CHIẾN THUẬT TÂM LINH CỦA ĐỨC PHẬT - 1 (1)
CHIẾN THUẬT TÂM LINH CỦA ĐỨC PHẬT - 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô minh và minh: PAGEREF _Toc50452377 \h 1
II. Giới phân biệt: PAGEREF _Toc50452378 \h 4
1. Bài kinh: PAGEREF _Toc50452379 \h 4
2. Mười tám ý hành: PAGEREF _Toc50452380 \h 6
3. Bốn thắng xứ: PAGEREF _Toc50452381 \h 7
4. Địa giới: PAGEREF _Toc50452382 \h 9
5. Thủy giới: PAGEREF _Toc50452383 \h 10
6. Hỏa giới: PAGEREF _Toc50452384 \h 11
7. Phong giới: PAGEREF _Toc50452385 \h 12
8. Hư không giới: PAGEREF _Toc50452386 \h 13
9. Thức: PAGEREF _Toc50452387 \h 14
I. Vô minh và minh:
Dưới sự thực hành đúng Chánh pháp, chúng con hướng tâm bằng tất cả tấm lòng biết ơn đối với Đức Thế Tôn, Giáo pháp, các bậc hiền Thánh tăng, Thầy tổ và Vô thượng Thánh giới.
Sự tu học của chúng ta không thể xem thường hai chữ vô minh, sâu sắc, không đơn giản như mình nghe, đọc, học, hiểu. Vô là vô tri, si mê, thâm sâu vô lượng hai chữ vô minh. Để hiểu hết hai chữ vô minh thì mình minh, minh là bậc thánh, vô minh có nhiều cấp độ. Một điều quá sức sâu sắc, tại sao bây giờ thế sự, Thế Tôn đắc đạo còn không muốn nói tới, nhìn lại cuộc sống con người. Hàng ngày ta làm cái gì, mục đích của đời sống là phải làm cái gì. Có phải là tìm miếng ăn ngon, ăn mặc cho đẹp, tiện nghi ở cho sang, có thật nhiều tiền, để đáp ứng những cái mà họ ham muốn.
Mục đích đời sống con người chung chung là như vậy. Khá hơn chút nữa là tránh dữ làm lành, khá nhất là họ làm những điều thiện để có hạnh phúc, an vui trong hiện tại và tương lai, cái đó là “thuần thiện”. Còn Giáo pháp Phật không phải như vậy, đây là khổ, một sự thật cần phải cố gắng. Thật ra, cái này giống như “ván bài lật ngửa”, lật đổ hết tất cả những cái mà người ta làm căn cứ, nền móng xây lâu đài mà một cái triết thành tựu làm sụp đổ hết tất cả các ngã, thành ra biết đâu mà nói, đây mới gọi là ngược dòng, tịch lưu, thánh trí.
Bắt đầu đã là hoàn toàn trái ngược với thế gian, cái thấy đầu tiên của người tu. Cho nên Đức Thế Tôn nhập niết bàn ở trong trạng thái thụ động, lúc đó Phạm Tiên, Savati, Ba Bà Chủ. Khi thấy Đức Thế Tôn hỏi vấn đề như vậy trong khoảng, duỗi cánh tay đang co lại như vậy, biến mất, thiên giới hiện ra trước mặt Đức Phật, đảnh lễ Đức Thế Tôn ba lần. Đức Thế Tôn có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời có thể nghe được giáo pháp, tu tập, như các Đức Như Lai thuở xưa vì chúng sanh mà xoay chuyển bánh xe Chánh Pháp. Cho nên nếu mình hiểu hết nghĩa của hai chữ vô minh này là mình minh, minh về giải thoát.
Hàng ngày, mình sống ở trong vô minh, không thấy không biết các pháp diễn ra trong tự thân, tự tâm của mình; cho nên hôm qua Minh Thành đứng ở trước bàn Phật đọc kinh, vui là mình bắt đầu thấy, bắt đầu biết, minh bắt đầu sanh, cho nên Đức Thế Tôn mới nói rằng thế nào là minh, là giải thoát, là trí huệ, giống như là điềm báo trước của mặt trời xuất hiện lúc bình minh. Khi chân trời nhô lên ánh sáng là điềm báo trước mặt trời sẽ xuất hiện, cũng như vậy, trong đại chúng là điềm báo trước của các bậc Chánh Tri Kiến, các bậc thành tựu minh triết sắp sửa xuất hiện trên thế gian này.
Điềm báo trước của mặt trời sắp sửa phổ chiếu thì lúc đó bình minh xuất hiện, điềm báo trước của bậc thánh là Chánh Tri Kiến thành tựu, điềm báo trước của bậc hiền thánh tăng là trầm hương. Cho nên qua Minh Thành hỏi thì phía dưới hoan hỷ lắm, an lạc; nhìn thấy đại chúng không đông 10 người thôi tu mà đúng Chánh Pháp, thấy rõ tứ đại ngũ uẩn, vô minh, tham ái, chấp ngã, si mê như thế nào. Nhìn lại các pháp diễn ra trong tự thân tự tâm mình ghê lắm, khiếp lắm.
Như hôm qua một lần, bữa nay một lần, Minh Thành đang đi giày dưới đất như vậy mà muỗi nhào vô chích được, hai ba con chích làm khó chịu, tay, đầu, mặt cũng bị chích, vô lấy dầu sức, cho nên cảm giác khó chịu của mình như vậy. Đúng là ghê thật. Cái tâm mình còn quá kém, muỗi chích mà đã cảm thấy khó chịu, tu hành chưa tới đâu. Như vậy, khi tai nạn tới rồi sao, sanh tử tới rồi sao? Mình đang đi bốn, năm con muỗi nhào vô chích, mình quán chiếu nghiệp quả, đời trước ân oán với nó nên giờ mới chích như vậy. Để mình dùng như lý tác ý, dùng chánh tư duy để dẹp cảm giác sân trong khó chịu đó, trú trong cảm giác đó, những cái nhỏ nhiệm đó mình phải thấy. Muỗi chích mình có khó chịu không? Trong khó chịu có gì, trong sân đào sâu xuống có gì ở đó. Cái sân đó cho ngũ uẩn là mình. Cho sắc uẩn này là mình, trong sân đó là chấp ngã, sâu xuống chấp ngã là cho năm uẩn là mình, cho năm uẩn là mình là vô minh.
Trong cái muỗi chích nếu mình dùng trí quán soi rọi thì các pháp hiện rõ ra, ghê gớm lắm, các pháp trong thân tâm của mình, mình không thấy biết, rõ biết. Hàng ngày mình có biết đâu. Nhiều bậc thấy biết chỉ mình mà mình không chịu, đó là một sự đau đớn của tất cả sự đau đớn. Tôi muốn sống an ổn thôi, đừng ai nói tôi hết. Rồi có nhiều người phát biểu con dở lắm không bằng ai, nói như vậy trong kinh gọi là ngã mạn, tức là thấy người hơn mình, bằng mình hoặc thấp hơn người vô minh, trong đó có tôi trong đó. Thấy có tôi, có người hiền, chứ không thấy tứ đại, ngũ uẩn cho nên lúc nào cũng nói con dở lắm, con thấp hơn người khác, tối ngày cứ so sánh hơn, bằng và thua, cái đó là mạn trong kinh Đức Phật dạy, nó sâu sắc như vậy. Không phải nói mình dở là hay đâu. Nói mình dở ngoài đời giống như vậy thì hay, nhưng mà trong đạo có mình để mà dở với lại không dở.
Lúc đó, khi mình nói vậy thì đó là đang trình pháp, người tu chung thấy mình đang mắc trong cái gì mình không biết, đó là đang trong cái mạn. Thấy có mình, có hơn, có bằng và có thua mà không thấy tứ đại ngũ uẩn. Lúc nào cũng so sánh đối chiếu, cho nên học cái này cho tới chết, đầu thai lên học tiếp. Không được tự mãn trong tinh thần cầu học, tôn kính, tôn trọng, cầu pháp. Cho nên các pháp vận hành trong tâm mình, không thấy không biết là vô minh. Hôm qua mình nghe kinh đại thiên sứ, ở đời con mắt là chỗ yêu thích, ái, sân khởi, đoạn diệt từ chỗ đó. Ở đời, lỗ tai là chỗ mình yêu thích, chỗ sanh khởi của sự yêu thích, chính là chỗ đoạn diệt sự yêu thích ái. Ở đời, lỗ mũi, thân, ý; ở đời sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tướng, xúc tưởng, sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, làm sao lấy ra hết.
Nhiều khi Minh Thành ngồi ở dưới, huynh đệ ngồi ở trên mệt mỏi, có khi mình thấy mệt mỏi, chịu không nổi luôn không phải giỡn đâu. Cái trí mình không đủ sức làm tùm lum hết thì lúc đó mình phải xả, trở về ba pháp, hướng về ba pháp để tu chỉ, bởi vì lúc đó tâm loạn nhiều quá rồi. Lúc đó tạm thời nghỉ ngơi, không có cho mình thấy mình biết, thời gian như con đường, để từ từ nhận rõ, thấy rõ, từ từ hiểu rõ để chứng đắc mới được. Cho nên bài kinh mà Minh Thành dùng cái từ “Chiến thuật tâm linh của đức phật”, kinh giới phân biệt. Bài kinh này hồi trước đã nói rồi Minh Thành đang đọc sụp xuống lạy ngài lời kinh đó luôn tại trên bàn, bài kinh này thật sự khiếp đảm lắm, học hoài thôi, giật mình vì cái ngu của mình, cái vô tri, vô minh, si mê của mình. Không ngờ si mê của mình lớn tới như vậy.
II. Giới phân biệt:
1. Bài kinh:
Bài kinh số 140, Tập 3, Trung Bộ Kinh, trang 541, Kinh Giới phân biệt có một câu chuyện thú vị lắm.
Một thời, Thế Tôn du hành ở xứ Magadha (Ma- kiệt-đà), đi đến Rajagaha (Vương xá), đến nhà thợ gốm Bhargava; sau khi đến nói với thợ gốm Bhargava:
-- Này Bhargava, nếu không gì phiền phức cho Ông, Ta muốn ở tại chỗ này một đêm.
Bạch Thế Tôn không có gì phiền phức cho con. Ở đây đã có một vị xuất gia đến ở từ trước rồi. Nếu vị ấy thỏa thuận, bạch Thế Tôn, hãy ở lại tùy theo sở thích.
