Duyên Sanh Pháp
DUYÊN SANH PHÁP
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sắc – nhãn căn – nhãn thức PAGEREF _Toc71623837 \h 1
II. Thanh – nhĩ căn – nhĩ thức PAGEREF _Toc71623838 \h 5
III. Hương – tỷ căn – tỷ thức PAGEREF _Toc71623839 \h 5
IV. Vị - thiệt căn – thiệt thức PAGEREF _Toc71623840 \h 7
V. Xúc – thân – thân thức PAGEREF _Toc71623841 \h 8
VI. Pháp – ý căn – ý thức PAGEREF _Toc71623842 \h 10
VII. Khuyến tấn tu tập – Chánh niệm tỉnh giác PAGEREF _Toc71623843 \h 13
I. Sắc – nhãn căn – nhãn thức
Minh Thành xin thưa với các huynh đệ, chúng ta còn học bao lâu nữa sẽ nghỉ hè, hay là học luôn là tới cuối năm, hay là còn mấy tháng nữa? Lớp Cao đẳng học 1-2 tuần nữa là nghỉ, lớp mình chưa hay sao? Còn mấy tháng, 6-7 tháng nữa hả? Minh Thành sẽ giới thiệu cho huynh đệ các chuyên đề. Học phần ngũ uẩn tới đó là đã tạm ổn, bây giờ chúng ta sẽ học những chuyên đề trọng yếu trong Phật pháp căn bản, là những điều cốt lõi, sẽ có những chuyên đề mới, huynh đệ có thể nêu lên những vấn đề mà mình muốn tìm hiểu, chúng ta học theo yêu cầu cũng được. Nhưng cái chính của nó, thứ nhất, chúng ta sẽ đào sâu vào những chuyên đề, những pháp cốt lõi quan trọng trong pháp hành; thứ hai, chúng ta có thể học tổng quát về Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo.Và chúng ta cũng để dành, lâu lâu có những buổi hỏi đáp, quý huynh đệ có thể ghi vào tờ giấy, nộp trên đây, hôm nào thuận tiện thì mình sẽ giải thích những câu hỏi.
Hôm nay, chúng ta tìm hiểu về duyên sanh pháp. Duyên sanh pháp trước đây chúng ta học rất sơ sài, rất chung chung. Hôm nay chúng ta học duyên sanh pháp này, chúng ta sẽ thấy rằng nó sát sao, thiết thực, gần gũi, đầy đủ và mình nhìn thấy được ở trong thân tâm của mình. Quý huynh đệ phải chép bài vì chúng ta sẽ thi, và những bài này mang tính cách vừa pháp học vừa pháp hành, không phải đơn thuần chỉ là lý thuyết, và mình có thể thực tập để thấy rõ duyên sanh pháp ở trong sáu căn của mình. Phải chép bài, không thôi tới ngày thi lại nói không biết bài để học.
Hôm trước, Minh Thành có giới thiệu cho các huynh đệ về duyên sanh pháp của con mắt chưa? Hôm trước đã có nói, bây giờ sẽ nói khái quát lại. Có những điều mình tưởng đã biết rồi, hiểu rồi, nhưng khi đi vào trong thực tế, xem xét một cách chín chắn thì điều đó mình chưa hiểu hoặc hiểu sai, hoặc hiểu chưa đầy đủ. Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu duyên sanh pháp của sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư. Vậy là bao nhiêu pháp, sáu hay bảy? Tức là tổng cộng bốn mươi hai pháp vận hành mà mình không biết gì hết.
Ví dụ, mình muốn, có một sự nhận biết “cái đó đẹp quá, tôi thích món đồ đó” thì phải có bao nhiêu duyên sanh vận hành thân tâm của mình thì mới nói lên được điều đó. Đầu tiên, phải có con mắt. Nhưng nhớ rằng, nói con mắt ở đây là nói gọn, đơn giản, con mắt không bị bệnh, không bị mù, không bị nhặm, con mắt bình thường. Đầu tiên là phải có con mắt, kế đó là có các sắc. Từ chuyên môn ở trong kinh là “do duyên có mắt, các sắc sanh khởi ra nhãn thức, là sự rõ biết các sắc”, điều này hơi sâu sắc, các huynh đệ phải để ý, mình phải vừa nghe vừa nhận diện, chứ không phải chỉ nghe bằng lỗ tai thôi.
Thường thường giải thích rằng nhãn thức là cái biết của con mắt, nhưng không phải. "Rõ biết các sắc", đó mới là nhãn thức, chứ không phải cái biết của con mắt. Ví dụ, lúc chết con mắt không có cái biết, lúc ngất xỉu con mắt không có cái biết. Cái biết của mắt nằm ở đâu, lúc mình ngủ sao con mắt không thấy? Thành ra, do duyên của mắt, có sắc là đối tượng, nó sanh khởi lên sự rõ biết các sắc, thì sự rõ biết này là nhãn thức, chứ không phải nhãn thức là rõ biết của mắt. Đó là sự rõ biết các sắc.
Điều này mình phải nhớ, nhãn thức chỉ rõ biết các sắc thôi chứ không rõ biết âm thanh, nhớ kỹ chỗ này. Tức là, sáu thức này có sáu phạm trù riêng biệt, không phải là một cái biết chung, nếu mình nói, có một cái biết mà trùm khắp hết, điều đó là không đúng. Sáu cái biết đó riêng biệt, cái rõ biết các sắc thì chỉ biết các sắc thôi, chứ nó không thể biết qua âm thanh được. Rõ biết các sắc là nhãn thức.
Do duyên có mắt, có các sắc, khởi lên sự rõ biết các sắc, khi ba pháp này giao thoa, hội tụ, tiếp xúc với nhau thì chỗ đó gọi là "nhãn xúc". Tức là sự tiếp xúc của mắt. Nói rằng sự tiếp xúc của mắt, nhưng mình phải hiểu đó là ba pháp: căn, trần, thức. Ba pháp giao thoa, hội tụ, tiếp xúc với nhau thì sanh khởi cảm giác, cảm thọ. Cái thọ đó là thọ do nhãn xúc sanh, tức là cảm thọ do mắt tiếp xúc mà sanh khởi ra. Cảm giác sanh khởi từ chỗ con mắt tiếp xúc với sắc pháp đó, thì đó là "thọ do nhãn xúc sanh".
Trong cái thọ mình đã học rồi, khi nó sanh ra một cảm giác thích cái sắc đó, thì nó có tham, cái đó gọi là lạc thọ. Đối với tham, Đức Phật dùng từ "tham tuỳ miên", tùy là đi theo, miên là miên man. Nếu điều nào có cảm giác thích thú, khoan khoái, dễ chịu, êm ái thì trong đó có tham đi theo, miên man ở trong đó, gọi là tham tùy miên ở trong cảm thọ. Nếu nó tiếp xúc, sanh ra một cảm giác khó chịu, khổ thọ, bực bội là "sân tùy miên". Luôn luôn lúc nào cũng ở trong cảm giác bực bội, cũng có một sự sân hận đi theo miên man, gọi là sân tùy miên ở trong khổ thọ. Nhưng mình không nhìn thấy do mình không quán thọ trên thọ, không thường xuyên nhìn lại cảm giác, lúc đó có tham, có sân mà mình không biết.
Trừ khi nào mình có nhận diện năm uẩn, mình có pháp quán thọ trên thọ, thường để ý cảm giác.., thì mình mới biết cái nào là khổ thọ, lạc thọ. Lúc này, khổ thọ có sân, thì nó khó chịu ở trong lòng ngực, là sân tùy miên; cảm giác lạc thọ mà trong đó có sướng, có thích, ham muốn, lưu luyến, bịn rịn v.v.. thì có tham tùy miên.
