng mình đã học, đã hiểu, đã biết mà mình vẫn cho chúng, vẫn đón nhận chúng thì thật sự đáng tiếc, là mình hại chính mình. Cho nên không phải mình thấy, mình biết là mình có thể diệt tận được ngay nhưng mình phải nỗ lực thực tập từ từ, mình phải biết con đường của mình đi. Lỗ mũi, lưỡi cũng vậy, thành ra mình thực tập được phần nào thì mình được an vui, giải thoát phần đó, vì vậy phải học thuộc bài kinh này. Ví dụ Phật tử đi vãng cảnh chùa, "con gửi cái này cúng dường cho thầy", nhưng khi đưa đồ thì vô tình tay chạm tay thì những ức niệm, những tư duy liên hệ tới kiết sử được khởi lên thì lúc đó cảm giác tiếp xúc sanh ra thọ, rồi mình thích cảm giác đó là ái, khi mình ngủ hay nằm nghỉ thì những cảm giác sanh khởi về sự ưa thích cảm giác tay chạm tay nó lưu trú trong tâm mình vì mình đã đón nhận mà không tiêu diệt, không đoạn trừ nó. Các huynh đệ có thấy Đức Phật dạy mình không? Từ chặng đầu tiên khi tiếp xúc sanh cảm giác là phải chặn nó rồi mà từ thời Đức Phật vẫn có người xuất gia rồi trở về hoàn tục hoặc là phạm giới, thành ra mình học phải cố gắng thực tập lần lần. Không phải học là làm được liền, ở trong chánh pháp như vầy mà mình nỗ lực sẽ đi đến kết quả tối thắng, còn ở trong cái pháp không phải là chánh pháp thì dù cho mình có nỗ lực thế nào đi nữa cũng không đưa đến kết quả thật sự. Bây giờ ví dụ về thân cảm xúc: Mình được ngồi trên xe hơi đắt tiền hay bước vào nhà sang trọng thì lúc đó những ức niệm tư duy liên hệ tới kiết sử khởi lên, đây chính là thân xúc, phải xem mình có những cái ham thích, ưa mến trong này không. Chúng ta thấy sự tu tập này hết sức là tỉ mỉ, tinh vi và sắc bén chứ không phải cái không thấy, không biết, mù mờ mà là kiểm soát tâm mình từng milimét, như vậy mới đưa mình đến đoạn tận hết tất cả lậu hoặc. Còn cái này đi vào thẳng tâm mình, xâm chiếm luôn thân tâm mà mình không biết gì hết thì Đức Phật gọi là pháp thối đọa.
Này các Tỳ-kheo, sau khi ý nhận thức pháp, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Nếu Tỳ-kheo đón nhận chúng, không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Ta làm thối thất các thiện pháp". Ðây Như Lai gọi là pháp thối đọa.
Chỗ này là chỗ hết sức nhỏ nhiệm bên trong tâm của mình. Mình liên hệ thêm một bài kinh khác:
Tôn giả Upavàna bạch Thế Tôn:
"Thiết thực hiện tại, thiết thực hiện tại", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người có trí tự mình giác hiểu?
Ở đây, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: "Tôi có nội tham đối với các sắc". Cho đến chừng nào sau khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc, và có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: "Tôi có nội tham đối với các sắc". Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận biết pháp cũng vậy.
Ở đấy, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với sắc; vị ấy biết rõ: "Tôi không có nội tham đối với sắc". Cho đến chừng nào, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: "Tôi không có nội tham đối với các sắc". Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận biết pháp cũng vậy. (Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phẩm Hai- Năm Mươi Kinh Thứ Hai, I. Phẩm Vô Minh, VIII. Upavàna)
Đại chúng nghe bài kinh này có hiểu ý Phật muốn nói gì không? Bây giờ chúng ta bắt đầu bước qua nhận diện năm uẩn một cách sâu sắc, mình liên hệ bài kinh này để mình tiến một bước sâu hơn nữa về nhận diện năm uẩn. Tôn giả Upavàna hỏi Đức Phật thiết thực, hiện tại, định nghĩa về pháp là như thế nào, Phật trả lời sau khi có "cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc, có nội tham đối với các sắc, vị ấy biết rõ: Tôi có nội tham đối với các sắc". Đây chính là niệm tâm trên tâm trong Tứ Niệm Xứ, khi con mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, thân xúc chạm thì mình có cảm giác thì mình biết có cảm thọ tham sắc và có nội tham đối với các sắc. Nội tham là sự tham muốn ở bên trong, nội tâm có tham chính là bên trong cảm giác sanh khởi ra sự ham muốn, ưa thích, sự thúc giục thì "vị ấy biết rõ: Tôi có nội tham đối với các sắc", vị ấy biết rõ bên trong có tham đối với sắc này. Sau khi biết rõ phải có biện pháp xử lý chứ không phải biết rồi để đó, như vậy Đức Phật gọi là "thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời", biết để xử lý nó, không chấp nhận nó, không đón nhận và tiêu diệt