Lúc bấy giờ, Thiên gia nam tử Pukkusati, do lòng tin, y cứ Thế Tôn đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy đã đến ở trước tại trú xứ của thợ gốm. Rồi Thế Tôn đi đến Tôn giả Pukkusati; sau khi đến nói với Pukkusati:
-- Này Tỷ-kheo, nếu không gì phiền phức cho Ông, Ta muốn ở lại trú xứ này một đêm.
-- Rộng rãi, thưa Hiền giả, là trú xứ của thợ gốm. Tôn giả có thể ở, tùy theo sở thích.
Rồi Thế Tôn sau khi bước vào trú xứ của thợ gốm, trải thảm cỏ vào một bên, ngồi kiết-già, lưng thẳng và an trú niệm trước mặt. Và Thế Tôn trải qua phần lớn đêm ấy, ngồi như vậy. Tôn giả Pukkusati trải qua phần lớn đêm ấy cũng ngồi như vậy. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: "Cử chỉ Thiện gia nam tử này có vẻ tín thành, Ta hãy hỏi vị ấy". Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Pukkusati:
-- Này Tỷ-kheo, Ông xuất gia, y cứ vào ai? Ai là Ðạo sư của Ông? Ông chấp nhận pháp của ai?
-- Thưa Hiền giả, có Sa môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích Ca. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama ấy: "Ngài là bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn". Tôi đã xuất gia, y cứ bậc Thế Tôn ấy. Ngài là bậc Ðạo sư của tôi. Và tôi chấp thuận pháp của bậc Thế Tôn ấy.
-- Này Tỷ-kheo, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy ở đâu?
-- Thưa Hiền giả, có một thành phố tên là Savatthi giữa các quốc độ phía Bắc. Tại đấy, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hiện nay đang ở.
-- Này Tỷ-kheo, trước đây Ông đã thấy bậc Thế Tôn ấy chưa? Và nếu thấy, Ông có nhận ra được không?
-- Thưa Hiền giả, trước đây tôi chưa từng thấy bậc Thế Tôn ấy. Và nếu thấy, tôi không nhận ra được.
Rồi Thế Tôn suy nghĩ: "Thiện gia nam tử này xuất gia y cứ nơi Ta. Vậy Ta hãy thuyết pháp cho Thiện gia nam tử ấy". Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Pukkusati:
-- Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
-- Thưa Hiền giả, vâng.
Tôn giả Pukkusati vâng đáp Thế Tôn.
Một hồi, khi đức thế tôn giảng pháp xong, ông sụp xuống lạy , nói con như mù không biết thế tôn, bậc đạo sư của con mà kêu là hiền giả, sau này mới sám hối.
Thế Tôn nói như sau:
-- Này Tỷ-kheo, người này có sáu giới, sáu xúc xứ, mười tám ý hành, bốn thắng xứ, khi được an trú, vọng tưởng không có chuyển động. Khi vọng tưởng không chuyển động, vị ấy được gọi là một ẩn sĩ tịch tịnh. Chớ có buông lung trí tuệ, hãy hộ trì chân đế, hãy tăng trưởng huệ thí (caga), hãy tu học tịch tịnh. Ðây là tổng thuyết sáu giới phân biệt.
Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: "Người này có sáu giới", do duyên gì được nói đến như vậy? Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới. Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: "Người này có sáu giới", chính do duyên này được nói đến như vậy.
Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: "Người này có sáu xúc xứ", do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xúc xứ, nhĩ xúc xứ, tỷ xúc xứ, thiệt xúc xứ, thân xúc xứ, ý xúc xứ. Khi được nói đến: "Người này có sáu xúc xứ", chính do duyên này được nói đến như vậy.
2. Mười tám ý hành:
Đức Phật nói tổng thuyết giống như nói khái quát, bây giờ bắt đầu giảng chi tiết: Này tỷ-kheo, khi nói người này có 6 giới, tại sao nói như vậy. Địa giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới, thủy giới, đây gọi là 6 giới, đất, nước, gió, không,thức, lửa, độc ở trong quán tứ đại rồi. Khi mình nói người này có 6 xúc xứ, phải biết nhãn xuất xứ, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc xứ. Sáu chỗ tiếp xúc, mắt là nơi để tiếp xúc với sắc cho nên gọi là nhãn xuất xứ, tiếp xúc mới có thức rồi sau đó sinh ra cảm giác, tai cũng vậy tiếp xúc với âm thanh nên gọi là 6 xuất xứ. Phải nắm vững những Pháp này, thật vững 6 xuất xứ, nhãn, nhĩ, tỷ xúc xứ, thiệt xúc xứ, thân xúc xứ, ý xúc xứ. Chỗ tiếp xúc của mắt, mũi, tai, lưỡi, thân, ý. Khi thầy nói ra rõ tiếng Việt hết mới nắm được, chứ mình nói nhãn, nhĩ, thiệt, thân, ý người ta nghe không biết, nắm được. Nói sao cho người ta nghe hiểu được cái đó là cái khéo của mình, thiện thuyết khéo nói, mình nói người chuyên môn nghe được, người không chuyên môn thì không nghe được thì chưa có khéo nói.
Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: "Người này có mười tám ý hành", do duyên gì được nói đến như vậy? Khi con mắt thấy sắc, người ấy chạy theo sắc, chỗ trú xứ của hỷ, người ấy chạy theo sắc, chỗ trú xứ của ưu, người ấy chạy theo sắc, chỗ trú xứ của xả; khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức pháp, người ấy chạy theo pháp, chỗ trú xứ của hỷ, người ấy chạy theo pháp, chỗ trú xứ của ưu, người ấy chạy theo pháp, chỗ trú xứ của xả. Như vậy, có sáu hỷ hành, sáu ưu hành, sáu xả hành. Khi được nói đến: "Người này có mười tám ý hành", chính do duyên này được nói đến như vậy.
Đây là mười tám ý hành. Những cái này mình có biết đâu, từ vô minh những cái Pháp vận hành, vô minh ở đây là mình không thấy, sao mình biết, phải không? Thấy sắc thì người ấy chạy theo sắc, ý hành nó chạy, cảm giác nó chạy, tưởng nó chạy.
Thức bị trói cột, bữa mình học ở trong Tương ưng Bộ, sắc là nhà của thức, thức an trú bị trói trong đó, thọ cũng vậy, cảm giác cũng vậy, các tưởng cũng vậy, suy nghĩ cũng vậy. Nó bị trói cột, thức bị trói bị trú trong đó, ra không được cái biết lòng vòng trong đó. Cũng như mình ngồi chỉ biết mấy cái ghế tre, bàn tre, võng tre vậy thôi, cái biết đó là cái biết nhỏ hẹp. Cái biết bị trói buộc trong phạm vi rất nhỏ, cho nên đây là mười tám ý hành. Đây là hỷ, ưu và xả. Tức là vui, buồn, không vui không buồn giống như là thọ vậy. Cho nên trong số thọ có thọ hỷ, thọ xả, thọ lạc, thọ khổ, bị lạc, bi khổ .. cho nên đó là mười tám ý hành mình phải biết. Khi mắt mình thấy sắc thì tâm mình, những thọ tưởng hành của mình nó cứ chạy theo chỗ trú xứ của hỷ, mà ta biết cái chỗ trú xứ của vui này. Kế đó bị nhắc là nó chạy theo chỗ buồn, được khen, tuyên dương chạy theo chỗ vui, hỷ. Không nghe ai nói tới hết nó chạy theo chỗ xả. Mỗi cái vậy là sáu, mà sáu lần ba bằng mười tám ý hành.
Ý hành nói trong nội tâm, được khen nó nói thích thú quá, buồn nó nói vậy đó, không khen không chê gì không vui, không khổ nó cũng nói. Mười tám ý hành mình có thấy được hình hài không? Không thấy là vô minh. Thấy nó là minh. Tâm của mình, trong mắt trong tai mình.
3. Bốn thắng xứ:
Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: "Người này có bốn thắng xứ", do duyên gì được nói đến như vậy? Tuệ thắng xứ, đế thắng xứ, huệ thí thắng xứ, tịch tịnh thắng xứ. Khi được nói đến: "Người này có bốn thắng xứ", chính do duyên này được nói đến như vậy.
Khi được nói đến: "Chớ có buông lung trí tuệ, hãy hộ trì chân đế, hãy tăng trưởng huệ thì, hãy tu học tịch tịnh", do duyên gì được nói đến như vậy?
Thế nào là không buông lung trí tuệ?
Thế nào là không buông lung trí huệ, thế nào là không để cho tâm mình chạy rông, lờ mờ.
Có sáu giới này: địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới.
Chúng ta phải quán chiếu về sáu giới, nói gọn là tứ đại, nói rộng là lục đại.
Này Tỷ-kheo, thế nào là địa giới? Có nội địa giới và có ngoại địa giới. Và này Tỷ-kheo, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ. Như vậy, này Tỷ-kheo, được gọi là nội địa giới.
Đây là quán giới, giới phân biệt, giới xúc, phạm trù, lãnh vực, phạm vi của nó, phạm vi của đất, mình phải thấy rõ, địa giới ở trong thân đó là mình đang có trí huệ. Ví dụ, đang ngồi thiền tự nhiên vai bị xệ xuống nhức, địa giới bị ê ẩm. Địa giới ở trên đó sao ở đây mà mình đau vai quá. Chút nữa kiếm thuốc, giác, cạo gió, uống thuốc, bữa nay mình đau rồi, mình nghĩ vậy là buông lung trí huệ.
Cái lưng đau nhức, mỏi mà sao không biết nổi bảy ngày không, hôm nay mới 4 ngày, suy nghĩ cỡ vậy đó. Đó là buông lung trí huệ, đây là địa giới, thuộc kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ. Không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, nó thuộc về địa giới. Lúc đó, trí huệ sáng tỏ, đó là đang tự giới phân biệt, phân biệt sáng tỏ các giới, các lĩnh vực ở trong thân của mình. Bằng trí huệ rõ biết các lĩnh vực, giới mức, các phạm trù trong thân, tâm của mình, nó diễn ra vận hành làm sao, gọi là giới phân biệt. Học bài kinh này là thành tựu trí huệ, phá vô minh.