Nếu một cảm thọ, cảm giác, khi nhìn thấy mà mình trơ trơ, không ghét, không thích, thường thường vậy thôi, thì trong này là "vô minh tùy miên, si tùy miên". Chứ không phải nói “thưa thầy, sáng giờ, mỗi ngày con đều đều, con không thấy con tham, con cũng không thấy con sân, con bực mình hay khó chịu ai, vậy là con tu ngon rồi." Không phải, đó là si, vô minh, vô minh tùy miên. Tại vì mình không thấy các pháp này vận hành, chỉ thấy có một cái tôi đều đều, chứ không thấy pháp duyên sanh. Như vậy, thọ do xúc sanh có ba cái cảm thọ đó.
Bây giờ đi sát theo, căn cứ vào điều này, mình thấy khi con mắt tiếp xúc với hình sắc đó rồi, có sự rõ biết hình sắc đó, có một cảm giác, sau đó trở về, hình bóng của người đó, món đồ đó, cảnh đó.. hiện lại trong tâm sắc tưởng. Khi trở về phòng một mình, nằm ngủ hay ngồi, hay suy nghĩ, ngồi thiền v.v.., hình bóng mình tiếp xúc đó sẽ hiện lại trong tâm, cái đó là sắc tưởng.
Mình phải phân biệt được sắc tưởng và sắc uẩn là khác nhau; khi mình thấy rõ ràng trước mắt, gọi là sắc uẩn, sắc pháp, nhưng cái sắc có hình bóng ở trong tâm, không có ở bên ngoài, thì đó gọi là sắc tưởng. Phân biệt được chỗ này không? Cái sắc mà mình cầm nắm được, nó thực tế, hiện thực bên ngoài thì đó là sắc uẩn, sắc pháp. Nhưng cái sắc chỉ có hình bóng trong tâm, không có bên ngoài, sau khi mình tiếp xúc, đó gọi là sắc tưởng. Ví dụ, mình nhớ lại mẹ ba mình, nhớ lại ngôi chùa ở dưới quê, những hình bóng đó là sắc tưởng.
Chữ tưởng ở trên là chữ tướng, ở dưới là chữ tâm, cái hình tướng ở trong tâm của mình, gọi là tưởng. Khi học mình định nghĩa về tưởng uẩn là gì? Hình bóng thô tế ở trong tâm, gọi là tưởng, nhưng hình bóng đó thuộc về sắc, nên gọi là sắc tưởng. Sau khi hình bóng đó hiện lên trong tâm, mình sẽ suy nghĩ về hình bóng đó, gọi là sắc tư. Tư cũng là hành, suy nghĩ nên gọi là hành, những lời nói lầm thầm bên trong gọi là hành uẩn. Hành, hay tư cũng là một; sắc tư là suy nghĩ về hình bóng, hình ảnh, hình tướng đó ở trong tâm.
Đây là tâm lý học tối thượng của Phật giáo, khi ngồi yên lặng nhận diện, mình sẽ thấy được rất tuyệt vời, nó không đi ra khỏi cái này, nó bao trùm, cái tâm mình hoạt động nhiều như vậy, mắt của mình, các hình sắc, sự rõ biết các hình sắc, sự tiếp xúc sanh ra những cái cảm giác.., sau đó sự suy nghĩ những hình bóng trong tâm. Sau khi sắc tưởng, sắc tư, nó sanh tiếp tục thọ, tưởng, hành.
Chỗ này là chỗ sâu, nên ra cái tưởng hành thứ hai, những cảm giác, những hình bóng sanh ra thêm một lớp thứ hai, sanh thêm một lớp thứ ba nữa, rồi cứ tiếp tục thọ, tưởng, hành, tiếp tục suy nghĩ, rồi tưởng.., rồi những cảm giác thứ tư, năm, sáu.., vô cùng vô tận, do chính nó sanh khởi, gọi là chúng sanh – chúng nó liên tục sanh khởi, hết hình bóng này đến hình bóng kia, hết suy nghĩ này tới suy nghĩ kia, hết cảm giác này tới cảm giác kia...
Ví dụ, mình cứ nhớ người làm cho mình đau khổ, lúc đó mình sanh ra cảm giác khổ thứ hai, rồi sanh thêm hình bóng, suy nghĩ thứ hai, rồi nhớ thêm chuyện thứ ba..; nó sanh hoài như vậy, nếu mình không thoát ra thì mình đắm chìm trong thọ, tưởng, hành. Mình cứ nghĩ hoài người mà mình thù hận, người làm cho mình khổ thì sự hận thù người này càng làm cho mình được tưới tẩm, càng được chăm sóc, và hận thù ngày càng sâu đậm. Cái ái cũng vậy, cái dục cũng như vậy, nó nhớ lại những cảm giác ngọt ngào, cảm xúc êm ái, rồi hình bóng hiện ra, cảm giác sanh khởi, suy nghĩ tiếp tục sanh thọ, tưởng, hành; cứ vậy, cái gốc ái được tưới tẩm, tăng trưởng và phình trướng, quảng đại trong thân tâm.
Lý do tại sao mình phải nhận diện năm uẩn là như vậy. Mình vô đây, mới thấy cái nào là thọ, là tưởng, là hành, nếu không, tâm mình nhìn vô là rối nùi như đống xà bần, không biết cái nào là cái nào hết. Cái nào cũng là tôi, “tôi đang có cảm giác bực mình.” Những suy nghĩ cứ về, dồn dập liên tục, rối trong đầu, nhức đầu. Tại vì tất cả những thứ đó mình không thấy được, không nhận diện được. Đó là vô minh, không thấy được thọ, hành, thức, sắc là gì hết.
II. Thanh – nhĩ căn – nhĩ thức
Điều thứ nhất hôm trước đã học, bây giờ qua điều thứ hai. Do duyên có lỗ tai, cái tiếng, cái âm thanh mới sanh khởi ra "sự rõ biết âm thanh là nhĩ thức". Ba pháp này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc lại với nhau gọi là "nhĩ xúc"; khi tiếp xúc như vậy thì chắc chắn sanh ra thọ, "thọ do nhĩ xúc sanh". Nó sanh ra những cảm giác, và khi sanh ra những cảm giác như vậy, hình bóng của âm thanh vang vọng ở trong tâm.
Câu nói đó đã đi qua rồi, nhưng nó vang vang lại, hình bóng của âm thanh vang lại. Ví dụ, ngoài đời, chỉ cần nói một câu có ba chữ thôi, khi về là thọ tưởng hành vận hành liền, âm thanh đó vang lên gọi là "thanh tưởng", sau đó mình suy nghĩ âm thanh đó, gọi là "thanh tư". Rồi nó tiếp tục sanh ra những cảm giác , những hình bóng, những suy nghĩ nữa, thọ tưởng hành thứ hai, thứ ba.., Xong rồi cầm điện thoại lên, nội trần sanh, làm ra ngoại trần, là chỉ từ những âm thanh bên trong, bây giờ muốn nói, nên cầm điện thoại.