khiến cho chúng không thể sanh khởi, như vậy là thiết thực, hiện tại, khi không sanh khởi nữa thì không có nguyên nhân dẫn mình đi vào sầu bi khổ ưu não, lo lắng, sợ hãi, sự ràng buộc của các kiết sử. Chúng ta thấy rất rõ, mình phải hiểu thêm nội tâm có sân thì vị ấy phải biết rõ có sân, Đức Phật nói vắn tắt nhưng mình phải hiểu đầy đủ "Tôi có nội sân đối với các sắc…thì vị ấy phải biết rõ tôi có sự bực bội bên trong đối với lời nói, đối với hành động này", sau khi mình biết rõ thì mình mới từ bỏ, không chấp nhận, tiêu diệt bằng như lý tác ý, bằng những phương pháp quán chiếu, bằng trải tâm từ, bằng quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của những cảm giác thiêu đốt này, ràng buộc, ham muốn này, những cảm giác ta đây, tất cả những cái đó mình phải thấy rõ và đoạn trừ, đây là pháp lệnh. Có những cảm giác vừa khởi lên mình nói "tan biến đi, tiêu diệt đi", pháp lệnh của mình mạnh thì nó sẽ tan biến. Có những cảm giác trong người mình rất khủng khiếp, chỉ cần thấy một hành động hay nghe một câu thôi là trong người cảm thấy nóng phừng phựt lên, nó thiêu đốt mình như một đống lửa trong lồng ngực mình, mình sẽ thấy được sự tập khởi và đoạn diệt của sân và thấy được đạo lộ xuất ly của sân. Hay lắm! Đối với dục, tham, ái cũng như vậy, mình cũng thấy được sự tập khởi của nó trong cảm giác, thấy được sự chấm dứt khi cảm giác đó tan biến và thấy được con đường thoát ra khỏi nó. Rất là tuyệt diệu!
Ở đây chúng ta nhấn mạnh vào phần ý nhận thức pháp, cái này sâu sắc lắm. Mình ngồi yên rồi trong tâm mình khởi lên những cảm giác, suy nghĩ, những hình bóng, trong đó có các ác và bất thiện pháp, những suy nghĩ nhớ nhung liên hệ đến kiết sử khởi lên, những chỗ đó mình "không có đón nhận chúng, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: Ta không làm thối thất các thiện pháp. Ðây Như Lai gọi là pháp bất thối đọa". Không bị lùi lại và cũng không bị rơi xuống, tức là những vị này đứng vững trong pháp và luật, đây là những vị hướng thượng, bước lên những con đường cao đẹp của thánh pháp.
Đức Phật giải thích về sáu thắng xứ:
Một Tỳ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: Xứ này đã được nhiếp phục. Và Như Lai gọi đây là thắng xứ.
Thắng chính là sự thù thắng, ưu việt. Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm và "ý nhận thức pháp, các ác bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: Xứ này đã được nhiếp phục. Và Như Lai gọi đây là thắng xứ". Tu tới đây là tốt lành, tuyệt vời rồi, Phạm hạnh đã thành. Mắt, lỗ tai, mũi, lưỡi, miệng, thân, ý, đó gọi là "Xứ này đã được nhiếp phục" và "Như Lai gọi đây là thắng xứ".
Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy lắng nghe.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là trú phóng dật?
Ai sống không nhiếp hộ nhãn căn, này các Tỳ-kheo, thời tâm người ấy bị nhiễm ô đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không có hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật (Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, V. Phẩm Từ Bỏ, IV. Sống Phóng Dật).
Bài này mới vi diệu làm sao! Đây là quy trình đạo lộ của tâm đưa đến thiền định, đây là đạo lộ tuần tự của những bước đưa đến một cái tâm định tĩnh. Người nào sống không thâu nhiếp, không phòng hộ, không giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý thì tâm người đó bị nhiễm ô, bị hoen ố đối với sắc đẹp, tiếng hay, mùi vị, sự đụng chạm và các cảm giác nghĩ tưởng bên trong. Một cái tâm của người bị nhiễm ô như vậy thì tâm đó không vui vẻ, làm sao có thể vui khi suốt ngày chạy đi tìm dục, tham ái và sân hận, tối ngày cứ ta đây, cống cao ngã mạn, tự đắc, mình hơn mọi người, như vậy thì làm sao có thể có được cái tâm không ô nhiễm. Cái tâm đã bị ô nhiễm từ sáu căn, một khi tâm không thanh tịnh, không trong sạch nên không hân hoan, không hân hoan thì không có hỷ. Chính vì vậy chúng ta phải tác ý, làm cho phấn khởi lên, vì cái tâm thanh tịnh mới có thể hoan hỷ, nếu không hoan hỷ thì không nhẹ nhàng, một cái tâm nặng nề, trì trệ, giống như một cục đá tảng đè trên vai, một cái tâm như vậy thì làm sao có thể khinh an và không có khinh an nên khổ an trú. Nó nhập hộ khẩu vào khổ rồi, không "Trần Văn khổ" thì cũng "Nguyễn Thị Đau", một nội tâm đau khổ an trú như vậy thì không thể nào có thể đến chỗ định tĩnh, cho nên mình không thiền định được là như vậy.
