Xả Vô Lượng Tâm 3
Xả Vô Lượng Tâm 3
Thích Minh Thành
Ngày 23 tháng 07 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm ôm đồm, chất chứa, nặng nề PAGEREF _Toc78961664 \h 1
II. Quán chiếu sự đau khổ PAGEREF _Toc78961665 \h 7
I. Tâm ôm đồm, chất chứa, nặng nề
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Kính bạch quý thầy, quý cô và toàn thể quý Phật tử. Chúng ta tiếp tục chia sẻ về bài thiền quán Xả vô lượng tâm.
Ở đời bao nhiêu thứ, thứ nào cũng ôm vào. Tâm giờ sao nặng quá, ta xả bớt đi tâm. Vui buồn nào cũng cất, thương ghét nào cũng ôm, hơn thua nào cũng giật, được mất nào cũng giành. Khen chê nào cũng nhớ, vinh nhục nào cũng tranh. Oán thù càng giữ chặt, uất hận càng ghi sâu.
Bao nhiêu thứ ở trên đời này, thứ nào cũng ôm vô, ôm vào hết, thứ nào cũng chất, cũng để, cũng chứa vào hết nên “tâm giờ sao nặng quá, ta xả bớt đi tâm”. Gì cũng chất, cũng để, cũng ôm vào, gì cũng hốt vào, chứa vào nên tâm quá nặng nề, quá là mệt mỏi, tổn thương. Nên ngồi lại với nhau, nói chuyện này chuyện kia của người này, người nọ là thị phi, hơn thua, đúng sai, tốt xấu, đó là điều đáng thương xót.
Bệnh khi một nội tâm quá tải, một nội tâm chồng chất, một nội tâm ứ đầy, bên trong này có phát ra, tỏa ra mùi gì thì là những mùi hôi thối, tanh hôi, dơ bẩn. Thấy gì cũng ghim vào, nghe gì cũng chứa vào, cảm xúc gì cũng chất vào, trong cảm thọ là một cảm thọ bệnh hoạn, một cảm thọ nặng nề, một cảm xúc ê chề bên trong đó là sự quá tải, ùn ứ, bế tắt, áp lực.
Bao nhiêu thứ trên đời này thứ nào cũng ôm vào, chất vào, thương người này, ghét người kia, giận người nọ, không ưa người khác, người này người kia sao, món đồ này món đồ kia ra sao, chỗ này chỗ kia sao, nói ra toàn là nặng nề, cấu nhiễm, rác bẩn. Một nội tâm bệnh hoạn, một nội tâm đau khổ, một nội tâm chồng chất, đè lên.
Giống như chiếc xe cứ chất, chở, quy định chỉ có hai tấn nhưng giờ chất lên là năm tấn, xe chạy như không nổi và có lúc nào đó nó sẽ sụp, đổ xuống vì quá tải. Quá tải cũng như những người bệnh trầm cảm, những người căng thẳng, có tính khí bất thường, bức xúc hoặc thậm chí bệnh thần kinh, đến điên loạn.
Chúng ta ăn, uống cũng có sự bày tiết, thở cũng có sự tuần hoàn, hô hấp, đó đều là quy luật thì đó mới khỏe, còn giờ cứ đưa vào hoài mà đi ra không được? Nội tâm của mình cũng vậy, là một nội tâm không giải phóng, giải tỏa, giải phá, giải thoát những cảm xúc, cảm thọ đó ra thì nội tâm đó bị u uất, phẫn uất, bức xúc, phẫn nộ, cộc cằn, hung hăng, cau có, bực dọc, nhiệt não, bất an, mệt mỏi, nặng nề, áp lực, như vậy thì rất đau khổ, như sống trong địa ngục.
Những lúc chúng ta tập thiền quán là những lúc xả ra, giải phóng những cảm thọ đó. Là xả hết ra ngoài những tham ái ngu si, tham ái buộc ràng, tham ái u mê, ta xả hết ra ngoài những thương ghét lan man, những thương ghét vô thường, những thương ghét bất an. Ta xả hết ra ngoài những oán thù dây dưa, những thù oán dại khờ làm mờ ám tâm ta.
Nay ta buông bỏ hết, những buồn bực, buồn phiền, những dày vò ray rứt, những thương ghét buồn vui, nay ta buông bỏ hết những tức tưởi âm thầm. Những oán hận ngấm ngầm, thầm thêu đốt tâm ta.
Vật nên thiền quán là giải phóng cảm thọ, giải phá cảm xúc, giải thoát những u ám, uất ức, phẫn uất, nặng nề, cao có, cộc cằn, gắt gỏng, bức xúc, nhiệt não, buồn bực, buồn phiền dày vò, ray rứt những oán thù, những sự tức tưởi ngấm ngầm thêu đốt ta.
Chúng ta thấy được công năng của thiền quán là giải phá, giải tỏa, giải phóng các khối u trong cảm xúc, cảm thọ. Chúng ta thấy khi ngồi xả thiền thì mình thấy nhẹ nhàng, khinh an. Đó là trạng thái của sự giải tỏa cảm xúc, nhiều khi chúng ta không biết, đó là trạng thái xả hơi, thoát những hơi độc, khí độc trong tâm. Những cảm xúc trong đó là những khí đại, khí ác, khí ô trượt, nhiệt não, những hơi, áp lực, bức xúc bên trong. Khi chúng ta tu đúng Chánh Pháp thì chúng ta giải tỏa nó.
Nên nhiều lúc ngồi chúng ta thấy “Sao nhẹ quá!” hay như những lúc quán Bất tịnh, quán tâm từ rồi ra thì thấy như mình đang đi trên hư không, hay cảm giác không có thân, thân như bông gòn. Đó chính là khi cảm giác được giải tỏa ra, những uất khí, phẫn uất, phẫn nộ, sân hận, dục tham. Những trượt khí, độc khí, hơi độc của những lậu hoặc, cấu uế, của những nhiễm pháp, ô nhiễm pháp, cấu nhiễm pháp, uế nhiễm pháp là được giải phóng, giải tỏa, giải phá ra. Công năng của thiền quán, thiền tập là như vậy.
Nên khi chúng ta càng ngồi thì các tâm từ, tâm hiền, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, quán Bất tịnh… chúng ta thực tập ngày đêm, năm tháng, trăm lần, ngàn lần, nhiều ngàn lần, nhiều trăm ngàn lần. Không phải chỉ nói “Hôm nay thực tập tâm xả vậy rồi thôi!” vì bên trong chất chứa rất nhiều, vô thỉ kiếp bên trong nên cần phải giải tỏa, giải phóng, giải phá, giải thoát, thật nhiều, càng nhiều càng tốt, giải thoát đến khi hoàn toàn thành tựu một tâm trong sạch, thanh tịnh, một tâm không còn một chút tạp khí bên trong mà chỉ thuần túy là từ vô lượng, bi vô lượng.
Như khi Đức Thế Tôn, các bậc Thánh đi đến đâu thì người ta chỉ cần nhìn thấy các Ngài thôi cũng thấy mát lạnh, ấm áp, nhẹ nhàng. Đó chính là từ cảm thọ của các Ngài lan tỏa, thanh cao, thanh tịnh, trong sạch, thánh thiện, hoàn toàn không có hơi độc, khí độc, nên người tiếp xúc cảm thấy rất nhẹ nhàng, an lạc, tịnh lạc.
Còn đối với chúng ta vẫn còn khí độc không? Hay khi nói chuyện được một lúc là nhả khí độc, hơi độc ra khiến cho cả người kế bên trúng độc? Nó lây như Covid, như vi rút, chỉ cần nói chuyện hay lướt qua cũng đã bị lây. Vậy nên chúng ta nhớ công năng, tác dụng của thiền quán là giải tỏa, giải phá, giải phóng, giải thoát những hơi độc là những cảm xúc ác và bất thiện, cấu uế, cấu nhiễm bên trong. Vậy nên chúng ta mới tu tâm xả.
Lúc tối khi chúng ta ngồi thiền tu tâm xả mọi người có thấy nó xả ra không? Có thấy trong cảm thọ của mình xả ra không? Làm gì mình cũng thấy nó có hiệu quả ở lúc đó dù ít hay nhiều. Nếu mình không biết là si, vô minh, phải thấy được cảm thọ đang mở ra, tháo ra, đang thoát ra từ từ. Đừng ôm vào mà hãy tập xả ra. Ôm vào là ôm thiện pháp, Thánh pháp, Thánh trí, xả ra là xả những tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Phải nhớ cái nào là lấy cái nào là bỏ, không thể nói là “Giờ tôi tu thì không lấy bỏ gì nữa!” thì làm sao tu được? Và phải biết tới mức độ nào là không lấy bỏ, chúng ta phải hiểu được điều đó.
Vì chất chứa những thứ đó nên “Tâm giờ sao nặng quá, ta xả bớt đi tâm.” Mình kêu gọi cái thâm, những thọ, tưởng, hành của mình như vậy. Những lúc mình bức xúc, tham, sân, si thì mình kêu gọi “Thôi, xả bớt đi tâm!”. Nếu nó muốn hơn thua, tranh giành, phải quấy, hơn thua, lúc đó thì mình nói “Thôi, xả bớt đi tâm!” Tác ý để làm êm ái, dễ chịu hơn.
Khi kêu nó vậy thì nó sẽ buông xuống, để xuống, như đang giữ con dao, tô nước sôi lên để chuẩn bị tranh đấu nên “Thôi, xả bớt đi tâm” là như để xuống, đổ xuống, buông xuống, bỏ xuống. “Hơn thua để làm gì? Vô chùa để hơn thua nhau từng câu nói? Bỏ cha mẹ để vào đây chỉ để kiếm chuyện, gây sự với người khác? Nên thôi bỏ bớt đi tâm, chuyện của người ta, còn mình lo tu thôi.”
Khi chúng ta ứng dụng thì dùng câu “Thôi, xả bớt đi tâm!” chỉ một chữ thôi nhưng có rất nhiều nghĩa. Hãy nhớ câu tác ý đó, khi giận lên, sân lên, bản ngã lên, hơn thua, tranh đấu lên, cái gì cũng ôm vào thì tác ý ngay “Tâm giờ sao nặng quá. Thôi, xả bớt đi tâm!”
“Vui buồn nào cũng cất, thương ghét nào cũng ôm. Hơn thua nào cũng giật, được mất nào cũng giành.” Những câu trên như điểm trúng nguyệt sâu thẳm của tâm, tâm khảm của mình, bản chất của người vô minh, si ám là vậy, dù vui buồn nào cũng cất, để dành.
Bài thơ của Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ có câu:
“Thời tiết xoay vần xuân linh thu.
Cái già sòng sọc đáp lên đầu,
Giàu sang ngó lại trơ tràn mộng
Năm tháng mang theo vạn học sầu.”
Thời tiết cứ hết xuân rồi đến thu, hạ, đông cứ qua mà cái già song sọc đáp lên đầu, là tuổi già đi nhanh, chạy nhanh rồi đáp lên đầu là tóc bạc. Giàu sang ngó lại trơ tràn mộng, như khi nằm có gắn bình thở thì có giàu đến ngàn tỉ thì cũng vậy, nhưng năm tháng mang theo vạn học sầu.
“Nẻo khổ xoay vần, xe chuyển bánh
Song yêu bọt nước mất còn đâu.
Người đời nếu chẳng sờ lên mũi
Yên lành ngàn kiếp cũng chỉ bóng màu.”
Nẻo khổ xoay vần, cứ xoay từ sanh, già, bệnh, chết, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cứ xoay vần. Song yêu (ái hà) thì mình bị trôi trong dòng sông yêu thương, tham ái thì giống như bọt nước, nổi rồi lại nát, vỡ. Trường đời nếu chẳng sờ lên mũi, tức là khi mình sanh ra trong đời nhưng lại không biết quay trở về để tu như mũi ở trước mặt mà không thấy. Đó là nhà thiền mượn lỗ mũi để ví dụ cái tâm, tuy ở trước mặt mà không thấy, mà chỉ thấy ở ngoài, hướng ngoại. Nên trường đời nếu chẳng rờ lên mũi, ngàn thuở duyên lành chỉ là bóng màu.