Đó là duyên sanh pháp của lỗ tai. Sau khi đã nghe tiếng nói, tiếng đó làm cho mình tức giận, khi đi về, âm thanh đó vang vọng hoài câu nói đó. Trong phim hay làm điều đó phải không, hay chiếu lại những hình ảnh, cảm giác yêu thương, ngọt ngào, hay cảm giác thù hận.., chiếu tới chiếu lui cái hình ảnh đó. Ví dụ, cha bị xử oan, chém đầu, nó sẽ chiếu hình ảnh đó hoài. Những hình ảnh đó làm tan nát tim gan, những âm thanh đó dội lên, những suy nghĩ, hình bóng sanh khởi lên. Là thanh tưởng, thanh tư. Người này không ra khỏi thọ, tưởng, hành đó, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ ở trong đó, lẩn quẩn không ra được. Đó là sự vận hành của duyên sanh ngũ uẩn.
III. Hương – tỷ căn – tỷ thức
Lỗ mũi thì sao? Do duyên của lỗ mũi, có các mùi, mình khởi lên "sự rõ biết các mùi". Sau đó, ba cái này giao thoa, tiếp xúc, giao tiếp với nhau gọi là "tỷ xúc", khi mình xúc thì sanh ra thọ, có cảm giác. Khi có cảm giác, sanh ra thọ rồi thì nó "hương tưởng, hương tư". Chỉ đi ngang, phớt qua mùi, vậy mà, hồi sau về chùa, một mình, cái mùi đó giống như còn quanh đây. Là hương tưởng, hương tư hình bóng của mùi hương đó, và những suy nghĩ về mùi hương đó. Ghê gớm không?
Cái tâm mình làm việc khủng khiếp lắm nhưng mình không thấy vì mình không học duyên sanh pháp, không tập nhận diện, không tập ngồi thiền để nhìn ra mấy điều này. Cứ điều nào sanh khởi lên, nhập vô thì mình nói “tôi, của tôi” thôi. "Cái mùi đó thích quá, đặc biệt quá". Đừng nói chuyện gì xa, nói chuyện gần gũi nhất, dễ hiểu nhất, đi học về đói bụng. Bước vào bếp, hôm nay bếp có nấu một món đặc biệt như lẩu mắm, bốc mùi lên, nếu mình thích món đó, mới nghe mùi thôi thì trong này đã tươm ra. Đó gọi là hương tưởng, hương tư. Rõ ràng lắm.
Đó là nói món ăn, nói về con người, món đồ cũng vậy thôi. Mùi đó hôi rình nhưng mà chết với mùi đó. Dân gian mình có câu, “lia thia quen chậu...” Mình đừng tưởng “bây giờ con tu ngon lắm, con thấy con không có tham, sân, si, nhẹ lắm.” Nhưng mà chết, mười ngón tay, mười ngón chân, từng cọng tóc, sợi lông của mình đều dính trong ái dục, tham dục. Đức Phật ví dụ trong kinh Bẫy mồi, con khỉ bị dính vô bẫy, tay chân bị dính keo, nên lấy tay này gỡ tay kia, lấy miệng gỡ.., nhưng đều bị dính keo lại hết. Ông thợ săn lấy cây đưa ngang, rồi quảy lên rồi đi. Dính bẫy của ác ma, dính mùi thôi cũng chết, mà không phải mùi thơm, hôi lắm. Thấy khổ không?
Giải thoát những điều này là cả một công trình tu tập. Cho nên, phải quán bất tịnh cái mùi mà nước chảy ra, phân huỷ, quán mùi đó để trị mùi kia. Học điều này và thực tập rồi mới thấy cái ái, cái tham, cái dục của mình ghê gớm lắm, không giống như mình nghĩ tưởng, không đơn giản như trí phàm phu của mình. Ghê gớm đến mức độ có những người biến thái, chuyên đi trộm đồ của người ta. Khủng khiếp như vậy đó. Sắc ái, hương ái, vị ái, xúc ái, thanh ái, pháp ái. Sáu ái.
Đừng nói mùi người ta, mùi của mình, mình cũng chết. Lâu lâu có móc móc ngửi không? Đó là ví dụ thực tế. Không chỉ một lần mà còn ngửi thêm lần nữa. Đó là ái. Cái mê, tham ái của mình thật khủng khiếp, nhưng do vô minh nên mình không thấy. Tu tập rồi sẽ thấy. Bộ đồ hôi của mình, trước khi đi giặt, đem ra ngửi, chưa đủ, rồi hít cái nữa, thấy gớm, đừng nói chi dính mùi của người khác, là chết, chết không có đất chôn, suốt đời không đi ra khỏi cái mùi đó. Đó là thọ do tỷ xúc sanh, hương tưởng, hương tư. Ghê gớm một cảm giác, nó sanh khởi do lỗ mũi tiếp xúc rồi, thà rằng chưa tiếp xúc, nó không biết. Như có một bé Phật tử nói, “con chưa có biết mùi đó thầy ơi!” Chưa biết thì tốt, biết rồi sẽ bị nhiễm, khó ra lắm. Đừng có đi tìm cái mùi đó để rồi đi ra không được.
Người chánh tín xuất gia đồng chơn nhập đạo, niên thiếu đã vào trong đạo, có mấy vị 7-8 tuổi đã vào chùa, nếu tất cả trong trắng hết như vậy thì tu mới dễ. Tùy theo trường hợp, nếu có gia đình rồi thì tu hết sức khó. Mình thấy kinh nghiệm, một số vị đi tu, có gia đình rồi là ngồi thiền chịu không nổi, mùi đó hiện ra, hình bóng đó, âm thanh hiện ra… và cái đó lôi kéo chịu không nổi. Người nào vượt ra được thì người này vững, vượt không được là chết, mà thường thường là vượt không được.
Cho nên, tại sao Đức Phật nói mình nên giữ giới là do vậy. Khi đã quen, một khi dính vào mấy thứ đó rồi thì còn hơn thuốc phiện, rất khó thoát ra, vì nó vận hành bên trong, sắc tưởng sắc tư, thanh tưởng thanh tư, hương tưởng hương tư, rồi vị tưởng vị tư, xúc tưởng xúc tư. Nó giết chết hết người trong thiên hạ, hết cả trái đất chết vì xúc tưởng xúc tư. Thọ do thân xúc sanh là chết hết.
IV. Vị - thiệt căn – thiệt thức
Do duyên của lưỡi, các vị sanh ra "sự rõ biết các vị", gọi là "thiệt thức". Khi ba cái này giao thoa, hội tụ như vậy thì "thọ do thiệt xúc sanh", cảm giác lưỡi tiếp xúc, sanh ra "vị tưởng vị tư". Ăn món đó, phải nhớ, biết vị, rõ biết các vị là thiệt thức thôi, chứ thiệt thức không thể biết mùi hương. Mỗi một cái biết, nó nằm riêng, sáu cái biết là sáu lãnh vực riêng. Nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới, sáu cái biết này không chung. Nó là pháp duyên sanh. Ví dụ, ngồi đây, nãy giờ mình không để ý có mùi gì, nhưng có mùi bún riêu hay mùi chao bốc lên là mình cảm thấy được liền. Cho nên đó là pháp duyên sanh, nó vô thường, cái duyên nó mới sanh khởi. Bây giờ mình nếm vị đó rồi, lúc về thì hình bóng, cái sắc của món ăn đó hiện ra trong tâm của mình, cái đó là vị tưởng, mình suy nghĩ về cái vị đó, là vị tư. Cái vị chua chua cay cay, lẩu thái, mì quảng.., hình bóng của vị gợi lại, suy nghĩ về món ăn đó.., tiếp tục thọ sanh ra cảm giác nghĩ tưởng, muốn đi ăn hoài rồi lên cân, rồi kiếm thuốc giảm cân. Nó vận hành như vậy đó.