Ở đây mình thấy một quy trình, do phòng hộ các căn cho nên tâm không bị ô nhiễm, do tâm không bị ô nhiễm nên hân hoan, do hân hoan nên hỷ sanh, do có hỷ lạc vui sướng nên được nhẹ nhàng, do nhẹ nhàng nên không có khổ, từ chỗ không khổ nên tâm mới có thể định tĩnh, mà định tĩnh thì các pháp được hiển lộ, Đức Phật gọi người đó là an trú không phóng dật.
Ai sống nhiếp hộ nhãn căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ sanh nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật.
Quá ư là tuyệt vời! Nhưng nó đòi hỏi mình phải có sự nỗ lực chiến đấu với những thói quen tập khí. Mình tập từ từ là sẽ được, chúng ta thấy sự đau khổ thì làm sao tâm định, mà tâm không định thì các pháp không hiển lộ cho nên người đó không thấy được xúc, thọ, tưởng, hành, không thấy được những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm mình. Có khi thấy là đã muộn rồi, đã tan vỡ hết cho nên những người vào tù thì ăn năn hối hận nhưng đã bị tuyên án chung thân, tử hình hoặc 18 năm. Đức Phật gọi đó là phóng dật, do buông lung nên mình phải sống với cảnh ngục tù, đọa đày, vì mình có phòng hộ nên mình tự do tự tại.
Đức Phật phân tích cho mình hết sức tuyệt vời, giữa cái trú phóng dật và an trú không phóng dật.
Ai sống nhiếp hộ ý căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ tâm nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật.
"Các pháp được hiển lộ" chính là con mắt này là vô thường hiển lộ, con mắt là khổ hiển lộ. Tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là vô thường, là khổ vô ngã được hiển lộ. Sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp này là vô thường, là khổ, là vô ngã hiển lộ. Sự rõ biết sáu thức là vô thường, là duyên sanh, tan hoại, tự tánh đổi khác hiển lộ. Sự tiếp xúc của căn – trần – thức, sự tiếp xúc của sáu xúc hiển lộ. Sự tiếp xúc này là vô thường, là trống rỗng, là biến hoại hiển lộ. Sáu thọ do sáu xúc sanh này là khổ vô ngã, các thọ, tham sân si, của ngã mạn dẫn đến nguồn cội của khổ đau, của nghiệp quả hiển lộ. Hiển lộ đối với con mắt, nhãn sanh, minh sanh, trí sanh, tuệ sanh, quang sanh, các pháp như thật hiển lộ. Tham pháp hiện rõ, sân pháp lộ rõ, si pháp hiển lộ, bản ngã hiện nguyên hình, vô minh được phát giác và bắt đầu đi đến chỗ diệt tận. Đây là cái thấy của bậc Dự lưu, cái thấy của bậc mở con mắt trí tuệ. Muốn được như vậy phải sống nhiếp hộ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, do sự nhiếp hộ đó tâm không bị ô nhiễm, hoặc là bớt ô nhiễm. Do tâm không bị ô nhiễm nên hân hoan, do hân hoan nên hỷ, do hỷ nên được nhẹ nhàng, từ đó có cảm thọ an lạc và tâm được định tĩnh thì các pháp được hiển lộ, chính là nhờ sự không buông lung phóng dật.
Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.
THỐI ĐỌA VÀ PHÓNG DẬT
ĐĐ.Thích Minh Thành giảng
Bài kinh "Thối đọa" trong Tương Ưng Sáu Xứ.
Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp thối đọa, pháp bất thối đọa và sáu thắng xứ.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp thối đọa?