Dù cho có gặp được nhiều cái tốt, cái lành, cái thiện thì chỉ là áp chớp thôi, rồi sẽ mất hết, nếu không biết quay trở về tâm tu tập, để nhận diện ngũ uẩn thì tất cả những cái duyên lành mà mình có được rồi sẽ tan biến thành mây khói hết. Nên trường đời không biết rờ lên mũi là không biết quay trở lại để nhận diện ngũ uẩn, diệt tận tham, sân, si, ngàn thuở duyên lành chỉ bóng màu. Bóng màu chỉ các ảo ảnh, giống như cầu vòng, lóe lên rồi nhìn thấy được một lúc là tan, không biết nắm bắt cơ hội để quay về tu.
Lại nói về vạn học sầu: thời tiết xoay vần xuân đến thu, già sòng sọc đáp lên đầu, giàu sang ngó lại trơ tràn mộng, năm tháng mang theo vạn học sầu. Mọi thứ đều cất vào, thương cũng gói kĩ, gói kín, giống như các bà cụ ở quê, tiền để vào túi rồi lại để vào một túi nữa, rồi quấn lại, để vào túi rồi lấy kim tây kẹp lại.
Vui buồn nào cũng cất, thương ghét nào cũng ôm, dù thương ai hay ghét ai cũng cất kỹ trong cảm thọ. Vui buồn, thương ghét nào cũng ôm giữ, giữ chặt, giữ kín, giữ sâu, giữ chắc, giữ mãi rồi “Tâm giờ sao nặng quá” vì cứ giữ, cứ cất giấu hết, hơn thua nào cũng giật, được mất nào cũng giành. Từng chút hơn thua với nhau, rồi giành giật với nhau, giật phần hơn, phần thắng về mình, phần cao, phần đúng về mình mà để phần thua, phần thấp, phần hèn hạ, sai quấy là người ta, còn mình thì cứ giật phần đúng.
Cứ giành giật, được mất, hơn thua, chỉ có tiếng nói cũng xảy ra ẩu đả, có một hành động, ánh mắt thôi cũng xảy ra án mạng, nói qua lại thôi cũng máu đổ, đầu rơi. Thương cho những tâm thức si ám, sân hận, ngã mạn, khổ đau, khen chê nào cũng nhớ, vinh nhục nào cũng tranh, oán thù càng giữ chặt, uất hận càng ghi sâu.
Khen chê nào cũng nhớ, chỉ cần người ta khen một câu thôi cũng nhớ hoài, không quên, mà dù người ta chê một câu cũng nhớ hoài. Mỗi khi nhớ người kia là nhớ đến câu ủy nhục, câu chê, nhớ người kia là nhớ về câu khen, chúng ta thấy bản ngã thật khủng khiếp, cảm thọ chất chứa ghê gớm.
Một cái tâm bệnh hoạn, tranh giành vinh nhục, ghi nhớ khen chê, oán thù càng giữ chặt, uất hận càng ghi sâu, chỉ toàn giữ những cái khủng, giống như đang giữ lựu đạn, bom, mã tấu, dao găm, súng ống, đều là những thứ gây cháy nổ, hiểm họa, tai họa, những thứ đưa đến sát hại tự thân mình rồi sát hại tới ai. Cứ chất chứa, giữu gìn những thứ này, tranh giành, ghi sâu.
Điều này nói bao nhiêu cũng không hết, dù là mẹ con cũng oán thù nhau, anh em ruột mà cũng không đội trời chung, thầy trò cũng hãm hại lẫn nhau, cứ quấy phá, hãm hại, thư kiện nhau. Những sự thật mình cũng không nói hết được, nói ít hiểu nhiều thôi.
Có một sư cô, xuất gia với sư phụ, sau khi bỏ đi rồi thì cô này đi tới đâu thì sư phụ của cổ nói sao để cho trụ trì chùa đó đuổi cô ấy đến hai mươi chỗ. Đau lòng, không tu đúng Chánh Pháp thì rất khổ, không chỉ cạo đầu rồi đắp y lên là xong, tham, sân, si, bản ngã bên trong nhưng không thấy, không nhiếp phục thì làm khổ cho nhau nhiều. Oán thù càng giữ chặt, uất hận càng ghi sâu, những uất ức, uất hận cứ chất chứa, tàn phá trong tâm, hủy hoại bên trong, dày vò, ray rứt, giày xéo hành hạ, đay nghiến khiến cho đau khổ. Nhưng nếu không tu để xả ra thì sao? Vậy nên thiền tâm xả tuyệt vời là vậy, giúp giải phá, giải tỏa, giải phóng các cảm thọ đó, những cảm xúc đó.
Nếu chúng ta nói sự thật của cuộc đời này ra thì mình có thể “chạy mất dép”, xuất ly rất nhanh nhưng nhiều khi lại không dám nói hết. Phải tự mình dùng trí huệ của mình hiểu, mình nói thì có người lại nói “Sao lại nói mặt xấu thôi?” Nhưng đó là sự thật, nhưng sự thật thường mất lòng, đau lòng.
Lời thật trái tai, hình ảnh thì lúc nào cũng đẹp như hoa nở, còn những lúc như tai nạn giao thông thì người ta đã bôi xóa hết các hình ảnh rồi, hay để nhưng làm mờ để không ai nhìn kĩ được. Hay những hình ảnh thống khổ, đau khổ này kia thì người ta đã bôi mờ hết, hay như xác chết phân hủy thì cũng bôi mờ hết. Người ta che giấu, che đậy những sự thật đó.
Vậy nên đây là những sự thật của tâm: vui buồn nào cũng cất, thương ghét nào cũng ôm, hơn thua nào cũng giật, được mất nào cũng giành. Vì bản chất của nó nếu không biết tu thì sẽ như vậy, khen chê nào cũng nhớ, vinh nhục nào cũng tranh, oán thù càng giữ chặt, uất hận càng ghi sâu.
Thương tâm này, tội tâm này, “Xe ơi tội xe quá, xả bớt hàng đi xe. Tâm giờ sao nặng quá, tâm xả bớt đi tâm”. Thật tội nghiệp, xót xa, đáng thương cho tâm này lắm. Người đáng thương nhất trên thế gian này, hành tinh này chính là cái tâm si ám này của mình. “Tâm giờ sao nặng quá. Tâm xả bớt đi tâm.”
II. Quán chiếu sự đau khổ
Nên câu thần chú, tối thượng chú, vô đẳng chú là “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu!” là những câu trong Tứ niệm xứ. Chỉ cần một chút của cảm thọ nổi loạn lên là sụp đổ hết tất cả sự nghiệp, đạo nghiệp, tình nghĩa, hiếu lễ đều tan tành hết, là xong xuôi, mất mạng, chung thân, đạo đức hiếu lễ đều tan tành hết.
“Nặng vì tham đắm lại còn thêm hận thù, tâm bị chìm sâu xuống, trong vực thẳm khổ đau” Chỉ tham dục, tham ái, tham lam, tham muốn là đã quá rồi, một cái thôi cũng đã hành hạ mình khổ lắm rồi, giờ lại thêm hận thù nữa. Tâm bị chìm sâu, rơi tự do xuống vực thẳm của khổ đau. Chúng ta cứ quán tưởng như mình bị trượt chân, rơi tự do xuống vực thẳm thì rất khủng khiếp.
Vậy nên có nhiều người họ oán hận cả cuộc đời, bất cần đời, làm những chuyện động trời vì tâm của họ đã chìm xuống vực thẳm, cùng quẩn nên họ nhảy cầu, nhảy lầu, treo cổ, tự sát bằng dao hay bằng thuốc. Vì tâm của họ đã rơi xuống vực sâu, bế tắt hoàn toàn. Vậy nên pháp của Đức Phật là pháp trị tâm bệnh, tu tâm, dưỡng tâm, tịnh tâm, trị tâm, lo cho tâm, chăm sóc cho tâm, là nghệ thuật để nuôi dưỡng tâm hồn, tâm linh, làm cho tâm linh tươi mát, an lạc, tịnh lạc.
Chúng ta phải hiểu được khi mình đang ngồi thiền là như vậy, đang nghe pháp, đang tụng đọc Thánh trí huệ là như vậy hay như đang thiền hành cũng là như vậy. Mình phải cảm thấy thích thú, khoan khoái, thích thú, phấn khởi, biết được mùi vị thấm thía bên trong đó. Không phải là lên tụng đọc là xong, ngồi cho có mặt, như một cái máy.
Đây chính là phương pháp nuôi dưỡng tâm, trị tâm, chăm sóc tâm, tưới tẩm cho tâm mình, làm cho tâm mình đi đến chỗ thanh cao, cao thượng, thánh thiện. Vì tâm của mình là tâm bệnh
“Này các Tỳ-kheo, có thể người sống được trăm năm mà không có bệnh về thân, nhưng không ai không bệnh về tâm dù chỉ trong giây phút.”
Bị bệnh là đã nặng về tham đắm lại còn thêm hận thù, tham sân, si mê, ngã mạn, tâm bị chìm sâu trong vực thẳm khổ đau. Khổ vì bị tái sanh, nổi trôi trong các tội, khổ vì bị biến hoại, trẻ đẹp thành già nua.
Khổ vì bị tái sanh là cứ lặp tới lặp lui mãi như vậy, đó gọi là tái, tái kiến, lặp lại. Tái sanh là chết rồi lại sanh, rồi lại sanh ra với tham sân si rồi chết, sanh ra với dục, bản ngã rồi chết, thêm tham lam, hận thù, hơn thua, tranh đấu rồi chết. Cứ tiếp tục mãi như vậy trong ngàn vạn, vô lượng vô số, vô biên vô thỉ kiếp, đó gọi là khổ vì tái sanh.
Ví như hai người ghét nhau, hai ba ngày rồi lại giận, nói vài câu rồi tức giận, cứ vậy hoài thì họ có chịu nổi không? Có mệt, chán không, thấy ngao ngán hay không? Và còn muốn gặp người đó nữa không? Hay chỉ muốn “đi khuất mắt cho rồi” Giờ gặp cứ sân, hận, bực, khó chịu, thì trong luân hồi của mình cũng giống vậy, dục, tham, ái, sân si cứ làm hoài như vậy, đó gọi là khổ vì bị tái sanh.
Mỗi một đời của mình là một tập, một bộ phim, đời thứ hai là một bộ phim khác, vậy mà trong vô lượng tập Đức Thế Tôn đã thành tựu được sanh tử minh, sanh tử trí túc mạng minh. Ngài ngồi nhìn một dòng dài như vậy, qua hàng trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, trăm trăm ngàn đời, triệu đời, trăm triệu đời, tỉ đời, ngàn tỉ, ngàn tỉ, tỉ tỉ… Ngài đều xem hết các tập rồi Ngài kêu “Đây là khổ, khổ là đây!” Đó cũng là câu đầu tiên Đức Phật đã chứng ngộ, khi thành tựu được tam minh.