V. Xúc – thân – thân thức
Điều này ghê gớm lắm, do duyên có thân, sự đụng chạm sanh khởi "/sự rõ biết chỗ đụng chạm đó". Mình nói thân thức dễ, nhưng mình không biết, mình chỉ biết chữ nghĩa thôi, chứ thực pháp thì mình không biết. Cái thân, chỗ nào mà cái thân đụng chạm tiếp xúc thì nó mới biết. Ví dụ, thường mình không để ý, bây giờ để ý lại, cái thân này đụng chạm với cái bàn ghế, tay chạm vô bàn, cái chân, cái mông chạm vô ghế, quần áo… ngay chỗ đụng chạm thì nó biết ngay chỗ đó, nó sanh khởi sự rõ biết chỗ đụng chạm đó. Điều này bắt đầu khó.
Do duyên có thân, sự đụng chạm tiếp xúc, cọ quẹt thì mới sanh khởi sự rõ biết chỗ đụng chạm đó. Sự rõ biết đó là thân thức. Cái thân thức chỉ biết chỗ đụng chạm trên thân thôi, chứ nó không thể biết được cái khác. Mang mắt kiếng bị cấn, thì mình biết chỗ cấn hơi khó chịu, hay ngồi một lát thấy hơi mỏi, mình suy nghĩ ngồi ghế salon êm hơn, ngồi ghế gỗ cứng quá.. Những chỗ đụng chạm, rõ biết chỗ đụng chạm, đó là thân thức, chứ không phải nói chung chung. Ba pháp đó hội tụ lại là "thân xúc".
Chỗ đó sanh ra thọ và thân xúc sanh, tức là cái cảm thọ, cảm giác do thân tiếp xúc sanh khởi ra cái cảm giác đó. Ví dụ, mình cho tiền một người ăn xin, một cô bé nghèo, có tật, què quặt, lết, sứt môi, xấu xí, tật nguyền, bệnh hoạn.., mình đưa cho mấy đồng bạc lẻ. Khi mình cho tiền, vô tình chạm trúng tay thì mình không có cảm giác, chỉ có cái cảm giác thương xót. Lúc đó mình có sự rõ biết lúc đụng chạm cái tay đó. Nhưng khi mình đưa một món đồ cho một người đẹp, rất đẹp, rủi như cầm chạm trúng cái tay, thọ do thân xúc sanh, lúc trở về thì xúc tưởng xúc tư, hình bóng chỗ tiếp xúc, đụng chạm nó hiện lại. Mà không phải chỉ hiện lại hình bóng đó thôi, nó còn suy nghĩ qua thêm những thứ khác.., xúc tưởng xúc tư làm suy nghĩ thêm những thứ khác nữa.
Nếu không học duyên sanh pháp, không thấy được trí huệ của Đức Phật chứng ngộ chỉ cho thì vĩnh viễn mình sẽ không biết được từng cái từng cái một, mà chỉ là một đống lộn xộn trong tâm mình thôi, sẽ không biết cái nào là xúc tưởng, hương tưởng, vị tưởng, cái nào là thanh tưởng, sắc tưởng.. Trước đây mình đã quen rồi, không hỏi điều này. Mình nói, cái này có, cái kia có, nó có hạt giống thì có nước, có cây, có trái. Cái đó phàm phu cũng biết. Đó không phải duyên sanh pháp của đạo Phật. Điều đó bình thường, ai nói cũng được. Còn điều này, chánh đẳng giác mới nói.
Không phải đơn thuần là có cái hột, có cây có trái… thì ai nói cũng được. Nhưng này là sự chứng ngộ thân tâm của Đức Phật, đây mới là duyên sanh pháp chánh thống. Khi Đức Phật nói cái này có, cái kia có, tức là con mắt có, sắc có, nhãn thức có, nhãn xúc có, thọ v.v.., sắc tưởng sắc tư, cái này có cái kia có.., là nói cái này. Nhỡ kỹ, không thôi lẫn lộn. Cái hột không dính dáng đến mình nhiều, không dính dáng tới sự khổ, và diệt khổ.
Tại cái này mới đưa đến cái khổ, những cái sắc tưởng sắc tư, thọ, thanh tưởng thanh tư, hương tưởng hương tư, vị tưởng vị tử, xúc tưởng xúc tư, mới làm cho mình khổ, làm cho mình dục, ái, mình tham, sân, si. Nên mình giải quyết cái này, chứ cái cây là chuyện của cái cây. Mình vẫn ứng dụng được, nhưng cái đó không phải là vấn đề trọng yếu mà Đức Phật muốn nói, Ngài nói là nói cái thân tâm của chính mình, tức là người tu chân chánh là phải nội quán tất cả sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức ở trong thân tâm.
Từ đâu mà sanh khởi ra khổ đau, và chấm dứt đau khổ từ đâu, đó mới là cốt lõi của giáo pháp. Cái gọi là thọ do thân xúc sanh này, xúc tưởng xúc tư, nói hết khóa học này vẫn chưa hết. Quý huynh đệ tự chiêm nghiệm, thiền quán. Một khi đụng chạm vô rồi, nó sanh một cảm giác rồi là gỡ hoài không ra, gỡ suốt đời không ra. Những hình bóng của sự đụng chạm đó, nó sanh khởi ra là ngồi thiền không được, suy nghĩ về những cái đó.
Lên núi một tháng rồi về nhà, khi quay trở lên núi tháng rưỡi, nửa tháng rồi lại chạy về… “thưa sư phụ, chuyến này là con lên luôn”, nhưng được sáu tháng rồi lại quay về. Đợt sau vô cạo đầu được tám tháng, lại quay về. “Tội nghiệp, ở nhà vợ khổ, con không ai lo.” Không biết là tội nghiệp ai, nó, hay mình? Những thứ đó nó vận hành bên trong, nhưng không có đủ binh khí, pháp khí, vũ khí để mà đánh đuổi. Trong đó là bát quái trận, mê hồn trận, mấy chục pháp.., mà mình không có vũ khí gì hết thì làm sao đánh đuổi. Biết còn không biết thì đừng nói là đánh đuổi.
Cho nên, thọ do thân xúc sanh, xúc tưởng xúc tư, hình bóng đó cứ ở bên trong, ám ảnh trong đó hoài, không đuổi hình bóng đó ra được,nên người ta mới nói, “làm sao giết được người trong mộng.” Đó là sắc tưởng. Nhưng trong đó mình phải hiểu còn có thanh tưởng, có mọi thứ hết. Không phải chỉ có hình bóng thôi. Có nhớ nói chuyện, có nhớ mùi hương không, có nhớ sự đụng chạm tiếp xúc không?
Một khi sanh khởi trong tâm là nó xáp lá cà, trùng trùng lớp lớp, tấn công, lúc đó là mình bấn loạn, không biết, không thấy gì cả. Mê hồn trận, bát quái trận, ngũ uẩn trận; sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ.., tấn công một lúc sáu chục pháp,mà lại ngồi đó ngơ ngáo, ngu, không biết gì hết thì sẽ vĩnh viễn muôn kiếp ở trong sanh tử, vô minh và tham ái, chấp thủ, đâu có đi ra được. Giặc mà không biết mặt, nhận nó làm bạn, làm con, thì nó giết chết hết.