Tỳ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Nếu Tỳ-kheo đón nhận chúng không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Ta làm thối thất các thiện pháp". Ðây Như Lai gọi là pháp thối đọa.(Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, V.Phẩm Từ Bỏ, III.Thối Đọa)
Nãy giờ là pháp, nãy giờ cũng đang thuyết pháp. Nếu chúng ta đợi đến nói pháp, đợi giảng pháp mới gọi là pháp, mới nghe pháp thì cái đó là pháp của tiểu học. Mình thấy pháp đúng như thật sự nó đang diễn ra thì đó là thật pháp. Đường truyền mạng bị trục trặc chứ mình không có trục trặc, mình sẽ cố gắng nhưng mình không để cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình bị cuốn theo dòng thác lũ, đó là thánh pháp, là tối thượng pháp. Nãy giờ là bài thi, là thật pháp còn mấy ngày bình thường là bài học. Dù cho có bất cứ chuyện xảy ra, thuận hay nghịch, được hay mất, tiện hay không tiện thì mình phải an trú cảm giác toàn thân, mới có chút xíu mà mình sợ hãi, lo lắng, vậy khi mình gặp tai nạn thì sao? Nếu mình đối diện với bệnh tật và chết chóc thì sao? Nếu tối nay có cơn bão lớn cuốn hết cái chùa thì sao? Lúc đó ai cứu mình? Chính sự an trú vững chắc vào ba pháp, sự định tâm ở trên thân, kiểm soát và nhiếp phục làm chủ tất cả các cảm thọ, đó là hải đảo tự thân, là lá bùa hộ mạng, là trú xứ của sự bình an, nếu không thì mạng mất là mình mất mạng. Làm gì cũng phải đem hết sức ra làm, nếu không được thì phải chịu. Chúng ta dễ bị hai thái cực, một là lơ là, không để tâm, hai là khi đã để tâm thì bám chấp vào cái dục tham ái của mình, quyết định phải làm cho được, còn không được là khổ, đó là do mình chưa thấy pháp.
Hôm nay là bài thi, còn bảy tám ngày nay là học bình thường, đó là cơ phong, là có sự sắc bén trong cái nhìn của tuệ, bằng không mỗi một ngày như vậy mình chết không biết bao nhiêu lần, chạy theo các dòng cảm thọ, cảm xúc mà cảm giác là dòng thác lũ. Hằng ngày mình bất bênh, chìm nổi trong nó, bình thường mình còn tỉnh táo, còn đang tu học mà chỉ có cảm giác nhỏ như vậy mà mình còn không nhìn ra thì tới lúc lơ là, mất cảnh giác lỡ có chuyện gì xảy ra hay tuổi già ập đến thì làm sao mình an trú được? Mình sẽ hoảng loạn, lo lắng và sợ hãi khi tám ngọn gió của thế gian thổi lên. Những cảm giác dục là dòng thác lũ. Những cảm giác của ái luyến, ưa thích là dòng thác lũ. Những cảm giác của sự thúc giục, ham muốn tìm kiếm là dòng thác lũ. Những cảm giác lờ đờ, mông lung, trơ trơ, si mê, si ám là dòng thác lũ. Dòng thác này rất khủng khiếp. Dòng lũ này đã cuốn mình trôi đi, hai ba bốn chục năm mình bị dòng lũ của dục tham ái cuốn phăng mình, cảm giác bực bội và nóng giận là dòng thác lũ. Một ngày mình sanh khởi lên cảm giác đó bao nhiêu lần? Khó chịu, bực bội, ganh ghét, hơn thua…bao nhiêu lần?. Mình kiểm tra lại bao nhiêu tiếng trong một ngày mình ở trong trạng thái đó, không nhìn thấy rõ năm uẩn, không nhìn thấy các cảm giác sanh khởi, an trú và hoại diệt, không nhìn thấy trong năm uẩn chất chứa những cái gì. Đó là mình bị cuốn theo và bị nhận chìm trong dòng thác của si mê. Một ngày sinh ra bao nhiêu cảm giác buồn chán, không muốn tinh tấn, không muốn tu học mà uể oải, buông trôi thì đó là dòng thác lũ, một ngày có bao nhiêu cảm giác buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, không thâu nhiếp và không kiểm soát, hộ trì thì đó là dòng thác lũ. Nếu mình không có trí tuệ thực tập nhận diện cho sâu sắc các dòng cảm giác, nghĩ tưởng thì mình ở trong đó, phải nỗ lực thoát ra năm truyền cái đó thì mới có cơ hội bước vào dòng trí tuệ, nếu không là vĩnh viễn muôn đời vạn kiếp đắm chìm trôi nổi. Cho nên mới nói tất cả chúng sanh chìm đắm, lặn hụp trong biển khổ. Cho nên bài kinh hôm nay rất quan trọng. Chúng ta đang học về Tương Ưng sáu xứ, bài kinh "Thối đọa".