“Đây là khổ, khổ là đây” tức Ngài đã nhìn thấy được tỉ tỉ tập phim, bộ phim của Ngài và chúng sanh, đó là khổ vì tái sanh. Mình ngồi đây nhớ lại lúc nhỏ, ngồi nhớ ba bốn chục năm thì nước mắt có tuôn ra không? Hay ngồi nhớ lại “Cuộc đời của con đau khổ, con từng tự vẫn.” Chỉ mới mấy chục năm mà nước mắt của mình đã chảy vậy, còn nếu mình nhìn thấy được ngàn đời của mình thì như thế nào, khổ thế nào? Hay qua trăm ngàn đời, triệu đời, tỉ kiếp của mình mà mình nhìn thấy hết như vậy thì thấy sao? “Đây là khổ, khổ là đây”
Vậy nên câu đó được thốt lên làm rung động cả đời đất, tam thiên trên thế giới đều lắc lư, rúng động, vì chữ đó không phải là bình thường. “Đây là khổ”, chữ đây là ngũ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chữ đây là lậu hoặc, vô minh, dục ái, tham sân si, bản ngã, chữ đây là vui buồn, được ghét, hơn thua, được mất, khen chê, vinh nhục, oán thù, uất hận. Chữ đây là sầu bi, khổ, ưu não, là nước mắt, máu, là đống xương da, thay đổi liên tục trong vô lương, vô biên kiếp. Chữ đây là những cảm xúc, bức xúc, những cảm xúc nhiệt não, khao khát, thèm thuồng, đốt cháy, thêu rụi, hủy hoại, đó gọi là đây và “Đây là khổ! Khổ là đây”.
Những chữ Đức Phật dạy đều cô đọng, cả một khối đại tuệ, đại giác, đại trí, đại minh, đại quan, không phải chỉ đọc kinh rồi xong mà phải chiêm nghiệm, thiền quán.
“Khổ vì bị tái sanh, nổi trôi trong các cõi. Khổ vì bị biến hoại.”
Biến hoại là từ của Nikāya, biến là biến đổi, hoại là tan ra, hoại diệt, khổ vì đó gọi là hoại khổ, cái khổ vì bị phá hoại, phá nát, đổ vỡ, hủy diệt. Như cái chuông mình thích mà nếu bị bể thì mình buồn khổ, nó biến hoại, biến đổi hoại diệt. Hay như nhà của mình thích, bữa nào nhà bị cháy làm gió bão thổi tung làm sụp hết, đó là khổ vì biến hoại. Thân này mình yêu thích mà nó chuẩn bị rã rời, thì mình khổ. Đó gọi là hoại khổ, hành khổ. Hành là sự vận hành của ngũ uẩn, khổ này lại chồng lên khổ kia, gọi là khổ trên khổ. Hoại khổ là hoại diệt nên khổ.
“Trẻ đẹp thành già nua”
Ngày đó có một Phật tử lên thăm và nói “Thầy có cách nào chỉ con tu mau mau, để con thấy được cái vô thường. Con tuy bảy mươi tuổi rồi nhưng cũng chưa thật sự thấy được vô thường, thể nhập trọn vẹn.” Mình Thành trả lời “Ông cụ có tấm hình nào lúc còn hai mươi tuổi không?” Rồi sau đó ông cụ lấy tấm hình lúc còn mười mấy, hai mươi tuổi và tấm hình lúc bảy mươi tuổi kế bên và cả hình chụp X-quang chụp đầu lâu, bộ xương để bên cạnh. Để ba tấm hình đó và mỗi ngày quán chiếu, quán sắc uẩn này, sau đó ông ấy nói “Nhìn đầu lâu này ghê quá thầy ơi.”
Phải biết khổ vì bị biến hoại, khổ vì thân vô chủ, đau bệnh đến bất thường, khổ vì thân hoại diệt, tử thần chẳng nể thương.
Là khổ vì thân này không tự chủ được, đau bệnh đến bất thường, chỉ cầm tay vịn ở nắm cửa thôi cũng có thể nhiễm bệnh. Như mình đang ở chùa mà có người lại thăm mình rồi chiều lại điện thoại “Thầy ơi nhà con bị phong tỏa rồi!” thì nghe nói vậy mình cũng rụng rời. Đó là đau bệnh đến bất thường. Hay chỉ ngủ dậy rồi biết rằng cả xóm mình đều bị phong tỏa hết, chỉ nghe gõ cửa rồi có xe cấp cứu ở trước thì chỉ tranh thủ chuẩn bị rồi đi lên.
Đau bệnh đến bất thường, khổ vì thân vô chủ, khổ vì thân hoại diệt, tử thần chẳng nể thương.
Số người chết bây giờ thật khủng khiếp, trong nước mình đã trên bốn trăm người, nước khác đã là hàng vạn, hàng triệu, người nhiễm đã qúa nhiều.
“Sanh, già, bệnh, chết bốn khổ này hoành hành. Thêm tham, sân si nữa, khổ chất chồng lên nhau.”
Điều này mới lột tả hết được cái khổ, vì thường mình chỉ nói khổ là sanh, già, bệnh, chết thôi, lại thêm tham, sân si nữa, khổ chất chồng lên nhau. Bên ngoài là những thể chất, thể giác, vật chất bên ngoài là sanh, già, bệnh, chết, thành trụ hoại không, còn bên trong nội tâm là thêm tham, sân, si - đây chỉ là nói ngắn gọn nhất, chỉ ba từ, còn lúc nãy chúng ta nói ra thì rất nhiều.
Khổ chất chồng lên nhau thì đó gọi là khổ khổ, nãy là hoại khổ, giờ là khổ khổ, khổ này chồng lên khổ kia, khổ kia lại chồng lên khổ nọ gọi là khổ khổ, khổ chồng lên khổ.
Đã sanh là phải sống, sống phải tìm miếng ăn. Cũng vì miếng ăn này, khổ càng chồng lên khổ.
Thật sự nói về miếng ăn thì mình thấy rất đau lòng. Chỉ vì ba bữa ăn một ngày mà nhiều khi người ta phải chịu sự chà đạp, khinh khi, ủy nhục của người khác thì mới có được miếng ăn. Vì chúng ta đang được phước nên thấy miếng ăn của mình là bình thường, nhưng đối với những người thiếu phước thì một miếng ăn của họ là cả một vấn đề lớn lao. Để ăn một bữa ăn thôi mà họ bị chà đạp, ủy nhục, khinh khi. Không phải là mình thấy mình vậy rồi ai cũng vậy hết, không phải vậy, nhiều lúc chan cơm với nước mắt.
Chính bản thân Minh Thành lúc nhỏ đã từng trải qua rồi, phải chan cơm với nước mắt. Khi mình ở nhà với cha mẹ mình thì chuyện ăn là bình thường, nhưng nếu mình đi qua một nhà của người khác thì miếng ăn đó không phải là giản đơn.
Có những người nghèo, hằng đêm đứng xa xa ở quán ăn, chờ những người ăn xong mà còn dư lại, như những đứa trẻ nghèo khổ, nhào tới lấy phần dư đó. Hay như những chỗ nghèo khổ hơn, như ở Châu Phi, mỗi ngày những quán ăn đóng cửa, những đồ ăn dư mà người ta bỏ lại vào bao hay thùng đem lại đó thì nhiều đứa trẻ bu đen lại, những cũng không được ăn liền mà chia ra đồ nào còn tốt thì cấp cao được ăn còn những miếng đồ ăn còn dư, bỏ thì nhào vô ăn. Đó là những nơi có ăn, còn có cả nơi không có gì ăn phải ăn bùn, đất.
Hiện nay vẫn có rất nhiều nơi trên thế giới đói khổ và tình hình thời tiết, khí hậu như vậy, lũ lụt, bão táp, mưa gió không thuận hòa thì sự mất mù màng xảy ra, đói khát càng thêm trầm trọng. Như những năm vừa rồi ở miền Tây bị ngập mặn, ruộng lúa không làm được, có một số vùng bỏ đi, vì giờ không làm được nữa, sự sống của người ta là nhờ vào miếng ruộng, giờ ruộng lại ngập mặn thì không làm được, mưa gió trái mùa, lũ lụt rồi hạn hán.
Vậy nên khi quán chiếu miếng ăn này rất khổ. Nên dù mình có phước, mình không lo cái đó thì mình phải cố gắng thấy được, tuy là không lo nhưng phải biết, để mình trân trọng những gì mình đang có, tuyệt đối không phung phí, nhất là đồ ăn, thực phẩm, thức ăn. Nhất là mình ăn là nhờ đàn na tín thí cúng dường, không phải là mồ hôi nước mắt mình làm ra, càng không được phung phí, nên phải trân trọng từng chút.
Ông bà ngày xưa có nói hại gạo là hạt ngọc, không được phí phạm của Trời. Nên khi ăn cơm tuyệt đối không được dính một hột cơm bào trong tô, trong chén mà phải ăn hết, sạch sẽ. Trong đạo còn có tráng bát, là đổ nước vào để tráng bát. Nếu mình phung phí, hủy hoại thì sau đói, không có ăn, là chết đói. Sắp tới đây vì dịch bệnh nên cái đói này sẽ rất khủng khiếp, trên toàn thế giới.
Đã sanh thì phải sống, đã sống phải tìm miếng ăn. Cũng vì miếng ăn này khổ càng chồng lên khổ.
Khi nhìn thấy hình ảnh của những bà cụ đã bảy, tám mươi tuổi đợi để nhận túi đồ ăn, hộp cơm mà nước mắt giàn giụa, ở nhà ăn cơm với nước mắm, không có gạo ăn nên phải nấu cháo, rất khổ. Nhiều nỗi khổ mà các bà cụ già, ông cụ, những người được hỏi phỏng vấn thì họ từ chối “Thôi đừng hỏi, tôi khóc à! Tôi không dám nói”
Hay những người dân đi bộ hàng trăm cây số, không có tiền về xe, không có tiền ăn, gạo cũng hết, chỉ đi bộ như vậy. Đi từ tỉnh này qua tỉnh kia vì không có việc làm, có nhiều người mỗi ngày làm ngày nào ăn ngày đó, mà không có của dư, của để, dành dụm được nên rất khổ.
Vậy nên chúng ta nhìn sâu vào mới thấy được rất nhiều trường hợp để mình ráng tu học, để được phước may mắn, phước lành, thiện pháp của mình thì mình không lo những chuyện đó, nhưng cũng chưa chắc từ đây đến ngày mình ra đi, vì vậy càng phải cố gắng.
“Hữu phước bất khả hưởng tận, hưởng tận tất bần cùng” tức có phước không nên hưởng hết, hưởng hết chắc chắn là nghèo khổ. Vậy nên khi no hãy nghĩ tới lúc đói thiếu, khi khỏe phải nghĩ đến lúc bệnh hoạn, khi trẻ phải nghĩ đến lúc già yếu, khi sống phải nghĩ đến lúc mình chết, khi bình thường nghĩ đến lúc bất thường, khi an ổn phải nghĩ đến lúc loạn lạc, chiến tranh.
“Khổ vì kiếm miếng ăn, ăn không được cũng khổ, ăn được ra không được, khổ này thiệt khổ hơn.”
Khi kiếm miếng ăn đã khổ, nhưng ăn rồi bài tiết không được thì khổ lại càng khổ. Như có những người phải dùng đến ống, rồi đổ nước, thức ăn vào đó, hoặc cũng có người mổ một lỗ rồi đi tiểu bằng đường ống đó. Khi đi vào bệnh viện thấy rất thảm, bây giờ nhà nước kêu gọi tất cả các bệnh viện đều phải dùng để điều trị dịch bệnh, vì có nhiều bệnh viện quá tải. Ở Sài Gòn đã có khoảng mười mấy bệnh viện dã chiến, bốn mươi mấy ngàn người bệnh, thì làm sao lo hết? Ngoài ra số người nhiễm trong cộng đồng khoảng hơn tám trăm ca. Như vậy thì số thật sự là bao nhiêu?
Vậy nên bệnh khổ, đói khát này rất khủng khiếp. Minh Thành từng tới bệnh viện Ung bứu hay Chợ Rẫy thăm bệnh mà đến giờ vẫn không quên được, có người cầm túi nước tiểu phải buộc kế bên người, có người đút ống vào rồi rót thức ăn vào. Giờ ở Indonesia thì trường hợp mộ chồng lên mộ vì không đủ đất để chôn nữa. Tổ chức Y Tế Thế Giới nói đây là một trận mới, đợt nhiễm mới, những nước được xem là tạm ổn thì giờ bắt đầu trở lại, như nước Úc.