Mình học điều này không chỉ lý thuyết suông, mà là thiền quán, thiền định, mình nhìn ra được. Ví dụ, tiếp xúc với món đồ đó, hay người đó, mình sanh khởi ra là mình thấy được liền nguyên cả một sự vận hành của duyên sanh pháp. Tuy rằng mình nhìn ra là sau rồi nhưng đỡ hơn là mình không biết, rồi từ từ mai mốt mình có thể chặn đầu, chặn giữa được, còn bây giờ mình chặn đuôi nó thôi. Tức là sau khi chuyện đó xảy ra rồi, bắt đầu mình ngồi quán lại, trình tự nó là như vậy, bây giờ mình sanh khởi ra cái tham ái này, mình sẽ quán Như lý tác ý, mình đánh nó, cả một cái pháp vận hành như vậy.
VI. Pháp – ý căn – ý thức
Cái này là cái khó nhất. Đã chia sẻ hết rồi, nhưng chắc chắn đã quên. Nếu mà người nào có thể lên trình bày lại được thì sẽ lãnh một bộ đại tạng kinh. Con thưa thật với đại chúng và các quý thầy, tu thiền bốn mươi năm chưa chắc gì thực hiện được điều này. Con tu được mười lăm năm, theo đường lối của thiền tông mà con không biết cái này, tới khi qua Nikāya mới biết. Mười lăm năm ngồi thiền mà không biết ý xúc là gì. Nếu không có một sự hướng dẫn chân chính, đúng pháp, là mình sẽ nhìn sai, loạn pháp, tức là trong thân tâm mình nhìn lẫn lộn tất cả mà mình không biết. Có ai xung phong? Nói đúng thì có thưởng, không đúng không sao, không có bị trừ. Điều này là chúng ta đã học hai buổi rồi.
Cái này cực kì thâm sâu. Ngồi thiền suốt đời nhưng nếu không học Nikäya và không có người hướng dẫn thì mình không biết. Minh Thành có hỏi các vị sư, đã học tới tiến sĩ, và các vị tu nhiều, thì cái này không nói rõ ràng ra được. Điều này là trong sự tu tập, mình được gặp các vị đã có sự thành tựu, họ sẽ giải thích thì mình mới có thể hiểu một cách tương đối rõ ràng. Nhìn ví dụ sẽ thấy rõ hơn. Bởi vì, khi nói tới ý là nó ở bên trong chứ không phải ở năm cái phía trước. Cái này đòi hỏi mình phải thiền, thiền mới có thể cảm nhận một cách sâu sắc,thường ngồi thiền sẽ có sự quay trở lại nội tâm, nội soi.
Con sẽ ví dụ những điều dễ hiểu, từ từ tới những cái sâu sắc để quý huynh đệ thấy. Ví dụ, mình đang ngồi đây, bỗng nhiên để ý tới xương sống của mình. Tự nhiên mình chú tâm để ý lại xương cùn, mình thấy nó mỏi, nhức, còn trước đó không để ý thì mình không thấy vậy. Khi mình để ý, hình bóng cái xương cùn, xương cụt của xương sống hiện ra, cảm nhận cảm giác nhức mỏi. Mình suy nghĩ, mình nói “không biết có bệnh gì không, phải về coi sao, hôm nay sao đau nhức, mọi hôm mình không thấy.” Lúc đó có sự rõ biết những cái này đang có mặt, đang diễn ra, rõ biết cái cảm giác đau nhức, có hình bóng cái xương cùn của xương sống, có sự suy nghĩ như vậy.
Cái cảm thọ đau, nhức mỏi càng ngày rõ ràng hơn; những hình bóng của xương sống, những cảm giác, những suy nghĩ đó tiếp tục hiện khởi trong tâm của mình, gọi là pháp tưởng, chữ “pháp” ở đây là thọ, tưởng, hành. Sau đó mình mới suy nghĩ về những vấn đề này, sau đó là suy nghĩ đi khám bệnh, uống thuốc, bác sĩ. Như vậy, chữ ý này mình hiểu nôm na là sự để ý. Ví dụ, tối cúp điện, cầm đèn pin soi hay đi vô chỗ quê không có đèn đường, đi lên núi, đi vô rừng, những chỗ xa xôi hẻo lánh.., mình cầm đèn pin, muốn nhìn chỗ nào thì mình đưa đèn pin soi vào ngay chỗ đó, thì chỗ đó sáng ra, cái chỗ mình muốn nhìn sẽ được phát sáng ra, soi rõ ra. Cái ý căn ở đây là sự để ý, là cầm đèn pin rọi vào vật đó, những sự vật hiện rõ ra là thọ tưởng hành, là sự nhận thức, rõ biết chỗ đó có vật gì, như thế nào, đó là ý thức.
Cho nên, mình không để ý thì sẽ không thấy tâm mình, không thấy hình bóng của người này hoài, vì không để ý nên mình không có phát hiện ra, nếu để ý thì mình nhận ra, tại sao lúc sáng lại có hình bóng của người này, lúc trưa cũng có hiện lên hình bóng của người này, lúc tối cũng có hình bóng người này? Khi để ý lại thì mình mới thấy có hình bóng đó, rồi cảm giác, suy nghĩ về nó, rồi ý thức rõ biết mình đang có cảm giác hình bóng, suy nghĩ về người đó. Khi những điều này hiện lên, ý thức mình soi vô được như ở phía trước có ổ gà, hay phía trước có con rắn, cục đá, vũng nước, vũng sình.., thì nó sẽ hiện ra thôi.
Mình phát hiện ra, tâm mình có luyến ái với món đồ, với con người đó, hay tâm mình có cái sân, bực bội với người đó nên cái mặt cứ hiện ra, mỗi lần hình bóng của người đó hiện ra là mình có cảm giác bực, mình suy nghĩ khó chịu, mình rõ biết được đang có những cảm giác khó chịu về người đó. Vì vậy mà nó cứ tiếp tục sanh khởi ra cảm thọ, sanh khởi ra những hình bóng, những suy nghĩ đó liên tục thì pháp tưởng, pháp tư cứ liên tục sanh khởi. Cho nên sự tu tập này mới đào thải được những hàng tồn kho, rác bẩn, cấu nhiễm trong tâm. Phải để ý, lắng sâu mới nhận ra được.
Có nhiều người nhận diện ngũ uẩn, nhắm mắt lại, hỏi trong tâm có gì không, “dạ, trong tâm không có gì hết.” Không phải, là không thấy. Cái tâm dao dộng, hướng ngoại nên không thấy rõ bên trong. Thường thường, mình muốn tu sâu sắc thì phải diệt tâm hướng ngoại. Tâm hướng ngoại còn nhiều thì tâm sẽ dao động, trạo cử, không thể nào định tĩnh để thấy được pháp ở bên trong. Ở bên trong này là cả một thế giới đạo tâm khủng khiếp, thọ tưởng hành hoạt động siêu tốc.
Bài kinh Đức Phật nói, có một người bắn mũi tên, một người kia nhảy lên chụp mũi tên, Đức Phật hỏi A-nan như vậy có nhanh không? “Dạ nhanh.” “Vậy có một người cùng một lúc, bắn bốn mũi tên bốn hướng, thì người kia nhảy lên chụp một lúc bốn mũi tên bốn hướng, nắm được bốn mũi tên thì như vậy có nhanh không?” Ngài A-nan nói người này rất nhanh.
Đức Phật nói cái nhanh này so với cái nhanh của những vị thiên thần, thần thông thì nó không là gì, nó gấp trăm ngàn lần như vậy. Đức Phật nói thêm vài ví dụ và cuối cùng Ngài dạy: cái nhanh của thọ, tưởng, hành còn nhanh siêu việt hơn cái nhanh của người chụp mũi tên.