Chữ hay mình phải chiêm nghiệm “bị chấp thủ”, là cái thọ, tưởng, thức, hành của mình đã nắm chặt vô đất, nước, gió, lửa. Nắm chặt vô cứng chắc, chấp thủ, đây là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi, như vậy, gọi là bị chấp thủ. Bây giờ mình tu dùng trí huệ quán chiếu lại mở cái nắm này ra, đất là đất, nước là nước, gió là gió, lửa là lửa, tứ đại là tứ đại. Lúc đó, mình mở việc chấp thủ ra. Cho nên sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn, ngũ thủ uẩn. Nói tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Chấp thủ là khổ. Thấy rõ cái khổ sớm đến thì đến. Rất sâu sắc, rất là trí huệ, mở ra cái nội địa cũng ngon biết hàng nội địa không? Mở cái hàng nội địa này là khổ, xuất ngoại còn khổ nữa, thích hàng ngoại nữa. Nội ngoại đánh vô trong ngoài, nội công ngoại kích là sập luôn đó, chết ngay.
Quán chiếu ba chữ “bị chấp thủ”, nhiều khi thầy ngồi thấy lờ đờ, bắt đầu đọc lên: “Sắc là vô thường, là khổ, chịu sự biến hoại, tan nát, hoại diệt, hủy hoại, không gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi”. Sau đó, đọc tiếp thọ tưởng hành thức, đọc tiếp năm lần, đọc tới đọc lui vậy. Tự nhiên lúc đó mình tỉnh táo, mạnh mẽ, sáng suốt lên; đọc lên lúc mình thấy loạng choạng, lờ mờ cho mình tỉnh táo, đọc bài kinh mà u nhọt. Sau này cha mẹ, rồi con cháu nuôi dưỡng, tứ đại phát thành, vô thường tam thế, huỷ hoại hoại diệt, đọc thuộc bài đó lên, phải thuộc mới đọc được không là lọt chữ này sang chữ kia. Đọc như vậy tự nhiên mình phấn chấn, tỉnh tâm, sáng suốt lên. Đó là công năng của Pháp, không bị chi phối, vượt qua những cái tê nhức kia, mệt mỏi.
4. Địa giới:
Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Ðịa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.
Ở đây, dùng từ nó đã; câu kinh này đọc sướng vậy đó, thích thú, hoan hỷ, hân hoan, phát lạc, phát hỷ. Mình phải quán chiếu lại, nhàm chán, từ bỏ. Thân còn từ bỏ được, nhàm chán được huống chi là những cái nhảm nhí, không có xi-nhê gì hết. Bình thường gì chuyện mất xe, mất cột, mất đồ đạc là chuyện nhỏ, không sao hết. Ngày nào cũng bắt cái thân này, từ bỏ hết. Có bộ đồ này thôi, vật ngoài thân. Đó là thành tựu trí huệ, tuyệt vời. Quá tuyệt vời! Sung sướng cực kỳ, hạnh phúc vô cùng! Bây giờ không còn gì, cái gì để mất hết.
5. Thủy giới:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Và này Tỷ-kheo, thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ. Như vậy, này Tỷ-kheo, được gọi là thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới đều thuộc về thủy giới. Thủy giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Đang ngồi thiền, mồ hôi chảy ra.Ví dụ như bị cảm lâu lâu chảy ra nước mũi, một hồi nhiều khi là nước mắt, chảy ra, nội thủy giới. Một hồi đi thiền hành đạp trúng chỗ ướt nhẹp chân ướt hết khó chịu, ngoại thủy giới. Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi. Ba câu này là bùa hộ mệnh, giận là đọc lên, buồn là đọc lên, tham muốn là đọc lên, si là đọc lên. Thuốc trị bá bệnh đó, đọc lên, đọc mạnh lên. Đọc lên là tan, sức quán tuệ mạnh là tan hết, buồn ngủ tan hết, tỉnh táo lên.
Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới.
Nước này ghê, nước mũi, nước miếng, máu, nước tiểu có thích không? Nói tới là ghê rồi, thôi bỏ đi, từ bỏ đi.
Tiếp theo, nỗi khổ của sắc uẩn này như thế nào? Mà mình sống được vui là nhờ cái đó, nhờ sự hôi hám bẩn thỉu đó cho nên mới được ngồi cười ở đây, mà khi không bài tiết được là không còn cười. Cái sự sống của mình là ở cái dơ bẩn, hôi hám như vậy đó mà cái nghiệp của mình, mình vẫn thấy nó đẹp, thấy thích thú ở trong đó, đau đớn chứ. Khổ vậy. Cho nên sanh yếm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới. Từ bỏ nghĩa là không uống nước nữa nghe không, nhớ kỹ, khát nước vẫn uống chứ không từ bỏ được, chết à, uống nước bình thường. Không đam mê với nước, không quan trọng đó là nước gì, không tìm nước nào ngon mình thích. Đọc kinh thích thú lắm còn hơn ngày xưa xem phim chưởng, phim tình cảm Hàn Quốc, phải thấy được cảm giác như vậy rồi tu tập mới tiến bộ, đọc kinh không có mùi vị gì hết sao mà tu.
6. Hỏa giới:
Và này Tỷ-kheo, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Và này Tỷ-kheo, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thần, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy, cái gì khiến cho những vật được ăn, uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Này Tỷ-kheo, như vậy được gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa giới và những gì thuộc ngoại hỏa giới đều thuộc về hỏa giới. Hỏa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới.
Chất nóng, hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy, cái gì khiến cho những vật được ăn, uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa. Hôm trước mình coi sắc thân tứ đại khổ, đồ ăn trong đó gọi là dạ dày, mở ra mình coi không còn muốn ăn nữa. Những thức ăn sau khi vô dạ dày, hệ tiêu hoá làm cho nóng lên, tiêu hoá thành những dưỡng chất còn cái nào thì đào thải đi xuống. Nhờ cái nội ngoại hoả giới này mới tiêu hoá được, chứ không mình ăn cục tàu hủ nó đi ra cục tàu hủ luôn.
Mình thấy bộ máy cơ thể này rất là kỳ diệu, không có người máy nào bằng người thật hết, bây giờ trên 5.000 năm nữa, cũng là người máy, robot không làm thành người thật được. Cho nên thân người mình quán chiếu thấy rõ được nhân - quả, hôi tanh của nó để sử dụng nó một cách thông minh, trí huệ, chứ không phải mình từ bỏ nó. Sự đam mê mình bám chắc, không biết bản chất của nó, giá trị, công năng, tác dụng của nó đó là vô minh. Mà mình thấy được rõ bản chất, kết hợp, cấu tạo, sự vận hành, công năng, mục đích, giá trị của nó để sử dụng đúng, thì như vậy tuyệt vời.
Xá lợi của đức Phật là 5.000 năm cũng là tứ đại. Coi phim thỉnh kinh của Đức Phật bên Đài Loan, chưa từng thấy trong lịch sử, người ta lạy dài hết Nam Bắc, trăm ngàn vạn người, cái răng của Đức Phật. Cho nên sự tu tập trí huệ biến những cái bình phàm trở thành phi phàm, tầm thường trở thành phi thường, vô thường trở thành kim cang, bất hoại. Đó là ở Đức Phật, tồn tại năm ngàn năm, thân người bình thường năm chục năm rã hết rồi. Phải quán chiếu "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
7. Phong giới:
Và này Tỷ-kheo, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Và này Tỷ-kheo, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các đốt, các khớp, hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ. Này Tỷ-kheo, như vậy được gọi là nội phong giới. Những gì thuộc nội phong giới và những gì thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới. Phong giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát phòng giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới.
Cho nên những câu này thấy thường như vậy, nhưng khi chiêm nghiệm mình thấy nó hay lắm.
Cái gì cũng vậy, tất cả pháp hành trong đạo Phật, quán sát như thật chánh trí tuệ, cái biết bằng trí huệ phải thấu triệt nó luôn chứ không phải tránh né, lánh né hay để nó qua một bên. Biết bằng trí huệ, biết tận căn nguyên nguồn cội. Cho nên giác ngộ là biết, trong tất cả cái biết dùng từ là Sau khi như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới. Cho nên phải đưa vô một chương trình tu học quán Tứ đại, có trong phần tu học của mình, phân tách mỗi cái nào thuộc về cái nào, từng lĩnh vực, phạm vi nào để mà quán. Cho nên cái này gọi là “Chiến thuật tâm linh của Đức Phật”.
8. Hư không giới:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hư không giới? Có nội hư không giới, có ngoại hư không giới. Và này Tỷ-kheo, thế nào là nội hư không giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc hư không, thuộc hư không tánh, bị chấp thủ, như lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng, do cái gì người ta nuốt, những gì được nhai, được uống, được ăn, được nếm, và tại chỗ mà những gì được nhai, được uống, được ăn, được nếm, được giữ lại, và ngang qua chỗ mà những gì được nhai, được uống, được ăn, được nếm và được tống xuất xuống phần dưới để ra ngoài, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc hư không, thuộc hư không tánh, bị chấp thủ. Này Tỷ-kheo, như vậy được gọi là nội hư không giới.
Những chỗ trống trong cơ thể của mình, hai lỗ mũi, hai lỗ tai, cái miệng, đại tiểu tiện, lỗ chân lông...Tất cả chỗ đó là nội hư không, chỗ trống trong cơ thể của mình; không có cái đó làm sao ăn uống, nhai, nuốt, thở, nghe, nhìn mà mình không bao giờ thấy, mình thấy mắt của tôi, lỗ tai của tôi, lỗ mũi của tôi, miệng của tôi, các bộ phận trong cơ thể của tôi mà không thấy đó là nội hư không giới, không xét được việc trí huệ, chấp thủ lắm, sắc uẩn lắm.
Sắc thủ uẩn thì thọ thủ uẩn, cảm giác nắm theo, tưởng nắm theo, suy nghĩ nắm theo, nhận thức nắm theo, một chùm nắm theo. Năm ngón chụm vô thành nắm tay, năm ngón tay năm uẩn thành nắm tay nhìn là mình sợ nè, thấy sợ chưa. Ngũ uẩn đó, năm ngón tay nắm chặt nó sân si, si thì nó tham, tham thì sân, nó tung chưởng, tung võ ra, năm uẩn như bàn tay năm ngón. Bàn tay năm ngón xinh xinh nắm vô là si, tham, rồi dám lấy đồ của tui hả là đánh. Đó là chấp thủ, bị chấp thủ rất rõ. Mỗi lần nắm bàn tay năm uẩn, khổ nha nắm vô nha thôi mở ra đi. Nội hư không giới, ngoại hư không giới tất cả đều là lục giới, cho nên chỗ mình nghĩ là tại sao lời nói lặp tới lặp lui hoài nghe nó ngán, chán bởi vì trí phàm phu của mình, không lặp lại sao kinh mình học, sao mấy vị tỷ kheo thuộc, làm sao mọi người nhớ để tu. Lặp lại hoài vậy mà đọc không thuộc, thấy chưa? Cho nên Đức Phật nói tới nói lui hoài vậy đó.