Vậy nên rất khổ, hãy ráng tu học. Thà chết trên bồ đoàn, chết trên thiền đường, hay chết ở chỗ đang hàng đạo, đang tu chứ đừng để chết trong bệnh viện. Dù mình không làm chủ được nhưng mình phải cố gắng, vì là thân vô chủ, chết ở đâu cũng được nhưng an trú được trong pháp. Và muốn an trú được trong pháp thì từ giờ mình phải toàn tâm, toàn lực vào trong pháp học, pháp hành vì đến lúc đó có thể không kịp.
Chúng ta nghĩ giờ mình bệnh, bốn người bệnh khác, bốn mươi người bệnh khác, bốn trăm hay bốn ngàn người bệnh thì cần bao nhiêu bác sĩ để lo? Còn giờ là bốn chục ngàn người thì cần bao nhiêu? Nước ta đã hơn bảy mươi ngàn ca nhiễm.
Nói ra để chúng ta cổ gắng tu học, thấy được nỗi khổ, để mình tu học tinh tấn lên, để ghi nhớ, khắc sâu cảm thọ này để mình tu. Không phải nói để mình lo sợ, bất an mà là lo sợ để mình tu.
Ở đời bao thứ khổ, vì ngủ, nghỉ, miếng ăn, vì tấm thân vô thường, vì những người thân thương, khổ bao nhiêu thứ khổ, trong một kiếp con người. Dại gì ta lại phải đem oán thù chồng lên.
Bao nhiêu thứ khổ như ngủ không được cũng khổ, ngủ mãi cũng khổ, ngủ sai chỗ cũng khổ. Giờ ngồi thiền mà ngủ thì cũng khổ, nó sẽ ray rứt, giày xéo. Những người nhiễm bệnh mà có người thân mất thì khi thêu rồi mới báo cho họ vì không được vào, hay có những người cha mất nhưng không được gặp mặt, vì giờ phong tỏa, cách ly hết thì làm sao đi về quê? Hay có người cha mẹ chết thì chỉ có thể lập bàn thờ trong khu phong tỏa, cách ly để bái vọng vì đang bệnh không thể về.
Nên người xưa có câu: “Chết trước đặng mồ đặng mả, chết sau rã thây đúc nhầy”. Vậy giờ muốn chết trước hay chết sau? Hay muốn bất tử? Chết một lần rồi để không còn chết nữa? Sanh ra một lần nữa rồi không sanh nữa, vô sanh.
“Khổ bao nhiêu thứ khổ, trong một kiếp con người. Dại gì ta lại phải, đem oán thù chồng lên.”
Chúng ta thấy là dù mình đang thực tập thiền tâm xả nhưng đây đều là Khổ Thánh Đế, Khổ Tập Thánh Đế, khổ diệt, đạo diệt khổ, có đầy đủ Tứ Thánh Đế bên trong. Vì nếu không thấy khổ làm sao xả, làm sao buông được? Phải thấy được khổ mới buông, đây chính là nghệ thuật trong sự tu học, là chỉ ra được sự nhân quả. Không phải là “Sư phụ ơi giờ con thấy con bực bội!” thì nói là “Thôi xả hết đi, buông hết đi, niệm Phật đi!” vậy là xong. Vậy thì không biết làm sao xả? Đó là quả, vậy thì muốn thấy được vậy thì phải thấy được cái nguy hiểm, tác hại của nó. Nhân mới đưa đến quả để buông xả, vậy nên khi học thì mình học đầy đủ nhân quả hệ, đầy đủ căn nguyên, nguyên nhân là tại sao mình thấy được khía cạnh, hiểm họa, tai họa, đau khổ, hoạn nạn trong đó thì mình mới buông ra được, ý thức được đây là lửa than, chất độc, tàn hại thì mình mới bỏ, vứt, quăng nó, mới buông xuống được, đó chính là nghệ thuật hướng dẫn pháp, hành trì pháp.
Hay ta lại nói “Thôi con buông hết đi, nắm làm chi cho khổ!” nhưng có buông được không? Phật tử nói “Dạ con buông!” nhưng về nhà rồi có buông được không? Vậy nên phải chỉ ra những thứ ác độc như vậy, tàn hại, nguy hiểm, tai hại, thống khổ như vậy, nói hết ra để người ta thấy “Thôi con thấy khổ quá rồi thầy ơi, thôi con buông bớt đây!” như vậy thì mới được. Đó chính là thực tập tâm xả.
Hay có người tới rồi kêu buông thì buông cái gì? Nhiều khi dạy buông thì có Phật tử hỏi “Thầy ơi con còn chồng con của con thì buông gì thầy?” là có người không hiểu cứ nghĩ buông là bỏ hết chồng con vào chùa tu, không phải như vậy. Mà phải nhìn thấy bản chất của đời sống này, của tham, sân si, bản ngã, vô minh này, để ghê sợ, khiếp sợ, kinh sợ, sợ hãi, run sợ đối với nó, bắt đầu có một sự nhìn lại, để tâm, để ý, dò xét cẩn thận, canh chừng, phòng chừng, phòng hờ, hộ trì để nhiếp phục, giảm thiểu nó, từ từ rồi buông bỏ nó. Chúng ta phải hiểu được vấn đề trong sự tu học của chúng ta.
“Vốn sống trong các khổ, khổ vậy cũng vừa rồi. Thôi đừng ôm thêm nữa, khổ đủ rồi tâm ơi.”
Mọi người đang ngồi đây có thấy khổ không? Thấy dù ngồi cười như vậy nhưng bên trong cũng có khổ, nhiều khi thấy buồn ngủ, mỏi lưng, đau nhức phải chịu đựng. Nhiều khi ở ngoài thấy tươi cười nhưng bên trong lại thấy khổ, vốn sống trong các khổ, khổ này luôn luôn có mặt, vì vô minh, tham ái nên mình không thấy nhưng lúc nào thì nó cũng có mặt.
Vậy trúng số có khổ không? Hai người phụ nữ ngồi với nhau trò chuyện “Chị chia bớt khổ” – “Không, tôi khổ quen rồi!” Không phải người giàu không khổ, vì “Vốn sống trong các khổ, khổ vậy cũng vừa rồi. Thôi đừng ôm thêm nữa, khổ đủ rồi tâm ơi.” Thật thấm thía, ngấm vào, lan tỏa cái khổ vào trong cảm thọ này. “Khổ đủ rồi tâm ơi, đừng giận nữa, đừng ghét thương nữa, đừng tranh đấu, hơn thua, khổ như vậy đã đủ rồi tâm ơi!”
“Dại gì ta cứ phải ôm mãi những hận thù, để trong đau khổ, ta lại càng khổ đau.”
Mình không biết thương mình hay sao? Mà mình cứ hành hạ, hành tội, hành xác nhau như vậy thì mình mới chịu hay sao? “Khổ đủ rồi tâm ơi, buông xuống, bỏ xuống những thứ là cho mình khổ đi!”.
“Dại gì ta ôm mãi những buồn phiền, để ta không thoải mái, không ngày nào an vui.”
“Tại sao lại dại, ngu si đến vậy? Cứ ôm mãi những buồn phiền này? Hãy buông bỏ xuống? Buồn phiền ôm mãi để làm gì để rồi ta không thoải mái, không ngày nào an vui? Tại sao ta không bỏ đi, bỏ hết những buồn phiền này đi? Bỏ hết những hận thù này đi? Tại sao ta không sống được thoải mái, không sống được cho an vui? Tại sao lại bắt ta cứ ôm mãi những buồn phiền này? Tại sao?”
Chúng ta hỏi cảm thọ của mình như vậy, là “Tại sao cứ ôm hoài, giữ hoài? Tại sao cứ chấp hoài? Cứ ấp ủ hoài? Thôi, hãy để cho mình thoải mái đi, hãy để cho mình an vui đi!”
“Nay ta xả hết những tham muốn hận thù, ôm chi cho thêm nặng, cái kiếp người của ta.”
Chúng ta xả hết, bỏ hết, buông hết, quăng hết, liệng đi hết.
“Nay ta xả hết ra ngoài, những tham lam, sân hận, những oán thù xưa nay.
Nay ta xả hết những tham muốn mông lung, những tham muốn khôn cùng, những tham muốn lung tung.
Nay ta xả hết những tham ái ngu si, tham ái buộc ràng, những tham ái u mê.
Nay ta xả hết những thương ghét lan man, những thương ghét vô thường, những thương ghét bất an.
Nay ta xả hết những oán thù, thù oán dây dưa, thù oán dại khờ làm mờ ám tâm ta.”
Tức là chúng ta giải phóng, giải phá những cảm xúc tiêu cực, những cảm thọ đau khổ này, oán thù này. Tham lam, tham dục, thương ghét này. Ngu si, mê muội này giải phá hết, giải tỏa hết, giải phóng hết, giải thoát hết.
“Nay ta buông bỏ hết những buồn bực, buồn phiền, những giày vò, ray rứt, của thương ghét, buồn vui.
Nay ta buông bỏ hết những tức tưởi âm thầm, những oán hận ngấm ngầm, thầm thêu đốt tâm ta.
Nay ta tha thứ hết cho những hữu tình nào lỡ gây thêm đau khổ, lỡ gây thêm đau khổ cho kiếp người của ta.
Nay ta không nhận nữa, những cảm thọ hận này, những cảm thọ khổ này, không còn chỗ trong ta.
Nay ta không nhận nữa, những cảm thọ thù này, những cảm thọ ngu này, không còn nữa trong ta.
Nay tâm ta từ bỏ, lòng tham cái vô thường, lòng sân cái vô thường, ta từ bỏ tham sân.
Nãy giờ là giải tỏa, giải phá, giải phóng, giải thoát ra cho nó xì hơi, bốc hơi, bốc khói, cho nó tan biến vào hư không. Để cho tâm mình được thoải mái, nhẹ nhàng, được thảnh thơi, an vui, tự tại.”
Vậy có bốc hơi, xì hơi, thoát hơi, giải độc chưa? Thoát khí chưa? Hãy làm tan biến vào hư không tất cả những ngấm ngầm, tức tưởi âm thầm, oán hận ngấm ngầm, giày vò ray rứt, những buồn bực, buồn phiền. Buông xả hết, buông bỏ, giải phá, giải tỏa, giải phóng hết để nó tan biến vài hư không, thành mấy khói, thành hư không, diệt tận hoàn toàn, tan biến trọn vẹn, hoàn toàn không bao giờ sanh khởi trở lại trong tương lai.
Hay nhớ ta phải xả hết ra ngoài những oán thù dây dưa, những buồn bực, buồn phiền, những giày vò ray rứt, tức tưởi âm thầm, oán hận ngấm ngầm đang thêu đốt tâm ta.
Ta phải xả hết ra ngoài những thứ ngấm ngầm đang hoạt động đó. Phải nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc mới thấy được nó ngấm ngầm, những tức tưởi âm thầm…ở bên trong.
“Nay ta buông bỏ hết, xả hết ra ngoài, giải phóng, giải tỏa, giải thoát hết để nhẹ nhàng, thanh lương, mát lạnh, an lạc, an tịnh, thảnh thơi.”
Mời đại chúng chúng ta trải rộng tâm xả.
Đây là phương trước mặt, bên phải, bên trái, phía sau, phía trên, phía dưới, bề ngang, rộng lớn và bao la. Hòa lẫn khắp phương này là tâm xả của ta. Tâm lặng thin trong sạch, tâm lặng lẽ trong veo, tâm bất động trong ngần, tâm lặng im trong suốt. Tâm xả này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này. Tâm xả này tỏa rộng, khắp trời đất bao la. Tâm xả này tỏa rộng, khắp trời đất bao la. Tâm xả này tỏa rộng, khắp trời đất bao la.
Kính chúc tất cả quý thầy, quý cô và quý Phật tử an trú trong tâm xae, nhẹ nhàng, thảnh thơi, an lạc, thanh tịnh, bình an.