Trong bài kinh này Đức Phật chỉ cho mình pháp hành rất rõ ràng, khi con mắt thấy sắc thì "các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên", ức niệm là nghĩ nhớ, tu duy là suy tư, khi con mắt tiếp xúc với sắc sanh khởi lên nghĩ nhớ, suy tư, liên hệ đến kiết sử, liên hệ đến những sự trói buộc, sai khiến thì đây gọi là các ác bất thiện pháp. Những cái suy tư, những cái phiền não và bất thiện pháp như vậy mà vị này đón nhận chúng," không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: Ta làm thối thất các thiện pháp". Mình học chỗ này mới hiểu được phần niệm tâm trong Tứ Niệm Xứ "nội tâm có tham biết nội tâm có tham, nội tâm có sân biết nội tâm có sân…". Cái biết đó chỉ là nói vắn tắt, thực ra là phải từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt và khiến cho chúng không sanh khởi lên nữa thì đó mới là không bị thối đọa. Chỗ này thật sự vi diệu, thâm thúy và đòi hỏi mình phải có ánh nhìn sắc bén, tinh vi, đó phải là mắt tâm, con mắt chánh pháp. Thầy nói một ví dụ để làm sáng tỏ vấn đề này: Ví dụ mấy chú vào tập sự xuất gia hoặc là đã xuất gia, hay làm công quả, mình đang làm gì đó thì bỗng nhiên có bóng hồng phớt ngang qua mình thì đó là sự tiếp xúc của con mắt. Bóng hồng này lại giống người con gái mình đã từng quen trước khi mình vào chùa thì đó là ức niệm, lúc đó mình có suy tư không? Suy tư về những chuyện đã qua, đó là tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Tư duy cái gì, nhớ nghĩ cái gì, suy nghĩ cái gì là liên hệ đến những sự ràng buộc ưa thích, những kỉ niệm ngày xưa, đó là những kiết sử. Kỉ niệm chính là tham sân si, dục tham ái chứ còn gì khác, đó là ác và bất thiện pháp nhưng nếu những suy nghĩ, những hình bóng, cảm giác sanh khởi lên mà mình đón nhận chúng, mình không tiêu diệt, không từ bỏ, không khiến cho chúng không sanh khởi thì người đó đang thối đọa, dù cho người này không nói ra gì, không có hành động gì, chỉ là những cảm giác, nghĩ tưởng khởi lên, những tư duy ức niệm khởi lên thôi thì cũng là đang thối đọa. "Thời này các Tỳ-kheo", hãy nhớ Tỳ-kheo là chỉ chung cho tất cả người tu chứ không phải chuyện riêng của các thầy Tỳ-kheo. "Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: Ta làm thối thất các thiện pháp. Ðây Như Lai gọi là pháp thối đọa, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm giác". Ví dụ bỗng dưng mình nghe âm thanh hoặc là nhớ lại thanh trần và thanh tưởng đều như vậy, cho nên các huynh đệ mới thấy chỗ sâu sắc khi học pháp này. Trước khi học mình không biết thanh tưởng là gì, mình nhớ lại âm thanh, đó là âm thanh chê trách, nói nặng hoặc là mình nghe trực tiếp thanh trần bên ngoài mà lúc đó những suy tư liên hệ đến kiết sử, đến sự trói cột, tức là sân hận, bực bội khó chịu khởi lên như vậy là những pháp ác và bất thiện mà mình đón nhận, không từ bỏ, không tiêu diệt, không thể khiến cho chúng không thể sanh khởi thì người này thối thất các thiện pháp cho dù mình đang ngồi trên bồ đoàn. Nó sâu xa như vậy đó. Đang ngồi thiền mà là thối đọa các thiện pháp, vì đón nhận kiết sử, không từ bỏ, mình đón nhận sự trói buộc, tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng liên hệ đến tham sân si và bản ngã đều là kiết sử, đều là sự trói cột thân tâm và nó sai khiến, hành hạ mình, là tập đế, là sự tích tập của tất cả khổ uẩn và nguyên nhân để hình thành đau khổ. Mà bây giờ mình đón nhận nó, mình chấp nhận nó, để cho nó đi vào trong thân tâm và an trú, lớn mạnh quảng đại thì không thối đọa là cái gì? Cho nên chỗ này là chỗ người tu thấy được là hay lắm, tức là cẩn thận từ xúc chứ không phải đợi tới thọ cho nên sự hộ trì căn mắt; tai; mũi; lưỡi hết sức quan trọng, nếu không có cái này thì làm sao giữ giới để từ đó đi đến chánh định. Cho nên tại sao thầy hay nhắc các huynh đệ đừng có lăng xăng. Trước đại chúng, trước pháp hội trang nghiêm, trước thầy mà còn như vậy