Những gì thuộc nội hư không giới và ngoại hư không giới đều thuộc về hư không giới. Hư không giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát hư không giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với hư không giới, tâm từ bỏ hư không giới.
Chán nản, từ bỏ, không ưa thích nó nữa mà sử dụng một cách khéo léo, khôn khéo, thiện xảo.
9. Thức:
Lại nữa, khi thức còn lại được trong sạch, trong trắng, vị ấy biết được một số sự việc nhờ thức ấy. Vị ấy thức tri được lạc, thức tri được khổ, thức tri được bất khổ bất lạc. Này Tỷ-kheo, duyên lạc xúc, lạc thọ khởi lên. Vị ấy khi đang cảm giác lạc thọ, tuệ tri rằng: "Tôi cảm giác lạc thọ". Do lạc xúc diệt đi, lạc thọ do lạc xúc được khởi lên được cảm giác, vị ấy biết: "Lạc thọ ấy được diệt đi, được chấm dứt".
Hồi nãy, mình nói về sắc uẩn, bây giờ, nói về phần thức uẩn. Hồi nãy nói về thân, bây giờ nói về tâm, khi mà thức tu tập thì thức sẽ được trong sạch thì mình luôn luôn quán chiếu cảm giác, khi quán chiếu cảm giác thi duyên lạc xúc, lạc thọ khởi lên. Sự cảm xúc, cảm giác vui khởi lên, tiếp xúc vui thì có cảm giác vui, khi đang vui thì phải biết rõ bằng trí huệ: “tôi có cảm giác vui”, khi mà sự cảm xúc vui, cảm giác vui đó được chấm dứt thì vị ấy biết rằng là cảm giác vui được chấm dứt. Sanh khởi lên thì phải diệt, đây là sanh diệt trí. Đối với thọ, đối với cảm giác.
Cho nên hồi bữa trong phần mình học có phần tinh tấn, có một phần là thành tựu phải lấy trí huệ quán về sanh diệt của sân, cái này quan trọng lắm vì nói về không sắc uẩn hoài, mình không thấy được cái vô thường, sanh diệt, sâu xa hơn nữa là thọ. Tại vì thọ là chỗ quy tụ của tất cả pháp và các tiền trạm đang trú ẩn trong này, nếu mình không nhìn ra được thì mình không phát giác, nhiếp phục được thọ, dục và tham, không đoạn tận được dục và tham ở trong cảm giác, trong cảm thọ. Coi như là phổ thiên hạ, tất cả chúng ta đều chạy theo cảm giác hết.
Khi mình nói người đi du lịch mà bị chết có phải là đi tìm cảm giác không? Từ nước này bay sang nước kia, lên trực thăng đi chơi bay lòng vòng đi coi cái núi xong lọt máy bay chết. Đứa bé 3,4 tuổi ra sân người ta thả diều có phải tìm cảm giác, tìm vui không? Ra tìm vui không thấy mà bị mắc vô con diều chết, bị quấn cước, bay lên rớt 20 mét, quay video lại lọt xuống đi bệnh viện không kịp chết luôn. Đứa nhỏ 4, 5 tuổi hút thuốc có phải tìm cảm giác không? quán đèn mờ có phải tìm cảm giác không, chỗ nhậu say xỉn có phải tìm cảm giác không? Rồi thuốc lắc, thuốc này thuốc nọ có phải tìm cảm giác không? Rồi đạp xe xích-lô hay chạy xe honda từ sáng đến chiều tối, rồi tối đãi một chầu có phải tìm cảm giác không? Tất cả chúng sanh phổ thiên hạ trong tam giới đều bị “thọ” này nhận chìm hết.
Cho nên trong bài kinh thủ chuyển, Đức Phật nói ta không tuyên bố thành Phật Chánh Đẳng Giác, khi mà ta chưa thấu rõ rốt ráo hết toàn bộ.. chúng sanh, vì thọ tử hành... mình chưa hiểu rõ bao nhiêu cảm giác của mình.
Này Tỷ-kheo, duyên khổ xúc, khổ thọ khởi lên. Vị ấy khi đang cảm giác khổ thọ, tuệ tri rằng: "Tôi cảm giác khổ thọ". Do khổ xúc ấy diệt đi, khổ thọ do khổ xúc được khởi lên, được cảm giác, vị ấy biết: "Khổ thọ ấy được diệt đi, được chấm dứt".
Như vậy, khi nãy là lạc xúc, bây giờ là khổ xúc, bất khổ bất lạc xúc. Ba cảm giác khi tiếp xúc, xúc sanh thọ là mình phải chánh niệm cảnh giác khi xúc, tiếp xúc sinh ra giác, chánh niệm tỉnh giác ngay khi xúc, lúc đó mình không biết 5 xúc vô minh, sanh ra cảm giác không biết càng vô minh, sau đó sinh ra tham, sân, si thì càng vô minh chồng vô minh. Cho nên trong bài kinh có câu sâu sắc lắm tức là do xúc chạm với vô minh sanh khát ái, từ đó tạo nghiệp. Đó là trong xúc vận hành xúc của mình mà không biết, trong sự tiếp xúc nội tâm của mình, sinh ra khát ái, từ khát ái đẩy tới mà không nhận ra trong lúc xúc. Nấu nước ăn cơm mình có thấy xúc không? Lưỡi ở đâu vị ở đâu không biết, thức có thấy gì đâu. Trời mưa mà ngủ, lạnh mà quấn cái mền vô lăn qua, ngồi thiền suốt ngày 14 tiếng đồng hồ, rồi nó đã quá, sướng quá. Thấy không, thân xúc chưa, thân thức chưa. Thấy được, rõ được, biết được, nhìn thấu suốt được hết cái quán của bậc Thánh, cái đại xúc lớn, trí huệ siêu việt của Đức Phật thấy đó.
Bây giờ là 59 phút ngồi, bấm bấm nó tê quá. Bài kinh Đức Phật dạy mình, thông tầm những bài kinh chỗ phải nghiến răng, cắn răng, hàng phục cái tâm của mình, tu như vậy đó. Phật nói mà. Muốn tu cười, ngồi nhìn mây bay, trúc lay, ngắm gió .. thì sướng quá ai tu trở thành thi sĩ hết rồi. Nói vui để an ủi cho mấy người áp lực căng thẳng ngoài xã hội thôi, còn tu kiểu đó làm sao mà giác ngộ.
Xúc sanh thọ, khi tiếp xúc, xúc chạm, từ xúc chạm bên ngoài cho đến bên trong. Trong tâm mình khi mà ý xúc, sâu xa vô cùng. Nếu mà nói có tiền định sao mà thấy được. Bây giờ, thọ sanh nhĩ xúc sanh. Thanh tưởng thanh tư đi theo liền. Trong tâm mình, mưa như vầy nói hơi to à nha thấy chưa là tâm tư. Thấy chưa, thọ sanh nhĩ xúc sanh. Thanh tưởng thanh tư đi theo. Thọ tưởng đi theo, nó sanh liền mà mình không thấy không biết.
Này Tỷ-kheo, ví như do hai cây que xúc chạm cọ xát, hơi nóng được sanh, ngọn lửa được hiện khởi. Khi hai que ấy được rời nhau, được phân ly, sức nóng được sanh khởi ấy, sức nóng ấy được diệt đi, được chấm dứt. Cũng vậy, này Tỷ-kheo, duyên lạc xúc, lạc thọ khởi lên. Vị ấy khi đang cảm giác lạc thọ tuệ tri rằng: "Tôi đang cảm giác lạc thọ". Do lạc xúc ấy diệt đi, lạc thọ do lạc xúc được khởi lên, được cảm giác, vị ấy tuệ tri: "Lạc thọ ấy được diệt đi, được chấm dứt". Này Tỷ-kheo, duyên khổ xúc khổ thọ khởi lên. Vị ấy khi đang cảm giác khổ thọ tuệ tri rằng: "Tôi đang cảm giác khổ thọ". Do khổ xúc ấy diệt đi, khổ thọ do khổ xúc được khởi lên, được cảm giác, vị ấy biết: "Khổ thọ ấy được diệt đi, được chấm dứt". Này Tỷ-kheo, duyên bất khổ bất lạc xúc, bất khổ bất lạc thọ khởi lên. Vị ấy khi đang cảm giác bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri rằng: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ". Do bất khổ bất lạc thọ xúc ấy diệt đi, bất khổ bất lạc thọ do bất khổ bất lạc xúc được khởi lên, được cảm giác, vị ấy tuệ tri: "Bất khổ bất lạc thọ ấy được diệt đi, được chấm dứt".
Lại nữa, xả còn lại được trong sạch, trong trắng, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, chói sáng.
Trú trong tâm xả, lạc xúc thì lúc đó lạc thọ khởi lên, tiếp xúc những cái vui thì có cảm giác vui, sau khi hết vui thì mình biết tiếp xúc với cái khổ, sanh cảm giác khổ, biết chấm dứt cảm giác khổ, biết. Rồi xả còn lại được trong sạch, trong trắng, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, chói sáng, chỗ này thâm sâu nè, thiền tông phải học cái này, trú cái tâm xả, không có dính mắc với khổ, vui, khen, chê, cái được, cái mất. Là cái tâm này, mà mong gặp cho có cái tâm sao được, phải thấy tính chất của nó nãy giờ quán đó: Không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi. Thấy được như vậy là chú vào cái xả, đây là hệ quả của chiếu quả, cũng như thành quán chiếu.
Ví như, này Tỷ-kheo, một người thợ vàng thiện xảo hay người đệ tử sửa soạn lò đúc; sau khi sửa soạn lò đúc xong, người ấy đốt lửa miệng lò đúc; sau khi đốt lửa miệng lò đúc, người ấy dùng kềm kẹp lấy vàng và đặt vàng vào trong miệng lò; rồi thỉnh thoảng người ấy thổi trên ấy, thỉnh thoảng người ấy rưới nước trên ấy, thỉnh thoảng người ấy quán sát thật kỹ... vàng ấy đã trở thành sáng sủa, thanh tịnh, gột sạch, các uế tạp được đoạn trừ, các tỳ vết được trừ sạch, nhu nhuyến, dễ uốn nắn và chói sáng... và nếu người ấy muốn làm đồ trang sức nào, hoặc vòng nhẫn, hoặc bông tai, hoặc vòng cổ, hoặc vòng hoa vàng, thời vàng ấy có thể dùng vào mục đích ấy.