Thích Minh Thành
Ngày 23 tháng 07 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm ôm đồm, chất chứa, nặng nề PAGEREF _Toc78961664 \h 1
II. Quán chiếu sự đau khổ PAGEREF _Toc78961665 \h 7
I. Tâm ôm đồm, chất chứa, nặng nề
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Kính bạch quý thầy, quý cô và toàn thể quý Phật tử. Chúng ta tiếp tục chia sẻ về bài thiền quán Xả vô lượng tâm.
Ở đời bao nhiêu thứ, thứ nào cũng ôm vào. Tâm giờ sao nặng quá, ta xả bớt đi tâm. Vui buồn nào cũng cất, thương ghét nào cũng ôm, hơn thua nào cũng giật, được mất nào cũng giành. Khen chê nào cũng nhớ, vinh nhục nào cũng tranh. Oán thù càng giữ chặt, uất hận càng ghi sâu.
Bao nhiêu thứ ở trên đời này, thứ nào cũng ôm vô, ôm vào hết, thứ nào cũng chất, cũng để, cũng chứa vào hết nên “tâm giờ sao nặng quá, ta xả bớt đi tâm”. Gì cũng chất, cũng để, cũng ôm vào, gì cũng hốt vào, chứa vào nên tâm quá nặng nề, quá là mệt mỏi, tổn thương. Nên ngồi lại với nhau, nói chuyện này chuyện kia của người này, người nọ là thị phi, hơn thua, đúng sai, tốt xấu, đó là điều đáng thương xót.
Bệnh khi một nội tâm quá tải, một nội tâm chồng chất, một nội tâm ứ đầy, bên trong này có phát ra, tỏa ra mùi gì thì là những mùi hôi thối, tanh hôi, dơ bẩn. Thấy gì cũng ghim vào, nghe gì cũng chứa vào, cảm xúc gì cũng chất vào, trong cảm thọ là một cảm thọ bệnh hoạn, một cảm thọ nặng nề, một cảm xúc ê chề bên trong đó là sự quá tải, ùn ứ, bế tắt, áp lực.
Bao nhiêu thứ trên đời này thứ nào cũng ôm vào, chất vào, thương người này, ghét người kia, giận người nọ, không ưa người khác, người này người kia sao, món đồ này món đồ kia ra sao, chỗ này chỗ kia sao, nói ra toàn là nặng nề, cấu nhiễm, rác bẩn. Một nội tâm bệnh hoạn, một nội tâm đau khổ, một nội tâm chồng chất, đè lên.
Giống như chiếc xe cứ chất, chở, quy định chỉ có hai tấn nhưng giờ chất lên là năm tấn, xe chạy như không nổi và có lúc nào đó nó sẽ sụp, đổ xuống vì quá tải. Quá tải cũng như những người bệnh trầm cảm, những người căng thẳng, có tính khí bất thường, bức xúc hoặc thậm chí bệnh thần kinh, đến điên loạn.
Chúng ta ăn, uống cũng có sự bày tiết, thở cũng có sự tuần hoàn, hô hấp, đó đều là quy luật thì đó mới khỏe, còn giờ cứ đưa vào hoài mà đi ra không được? Nội tâm của mình cũng vậy, là một nội tâm không giải phóng, giải tỏa, giải phá, giải thoát những cảm xúc, cảm thọ đó ra thì nội tâm đó bị u uất, phẫn uất, bức xúc, phẫn nộ, cộc cằn, hung hăng, cau có, bực dọc, nhiệt não, bất an, mệt mỏi, nặng nề, áp lực, như vậy thì rất đau khổ, như sống trong địa ngục.
Những lúc chúng ta tập thiền quán là những lúc xả ra, giải phóng những cảm thọ đó. Là xả hết ra ngoài những tham ái ngu si, tham ái buộc ràng, tham ái u mê, ta xả hết ra ngoài những thương ghét lan man, những thương ghét vô thường, những thương ghét bất an. Ta xả hết ra ngoài những oán thù dây dưa, những thù oán dại khờ làm mờ ám tâm ta.
Nay ta buông bỏ hết, những buồn bực, buồn phiền, những dày vò ray rứt, những thương ghét buồn vui, nay ta buông bỏ hết những tức tưởi âm thầm. Những oán hận ngấm ngầm, thầm thêu đốt tâm ta.
Vật nên thiền quán là giải phóng cảm thọ, giải phá cảm xúc, giải thoát những u ám, uất ức, phẫn uất, nặng nề, cao có, cộc cằn, gắt gỏng, bức xúc, nhiệt não, buồn bực, buồn phiền dày vò, ray rứt những oán thù, những sự tức tưởi ngấm ngầm thêu đốt ta.
Chúng ta thấy được công năng của thiền quán là giải phá, giải tỏa, giải phóng các khối u trong cảm xúc, cảm thọ. Chúng ta thấy khi ngồi xả thiền thì mình thấy nhẹ nhàng, khinh an. Đó là trạng thái của sự giải tỏa cảm xúc, nhiều khi chúng ta không biết, đó là trạng thái xả hơi, thoát những hơi độc, khí độc trong tâm. Những cảm xúc trong đó là những khí đại, khí ác, khí ô trượt, nhiệt não, những hơi, áp lực, bức xúc bên trong. Khi chúng ta tu đúng Chánh Pháp thì chúng ta giải tỏa nó.
Nên nhiều lúc ngồi chúng ta thấy “Sao nhẹ quá!” hay như những lúc quán Bất tịnh, quán tâm từ rồi ra thì thấy như mình đang đi trên hư không, hay cảm giác không có thân, thân như bông gòn. Đó chính là khi cảm giác được giải tỏa ra, những uất khí, phẫn uất, phẫn nộ, sân hận, dục tham. Những trượt khí, độc khí, hơi độc của những lậu hoặc, cấu uế, của những nhiễm pháp, ô nhiễm pháp, cấu nhiễm pháp, uế nhiễm pháp là được giải phóng, giải tỏa, giải phá ra. Công năng của thiền quán, thiền tập là như vậy.
Nên khi chúng ta càng ngồi thì các tâm từ, tâm hiền, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, quán Bất tịnh… chúng ta thực tập ngày đêm, năm tháng, trăm lần, ngàn lần, nhiều ngàn lần, nhiều trăm ngàn lần. Không phải chỉ nói “Hôm nay thực tập tâm xả vậy rồi thôi!” vì bên trong chất chứa rất nhiều, vô thỉ kiếp bên trong nên cần phải giải tỏa, giải phóng, giải phá, giải thoát, thật nhiều, càng nhiều càng tốt, giải thoát đến khi hoàn toàn thành tựu một tâm trong sạch, thanh tịnh, một tâm không còn một chút tạp khí bên trong mà chỉ thuần túy là từ vô lượng, bi vô lượng.
Như khi Đức Thế Tôn, các bậc Thánh đi đến đâu thì người ta chỉ cần nhìn thấy các Ngài thôi cũng thấy mát lạnh, ấm áp, nhẹ nhàng. Đó chính là từ cảm thọ của các Ngài lan tỏa, thanh cao, thanh tịnh, trong sạch, thánh thiện, hoàn toàn không có hơi độc, khí độc, nên người tiếp xúc cảm thấy rất nhẹ nhàng, an lạc, tịnh lạc.
Còn đối với chúng ta vẫn còn khí độc không? Hay khi nói chuyện được một lúc là nhả khí độc, hơi độc ra khiến cho cả người kế bên trúng độc? Nó lây như Covid, như vi rút, chỉ cần nói chuyện hay lướt qua cũng đã bị lây. Vậy nên chúng ta nhớ công năng, tác dụng của thiền quán là giải tỏa, giải phá, giải phóng, giải thoát những hơi độc là những cảm xúc ác và bất thiện, cấu uế, cấu nhiễm bên trong. Vậy nên chúng ta mới tu tâm xả.
Lúc tối khi chúng ta ngồi thiền tu tâm xả mọi người có thấy nó xả ra không? Có thấy trong cảm thọ của mình xả ra không? Làm gì mình cũng thấy nó có hiệu quả ở lúc đó dù ít hay nhiều. Nếu mình không biết là si, vô minh, phải thấy được cảm thọ đang mở ra, tháo ra, đang thoát ra từ từ. Đừng ôm vào mà hãy tập xả ra. Ôm vào là ôm thiện pháp, Thánh pháp, Thánh trí, xả ra là xả những tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Phải nhớ cái nào là lấy cái nào là bỏ, không thể nói là “Giờ tôi tu thì không lấy bỏ gì nữa!” thì làm sao tu được? Và phải biết tới mức độ nào là không lấy bỏ, chúng ta phải hiểu được điều đó.
Vì chất chứa những thứ đó nên “Tâm giờ sao nặng quá, ta xả bớt đi tâm.” Mình kêu gọi cái thâm, những thọ, tưởng, hành của mình như vậy. Những lúc mình bức xúc, tham, sân, si thì mình kêu gọi “Thôi, xả bớt đi tâm!”. Nếu nó muốn hơn thua, tranh giành, phải quấy, hơn thua, lúc đó thì mình nói “Thôi, xả bớt đi tâm!” Tác ý để làm êm ái, dễ chịu hơn.
Khi kêu nó vậy thì nó sẽ buông xuống, để xuống, như đang giữ con dao, tô nước sôi lên để chuẩn bị tranh đấu nên “Thôi, xả bớt đi tâm” là như để xuống, đổ xuống, buông xuống, bỏ xuống. “Hơn thua để làm gì? Vô chùa để hơn thua nhau từng câu nói? Bỏ cha mẹ để vào đây chỉ để kiếm chuyện, gây sự với người khác? Nên thôi bỏ bớt đi tâm, chuyện của người ta, còn mình lo tu thôi.”
Khi chúng ta ứng dụng thì dùng câu “Thôi, xả bớt đi tâm!” chỉ một chữ thôi nhưng có rất nhiều nghĩa. Hãy nhớ câu tác ý đó, khi giận lên, sân lên, bản ngã lên, hơn thua, tranh đấu lên, cái gì cũng ôm vào thì tác ý ngay “Tâm giờ sao nặng quá. Thôi, xả bớt đi tâm!”
“Vui buồn nào cũng cất, thương ghét nào cũng ôm. Hơn thua nào cũng giật, được mất nào cũng giành.” Những câu trên như điểm trúng nguyệt sâu thẳm của tâm, tâm khảm của mình, bản chất của người vô minh, si ám là vậy, dù vui buồn nào cũng cất, để dành.
Bài thơ của Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ có câu:
“Thời tiết xoay vần xuân linh thu.
Cái già sòng sọc đáp lên đầu,
Giàu sang ngó lại trơ tràn mộng
Năm tháng mang theo vạn học sầu.”
Thời tiết cứ hết xuân rồi đến thu, hạ, đông cứ qua mà cái già song sọc đáp lên đầu, là tuổi già đi nhanh, chạy nhanh rồi đáp lên đầu là tóc bạc. Giàu sang ngó lại trơ tràn mộng, như khi nằm có gắn bình thở thì có giàu đến ngàn tỉ thì cũng vậy, nhưng năm tháng mang theo vạn học sầu.
“Nẻo khổ xoay vần, xe chuyển bánh
Song yêu bọt nước mất còn đâu.
Người đời nếu chẳng sờ lên mũi
Yên lành ngàn kiếp cũng chỉ bóng màu.”
Nẻo khổ xoay vần, cứ xoay từ sanh, già, bệnh, chết, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cứ xoay vần. Song yêu (ái hà) thì mình bị trôi trong dòng sông yêu thương, tham ái thì giống như bọt nước, nổi rồi lại nát, vỡ. Trường đời nếu chẳng sờ lên mũi, tức là khi mình sanh ra trong đời nhưng lại không biết quay trở về để tu như mũi ở trước mặt mà không thấy. Đó là nhà thiền mượn lỗ mũi để ví dụ cái tâm, tuy ở trước mặt mà không thấy, mà chỉ thấy ở ngoài, hướng ngoại. Nên trường đời nếu chẳng rờ lên mũi, ngàn thuở duyên lành chỉ là bóng màu.