thì nếu ra chợ hoặc ở một mình thì lúc đó ra sao? Chỗ đáng phòng hộ, hộ trì mà không phòng hộ thì đến những chỗ không đáng thì ra sao? Bung ra hết những tập khí vô minh, phàm tục, hạ liệt thấp hèn. Từ chỗ xúc sanh ra thọ, tiếp xúc sẽ sanh khở ra các cảm giác và mình phải nhìn thấy nó, phải biết cái nào mình đón nhận thì cho nó sanh, cái nào mình không cho phép nó sanh, và cái nào mình phải từ bỏ, diệt tận thì người đó là người "không làm thối thất các thiện pháp". Còn nếu mình đón nhận chúng là mình rước giặc, đón trộm vào nhà, cho nó ăn, nuôi dưỡng nó và nó tàn phá thân tâm mình. Mỗi một lần sân hận sanh khởi lên là nó tàn phá thân tâm của mình, đó là mới chỉ nói sân sanh khởi trong cảm giác còn bung ra miệng, ra hành động thì nó tàn phá cơ thể mình và những người khác. Những vụ án diễn ra hằng ngày, mới hôm qua chú Phật tử qua thăm thì gần nhà chú đó có người mua nước sâm làm sao mà nói qua nói lại bị chặt rớt cánh tay, tất cả những cái đó là từ việc đón nhận cảm giác sân hận mà họ có biết cảm giác gì đâu, một khi cảm giác sân ập tới là đốt cháy ngũ uẩn của họ, nhưng mình đã học, đã hiểu, đã biết mà mình vẫn cho chúng, vẫn đón nhận chúng thì thật sự đáng tiếc, là mình hại chính mình. Cho nên không phải mình thấy, mình biết là mình có thể diệt tận được ngay nhưng mình phải nỗ lực thực tập từ từ, mình phải biết con đường của mình đi. Lỗ mũi, lưỡi cũng vậy, thành ra mình thực tập được phần nào thì mình được an vui, giải thoát phần đó, vì vậy phải học thuộc bài kinh này. Ví dụ Phật tử đi vãng cảnh chùa, "con gửi cái này cúng dường cho thầy", nhưng khi đưa đồ thì vô tình tay chạm tay thì những ức niệm, những tư duy liên hệ tới kiết sử được khởi lên thì lúc đó cảm giác tiếp xúc sanh ra thọ, rồi mình thích cảm giác đó là ái, khi mình ngủ hay nằm nghỉ thì những cảm giác sanh khởi về sự ưa thích cảm giác tay chạm tay nó lưu trú trong tâm mình vì mình đã đón nhận mà không tiêu diệt, không đoạn trừ nó. Các huynh đệ có thấy Đức Phật dạy mình không? Từ chặng đầu tiên khi tiếp xúc sanh cảm giác là phải chặn nó rồi mà từ thời Đức Phật vẫn có người xuất gia rồi trở về hoàn tục hoặc là phạm giới, thành ra mình học phải cố gắng thực tập lần lần. Không phải học là làm được liền, ở trong chánh pháp như vầy mà mình nỗ lực sẽ đi đến kết quả tối thắng, còn ở trong cái pháp không phải là chánh pháp thì dù cho mình có nỗ lực thế nào đi nữa cũng không đưa đến kết quả thật sự. Bây giờ ví dụ về thân cảm xúc: Mình được ngồi trên xe hơi đắt tiền hay bước vào nhà sang trọng thì lúc đó những ức niệm tư duy liên hệ tới kiết sử khởi lên, đây chính là thân xúc, phải xem mình có những cái ham thích, ưa mến trong này không. Chúng ta thấy sự tu tập này hết sức là tỉ mỉ, tinh vi và sắc bén chứ không phải cái không thấy, không biết, mù mờ mà là kiểm soát tâm mình từng milimét, như vậy mới đưa mình đến đoạn tận hết tất cả lậu hoặc. Còn cái này đi vào thẳng tâm mình, xâm chiếm luôn thân tâm mà mình không biết gì hết thì Đức Phật gọi là pháp thối đọa.
Này các Tỳ-kheo, sau khi ý nhận thức pháp, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Nếu Tỳ-kheo đón nhận chúng, không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Ta làm thối thất các thiện pháp". Ðây Như Lai gọi là pháp thối đọa.
Chỗ này là chỗ hết sức nhỏ nhiệm bên trong tâm của mình. Mình liên hệ thêm một bài kinh khác:
Tôn giả Upavàna bạch Thế Tôn:
"Thiết thực hiện tại, thiết thực hiện tại", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người có trí tự mình giác hiểu?
Ở đây, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: "Tôi có nội tham đối với các sắc". Cho đến chừng nào sau khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc, và có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: "Tôi có nội tham đối với các sắc". Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận biết pháp cũng vậy.