Cho nên nội tâm của mình rất khủng khiếp, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác liên tục, liên tục nhưng mình không nhìn thấy. Nó kết nối với nhau như xem màn ảnh trên tivi, mình thấy rõ, có người đi, cười, nói, khóc, nhưng phóng lớn ra thì chỉ là những dấu chấm lớn, nhỏ đang di động thôi, chẳng có người nào cả. Hay là bức hình chụp, mình phóng lớn ra thì cuối cùng chỉ là những vết chấm.
VII. Khuyến tấn tu tập – Chánh niệm tỉnh giác
Cũng vậy, những thọ, tưởng, hành trong tâm mình rất khủng khiếp. Phải định, Thánh trí tuệ năm uẩn mới nhìn thấy được sự sanh diệt liên tục đó. Khi để ý lại mới thấy ở bên trong đang có những hình bóng, cảm giác, đang có những suy nghĩ gì, để ý, sâu lắng cái tâm xuống. Như hồ nước, gió thổi nước động, hay những đứa trẻ xuống nghịch lên thì mình đâu nhìn thấy gì. Nhưng nếu mình để yên, lắng trong, mình phải nhìn kỹ xuống thì nó sẽ hiện rõ ra chỗ nào có ốc, cá, chỗ nào có sỏi, đất, rác... Phải để ý vô bên trong.
Cho nên mới gọi là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Niệm thân là thường thường để ý oai nghi, cử chỉ, hơi thở, hành động. "Tỳ-kheo đang đi, tuệ tri đang đi; đứng, tuệ tri đang đứng; nằm, tuệ tri đang nằm; ngồi, tuệ tri đang ngồi; ôm bát, rõ biết; khoác Tăng-già-lê, rõ biết; co duỗi, cúi nhiếp, đại tiểu tiện, rõ biết." Luôn luôn rõ biết, không có cái nào không rõ biết. Để ý mấy điều đó mới chỉ là quán thân trên thân, còn quán thọ là để ý các cảm thọ vận hành như thế nào.
Sự chánh niệm tỉnh giác, Đức Phật đã giải thích thế nào? Mình học chánh niệm tỉnh giác là đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm, đó chỉ mới là lý lịch trích ngang, chưa đủ, chỉ biết trên thân. Còn tâm thì sao, sâu bên trong thì sao? Chánh niệm tỉnh giác đã giải thích rồi, không về đọc, bỏ tủ cất hết rồi. Về mở mục Chánh niệm tỉnh giác ra, có Chánh niệm tỉnh giác 1, Chánh niệm tỉnh giác 2, này là chính lời của Đức Phật dạy: trang 137-Chú tâm tỉnh giác; trang 138-Chánh niệm tỉnh giác 1; trang 140-Chánh niệm tỉnh giác 2 trong quyển Nghi thức tu học Nikāya. Bây giờ chú tâm tỉnh giác, đọc cho quý vị nghe ba đoạn trong kinh Không thể rơi xuống, Tăng Chi Bộ tập 1:
“Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo chú tâm cảnh giác?
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ban ngày đi kinh hành, hay trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh một, vị ấy đi kinh hành hay trong lúc ngồi tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh giữa, vị ấy nằm dáng nằm con sư tử bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến thức dậy lại. Ban đêm, canh cuối, vị ấy thức dậy đi kinh hành hay trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại.”
(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, 4. Chương Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, bài kinh Không thể rơi xuống)
Các pháp chướng ngại là gì? Ngũ cái, là năm triền cái: dục tham, sân, hôn trầm, trạo cử, và hoài nghi. Đó là tẩy sạch tâm khỏi các chướng ngại pháp. Tẩy được năm pháp này mới vô được sơ thiền, nếu năm cái này còn thì không vô sơ thiền. Và bây giờ, chánh niệm tỉnh giác:
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác? Đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các ông.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Tương Ưng Sáu Xứ, Phần IV, Chương II. Tương Ưng Thọ, bài kinh Tật bệnh)
Chỗ Minh Thành muốn nói với các vị, chánh niệm Tỉnh giác số 2, trang 140.
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda chánh niệm tỉnh giác. Đây, này các Tỷ-kheo, Nanda rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt; rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt; rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt. Này các Tỷ-kheo, đây là Nanda chánh niệm tỉnh giác.”
(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 8. Chương Tám Pháp, I. Phẩm Từ,
bài kinh Tôn giả Nanda)
Điều này cực kỳ thâm sâu. Tu học là tu học điều này, chứ không phải ở bên ngoài. Thế nào là chánh niệm tỉnh giác? Lúc nãy là chánh niệm tỉnh giác một, đi đứng ngồi nằm, nói, nín, động tịnh, đại tiểu tiện v.v.., là tỉnh giác, biết rõ. Nhưng, đó là ngoài thân, còn bây giờ là thọ tưởng hành, chữ tầm là hành, là tâm hướng về cái nào, nó si tầm về điều gì? Rõ biết khi các cảm giác khởi lên. Khi con mắt tiếp xúc với sắc, lỗ tai tiếp xúc với âm thanh, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với vị, thân đụng chạm, ý tiếp xúc với các pháp.., cảm giác sanh khởi lên, rõ biết: thọ này là thọ gì? Lạc thọ, hay khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ? Trong cảm thọ này có tham sân si hay không? Có thì phải như thế nào?
"Tỳ-kheo ban ngày đi kinh hành hay trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp." Có là tẩy sạch liền. Vậy thì mới đi tới chỗ tâm thanh tịnh. Còn ở đây, mình để đóng đen thùi, có biết gì đâu, nó khởi lên hay an trú cũng không biết, nó làm tùm lum cũng không biết. Đó là vô minh, là tham ái, chấp thủ. Mình không biết gì hết, vậy mà gọi là chánh niệm tỉnh giác, chỉ biết bên ngoài. Bây giờ nếu hỏi hôm nay Mỹ chết bao nhiêu, nhiễm bao nhiêu là biết liền, nhưng cái thọ, tưởng, hành trong tâm không biết.
Cái hướng ngoại nặng lắm, phải diệt được tâm này. Cảm giác sanh khởi lên là phải biết liền, cảm giác này là cảm giác gì? Có dục, có ái, có tham không; có sân, có bản ngã, có ta đây trong đây ko? Cảm giác này có hơn thua, cao thấp, ganh tỵ, nhân ngã hay không? Cảm giác này là thiện hay ác, hay bất thiện? Đó mới gọi là chánh niệm tỉnh giác của Đức Phật trong Tăng Chi Bộ tập 3.
Trong tâm mình sanh khởi hình bóng, hình bóng này khởi lên, an trú trong tâm mình, phải xem, nếu hình bóng này có dục, có ái, có tham sân si, bản ngã thì phải triệt tiêu ngay. Hình bóng này là ác, bất thiện pháp, hình bóng này là lậu hoặc, là tăng trưởng tham, sân, si, vô minh. Dập tắt, xóa sạch hình bóng này, phá sập, giải phá nó, đánh vỡ tan hình bóng đó thành hư không, mây khói, diệt tận nó.