Dù cho có gặp được nhiều cái tốt, cái lành, cái thiện thì chỉ là áp chớp thôi, rồi sẽ mất hết, nếu không biết quay trở về tâm tu tập, để nhận diện ngũ uẩn thì tất cả những cái duyên lành mà mình có được rồi sẽ tan biến thành mây khói hết. Nên trường đời không biết rờ lên mũi là không biết quay trở lại để nhận diện ngũ uẩn, diệt tận tham, sân, si, ngàn thuở duyên lành chỉ bóng màu. Bóng màu chỉ các ảo ảnh, giống như cầu vòng, lóe lên rồi nhìn thấy được một lúc là tan, không biết nắm bắt cơ hội để quay về tu.
Lại nói về vạn học sầu: thời tiết xoay vần xuân đến thu, già sòng sọc đáp lên đầu, giàu sang ngó lại trơ tràn mộng, năm tháng mang theo vạn học sầu. Mọi thứ đều cất vào, thương cũng gói kĩ, gói kín, giống như các bà cụ ở quê, tiền để vào túi rồi lại để vào một túi nữa, rồi quấn lại, để vào túi rồi lấy kim tây kẹp lại.
Vui buồn nào cũng cất, thương ghét nào cũng ôm, dù thương ai hay ghét ai cũng cất kỹ trong cảm thọ. Vui buồn, thương ghét nào cũng ôm giữ, giữ chặt, giữ kín, giữ sâu, giữ chắc, giữ mãi rồi “Tâm giờ sao nặng quá” vì cứ giữ, cứ cất giấu hết, hơn thua nào cũng giật, được mất nào cũng giành. Từng chút hơn thua với nhau, rồi giành giật với nhau, giật phần hơn, phần thắng về mình, phần cao, phần đúng về mình mà để phần thua, phần thấp, phần hèn hạ, sai quấy là người ta, còn mình thì cứ giật phần đúng.
Cứ giành giật, được mất, hơn thua, chỉ có tiếng nói cũng xảy ra ẩu đả, có một hành động, ánh mắt thôi cũng xảy ra án mạng, nói qua lại thôi cũng máu đổ, đầu rơi. Thương cho những tâm thức si ám, sân hận, ngã mạn, khổ đau, khen chê nào cũng nhớ, vinh nhục nào cũng tranh, oán thù càng giữ chặt, uất hận càng ghi sâu.
Khen chê nào cũng nhớ, chỉ cần người ta khen một câu thôi cũng nhớ hoài, không quên, mà dù người ta chê một câu cũng nhớ hoài. Mỗi khi nhớ người kia là nhớ đến câu ủy nhục, câu chê, nhớ người kia là nhớ về câu khen, chúng ta thấy bản ngã thật khủng khiếp, cảm thọ chất chứa ghê gớm.
Một cái tâm bệnh hoạn, tranh giành vinh nhục, ghi nhớ khen chê, oán thù càng giữ chặt, uất hận càng ghi sâu, chỉ toàn giữ những cái khủng, giống như đang giữ lựu đạn, bom, mã tấu, dao găm, súng ống, đều là những thứ gây cháy nổ, hiểm họa, tai họa, những thứ đưa đến sát hại tự thân mình rồi sát hại tới ai. Cứ chất chứa, giữu gìn những thứ này, tranh giành, ghi sâu.
Điều này nói bao nhiêu cũng không hết, dù là mẹ con cũng oán thù nhau, anh em ruột mà cũng không đội trời chung, thầy trò cũng hãm hại lẫn nhau, cứ quấy phá, hãm hại, thư kiện nhau. Những sự thật mình cũng không nói hết được, nói ít hiểu nhiều thôi.
Có một sư cô, xuất gia với sư phụ, sau khi bỏ đi rồi thì cô này đi tới đâu thì sư phụ của cổ nói sao để cho trụ trì chùa đó đuổi cô ấy đến hai mươi chỗ. Đau lòng, không tu đúng Chánh Pháp thì rất khổ, không chỉ cạo đầu rồi đắp y lên là xong, tham, sân, si, bản ngã bên trong nhưng không thấy, không nhiếp phục thì làm khổ cho nhau nhiều. Oán thù càng giữ chặt, uất hận càng ghi sâu, những uất ức, uất hận cứ chất chứa, tàn phá trong tâm, hủy hoại bên trong, dày vò, ray rứt, giày xéo hành hạ, đay nghiến khiến cho đau khổ. Nhưng nếu không tu để xả ra thì sao? Vậy nên thiền tâm xả tuyệt vời là vậy, giúp giải phá, giải tỏa, giải phóng các cảm thọ đó, những cảm xúc đó.
Nếu chúng ta nói sự thật của cuộc đời này ra thì mình có thể “chạy mất dép”, xuất ly rất nhanh nhưng nhiều khi lại không dám nói hết. Phải tự mình dùng trí huệ của mình hiểu, mình nói thì có người lại nói “Sao lại nói mặt xấu thôi?” Nhưng đó là sự thật, nhưng sự thật thường mất lòng, đau lòng.
Lời thật trái tai, hình ảnh thì lúc nào cũng đẹp như hoa nở, còn những lúc như tai nạn giao thông thì người ta đã bôi xóa hết các hình ảnh rồi, hay để nhưng làm mờ để không ai nhìn kĩ được. Hay những hình ảnh thống khổ, đau khổ này kia thì người ta đã bôi mờ hết, hay như xác chết phân hủy thì cũng bôi mờ hết. Người ta che giấu, che đậy những sự thật đó.
Vậy nên đây là những sự thật của tâm: vui buồn nào cũng cất, thương ghét nào cũng ôm, hơn thua nào cũng giật, được mất nào cũng giành. Vì bản chất của nó nếu không biết tu thì sẽ như vậy, khen chê nào cũng nhớ, vinh nhục nào cũng tranh, oán thù càng giữ chặt, uất hận càng ghi sâu.
Thương tâm này, tội tâm này, “Xe ơi tội xe quá, xả bớt hàng đi xe. Tâm giờ sao nặng quá, tâm xả bớt đi tâm”. Thật tội nghiệp, xót xa, đáng thương cho tâm này lắm. Người đáng thương nhất trên thế gian này, hành tinh này chính là cái tâm si ám này của mình. “Tâm giờ sao nặng quá. Tâm xả bớt đi tâm.”
II. Quán chiếu sự đau khổ
Nên câu thần chú, tối thượng chú, vô đẳng chú là “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu!” là những câu trong Tứ niệm xứ. Chỉ cần một chút của cảm thọ nổi loạn lên là sụp đổ hết tất cả sự nghiệp, đạo nghiệp, tình nghĩa, hiếu lễ đều tan tành hết, là xong xuôi, mất mạng, chung thân, đạo đức hiếu lễ đều tan tành hết.
“Nặng vì tham đắm lại còn thêm hận thù, tâm bị chìm sâu xuống, trong vực thẳm khổ đau” Chỉ tham dục, tham ái, tham lam, tham muốn là đã quá rồi, một cái thôi cũng đã hành hạ mình khổ lắm rồi, giờ lại thêm hận thù nữa. Tâm bị chìm sâu, rơi tự do xuống vực thẳm của khổ đau. Chúng ta cứ quán tưởng như mình bị trượt chân, rơi tự do xuống vực thẳm thì rất khủng khiếp.
Vậy nên có nhiều người họ oán hận cả cuộc đời, bất cần đời, làm những chuyện động trời vì tâm của họ đã chìm xuống vực thẳm, cùng quẩn nên họ nhảy cầu, nhảy lầu, treo cổ, tự sát bằng dao hay bằng thuốc. Vì tâm của họ đã rơi xuống vực sâu, bế tắt hoàn toàn. Vậy nên pháp của Đức Phật là pháp trị tâm bệnh, tu tâm, dưỡng tâm, tịnh tâm, trị tâm, lo cho tâm, chăm sóc cho tâm, là nghệ thuật để nuôi dưỡng tâm hồn, tâm linh, làm cho tâm linh tươi mát, an lạc, tịnh lạc.
Chúng ta phải hiểu được khi mình đang ngồi thiền là như vậy, đang nghe pháp, đang tụng đọc Thánh trí huệ là như vậy hay như đang thiền hành cũng là như vậy. Mình phải cảm thấy thích thú, khoan khoái, thích thú, phấn khởi, biết được mùi vị thấm thía bên trong đó. Không phải là lên tụng đọc là xong, ngồi cho có mặt, như một cái máy.
Đây chính là phương pháp nuôi dưỡng tâm, trị tâm, chăm sóc tâm, tưới tẩm cho tâm mình, làm cho tâm mình đi đến chỗ thanh cao, cao thượng, thánh thiện. Vì tâm của mình là tâm bệnh
“Này các Tỳ-kheo, có thể người sống được trăm năm mà không có bệnh về thân, nhưng không ai không bệnh về tâm dù chỉ trong giây phút.”
Bị bệnh là đã nặng về tham đắm lại còn thêm hận thù, tham sân, si mê, ngã mạn, tâm bị chìm sâu trong vực thẳm khổ đau. Khổ vì bị tái sanh, nổi trôi trong các tội, khổ vì bị biến hoại, trẻ đẹp thành già nua.
Khổ vì bị tái sanh là cứ lặp tới lặp lui mãi như vậy, đó gọi là tái, tái kiến, lặp lại. Tái sanh là chết rồi lại sanh, rồi lại sanh ra với tham sân si rồi chết, sanh ra với dục, bản ngã rồi chết, thêm tham lam, hận thù, hơn thua, tranh đấu rồi chết. Cứ tiếp tục mãi như vậy trong ngàn vạn, vô lượng vô số, vô biên vô thỉ kiếp, đó gọi là khổ vì tái sanh.
Ví như hai người ghét nhau, hai ba ngày rồi lại giận, nói vài câu rồi tức giận, cứ vậy hoài thì họ có chịu nổi không? Có mệt, chán không, thấy ngao ngán hay không? Và còn muốn gặp người đó nữa không? Hay chỉ muốn “đi khuất mắt cho rồi” Giờ gặp cứ sân, hận, bực, khó chịu, thì trong luân hồi của mình cũng giống vậy, dục, tham, ái, sân si cứ làm hoài như vậy, đó gọi là khổ vì bị tái sanh.
Mỗi một đời của mình là một tập, một bộ phim, đời thứ hai là một bộ phim khác, vậy mà trong vô lượng tập Đức Thế Tôn đã thành tựu được sanh tử minh, sanh tử trí túc mạng minh. Ngài ngồi nhìn một dòng dài như vậy, qua hàng trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, trăm trăm ngàn đời, triệu đời, trăm triệu đời, tỉ đời, ngàn tỉ, ngàn tỉ, tỉ tỉ… Ngài đều xem hết các tập rồi Ngài kêu “Đây là khổ, khổ là đây!” Đó cũng là câu đầu tiên Đức Phật đã chứng ngộ, khi thành tựu được tam minh.