Ở đấy, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với sắc; vị ấy biết rõ: "Tôi không có nội tham đối với sắc". Cho đến chừng nào, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: "Tôi không có nội tham đối với các sắc". Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận biết pháp cũng vậy. (Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phẩm Hai- Năm Mươi Kinh Thứ Hai, I. Phẩm Vô Minh, VIII. Upavàna)
Đại chúng nghe bài kinh này có hiểu ý Phật muốn nói gì không? Bây giờ chúng ta bắt đầu bước qua nhận diện năm uẩn một cách sâu sắc, mình liên hệ bài kinh này để mình tiến một bước sâu hơn nữa về nhận diện năm uẩn. Tôn giả Upavàna hỏi Đức Phật thiết thực, hiện tại, định nghĩa về pháp là như thế nào, Phật trả lời sau khi có "cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc, có nội tham đối với các sắc, vị ấy biết rõ: Tôi có nội tham đối với các sắc". Đây chính là niệm tâm trên tâm trong Tứ Niệm Xứ, khi con mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, thân xúc chạm thì mình có cảm giác thì mình biết có cảm thọ tham sắc và có nội tham đối với các sắc. Nội tham là sự tham muốn ở bên trong, nội tâm có tham chính là bên trong cảm giác sanh khởi ra sự ham muốn, ưa thích, sự thúc giục thì "vị ấy biết rõ: Tôi có nội tham đối với các sắc", vị ấy biết rõ bên trong có tham đối với sắc này. Sau khi biết rõ phải có biện pháp xử lý chứ không phải biết rồi để đó, như vậy Đức Phật gọi là "thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời", biết để xử lý nó, không chấp nhận nó, không đón nhận và tiêu diệt khiến cho chúng không thể sanh khởi, như vậy là thiết thực, hiện tại, khi không sanh khởi nữa thì không có nguyên nhân dẫn mình đi vào sầu bi khổ ưu não, lo lắng, sợ hãi, sự ràng buộc của các kiết sử. Chúng ta thấy rất rõ, mình phải hiểu thêm nội tâm có sân thì vị ấy phải biết rõ có sân, Đức Phật nói vắn tắt nhưng mình phải hiểu đầy đủ "Tôi có nội sân đối với các sắc…thì vị ấy phải biết rõ tôi có sự bực bội bên trong đối với lời nói, đối với hành động này", sau khi mình biết rõ thì mình mới từ bỏ, không chấp nhận, tiêu diệt bằng như lý tác ý, bằng những phương pháp quán chiếu, bằng trải tâm từ, bằng quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của những cảm giác thiêu đốt này, ràng buộc, ham muốn này, những cảm giác ta đây, tất cả những cái đó mình phải thấy rõ và đoạn trừ, đây là pháp lệnh. Có những cảm giác vừa khởi lên mình nói "tan biến đi, tiêu diệt đi", pháp lệnh của mình mạnh thì nó sẽ tan biến. Có những cảm giác trong người mình rất khủng khiếp, chỉ cần thấy một hành động hay nghe một câu thôi là trong người cảm thấy nóng phừng phựt lên, nó thiêu đốt mình như một đống lửa trong lồng ngực mình, mình sẽ thấy được sự tập khởi và đoạn diệt của sân và thấy được đạo lộ xuất ly của sân. Hay lắm! Đối với dục, tham, ái cũng như vậy, mình cũng thấy được sự tập khởi của nó trong cảm giác, thấy được sự chấm dứt khi cảm giác đó tan biến và thấy được con đường thoát ra khỏi nó. Rất là tuyệt diệu!
Ở đây chúng ta nhấn mạnh vào phần ý nhận thức pháp, cái này sâu sắc lắm. Mình ngồi yên rồi trong tâm mình khởi lên những cảm giác, suy nghĩ, những hình bóng, trong đó có các ác và bất thiện pháp, những suy nghĩ nhớ nhung liên hệ đến kiết sử khởi lên, những chỗ đó mình "không có đón nhận chúng, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: Ta không làm thối thất các thiện pháp. Ðây Như Lai gọi là pháp bất thối đọa". Không bị lùi lại và cũng không bị rơi xuống, tức là những vị này đứng vững trong pháp và luật, đây là những vị hướng thượng, bước lên những con đường cao đẹp của thánh pháp.
Đức Phật giải thích về sáu thắng xứ:
Một Tỳ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: Xứ này đã được nhiếp phục. Và Như Lai gọi đây là thắng xứ.
Thắng chính là sự thù thắng, ưu việt. Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm và "ý nhận thức pháp, các ác bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: Xứ này đã được nhiếp phục. Và Như Lai gọi đây là thắng xứ". Tu tới đây là tốt lành, tuyệt vời rồi, Phạm hạnh đã thành. Mắt, lỗ tai, mũi, lưỡi, miệng, thân, ý, đó gọi là "Xứ này đã được nhiếp phục" và "Như Lai gọi đây là thắng xứ".
Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy lắng nghe.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là trú phóng dật?
Ai sống không nhiếp hộ nhãn căn, này các Tỳ-kheo, thời tâm người ấy bị nhiễm ô đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không có hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật (Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, V. Phẩm Từ Bỏ, IV. Sống Phóng Dật).