Đó mới gọi là sự tinh tấn của Tỳ-kheo. Còn để hình bóng này xâm chiếm hết thân tâm của mình, làm cho say mê điên đảo, chạy đi tìm, thì còn gì nữa mà tu. Đi đâu cũng có hình bóng ngôi chùa ở trong tâm, “chùa của tôi, đẹp.” Cái sắc tưởng còn y nguyên, cái thân kiến còn dày đặc, cái tham ái, chấp thủ còn y nguyên thì tu cái gì? Đụng tới là sừng sộ lên. Cho nên, sự tu của mình còn ngoài da lắm, chỉ là mặc áo thôi, chứ chưa đi vào được bên trong, chưa vào được thọ tưởng hành của mình. Mình đợi nó phát ra khẩu hành, thân hành thì không kịp nữa.
Chữ tầm này sâu lắm. Rõ biết khi các tầm. Chữ tầm là tâm mình si tầm, nó hướng tới một cái gì đó, thì gọi đó là tầm. Cái này tế nhị hơn hành, nhưng mình tạm gọi là hành cho dễ hiểu. Ví dụ, mình đang ngồi học, nhưng có cái bóng nào đó đi ngang, mình thấy người đó quen, “chắc tìm mình, hay chút nữa sẽ gặp nói chuyện.” Thì, cái tâm mình, tuy rằng thân ngồi đây nhưng tâm hướng ra ngoài, đó là tầm. Hoặc, tuy đang ngồi một mình trong chùa, nhưng mình hướng về dưới quê, cứ nhớ và hiện ra những hình bóng, cảm giác suy nghĩ.., đó là tầm, là hướng tâm về chỗ đó. Tầm cầu, si tầm, hướng tâm. Khi nó sanh khởi, phải biết; khi nó có mặt và hiện hữu trong tâm, phải biết; và khi nó chấm dứt, mình phải biết. Như vậy gọi là chánh niệm tỉnh giác.
Đó là chỗ sâu mà Minh Thành đã giải thích cho quý huynh đệ thấy từ những ví dụ dễ hiểu, mình cầm cái cây đèn pin, rọi đến chỗ nào là chỗ đó hiện rõ ra, thì cầm cây đèn pin rọi. Ví dụ cho nó là ý căn, các pháp chỗ đó hiện ra là thọ tưởng, hành. Điều này là hoàn toàn phải nhớ, cái ý thức thọ, tưởng, hành. Ý thức là chỉ biết những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong, bên ngoài nó không biết gì hết. Khi mình chú trọng, phóng tâm ra ngoài, sắc, xúc.., thì quên ở bên trong, không để ý, gọi là hướng ngoại, bên trong thọ, tưởng, hành thì mình không biết.
Cho nên, nó hiện rõ như vậy thì lúc đó mình nhìn thấy,rõ biết, mình ý thức là đang có cảm giác suy nghĩ đó, đang có hình bóng ở trong đó; và tiếp tục sanh ra thọ tưởng hành, thọ do ý xúc sanh, nó sanh ra thọ tưởng hành. Những hình bóng hiện ra, suy nghĩ hiện ra..; tiếp tục cái thọ tưởng hành thứ hai, thứ ba, tư... tiếp tục. Đây gọi là ý xúc. Mình khổ với cái này nhiều nhất. Đi vô nhập thất không được, vào trong là nó quậy, bỏ được những điều bên ngoài để trốn vô trong, nhưng trốn không được, ý xúc, làm cho bể thất, xuống núi.
Cái ý xúc rất ghê gớm, khủng khiếp, ngồi một mình nhưng bên trong bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu cảm giác, suy nghĩ.. Sắc quá khứ, hiện tại, tương lai.., thắng, liệt, thô, tế, xa, gần.., tất cả các sắc, thọ quá khứ. Những cảm giác quá khứ hiện về, hình bóng, suy nghĩ quá khứ hiện về, rối nùi bên trong, vận hành bên trong, đánh sập bể thất, phá hạ. Ở một mình không được, buồn, bên trong thúc giục chạy đi kiếm ai nói chuyện, lấy điện thoại nhắn tin, đi đâu đó, chứ một mình thì chịu không nổi. Cái ý xúc này quậy ghê lắm!
Vậy là hôm nay chúng ta đã tìm hiểu về duyên sanh pháp. Nắm cho vững, ghi chép cho đầy đủ để sau này mình thi, chứ đi qua là không trở lại, ai còn thắc mắc về điều này thì kỳ sau đưa tờ giấy lên hỏi, chứ đã đi qua rồi là chấm dứt, khi qua một chuyên đề mới là không quay lại nữa./.
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sắc – nhãn căn – nhãn thức PAGEREF _Toc71623837 \h 1
II. Thanh – nhĩ căn – nhĩ thức PAGEREF _Toc71623838 \h 5
III. Hương – tỷ căn – tỷ thức PAGEREF _Toc71623839 \h 5
IV. Vị - thiệt căn – thiệt thức PAGEREF _Toc71623840 \h 7
V. Xúc – thân – thân thức PAGEREF _Toc71623841 \h 8
VI. Pháp – ý căn – ý thức PAGEREF _Toc71623842 \h 10
VII. Khuyến tấn tu tập – Chánh niệm tỉnh giác PAGEREF _Toc71623843 \h 13
I. Sắc – nhãn căn – nhãn thức
Minh Thành xin thưa với các huynh đệ, chúng ta còn học bao lâu nữa sẽ nghỉ hè, hay là học luôn là tới cuối năm, hay là còn mấy tháng nữa? Lớp Cao đẳng học 1-2 tuần nữa là nghỉ, lớp mình chưa hay sao? Còn mấy tháng, 6-7 tháng nữa hả? Minh Thành sẽ giới thiệu cho huynh đệ các chuyên đề. Học phần ngũ uẩn tới đó là đã tạm ổn, bây giờ chúng ta sẽ học những chuyên đề trọng yếu trong Phật pháp căn bản, là những điều cốt lõi, sẽ có những chuyên đề mới, huynh đệ có thể nêu lên những vấn đề mà mình muốn tìm hiểu, chúng ta học theo yêu cầu cũng được. Nhưng cái chính của nó, thứ nhất, chúng ta sẽ đào sâu vào những chuyên đề, những pháp cốt lõi quan trọng trong pháp hành; thứ hai, chúng ta có thể học tổng quát về Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo.Và chúng ta cũng để dành, lâu lâu có những buổi hỏi đáp, quý huynh đệ có thể ghi vào tờ giấy, nộp trên đây, hôm nào thuận tiện thì mình sẽ giải thích những câu hỏi.
Hôm nay, chúng ta tìm hiểu về duyên sanh pháp. Duyên sanh pháp trước đây chúng ta học rất sơ sài, rất chung chung. Hôm nay chúng ta học duyên sanh pháp này, chúng ta sẽ thấy rằng nó sát sao, thiết thực, gần gũi, đầy đủ và mình nhìn thấy được ở trong thân tâm của mình. Quý huynh đệ phải chép bài vì chúng ta sẽ thi, và những bài này mang tính cách vừa pháp học vừa pháp hành, không phải đơn thuần chỉ là lý thuyết, và mình có thể thực tập để thấy rõ duyên sanh pháp ở trong sáu căn của mình. Phải chép bài, không thôi tới ngày thi lại nói không biết bài để học.
Hôm trước, Minh Thành có giới thiệu cho các huynh đệ về duyên sanh pháp của con mắt chưa? Hôm trước đã có nói, bây giờ sẽ nói khái quát lại. Có những điều mình tưởng đã biết rồi, hiểu rồi, nhưng khi đi vào trong thực tế, xem xét một cách chín chắn thì điều đó mình chưa hiểu hoặc hiểu sai, hoặc hiểu chưa đầy đủ. Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu duyên sanh pháp của sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư. Vậy là bao nhiêu pháp, sáu hay bảy? Tức là tổng cộng bốn mươi hai pháp vận hành mà mình không biết gì hết.