“Đây là khổ, khổ là đây” tức Ngài đã nhìn thấy được tỉ tỉ tập phim, bộ phim của Ngài và chúng sanh, đó là khổ vì tái sanh. Mình ngồi đây nhớ lại lúc nhỏ, ngồi nhớ ba bốn chục năm thì nước mắt có tuôn ra không? Hay ngồi nhớ lại “Cuộc đời của con đau khổ, con từng tự vẫn.” Chỉ mới mấy chục năm mà nước mắt của mình đã chảy vậy, còn nếu mình nhìn thấy được ngàn đời của mình thì như thế nào, khổ thế nào? Hay qua trăm ngàn đời, triệu đời, tỉ kiếp của mình mà mình nhìn thấy hết như vậy thì thấy sao? “Đây là khổ, khổ là đây”
Vậy nên câu đó được thốt lên làm rung động cả đời đất, tam thiên trên thế giới đều lắc lư, rúng động, vì chữ đó không phải là bình thường. “Đây là khổ”, chữ đây là ngũ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chữ đây là lậu hoặc, vô minh, dục ái, tham sân si, bản ngã, chữ đây là vui buồn, được ghét, hơn thua, được mất, khen chê, vinh nhục, oán thù, uất hận. Chữ đây là sầu bi, khổ, ưu não, là nước mắt, máu, là đống xương da, thay đổi liên tục trong vô lương, vô biên kiếp. Chữ đây là những cảm xúc, bức xúc, những cảm xúc nhiệt não, khao khát, thèm thuồng, đốt cháy, thêu rụi, hủy hoại, đó gọi là đây và “Đây là khổ! Khổ là đây”.
Những chữ Đức Phật dạy đều cô đọng, cả một khối đại tuệ, đại giác, đại trí, đại minh, đại quan, không phải chỉ đọc kinh rồi xong mà phải chiêm nghiệm, thiền quán.
“Khổ vì bị tái sanh, nổi trôi trong các cõi. Khổ vì bị biến hoại.”
Biến hoại là từ của Nikāya, biến là biến đổi, hoại là tan ra, hoại diệt, khổ vì đó gọi là hoại khổ, cái khổ vì bị phá hoại, phá nát, đổ vỡ, hủy diệt. Như cái chuông mình thích mà nếu bị bể thì mình buồn khổ, nó biến hoại, biến đổi hoại diệt. Hay như nhà của mình thích, bữa nào nhà bị cháy làm gió bão thổi tung làm sụp hết, đó là khổ vì biến hoại. Thân này mình yêu thích mà nó chuẩn bị rã rời, thì mình khổ. Đó gọi là hoại khổ, hành khổ. Hành là sự vận hành của ngũ uẩn, khổ này lại chồng lên khổ kia, gọi là khổ trên khổ. Hoại khổ là hoại diệt nên khổ.
“Trẻ đẹp thành già nua”
Ngày đó có một Phật tử lên thăm và nói “Thầy có cách nào chỉ con tu mau mau, để con thấy được cái vô thường. Con tuy bảy mươi tuổi rồi nhưng cũng chưa thật sự thấy được vô thường, thể nhập trọn vẹn.” Mình Thành trả lời “Ông cụ có tấm hình nào lúc còn hai mươi tuổi không?” Rồi sau đó ông cụ lấy tấm hình lúc còn mười mấy, hai mươi tuổi và tấm hình lúc bảy mươi tuổi kế bên và cả hình chụp X-quang chụp đầu lâu, bộ xương để bên cạnh. Để ba tấm hình đó và mỗi ngày quán chiếu, quán sắc uẩn này, sau đó ông ấy nói “Nhìn đầu lâu này ghê quá thầy ơi.”
Phải biết khổ vì bị biến hoại, khổ vì thân vô chủ, đau bệnh đến bất thường, khổ vì thân hoại diệt, tử thần chẳng nể thương.
Là khổ vì thân này không tự chủ được, đau bệnh đến bất thường, chỉ cầm tay vịn ở nắm cửa thôi cũng có thể nhiễm bệnh. Như mình đang ở chùa mà có người lại thăm mình rồi chiều lại điện thoại “Thầy ơi nhà con bị phong tỏa rồi!” thì nghe nói vậy mình cũng rụng rời. Đó là đau bệnh đến bất thường. Hay chỉ ngủ dậy rồi biết rằng cả xóm mình đều bị phong tỏa hết, chỉ nghe gõ cửa rồi có xe cấp cứu ở trước thì chỉ tranh thủ chuẩn bị rồi đi lên.
Đau bệnh đến bất thường, khổ vì thân vô chủ, khổ vì thân hoại diệt, tử thần chẳng nể thương.
Số người chết bây giờ thật khủng khiếp, trong nước mình đã trên bốn trăm người, nước khác đã là hàng vạn, hàng triệu, người nhiễm đã qúa nhiều.
“Sanh, già, bệnh, chết bốn khổ này hoành hành. Thêm tham, sân si nữa, khổ chất chồng lên nhau.”
Điều này mới lột tả hết được cái khổ, vì thường mình chỉ nói khổ là sanh, già, bệnh, chết thôi, lại thêm tham, sân si nữa, khổ chất chồng lên nhau. Bên ngoài là những thể chất, thể giác, vật chất bên ngoài là sanh, già, bệnh, chết, thành trụ hoại không, còn bên trong nội tâm là thêm tham, sân, si - đây chỉ là nói ngắn gọn nhất, chỉ ba từ, còn lúc nãy chúng ta nói ra thì rất nhiều.
Khổ chất chồng lên nhau thì đó gọi là khổ khổ, nãy là hoại khổ, giờ là khổ khổ, khổ này chồng lên khổ kia, khổ kia lại chồng lên khổ nọ gọi là khổ khổ, khổ chồng lên khổ.
Đã sanh là phải sống, sống phải tìm miếng ăn. Cũng vì miếng ăn này, khổ càng chồng lên khổ.
Thật sự nói về miếng ăn thì mình thấy rất đau lòng. Chỉ vì ba bữa ăn một ngày mà nhiều khi người ta phải chịu sự chà đạp, khinh khi, ủy nhục của người khác thì mới có được miếng ăn. Vì chúng ta đang được phước nên thấy miếng ăn của mình là bình thường, nhưng đối với những người thiếu phước thì một miếng ăn của họ là cả một vấn đề lớn lao. Để ăn một bữa ăn thôi mà họ bị chà đạp, ủy nhục, khinh khi. Không phải là mình thấy mình vậy rồi ai cũng vậy hết, không phải vậy, nhiều lúc chan cơm với nước mắt.
Chính bản thân Minh Thành lúc nhỏ đã từng trải qua rồi, phải chan cơm với nước mắt. Khi mình ở nhà với cha mẹ mình thì chuyện ăn là bình thường, nhưng nếu mình đi qua một nhà của người khác thì miếng ăn đó không phải là giản đơn.
Có những người nghèo, hằng đêm đứng xa xa ở quán ăn, chờ những người ăn xong mà còn dư lại, như những đứa trẻ nghèo khổ, nhào tới lấy phần dư đó. Hay như những chỗ nghèo khổ hơn, như ở Châu Phi, mỗi ngày những quán ăn đóng cửa, những đồ ăn dư mà người ta bỏ lại vào bao hay thùng đem lại đó thì nhiều đứa trẻ bu đen lại, những cũng không được ăn liền mà chia ra đồ nào còn tốt thì cấp cao được ăn còn những miếng đồ ăn còn dư, bỏ thì nhào vô ăn. Đó là những nơi có ăn, còn có cả nơi không có gì ăn phải ăn bùn, đất.
Hiện nay vẫn có rất nhiều nơi trên thế giới đói khổ và tình hình thời tiết, khí hậu như vậy, lũ lụt, bão táp, mưa gió không thuận hòa thì sự mất mù màng xảy ra, đói khát càng thêm trầm trọng. Như những năm vừa rồi ở miền Tây bị ngập mặn, ruộng lúa không làm được, có một số vùng bỏ đi, vì giờ không làm được nữa, sự sống của người ta là nhờ vào miếng ruộng, giờ ruộng lại ngập mặn thì không làm được, mưa gió trái mùa, lũ lụt rồi hạn hán.
Vậy nên khi quán chiếu miếng ăn này rất khổ. Nên dù mình có phước, mình không lo cái đó thì mình phải cố gắng thấy được, tuy là không lo nhưng phải biết, để mình trân trọng những gì mình đang có, tuyệt đối không phung phí, nhất là đồ ăn, thực phẩm, thức ăn. Nhất là mình ăn là nhờ đàn na tín thí cúng dường, không phải là mồ hôi nước mắt mình làm ra, càng không được phung phí, nên phải trân trọng từng chút.
Ông bà ngày xưa có nói hại gạo là hạt ngọc, không được phí phạm của Trời. Nên khi ăn cơm tuyệt đối không được dính một hột cơm bào trong tô, trong chén mà phải ăn hết, sạch sẽ. Trong đạo còn có tráng bát, là đổ nước vào để tráng bát. Nếu mình phung phí, hủy hoại thì sau đói, không có ăn, là chết đói. Sắp tới đây vì dịch bệnh nên cái đói này sẽ rất khủng khiếp, trên toàn thế giới.
Đã sanh thì phải sống, đã sống phải tìm miếng ăn. Cũng vì miếng ăn này khổ càng chồng lên khổ.
Khi nhìn thấy hình ảnh của những bà cụ đã bảy, tám mươi tuổi đợi để nhận túi đồ ăn, hộp cơm mà nước mắt giàn giụa, ở nhà ăn cơm với nước mắm, không có gạo ăn nên phải nấu cháo, rất khổ. Nhiều nỗi khổ mà các bà cụ già, ông cụ, những người được hỏi phỏng vấn thì họ từ chối “Thôi đừng hỏi, tôi khóc à! Tôi không dám nói”
Hay những người dân đi bộ hàng trăm cây số, không có tiền về xe, không có tiền ăn, gạo cũng hết, chỉ đi bộ như vậy. Đi từ tỉnh này qua tỉnh kia vì không có việc làm, có nhiều người mỗi ngày làm ngày nào ăn ngày đó, mà không có của dư, của để, dành dụm được nên rất khổ.
Vậy nên chúng ta nhìn sâu vào mới thấy được rất nhiều trường hợp để mình ráng tu học, để được phước may mắn, phước lành, thiện pháp của mình thì mình không lo những chuyện đó, nhưng cũng chưa chắc từ đây đến ngày mình ra đi, vì vậy càng phải cố gắng.
“Hữu phước bất khả hưởng tận, hưởng tận tất bần cùng” tức có phước không nên hưởng hết, hưởng hết chắc chắn là nghèo khổ. Vậy nên khi no hãy nghĩ tới lúc đói thiếu, khi khỏe phải nghĩ đến lúc bệnh hoạn, khi trẻ phải nghĩ đến lúc già yếu, khi sống phải nghĩ đến lúc mình chết, khi bình thường nghĩ đến lúc bất thường, khi an ổn phải nghĩ đến lúc loạn lạc, chiến tranh.
“Khổ vì kiếm miếng ăn, ăn không được cũng khổ, ăn được ra không được, khổ này thiệt khổ hơn.”
Khi kiếm miếng ăn đã khổ, nhưng ăn rồi bài tiết không được thì khổ lại càng khổ. Như có những người phải dùng đến ống, rồi đổ nước, thức ăn vào đó, hoặc cũng có người mổ một lỗ rồi đi tiểu bằng đường ống đó. Khi đi vào bệnh viện thấy rất thảm, bây giờ nhà nước kêu gọi tất cả các bệnh viện đều phải dùng để điều trị dịch bệnh, vì có nhiều bệnh viện quá tải. Ở Sài Gòn đã có khoảng mười mấy bệnh viện dã chiến, bốn mươi mấy ngàn người bệnh, thì làm sao lo hết? Ngoài ra số người nhiễm trong cộng đồng khoảng hơn tám trăm ca. Như vậy thì số thật sự là bao nhiêu?
Vậy nên bệnh khổ, đói khát này rất khủng khiếp. Minh Thành từng tới bệnh viện Ung bứu hay Chợ Rẫy thăm bệnh mà đến giờ vẫn không quên được, có người cầm túi nước tiểu phải buộc kế bên người, có người đút ống vào rồi rót thức ăn vào. Giờ ở Indonesia thì trường hợp mộ chồng lên mộ vì không đủ đất để chôn nữa. Tổ chức Y Tế Thế Giới nói đây là một trận mới, đợt nhiễm mới, những nước được xem là tạm ổn thì giờ bắt đầu trở lại, như nước Úc.