Ví dụ thợ kim hoàn.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô minh và minh: PAGEREF _Toc50452377 \h 1
II. Giới phân biệt: PAGEREF _Toc50452378 \h 4
1. Bài kinh: PAGEREF _Toc50452379 \h 4
2. Mười tám ý hành: PAGEREF _Toc50452380 \h 6
3. Bốn thắng xứ: PAGEREF _Toc50452381 \h 7
4. Địa giới: PAGEREF _Toc50452382 \h 9
5. Thủy giới: PAGEREF _Toc50452383 \h 10
6. Hỏa giới: PAGEREF _Toc50452384 \h 11
7. Phong giới: PAGEREF _Toc50452385 \h 12
8. Hư không giới: PAGEREF _Toc50452386 \h 13
9. Thức: PAGEREF _Toc50452387 \h 14
I. Vô minh và minh:
Dưới sự thực hành đúng Chánh pháp, chúng con hướng tâm bằng tất cả tấm lòng biết ơn đối với Đức Thế Tôn, Giáo pháp, các bậc hiền Thánh tăng, Thầy tổ và Vô thượng Thánh giới.
Sự tu học của chúng ta không thể xem thường hai chữ vô minh, sâu sắc, không đơn giản như mình nghe, đọc, học, hiểu. Vô là vô tri, si mê, thâm sâu vô lượng hai chữ vô minh. Để hiểu hết hai chữ vô minh thì mình minh, minh là bậc thánh, vô minh có nhiều cấp độ. Một điều quá sức sâu sắc, tại sao bây giờ thế sự, Thế Tôn đắc đạo còn không muốn nói tới, nhìn lại cuộc sống con người. Hàng ngày ta làm cái gì, mục đích của đời sống là phải làm cái gì. Có phải là tìm miếng ăn ngon, ăn mặc cho đẹp, tiện nghi ở cho sang, có thật nhiều tiền, để đáp ứng những cái mà họ ham muốn.
Mục đích đời sống con người chung chung là như vậy. Khá hơn chút nữa là tránh dữ làm lành, khá nhất là họ làm những điều thiện để có hạnh phúc, an vui trong hiện tại và tương lai, cái đó là “thuần thiện”. Còn Giáo pháp Phật không phải như vậy, đây là khổ, một sự thật cần phải cố gắng. Thật ra, cái này giống như “ván bài lật ngửa”, lật đổ hết tất cả những cái mà người ta làm căn cứ, nền móng xây lâu đài mà một cái triết thành tựu làm sụp đổ hết tất cả các ngã, thành ra biết đâu mà nói, đây mới gọi là ngược dòng, tịch lưu, thánh trí.
Bắt đầu đã là hoàn toàn trái ngược với thế gian, cái thấy đầu tiên của người tu. Cho nên Đức Thế Tôn nhập niết bàn ở trong trạng thái thụ động, lúc đó Phạm Tiên, Savati, Ba Bà Chủ. Khi thấy Đức Thế Tôn hỏi vấn đề như vậy trong khoảng, duỗi cánh tay đang co lại như vậy, biến mất, thiên giới hiện ra trước mặt Đức Phật, đảnh lễ Đức Thế Tôn ba lần. Đức Thế Tôn có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời có thể nghe được giáo pháp, tu tập, như các Đức Như Lai thuở xưa vì chúng sanh mà xoay chuyển bánh xe Chánh Pháp. Cho nên nếu mình hiểu hết nghĩa của hai chữ vô minh này là mình minh, minh về giải thoát.
Hàng ngày, mình sống ở trong vô minh, không thấy không biết các pháp diễn ra trong tự thân, tự tâm của mình; cho nên hôm qua Minh Thành đứng ở trước bàn Phật đọc kinh, vui là mình bắt đầu thấy, bắt đầu biết, minh bắt đầu sanh, cho nên Đức Thế Tôn mới nói rằng thế nào là minh, là giải thoát, là trí huệ, giống như là điềm báo trước của mặt trời xuất hiện lúc bình minh. Khi chân trời nhô lên ánh sáng là điềm báo trước mặt trời sẽ xuất hiện, cũng như vậy, trong đại chúng là điềm báo trước của các bậc Chánh Tri Kiến, các bậc thành tựu minh triết sắp sửa xuất hiện trên thế gian này.
Điềm báo trước của mặt trời sắp sửa phổ chiếu thì lúc đó bình minh xuất hiện, điềm báo trước của bậc thánh là Chánh Tri Kiến thành tựu, điềm báo trước của bậc hiền thánh tăng là trầm hương. Cho nên qua Minh Thành hỏi thì phía dưới hoan hỷ lắm, an lạc; nhìn thấy đại chúng không đông 10 người thôi tu mà đúng Chánh Pháp, thấy rõ tứ đại ngũ uẩn, vô minh, tham ái, chấp ngã, si mê như thế nào. Nhìn lại các pháp diễn ra trong tự thân tự tâm mình ghê lắm, khiếp lắm.
Như hôm qua một lần, bữa nay một lần, Minh Thành đang đi giày dưới đất như vậy mà muỗi nhào vô chích được, hai ba con chích làm khó chịu, tay, đầu, mặt cũng bị chích, vô lấy dầu sức, cho nên cảm giác khó chịu của mình như vậy. Đúng là ghê thật. Cái tâm mình còn quá kém, muỗi chích mà đã cảm thấy khó chịu, tu hành chưa tới đâu. Như vậy, khi tai nạn tới rồi sao, sanh tử tới rồi sao? Mình đang đi bốn, năm con muỗi nhào vô chích, mình quán chiếu nghiệp quả, đời trước ân oán với nó nên giờ mới chích như vậy. Để mình dùng như lý tác ý, dùng chánh tư duy để dẹp cảm giác sân trong khó chịu đó, trú trong cảm giác đó, những cái nhỏ nhiệm đó mình phải thấy. Muỗi chích mình có khó chịu không? Trong khó chịu có gì, trong sân đào sâu xuống có gì ở đó. Cái sân đó cho ngũ uẩn là mình. Cho sắc uẩn này là mình, trong sân đó là chấp ngã, sâu xuống chấp ngã là cho năm uẩn là mình, cho năm uẩn là mình là vô minh.
Trong cái muỗi chích nếu mình dùng trí quán soi rọi thì các pháp hiện rõ ra, ghê gớm lắm, các pháp trong thân tâm của mình, mình không thấy biết, rõ biết. Hàng ngày mình có biết đâu. Nhiều bậc thấy biết chỉ mình mà mình không chịu, đó là một sự đau đớn của tất cả sự đau đớn. Tôi muốn sống an ổn thôi, đừng ai nói tôi hết. Rồi có nhiều người phát biểu con dở lắm không bằng ai, nói như vậy trong kinh gọi là ngã mạn, tức là thấy người hơn mình, bằng mình hoặc thấp hơn người vô minh, trong đó có tôi trong đó. Thấy có tôi, có người hiền, chứ không thấy tứ đại, ngũ uẩn cho nên lúc nào cũng nói con dở lắm, con thấp hơn người khác, tối ngày cứ so sánh hơn, bằng và thua, cái đó là mạn trong kinh Đức Phật dạy, nó sâu sắc như vậy. Không phải nói mình dở là hay đâu. Nói mình dở ngoài đời giống như vậy thì hay, nhưng mà trong đạo có mình để mà dở với lại không dở.
Lúc đó, khi mình nói vậy thì đó là đang trình pháp, người tu chung thấy mình đang mắc trong cái gì mình không biết, đó là đang trong cái mạn. Thấy có mình, có hơn, có bằng và có thua mà không thấy tứ đại ngũ uẩn. Lúc nào cũng so sánh đối chiếu, cho nên học cái này cho tới chết, đầu thai lên học tiếp. Không được tự mãn trong tinh thần cầu học, tôn kính, tôn trọng, cầu pháp. Cho nên các pháp vận hành trong tâm mình, không thấy không biết là vô minh. Hôm qua mình nghe kinh đại thiên sứ, ở đời con mắt là chỗ yêu thích, ái, sân khởi, đoạn diệt từ chỗ đó. Ở đời, lỗ tai là chỗ mình yêu thích, chỗ sanh khởi của sự yêu thích, chính là chỗ đoạn diệt sự yêu thích ái. Ở đời, lỗ mũi, thân, ý; ở đời sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tướng, xúc tưởng, sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, làm sao lấy ra hết.
Nhiều khi Minh Thành ngồi ở dưới, huynh đệ ngồi ở trên mệt mỏi, có khi mình thấy mệt mỏi, chịu không nổi luôn không phải giỡn đâu. Cái trí mình không đủ sức làm tùm lum hết thì lúc đó mình phải xả, trở về ba pháp, hướng về ba pháp để tu chỉ, bởi vì lúc đó tâm loạn nhiều quá rồi. Lúc đó tạm thời nghỉ ngơi, không có cho mình thấy mình biết, thời gian như con đường, để từ từ nhận rõ, thấy rõ, từ từ hiểu rõ để chứng đắc mới được. Cho nên bài kinh mà Minh Thành dùng cái từ “Chiến thuật tâm linh của đức phật”, kinh giới phân biệt. Bài kinh này hồi trước đã nói rồi Minh Thành đang đọc sụp xuống lạy ngài lời kinh đó luôn tại trên bàn, bài kinh này thật sự khiếp đảm lắm, học hoài thôi, giật mình vì cái ngu của mình, cái vô tri, vô minh, si mê của mình. Không ngờ si mê của mình lớn tới như vậy.
II. Giới phân biệt:
1. Bài kinh:
Bài kinh số 140, Tập 3, Trung Bộ Kinh, trang 541, Kinh Giới phân biệt có một câu chuyện thú vị lắm.
Một thời, Thế Tôn du hành ở xứ Magadha (Ma- kiệt-đà), đi đến Rajagaha (Vương xá), đến nhà thợ gốm Bhargava; sau khi đến nói với thợ gốm Bhargava:
-- Này Bhargava, nếu không gì phiền phức cho Ông, Ta muốn ở tại chỗ này một đêm.
Bạch Thế Tôn không có gì phiền phức cho con. Ở đây đã có một vị xuất gia đến ở từ trước rồi. Nếu vị ấy thỏa thuận, bạch Thế Tôn, hãy ở lại tùy theo sở thích.