Bài này mới vi diệu làm sao! Đây là quy trình đạo lộ của tâm đưa đến thiền định, đây là đạo lộ tuần tự của những bước đưa đến một cái tâm định tĩnh. Người nào sống không thâu nhiếp, không phòng hộ, không giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý thì tâm người đó bị nhiễm ô, bị hoen ố đối với sắc đẹp, tiếng hay, mùi vị, sự đụng chạm và các cảm giác nghĩ tưởng bên trong. Một cái tâm của người bị nhiễm ô như vậy thì tâm đó không vui vẻ, làm sao có thể vui khi suốt ngày chạy đi tìm dục, tham ái và sân hận, tối ngày cứ ta đây, cống cao ngã mạn, tự đắc, mình hơn mọi người, như vậy thì làm sao có thể có được cái tâm không ô nhiễm. Cái tâm đã bị ô nhiễm từ sáu căn, một khi tâm không thanh tịnh, không trong sạch nên không hân hoan, không hân hoan thì không có hỷ. Chính vì vậy chúng ta phải tác ý, làm cho phấn khởi lên, vì cái tâm thanh tịnh mới có thể hoan hỷ, nếu không hoan hỷ thì không nhẹ nhàng, một cái tâm nặng nề, trì trệ, giống như một cục đá tảng đè trên vai, một cái tâm như vậy thì làm sao có thể khinh an và không có khinh an nên khổ an trú. Nó nhập hộ khẩu vào khổ rồi, không "Trần Văn khổ" thì cũng "Nguyễn Thị Đau", một nội tâm đau khổ an trú như vậy thì không thể nào có thể đến chỗ định tĩnh, cho nên mình không thiền định được là như vậy.
Ở đây mình thấy một quy trình, do phòng hộ các căn cho nên tâm không bị ô nhiễm, do tâm không bị ô nhiễm nên hân hoan, do hân hoan nên hỷ sanh, do có hỷ lạc vui sướng nên được nhẹ nhàng, do nhẹ nhàng nên không có khổ, từ chỗ không khổ nên tâm mới có thể định tĩnh, mà định tĩnh thì các pháp được hiển lộ, Đức Phật gọi người đó là an trú không phóng dật.
Ai sống nhiếp hộ nhãn căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ sanh nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật.
Quá ư là tuyệt vời! Nhưng nó đòi hỏi mình phải có sự nỗ lực chiến đấu với những thói quen tập khí. Mình tập từ từ là sẽ được, chúng ta thấy sự đau khổ thì làm sao tâm định, mà tâm không định thì các pháp không hiển lộ cho nên người đó không thấy được xúc, thọ, tưởng, hành, không thấy được những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm mình. Có khi thấy là đã muộn rồi, đã tan vỡ hết cho nên những người vào tù thì ăn năn hối hận nhưng đã bị tuyên án chung thân, tử hình hoặc 18 năm. Đức Phật gọi đó là phóng dật, do buông lung nên mình phải sống với cảnh ngục tù, đọa đày, vì mình có phòng hộ nên mình tự do tự tại.
Đức Phật phân tích cho mình hết sức tuyệt vời, giữa cái trú phóng dật và an trú không phóng dật.
Ai sống nhiếp hộ ý căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ tâm nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật.
"Các pháp được hiển lộ" chính là con mắt này là vô thường hiển lộ, con mắt là khổ hiển lộ. Tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là vô thường, là khổ vô ngã được hiển lộ. Sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp này là vô thường, là khổ, là vô ngã hiển lộ. Sự rõ biết sáu thức là vô thường, là duyên sanh, tan hoại, tự tánh đổi khác hiển lộ. Sự tiếp xúc của căn – trần – thức, sự tiếp xúc của sáu xúc hiển lộ. Sự tiếp xúc này là vô thường, là trống rỗng, là biến hoại hiển lộ. Sáu thọ do sáu xúc sanh này là khổ vô ngã, các thọ, tham sân si, của ngã mạn dẫn đến nguồn cội của khổ đau, của nghiệp quả hiển lộ. Hiển lộ đối với con mắt, nhãn sanh, minh sanh, trí sanh, tuệ sanh, quang sanh, các pháp như thật hiển lộ. Tham pháp hiện rõ, sân pháp lộ rõ, si pháp hiển lộ, bản ngã hiện nguyên hình, vô minh được phát giác và bắt đầu đi đến chỗ diệt tận. Đây là cái thấy của bậc Dự lưu, cái thấy của bậc mở con mắt trí tuệ. Muốn được như vậy phải sống nhiếp hộ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, do sự nhiếp hộ đó tâm không bị ô nhiễm, hoặc là bớt ô nhiễm. Do tâm không bị ô nhiễm nên hân hoan, do hân hoan nên hỷ, do hỷ nên được nhẹ nhàng, từ đó có cảm thọ an lạc và tâm được định tĩnh thì các pháp được hiển lộ, chính là nhờ sự không buông lung phóng dật.
Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.