Vậy nên rất khổ, hãy ráng tu học. Thà chết trên bồ đoàn, chết trên thiền đường, hay chết ở chỗ đang hàng đạo, đang tu chứ đừng để chết trong bệnh viện. Dù mình không làm chủ được nhưng mình phải cố gắng, vì là thân vô chủ, chết ở đâu cũng được nhưng an trú được trong pháp. Và muốn an trú được trong pháp thì từ giờ mình phải toàn tâm, toàn lực vào trong pháp học, pháp hành vì đến lúc đó có thể không kịp.
Chúng ta nghĩ giờ mình bệnh, bốn người bệnh khác, bốn mươi người bệnh khác, bốn trăm hay bốn ngàn người bệnh thì cần bao nhiêu bác sĩ để lo? Còn giờ là bốn chục ngàn người thì cần bao nhiêu? Nước ta đã hơn bảy mươi ngàn ca nhiễm.
Nói ra để chúng ta cổ gắng tu học, thấy được nỗi khổ, để mình tu học tinh tấn lên, để ghi nhớ, khắc sâu cảm thọ này để mình tu. Không phải nói để mình lo sợ, bất an mà là lo sợ để mình tu.
Ở đời bao thứ khổ, vì ngủ, nghỉ, miếng ăn, vì tấm thân vô thường, vì những người thân thương, khổ bao nhiêu thứ khổ, trong một kiếp con người. Dại gì ta lại phải đem oán thù chồng lên.
Bao nhiêu thứ khổ như ngủ không được cũng khổ, ngủ mãi cũng khổ, ngủ sai chỗ cũng khổ. Giờ ngồi thiền mà ngủ thì cũng khổ, nó sẽ ray rứt, giày xéo. Những người nhiễm bệnh mà có người thân mất thì khi thêu rồi mới báo cho họ vì không được vào, hay có những người cha mất nhưng không được gặp mặt, vì giờ phong tỏa, cách ly hết thì làm sao đi về quê? Hay có người cha mẹ chết thì chỉ có thể lập bàn thờ trong khu phong tỏa, cách ly để bái vọng vì đang bệnh không thể về.
Nên người xưa có câu: “Chết trước đặng mồ đặng mả, chết sau rã thây đúc nhầy”. Vậy giờ muốn chết trước hay chết sau? Hay muốn bất tử? Chết một lần rồi để không còn chết nữa? Sanh ra một lần nữa rồi không sanh nữa, vô sanh.
“Khổ bao nhiêu thứ khổ, trong một kiếp con người. Dại gì ta lại phải, đem oán thù chồng lên.”
Chúng ta thấy là dù mình đang thực tập thiền tâm xả nhưng đây đều là Khổ Thánh Đế, Khổ Tập Thánh Đế, khổ diệt, đạo diệt khổ, có đầy đủ Tứ Thánh Đế bên trong. Vì nếu không thấy khổ làm sao xả, làm sao buông được? Phải thấy được khổ mới buông, đây chính là nghệ thuật trong sự tu học, là chỉ ra được sự nhân quả. Không phải là “Sư phụ ơi giờ con thấy con bực bội!” thì nói là “Thôi xả hết đi, buông hết đi, niệm Phật đi!” vậy là xong. Vậy thì không biết làm sao xả? Đó là quả, vậy thì muốn thấy được vậy thì phải thấy được cái nguy hiểm, tác hại của nó. Nhân mới đưa đến quả để buông xả, vậy nên khi học thì mình học đầy đủ nhân quả hệ, đầy đủ căn nguyên, nguyên nhân là tại sao mình thấy được khía cạnh, hiểm họa, tai họa, đau khổ, hoạn nạn trong đó thì mình mới buông ra được, ý thức được đây là lửa than, chất độc, tàn hại thì mình mới bỏ, vứt, quăng nó, mới buông xuống được, đó chính là nghệ thuật hướng dẫn pháp, hành trì pháp.
Hay ta lại nói “Thôi con buông hết đi, nắm làm chi cho khổ!” nhưng có buông được không? Phật tử nói “Dạ con buông!” nhưng về nhà rồi có buông được không? Vậy nên phải chỉ ra những thứ ác độc như vậy, tàn hại, nguy hiểm, tai hại, thống khổ như vậy, nói hết ra để người ta thấy “Thôi con thấy khổ quá rồi thầy ơi, thôi con buông bớt đây!” như vậy thì mới được. Đó chính là thực tập tâm xả.
Hay có người tới rồi kêu buông thì buông cái gì? Nhiều khi dạy buông thì có Phật tử hỏi “Thầy ơi con còn chồng con của con thì buông gì thầy?” là có người không hiểu cứ nghĩ buông là bỏ hết chồng con vào chùa tu, không phải như vậy. Mà phải nhìn thấy bản chất của đời sống này, của tham, sân si, bản ngã, vô minh này, để ghê sợ, khiếp sợ, kinh sợ, sợ hãi, run sợ đối với nó, bắt đầu có một sự nhìn lại, để tâm, để ý, dò xét cẩn thận, canh chừng, phòng chừng, phòng hờ, hộ trì để nhiếp phục, giảm thiểu nó, từ từ rồi buông bỏ nó. Chúng ta phải hiểu được vấn đề trong sự tu học của chúng ta.
“Vốn sống trong các khổ, khổ vậy cũng vừa rồi. Thôi đừng ôm thêm nữa, khổ đủ rồi tâm ơi.”
Mọi người đang ngồi đây có thấy khổ không? Thấy dù ngồi cười như vậy nhưng bên trong cũng có khổ, nhiều khi thấy buồn ngủ, mỏi lưng, đau nhức phải chịu đựng. Nhiều khi ở ngoài thấy tươi cười nhưng bên trong lại thấy khổ, vốn sống trong các khổ, khổ này luôn luôn có mặt, vì vô minh, tham ái nên mình không thấy nhưng lúc nào thì nó cũng có mặt.
Vậy trúng số có khổ không? Hai người phụ nữ ngồi với nhau trò chuyện “Chị chia bớt khổ” – “Không, tôi khổ quen rồi!” Không phải người giàu không khổ, vì “Vốn sống trong các khổ, khổ vậy cũng vừa rồi. Thôi đừng ôm thêm nữa, khổ đủ rồi tâm ơi.” Thật thấm thía, ngấm vào, lan tỏa cái khổ vào trong cảm thọ này. “Khổ đủ rồi tâm ơi, đừng giận nữa, đừng ghét thương nữa, đừng tranh đấu, hơn thua, khổ như vậy đã đủ rồi tâm ơi!”
“Dại gì ta cứ phải ôm mãi những hận thù, để trong đau khổ, ta lại càng khổ đau.”
Mình không biết thương mình hay sao? Mà mình cứ hành hạ, hành tội, hành xác nhau như vậy thì mình mới chịu hay sao? “Khổ đủ rồi tâm ơi, buông xuống, bỏ xuống những thứ là cho mình khổ đi!”.
“Dại gì ta ôm mãi những buồn phiền, để ta không thoải mái, không ngày nào an vui.”
“Tại sao lại dại, ngu si đến vậy? Cứ ôm mãi những buồn phiền này? Hãy buông bỏ xuống? Buồn phiền ôm mãi để làm gì để rồi ta không thoải mái, không ngày nào an vui? Tại sao ta không bỏ đi, bỏ hết những buồn phiền này đi? Bỏ hết những hận thù này đi? Tại sao ta không sống được thoải mái, không sống được cho an vui? Tại sao lại bắt ta cứ ôm mãi những buồn phiền này? Tại sao?”
Chúng ta hỏi cảm thọ của mình như vậy, là “Tại sao cứ ôm hoài, giữ hoài? Tại sao cứ chấp hoài? Cứ ấp ủ hoài? Thôi, hãy để cho mình thoải mái đi, hãy để cho mình an vui đi!”
“Nay ta xả hết những tham muốn hận thù, ôm chi cho thêm nặng, cái kiếp người của ta.”
Chúng ta xả hết, bỏ hết, buông hết, quăng hết, liệng đi hết.
“Nay ta xả hết ra ngoài, những tham lam, sân hận, những oán thù xưa nay.
Nay ta xả hết những tham muốn mông lung, những tham muốn khôn cùng, những tham muốn lung tung.
Nay ta xả hết những tham ái ngu si, tham ái buộc ràng, những tham ái u mê.
Nay ta xả hết những thương ghét lan man, những thương ghét vô thường, những thương ghét bất an.
Nay ta xả hết những oán thù, thù oán dây dưa, thù oán dại khờ làm mờ ám tâm ta.”
Tức là chúng ta giải phóng, giải phá những cảm xúc tiêu cực, những cảm thọ đau khổ này, oán thù này. Tham lam, tham dục, thương ghét này. Ngu si, mê muội này giải phá hết, giải tỏa hết, giải phóng hết, giải thoát hết.
“Nay ta buông bỏ hết những buồn bực, buồn phiền, những giày vò, ray rứt, của thương ghét, buồn vui.
Nay ta buông bỏ hết những tức tưởi âm thầm, những oán hận ngấm ngầm, thầm thêu đốt tâm ta.
Nay ta tha thứ hết cho những hữu tình nào lỡ gây thêm đau khổ, lỡ gây thêm đau khổ cho kiếp người của ta.
Nay ta không nhận nữa, những cảm thọ hận này, những cảm thọ khổ này, không còn chỗ trong ta.
Nay ta không nhận nữa, những cảm thọ thù này, những cảm thọ ngu này, không còn nữa trong ta.
Nay tâm ta từ bỏ, lòng tham cái vô thường, lòng sân cái vô thường, ta từ bỏ tham sân.
Nãy giờ là giải tỏa, giải phá, giải phóng, giải thoát ra cho nó xì hơi, bốc hơi, bốc khói, cho nó tan biến vào hư không. Để cho tâm mình được thoải mái, nhẹ nhàng, được thảnh thơi, an vui, tự tại.”
Vậy có bốc hơi, xì hơi, thoát hơi, giải độc chưa? Thoát khí chưa? Hãy làm tan biến vào hư không tất cả những ngấm ngầm, tức tưởi âm thầm, oán hận ngấm ngầm, giày vò ray rứt, những buồn bực, buồn phiền. Buông xả hết, buông bỏ, giải phá, giải tỏa, giải phóng hết để nó tan biến vài hư không, thành mấy khói, thành hư không, diệt tận hoàn toàn, tan biến trọn vẹn, hoàn toàn không bao giờ sanh khởi trở lại trong tương lai.
Hay nhớ ta phải xả hết ra ngoài những oán thù dây dưa, những buồn bực, buồn phiền, những giày vò ray rứt, tức tưởi âm thầm, oán hận ngấm ngầm đang thêu đốt tâm ta.
Ta phải xả hết ra ngoài những thứ ngấm ngầm đang hoạt động đó. Phải nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc mới thấy được nó ngấm ngầm, những tức tưởi âm thầm…ở bên trong.
“Nay ta buông bỏ hết, xả hết ra ngoài, giải phóng, giải tỏa, giải thoát hết để nhẹ nhàng, thanh lương, mát lạnh, an lạc, an tịnh, thảnh thơi.”
Mời đại chúng chúng ta trải rộng tâm xả.
Đây là phương trước mặt, bên phải, bên trái, phía sau, phía trên, phía dưới, bề ngang, rộng lớn và bao la. Hòa lẫn khắp phương này là tâm xả của ta. Tâm lặng thin trong sạch, tâm lặng lẽ trong veo, tâm bất động trong ngần, tâm lặng im trong suốt. Tâm xả này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này. Tâm xả này tỏa rộng, khắp trời đất bao la. Tâm xả này tỏa rộng, khắp trời đất bao la. Tâm xả này tỏa rộng, khắp trời đất bao la.
Kính chúc tất cả quý thầy, quý cô và quý Phật tử an trú trong tâm xae, nhẹ nhàng, thảnh thơi, an lạc, thanh tịnh, bình an.