Lúc bấy giờ, Thiên gia nam tử Pukkusati, do lòng tin, y cứ Thế Tôn đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy đã đến ở trước tại trú xứ của thợ gốm. Rồi Thế Tôn đi đến Tôn giả Pukkusati; sau khi đến nói với Pukkusati:
-- Này Tỷ-kheo, nếu không gì phiền phức cho Ông, Ta muốn ở lại trú xứ này một đêm.
-- Rộng rãi, thưa Hiền giả, là trú xứ của thợ gốm. Tôn giả có thể ở, tùy theo sở thích.
Rồi Thế Tôn sau khi bước vào trú xứ của thợ gốm, trải thảm cỏ vào một bên, ngồi kiết-già, lưng thẳng và an trú niệm trước mặt. Và Thế Tôn trải qua phần lớn đêm ấy, ngồi như vậy. Tôn giả Pukkusati trải qua phần lớn đêm ấy cũng ngồi như vậy. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: "Cử chỉ Thiện gia nam tử này có vẻ tín thành, Ta hãy hỏi vị ấy". Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Pukkusati:
-- Này Tỷ-kheo, Ông xuất gia, y cứ vào ai? Ai là Ðạo sư của Ông? Ông chấp nhận pháp của ai?
-- Thưa Hiền giả, có Sa môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích Ca. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama ấy: "Ngài là bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn". Tôi đã xuất gia, y cứ bậc Thế Tôn ấy. Ngài là bậc Ðạo sư của tôi. Và tôi chấp thuận pháp của bậc Thế Tôn ấy.
-- Này Tỷ-kheo, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy ở đâu?
-- Thưa Hiền giả, có một thành phố tên là Savatthi giữa các quốc độ phía Bắc. Tại đấy, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hiện nay đang ở.
-- Này Tỷ-kheo, trước đây Ông đã thấy bậc Thế Tôn ấy chưa? Và nếu thấy, Ông có nhận ra được không?
-- Thưa Hiền giả, trước đây tôi chưa từng thấy bậc Thế Tôn ấy. Và nếu thấy, tôi không nhận ra được.
Rồi Thế Tôn suy nghĩ: "Thiện gia nam tử này xuất gia y cứ nơi Ta. Vậy Ta hãy thuyết pháp cho Thiện gia nam tử ấy". Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Pukkusati:
-- Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
-- Thưa Hiền giả, vâng.
Tôn giả Pukkusati vâng đáp Thế Tôn.
Một hồi, khi đức thế tôn giảng pháp xong, ông sụp xuống lạy , nói con như mù không biết thế tôn, bậc đạo sư của con mà kêu là hiền giả, sau này mới sám hối.
Thế Tôn nói như sau:
-- Này Tỷ-kheo, người này có sáu giới, sáu xúc xứ, mười tám ý hành, bốn thắng xứ, khi được an trú, vọng tưởng không có chuyển động. Khi vọng tưởng không chuyển động, vị ấy được gọi là một ẩn sĩ tịch tịnh. Chớ có buông lung trí tuệ, hãy hộ trì chân đế, hãy tăng trưởng huệ thí (caga), hãy tu học tịch tịnh. Ðây là tổng thuyết sáu giới phân biệt.
Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: "Người này có sáu giới", do duyên gì được nói đến như vậy? Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới. Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: "Người này có sáu giới", chính do duyên này được nói đến như vậy.
Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: "Người này có sáu xúc xứ", do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xúc xứ, nhĩ xúc xứ, tỷ xúc xứ, thiệt xúc xứ, thân xúc xứ, ý xúc xứ. Khi được nói đến: "Người này có sáu xúc xứ", chính do duyên này được nói đến như vậy.
2. Mười tám ý hành:
Đức Phật nói tổng thuyết giống như nói khái quát, bây giờ bắt đầu giảng chi tiết: Này tỷ-kheo, khi nói người này có 6 giới, tại sao nói như vậy. Địa giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới, thủy giới, đây gọi là 6 giới, đất, nước, gió, không,thức, lửa, độc ở trong quán tứ đại rồi. Khi mình nói người này có 6 xúc xứ, phải biết nhãn xuất xứ, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc xứ. Sáu chỗ tiếp xúc, mắt là nơi để tiếp xúc với sắc cho nên gọi là nhãn xuất xứ, tiếp xúc mới có thức rồi sau đó sinh ra cảm giác, tai cũng vậy tiếp xúc với âm thanh nên gọi là 6 xuất xứ. Phải nắm vững những Pháp này, thật vững 6 xuất xứ, nhãn, nhĩ, tỷ xúc xứ, thiệt xúc xứ, thân xúc xứ, ý xúc xứ. Chỗ tiếp xúc của mắt, mũi, tai, lưỡi, thân, ý. Khi thầy nói ra rõ tiếng Việt hết mới nắm được, chứ mình nói nhãn, nhĩ, thiệt, thân, ý người ta nghe không biết, nắm được. Nói sao cho người ta nghe hiểu được cái đó là cái khéo của mình, thiện thuyết khéo nói, mình nói người chuyên môn nghe được, người không chuyên môn thì không nghe được thì chưa có khéo nói.
Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: "Người này có mười tám ý hành", do duyên gì được nói đến như vậy? Khi con mắt thấy sắc, người ấy chạy theo sắc, chỗ trú xứ của hỷ, người ấy chạy theo sắc, chỗ trú xứ của ưu, người ấy chạy theo sắc, chỗ trú xứ của xả; khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức pháp, người ấy chạy theo pháp, chỗ trú xứ của hỷ, người ấy chạy theo pháp, chỗ trú xứ của ưu, người ấy chạy theo pháp, chỗ trú xứ của xả. Như vậy, có sáu hỷ hành, sáu ưu hành, sáu xả hành. Khi được nói đến: "Người này có mười tám ý hành", chính do duyên này được nói đến như vậy.
Đây là mười tám ý hành. Những cái này mình có biết đâu, từ vô minh những cái Pháp vận hành, vô minh ở đây là mình không thấy, sao mình biết, phải không? Thấy sắc thì người ấy chạy theo sắc, ý hành nó chạy, cảm giác nó chạy, tưởng nó chạy.
Thức bị trói cột, bữa mình học ở trong Tương ưng Bộ, sắc là nhà của thức, thức an trú bị trói trong đó, thọ cũng vậy, cảm giác cũng vậy, các tưởng cũng vậy, suy nghĩ cũng vậy. Nó bị trói cột, thức bị trói bị trú trong đó, ra không được cái biết lòng vòng trong đó. Cũng như mình ngồi chỉ biết mấy cái ghế tre, bàn tre, võng tre vậy thôi, cái biết đó là cái biết nhỏ hẹp. Cái biết bị trói buộc trong phạm vi rất nhỏ, cho nên đây là mười tám ý hành. Đây là hỷ, ưu và xả. Tức là vui, buồn, không vui không buồn giống như là thọ vậy. Cho nên trong số thọ có thọ hỷ, thọ xả, thọ lạc, thọ khổ, bị lạc, bi khổ .. cho nên đó là mười tám ý hành mình phải biết. Khi mắt mình thấy sắc thì tâm mình, những thọ tưởng hành của mình nó cứ chạy theo chỗ trú xứ của hỷ, mà ta biết cái chỗ trú xứ của vui này. Kế đó bị nhắc là nó chạy theo chỗ buồn, được khen, tuyên dương chạy theo chỗ vui, hỷ. Không nghe ai nói tới hết nó chạy theo chỗ xả. Mỗi cái vậy là sáu, mà sáu lần ba bằng mười tám ý hành.
Ý hành nói trong nội tâm, được khen nó nói thích thú quá, buồn nó nói vậy đó, không khen không chê gì không vui, không khổ nó cũng nói. Mười tám ý hành mình có thấy được hình hài không? Không thấy là vô minh. Thấy nó là minh. Tâm của mình, trong mắt trong tai mình.
3. Bốn thắng xứ:
Này Tỷ-kheo, khi được nói đến: "Người này có bốn thắng xứ", do duyên gì được nói đến như vậy? Tuệ thắng xứ, đế thắng xứ, huệ thí thắng xứ, tịch tịnh thắng xứ. Khi được nói đến: "Người này có bốn thắng xứ", chính do duyên này được nói đến như vậy.
Khi được nói đến: "Chớ có buông lung trí tuệ, hãy hộ trì chân đế, hãy tăng trưởng huệ thì, hãy tu học tịch tịnh", do duyên gì được nói đến như vậy?
Thế nào là không buông lung trí tuệ?
Thế nào là không buông lung trí huệ, thế nào là không để cho tâm mình chạy rông, lờ mờ.
Có sáu giới này: địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới.
Chúng ta phải quán chiếu về sáu giới, nói gọn là tứ đại, nói rộng là lục đại.
Này Tỷ-kheo, thế nào là địa giới? Có nội địa giới và có ngoại địa giới. Và này Tỷ-kheo, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ. Như vậy, này Tỷ-kheo, được gọi là nội địa giới.
Đây là quán giới, giới phân biệt, giới xúc, phạm trù, lãnh vực, phạm vi của nó, phạm vi của đất, mình phải thấy rõ, địa giới ở trong thân đó là mình đang có trí huệ. Ví dụ, đang ngồi thiền tự nhiên vai bị xệ xuống nhức, địa giới bị ê ẩm. Địa giới ở trên đó sao ở đây mà mình đau vai quá. Chút nữa kiếm thuốc, giác, cạo gió, uống thuốc, bữa nay mình đau rồi, mình nghĩ vậy là buông lung trí huệ.
Cái lưng đau nhức, mỏi mà sao không biết nổi bảy ngày không, hôm nay mới 4 ngày, suy nghĩ cỡ vậy đó. Đó là buông lung trí huệ, đây là địa giới, thuộc kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ. Không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, nó thuộc về địa giới. Lúc đó, trí huệ sáng tỏ, đó là đang tự giới phân biệt, phân biệt sáng tỏ các giới, các lĩnh vực ở trong thân của mình. Bằng trí huệ rõ biết các lĩnh vực, giới mức, các phạm trù trong thân, tâm của mình, nó diễn ra vận hành làm sao, gọi là giới phân biệt. Học bài kinh này là thành tựu trí huệ, phá vô minh.
Chữ hay mình phải chiêm nghiệm “bị chấp thủ”, là cái thọ, tưởng, thức, hành của mình đã nắm chặt vô đất, nước, gió, lửa. Nắm chặt vô cứng chắc, chấp thủ, đây là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi, như vậy, gọi là bị chấp thủ. Bây giờ mình tu dùng trí huệ quán chiếu lại mở cái nắm này ra, đất là đất, nước là nước, gió là gió, lửa là lửa, tứ đại là tứ đại. Lúc đó, mình mở việc chấp thủ ra. Cho nên sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn, ngũ thủ uẩn. Nói tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Chấp thủ là khổ. Thấy rõ cái khổ sớm đến thì đến. Rất sâu sắc, rất là trí huệ, mở ra cái nội địa cũng ngon biết hàng nội địa không? Mở cái hàng nội địa này là khổ, xuất ngoại còn khổ nữa, thích hàng ngoại nữa. Nội ngoại đánh vô trong ngoài, nội công ngoại kích là sập luôn đó, chết ngay.
Quán chiếu ba chữ “bị chấp thủ”, nhiều khi thầy ngồi thấy lờ đờ, bắt đầu đọc lên: “Sắc là vô thường, là khổ, chịu sự biến hoại, tan nát, hoại diệt, hủy hoại, không gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi”. Sau đó, đọc tiếp thọ tưởng hành thức, đọc tiếp năm lần, đọc tới đọc lui vậy. Tự nhiên lúc đó mình tỉnh táo, mạnh mẽ, sáng suốt lên; đọc lên lúc mình thấy loạng choạng, lờ mờ cho mình tỉnh táo, đọc bài kinh mà u nhọt. Sau này cha mẹ, rồi con cháu nuôi dưỡng, tứ đại phát thành, vô thường tam thế, huỷ hoại hoại diệt, đọc thuộc bài đó lên, phải thuộc mới đọc được không là lọt chữ này sang chữ kia. Đọc như vậy tự nhiên mình phấn chấn, tỉnh tâm, sáng suốt lên. Đó là công năng của Pháp, không bị chi phối, vượt qua những cái tê nhức kia, mệt mỏi.
4. Địa giới:
Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Ðịa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.
Ở đây, dùng từ nó đã; câu kinh này đọc sướng vậy đó, thích thú, hoan hỷ, hân hoan, phát lạc, phát hỷ. Mình phải quán chiếu lại, nhàm chán, từ bỏ. Thân còn từ bỏ được, nhàm chán được huống chi là những cái nhảm nhí, không có xi-nhê gì hết. Bình thường gì chuyện mất xe, mất cột, mất đồ đạc là chuyện nhỏ, không sao hết. Ngày nào cũng bắt cái thân này, từ bỏ hết. Có bộ đồ này thôi, vật ngoài thân. Đó là thành tựu trí huệ, tuyệt vời. Quá tuyệt vời! Sung sướng cực kỳ, hạnh phúc vô cùng! Bây giờ không còn gì, cái gì để mất hết.
5. Thủy giới:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Và này Tỷ-kheo, thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ. Như vậy, này Tỷ-kheo, được gọi là thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới đều thuộc về thủy giới. Thủy giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Đang ngồi thiền, mồ hôi chảy ra.Ví dụ như bị cảm lâu lâu chảy ra nước mũi, một hồi nhiều khi là nước mắt, chảy ra, nội thủy giới. Một hồi đi thiền hành đạp trúng chỗ ướt nhẹp chân ướt hết khó chịu, ngoại thủy giới. Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi. Ba câu này là bùa hộ mệnh, giận là đọc lên, buồn là đọc lên, tham muốn là đọc lên, si là đọc lên. Thuốc trị bá bệnh đó, đọc lên, đọc mạnh lên. Đọc lên là tan, sức quán tuệ mạnh là tan hết, buồn ngủ tan hết, tỉnh táo lên.
Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới.
Nước này ghê, nước mũi, nước miếng, máu, nước tiểu có thích không? Nói tới là ghê rồi, thôi bỏ đi, từ bỏ đi.
Tiếp theo, nỗi khổ của sắc uẩn này như thế nào? Mà mình sống được vui là nhờ cái đó, nhờ sự hôi hám bẩn thỉu đó cho nên mới được ngồi cười ở đây, mà khi không bài tiết được là không còn cười. Cái sự sống của mình là ở cái dơ bẩn, hôi hám như vậy đó mà cái nghiệp của mình, mình vẫn thấy nó đẹp, thấy thích thú ở trong đó, đau đớn chứ. Khổ vậy. Cho nên sanh yếm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới. Từ bỏ nghĩa là không uống nước nữa nghe không, nhớ kỹ, khát nước vẫn uống chứ không từ bỏ được, chết à, uống nước bình thường. Không đam mê với nước, không quan trọng đó là nước gì, không tìm nước nào ngon mình thích. Đọc kinh thích thú lắm còn hơn ngày xưa xem phim chưởng, phim tình cảm Hàn Quốc, phải thấy được cảm giác như vậy rồi tu tập mới tiến bộ, đọc kinh không có mùi vị gì hết sao mà tu.
6. Hỏa giới:
Và này Tỷ-kheo, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Và này Tỷ-kheo, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thần, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy, cái gì khiến cho những vật được ăn, uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Này Tỷ-kheo, như vậy được gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa giới và những gì thuộc ngoại hỏa giới đều thuộc về hỏa giới. Hỏa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới.
Chất nóng, hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy, cái gì khiến cho những vật được ăn, uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa. Hôm trước mình coi sắc thân tứ đại khổ, đồ ăn trong đó gọi là dạ dày, mở ra mình coi không còn muốn ăn nữa. Những thức ăn sau khi vô dạ dày, hệ tiêu hoá làm cho nóng lên, tiêu hoá thành những dưỡng chất còn cái nào thì đào thải đi xuống. Nhờ cái nội ngoại hoả giới này mới tiêu hoá được, chứ không mình ăn cục tàu hủ nó đi ra cục tàu hủ luôn.
Mình thấy bộ máy cơ thể này rất là kỳ diệu, không có người máy nào bằng người thật hết, bây giờ trên 5.000 năm nữa, cũng là người máy, robot không làm thành người thật được. Cho nên thân người mình quán chiếu thấy rõ được nhân - quả, hôi tanh của nó để sử dụng nó một cách thông minh, trí huệ, chứ không phải mình từ bỏ nó. Sự đam mê mình bám chắc, không biết bản chất của nó, giá trị, công năng, tác dụng của nó đó là vô minh. Mà mình thấy được rõ bản chất, kết hợp, cấu tạo, sự vận hành, công năng, mục đích, giá trị của nó để sử dụng đúng, thì như vậy tuyệt vời.
Xá lợi của đức Phật là 5.000 năm cũng là tứ đại. Coi phim thỉnh kinh của Đức Phật bên Đài Loan, chưa từng thấy trong lịch sử, người ta lạy dài hết Nam Bắc, trăm ngàn vạn người, cái răng của Đức Phật. Cho nên sự tu tập trí huệ biến những cái bình phàm trở thành phi phàm, tầm thường trở thành phi thường, vô thường trở thành kim cang, bất hoại. Đó là ở Đức Phật, tồn tại năm ngàn năm, thân người bình thường năm chục năm rã hết rồi. Phải quán chiếu "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
7. Phong giới:
Và này Tỷ-kheo, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Và này Tỷ-kheo, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các đốt, các khớp, hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ. Này Tỷ-kheo, như vậy được gọi là nội phong giới. Những gì thuộc nội phong giới và những gì thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới. Phong giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát phòng giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới.
Cho nên những câu này thấy thường như vậy, nhưng khi chiêm nghiệm mình thấy nó hay lắm.
Cái gì cũng vậy, tất cả pháp hành trong đạo Phật, quán sát như thật chánh trí tuệ, cái biết bằng trí huệ phải thấu triệt nó luôn chứ không phải tránh né, lánh né hay để nó qua một bên. Biết bằng trí huệ, biết tận căn nguyên nguồn cội. Cho nên giác ngộ là biết, trong tất cả cái biết dùng từ là Sau khi như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới. Cho nên phải đưa vô một chương trình tu học quán Tứ đại, có trong phần tu học của mình, phân tách mỗi cái nào thuộc về cái nào, từng lĩnh vực, phạm vi nào để mà quán. Cho nên cái này gọi là “Chiến thuật tâm linh của Đức Phật”.
8. Hư không giới:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hư không giới? Có nội hư không giới, có ngoại hư không giới. Và này Tỷ-kheo, thế nào là nội hư không giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc hư không, thuộc hư không tánh, bị chấp thủ, như lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng, do cái gì người ta nuốt, những gì được nhai, được uống, được ăn, được nếm, và tại chỗ mà những gì được nhai, được uống, được ăn, được nếm, được giữ lại, và ngang qua chỗ mà những gì được nhai, được uống, được ăn, được nếm và được tống xuất xuống phần dưới để ra ngoài, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc hư không, thuộc hư không tánh, bị chấp thủ. Này Tỷ-kheo, như vậy được gọi là nội hư không giới.
Những chỗ trống trong cơ thể của mình, hai lỗ mũi, hai lỗ tai, cái miệng, đại tiểu tiện, lỗ chân lông...Tất cả chỗ đó là nội hư không, chỗ trống trong cơ thể của mình; không có cái đó làm sao ăn uống, nhai, nuốt, thở, nghe, nhìn mà mình không bao giờ thấy, mình thấy mắt của tôi, lỗ tai của tôi, lỗ mũi của tôi, miệng của tôi, các bộ phận trong cơ thể của tôi mà không thấy đó là nội hư không giới, không xét được việc trí huệ, chấp thủ lắm, sắc uẩn lắm.
Sắc thủ uẩn thì thọ thủ uẩn, cảm giác nắm theo, tưởng nắm theo, suy nghĩ nắm theo, nhận thức nắm theo, một chùm nắm theo. Năm ngón chụm vô thành nắm tay, năm ngón tay năm uẩn thành nắm tay nhìn là mình sợ nè, thấy sợ chưa. Ngũ uẩn đó, năm ngón tay nắm chặt nó sân si, si thì nó tham, tham thì sân, nó tung chưởng, tung võ ra, năm uẩn như bàn tay năm ngón. Bàn tay năm ngón xinh xinh nắm vô là si, tham, rồi dám lấy đồ của tui hả là đánh. Đó là chấp thủ, bị chấp thủ rất rõ. Mỗi lần nắm bàn tay năm uẩn, khổ nha nắm vô nha thôi mở ra đi. Nội hư không giới, ngoại hư không giới tất cả đều là lục giới, cho nên chỗ mình nghĩ là tại sao lời nói lặp tới lặp lui hoài nghe nó ngán, chán bởi vì trí phàm phu của mình, không lặp lại sao kinh mình học, sao mấy vị tỷ kheo thuộc, làm sao mọi người nhớ để tu. Lặp lại hoài vậy mà đọc không thuộc, thấy chưa? Cho nên Đức Phật nói tới nói lui hoài vậy đó.
Những gì thuộc nội hư không giới và ngoại hư không giới đều thuộc về hư không giới. Hư không giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát hư không giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với hư không giới, tâm từ bỏ hư không giới.
Chán nản, từ bỏ, không ưa thích nó nữa mà sử dụng một cách khéo léo, khôn khéo, thiện xảo.
9. Thức:
Lại nữa, khi thức còn lại được trong sạch, trong trắng, vị ấy biết được một số sự việc nhờ thức ấy. Vị ấy thức tri được lạc, thức tri được khổ, thức tri được bất khổ bất lạc. Này Tỷ-kheo, duyên lạc xúc, lạc thọ khởi lên. Vị ấy khi đang cảm giác lạc thọ, tuệ tri rằng: "Tôi cảm giác lạc thọ". Do lạc xúc diệt đi, lạc thọ do lạc xúc được khởi lên được cảm giác, vị ấy biết: "Lạc thọ ấy được diệt đi, được chấm dứt".
Hồi nãy, mình nói về sắc uẩn, bây giờ, nói về phần thức uẩn. Hồi nãy nói về thân, bây giờ nói về tâm, khi mà thức tu tập thì thức sẽ được trong sạch thì mình luôn luôn quán chiếu cảm giác, khi quán chiếu cảm giác thi duyên lạc xúc, lạc thọ khởi lên. Sự cảm xúc, cảm giác vui khởi lên, tiếp xúc vui thì có cảm giác vui, khi đang vui thì phải biết rõ bằng trí huệ: “tôi có cảm giác vui”, khi mà sự cảm xúc vui, cảm giác vui đó được chấm dứt thì vị ấy biết rằng là cảm giác vui được chấm dứt. Sanh khởi lên thì phải diệt, đây là sanh diệt trí. Đối với thọ, đối với cảm giác.
Cho nên hồi bữa trong phần mình học có phần tinh tấn, có một phần là thành tựu phải lấy trí huệ quán về sanh diệt của sân, cái này quan trọng lắm vì nói về không sắc uẩn hoài, mình không thấy được cái vô thường, sanh diệt, sâu xa hơn nữa là thọ. Tại vì thọ là chỗ quy tụ của tất cả pháp và các tiền trạm đang trú ẩn trong này, nếu mình không nhìn ra được thì mình không phát giác, nhiếp phục được thọ, dục và tham, không đoạn tận được dục và tham ở trong cảm giác, trong cảm thọ. Coi như là phổ thiên hạ, tất cả chúng ta đều chạy theo cảm giác hết.
Khi mình nói người đi du lịch mà bị chết có phải là đi tìm cảm giác không? Từ nước này bay sang nước kia, lên trực thăng đi chơi bay lòng vòng đi coi cái núi xong lọt máy bay chết. Đứa bé 3,4 tuổi ra sân người ta thả diều có phải tìm cảm giác, tìm vui không? Ra tìm vui không thấy mà bị mắc vô con diều chết, bị quấn cước, bay lên rớt 20 mét, quay video lại lọt xuống đi bệnh viện không kịp chết luôn. Đứa nhỏ 4, 5 tuổi hút thuốc có phải tìm cảm giác không? quán đèn mờ có phải tìm cảm giác không, chỗ nhậu say xỉn có phải tìm cảm giác không? Rồi thuốc lắc, thuốc này thuốc nọ có phải tìm cảm giác không? Rồi đạp xe xích-lô hay chạy xe honda từ sáng đến chiều tối, rồi tối đãi một chầu có phải tìm cảm giác không? Tất cả chúng sanh phổ thiên hạ trong tam giới đều bị “thọ” này nhận chìm hết.
Cho nên trong bài kinh thủ chuyển, Đức Phật nói ta không tuyên bố thành Phật Chánh Đẳng Giác, khi mà ta chưa thấu rõ rốt ráo hết toàn bộ.. chúng sanh, vì thọ tử hành... mình chưa hiểu rõ bao nhiêu cảm giác của mình.
Này Tỷ-kheo, duyên khổ xúc, khổ thọ khởi lên. Vị ấy khi đang cảm giác khổ thọ, tuệ tri rằng: "Tôi cảm giác khổ thọ". Do khổ xúc ấy diệt đi, khổ thọ do khổ xúc được khởi lên, được cảm giác, vị ấy biết: "Khổ thọ ấy được diệt đi, được chấm dứt".
Như vậy, khi nãy là lạc xúc, bây giờ là khổ xúc, bất khổ bất lạc xúc. Ba cảm giác khi tiếp xúc, xúc sanh thọ là mình phải chánh niệm cảnh giác khi xúc, tiếp xúc sinh ra giác, chánh niệm tỉnh giác ngay khi xúc, lúc đó mình không biết 5 xúc vô minh, sanh ra cảm giác không biết càng vô minh, sau đó sinh ra tham, sân, si thì càng vô minh chồng vô minh. Cho nên trong bài kinh có câu sâu sắc lắm tức là do xúc chạm với vô minh sanh khát ái, từ đó tạo nghiệp. Đó là trong xúc vận hành xúc của mình mà không biết, trong sự tiếp xúc nội tâm của mình, sinh ra khát ái, từ khát ái đẩy tới mà không nhận ra trong lúc xúc. Nấu nước ăn cơm mình có thấy xúc không? Lưỡi ở đâu vị ở đâu không biết, thức có thấy gì đâu. Trời mưa mà ngủ, lạnh mà quấn cái mền vô lăn qua, ngồi thiền suốt ngày 14 tiếng đồng hồ, rồi nó đã quá, sướng quá. Thấy không, thân xúc chưa, thân thức chưa. Thấy được, rõ được, biết được, nhìn thấu suốt được hết cái quán của bậc Thánh, cái đại xúc lớn, trí huệ siêu việt của Đức Phật thấy đó.
Bây giờ là 59 phút ngồi, bấm bấm nó tê quá. Bài kinh Đức Phật dạy mình, thông tầm những bài kinh chỗ phải nghiến răng, cắn răng, hàng phục cái tâm của mình, tu như vậy đó. Phật nói mà. Muốn tu cười, ngồi nhìn mây bay, trúc lay, ngắm gió .. thì sướng quá ai tu trở thành thi sĩ hết rồi. Nói vui để an ủi cho mấy người áp lực căng thẳng ngoài xã hội thôi, còn tu kiểu đó làm sao mà giác ngộ.
Xúc sanh thọ, khi tiếp xúc, xúc chạm, từ xúc chạm bên ngoài cho đến bên trong. Trong tâm mình khi mà ý xúc, sâu xa vô cùng. Nếu mà nói có tiền định sao mà thấy được. Bây giờ, thọ sanh nhĩ xúc sanh. Thanh tưởng thanh tư đi theo liền. Trong tâm mình, mưa như vầy nói hơi to à nha thấy chưa là tâm tư. Thấy chưa, thọ sanh nhĩ xúc sanh. Thanh tưởng thanh tư đi theo. Thọ tưởng đi theo, nó sanh liền mà mình không thấy không biết.
Này Tỷ-kheo, ví như do hai cây que xúc chạm cọ xát, hơi nóng được sanh, ngọn lửa được hiện khởi. Khi hai que ấy được rời nhau, được phân ly, sức nóng được sanh khởi ấy, sức nóng ấy được diệt đi, được chấm dứt. Cũng vậy, này Tỷ-kheo, duyên lạc xúc, lạc thọ khởi lên. Vị ấy khi đang cảm giác lạc thọ tuệ tri rằng: "Tôi đang cảm giác lạc thọ". Do lạc xúc ấy diệt đi, lạc thọ do lạc xúc được khởi lên, được cảm giác, vị ấy tuệ tri: "Lạc thọ ấy được diệt đi, được chấm dứt". Này Tỷ-kheo, duyên khổ xúc khổ thọ khởi lên. Vị ấy khi đang cảm giác khổ thọ tuệ tri rằng: "Tôi đang cảm giác khổ thọ". Do khổ xúc ấy diệt đi, khổ thọ do khổ xúc được khởi lên, được cảm giác, vị ấy biết: "Khổ thọ ấy được diệt đi, được chấm dứt". Này Tỷ-kheo, duyên bất khổ bất lạc xúc, bất khổ bất lạc thọ khởi lên. Vị ấy khi đang cảm giác bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri rằng: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ". Do bất khổ bất lạc thọ xúc ấy diệt đi, bất khổ bất lạc thọ do bất khổ bất lạc xúc được khởi lên, được cảm giác, vị ấy tuệ tri: "Bất khổ bất lạc thọ ấy được diệt đi, được chấm dứt".
Lại nữa, xả còn lại được trong sạch, trong trắng, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, chói sáng.
Trú trong tâm xả, lạc xúc thì lúc đó lạc thọ khởi lên, tiếp xúc những cái vui thì có cảm giác vui, sau khi hết vui thì mình biết tiếp xúc với cái khổ, sanh cảm giác khổ, biết chấm dứt cảm giác khổ, biết. Rồi xả còn lại được trong sạch, trong trắng, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, chói sáng, chỗ này thâm sâu nè, thiền tông phải học cái này, trú cái tâm xả, không có dính mắc với khổ, vui, khen, chê, cái được, cái mất. Là cái tâm này, mà mong gặp cho có cái tâm sao được, phải thấy tính chất của nó nãy giờ quán đó: Không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi. Thấy được như vậy là chú vào cái xả, đây là hệ quả của chiếu quả, cũng như thành quán chiếu.
Ví như, này Tỷ-kheo, một người thợ vàng thiện xảo hay người đệ tử sửa soạn lò đúc; sau khi sửa soạn lò đúc xong, người ấy đốt lửa miệng lò đúc; sau khi đốt lửa miệng lò đúc, người ấy dùng kềm kẹp lấy vàng và đặt vàng vào trong miệng lò; rồi thỉnh thoảng người ấy thổi trên ấy, thỉnh thoảng người ấy rưới nước trên ấy, thỉnh thoảng người ấy quán sát thật kỹ... vàng ấy đã trở thành sáng sủa, thanh tịnh, gột sạch, các uế tạp được đoạn trừ, các tỳ vết được trừ sạch, nhu nhuyến, dễ uốn nắn và chói sáng... và nếu người ấy muốn làm đồ trang sức nào, hoặc vòng nhẫn, hoặc bông tai, hoặc vòng cổ, hoặc vòng hoa vàng, thời vàng ấy có thể dùng vào mục đích ấy.
Ví dụ thợ kim hoàn.