Ví dụ, mình muốn, có một sự nhận biết “cái đó đẹp quá, tôi thích món đồ đó” thì phải có bao nhiêu duyên sanh vận hành thân tâm của mình thì mới nói lên được điều đó. Đầu tiên, phải có con mắt. Nhưng nhớ rằng, nói con mắt ở đây là nói gọn, đơn giản, con mắt không bị bệnh, không bị mù, không bị nhặm, con mắt bình thường. Đầu tiên là phải có con mắt, kế đó là có các sắc. Từ chuyên môn ở trong kinh là “do duyên có mắt, các sắc sanh khởi ra nhãn thức, là sự rõ biết các sắc”, điều này hơi sâu sắc, các huynh đệ phải để ý, mình phải vừa nghe vừa nhận diện, chứ không phải chỉ nghe bằng lỗ tai thôi.
Thường thường giải thích rằng nhãn thức là cái biết của con mắt, nhưng không phải. "Rõ biết các sắc", đó mới là nhãn thức, chứ không phải cái biết của con mắt. Ví dụ, lúc chết con mắt không có cái biết, lúc ngất xỉu con mắt không có cái biết. Cái biết của mắt nằm ở đâu, lúc mình ngủ sao con mắt không thấy? Thành ra, do duyên của mắt, có sắc là đối tượng, nó sanh khởi lên sự rõ biết các sắc, thì sự rõ biết này là nhãn thức, chứ không phải nhãn thức là rõ biết của mắt. Đó là sự rõ biết các sắc.
Điều này mình phải nhớ, nhãn thức chỉ rõ biết các sắc thôi chứ không rõ biết âm thanh, nhớ kỹ chỗ này. Tức là, sáu thức này có sáu phạm trù riêng biệt, không phải là một cái biết chung, nếu mình nói, có một cái biết mà trùm khắp hết, điều đó là không đúng. Sáu cái biết đó riêng biệt, cái rõ biết các sắc thì chỉ biết các sắc thôi, chứ nó không thể biết qua âm thanh được. Rõ biết các sắc là nhãn thức.
Do duyên có mắt, có các sắc, khởi lên sự rõ biết các sắc, khi ba pháp này giao thoa, hội tụ, tiếp xúc với nhau thì chỗ đó gọi là "nhãn xúc". Tức là sự tiếp xúc của mắt. Nói rằng sự tiếp xúc của mắt, nhưng mình phải hiểu đó là ba pháp: căn, trần, thức. Ba pháp giao thoa, hội tụ, tiếp xúc với nhau thì sanh khởi cảm giác, cảm thọ. Cái thọ đó là thọ do nhãn xúc sanh, tức là cảm thọ do mắt tiếp xúc mà sanh khởi ra. Cảm giác sanh khởi từ chỗ con mắt tiếp xúc với sắc pháp đó, thì đó là "thọ do nhãn xúc sanh".
Trong cái thọ mình đã học rồi, khi nó sanh ra một cảm giác thích cái sắc đó, thì nó có tham, cái đó gọi là lạc thọ. Đối với tham, Đức Phật dùng từ "tham tuỳ miên", tùy là đi theo, miên là miên man. Nếu điều nào có cảm giác thích thú, khoan khoái, dễ chịu, êm ái thì trong đó có tham đi theo, miên man ở trong đó, gọi là tham tùy miên ở trong cảm thọ. Nếu nó tiếp xúc, sanh ra một cảm giác khó chịu, khổ thọ, bực bội là "sân tùy miên". Luôn luôn lúc nào cũng ở trong cảm giác bực bội, cũng có một sự sân hận đi theo miên man, gọi là sân tùy miên ở trong khổ thọ. Nhưng mình không nhìn thấy do mình không quán thọ trên thọ, không thường xuyên nhìn lại cảm giác, lúc đó có tham, có sân mà mình không biết.
Trừ khi nào mình có nhận diện năm uẩn, mình có pháp quán thọ trên thọ, thường để ý cảm giác.., thì mình mới biết cái nào là khổ thọ, lạc thọ. Lúc này, khổ thọ có sân, thì nó khó chịu ở trong lòng ngực, là sân tùy miên; cảm giác lạc thọ mà trong đó có sướng, có thích, ham muốn, lưu luyến, bịn rịn v.v.. thì có tham tùy miên.
Nếu một cảm thọ, cảm giác, khi nhìn thấy mà mình trơ trơ, không ghét, không thích, thường thường vậy thôi, thì trong này là "vô minh tùy miên, si tùy miên". Chứ không phải nói “thưa thầy, sáng giờ, mỗi ngày con đều đều, con không thấy con tham, con cũng không thấy con sân, con bực mình hay khó chịu ai, vậy là con tu ngon rồi." Không phải, đó là si, vô minh, vô minh tùy miên. Tại vì mình không thấy các pháp này vận hành, chỉ thấy có một cái tôi đều đều, chứ không thấy pháp duyên sanh. Như vậy, thọ do xúc sanh có ba cái cảm thọ đó.
Bây giờ đi sát theo, căn cứ vào điều này, mình thấy khi con mắt tiếp xúc với hình sắc đó rồi, có sự rõ biết hình sắc đó, có một cảm giác, sau đó trở về, hình bóng của người đó, món đồ đó, cảnh đó.. hiện lại trong tâm sắc tưởng. Khi trở về phòng một mình, nằm ngủ hay ngồi, hay suy nghĩ, ngồi thiền v.v.., hình bóng mình tiếp xúc đó sẽ hiện lại trong tâm, cái đó là sắc tưởng.
Mình phải phân biệt được sắc tưởng và sắc uẩn là khác nhau; khi mình thấy rõ ràng trước mắt, gọi là sắc uẩn, sắc pháp, nhưng cái sắc có hình bóng ở trong tâm, không có ở bên ngoài, thì đó gọi là sắc tưởng. Phân biệt được chỗ này không? Cái sắc mà mình cầm nắm được, nó thực tế, hiện thực bên ngoài thì đó là sắc uẩn, sắc pháp. Nhưng cái sắc chỉ có hình bóng trong tâm, không có bên ngoài, sau khi mình tiếp xúc, đó gọi là sắc tưởng. Ví dụ, mình nhớ lại mẹ ba mình, nhớ lại ngôi chùa ở dưới quê, những hình bóng đó là sắc tưởng.
Chữ tưởng ở trên là chữ tướng, ở dưới là chữ tâm, cái hình tướng ở trong tâm của mình, gọi là tưởng. Khi học mình định nghĩa về tưởng uẩn là gì? Hình bóng thô tế ở trong tâm, gọi là tưởng, nhưng hình bóng đó thuộc về sắc, nên gọi là sắc tưởng. Sau khi hình bóng đó hiện lên trong tâm, mình sẽ suy nghĩ về hình bóng đó, gọi là sắc tư. Tư cũng là hành, suy nghĩ nên gọi là hành, những lời nói lầm thầm bên trong gọi là hành uẩn. Hành, hay tư cũng là một; sắc tư là suy nghĩ về hình bóng, hình ảnh, hình tướng đó ở trong tâm.
Đây là tâm lý học tối thượng của Phật giáo, khi ngồi yên lặng nhận diện, mình sẽ thấy được rất tuyệt vời, nó không đi ra khỏi cái này, nó bao trùm, cái tâm mình hoạt động nhiều như vậy, mắt của mình, các hình sắc, sự rõ biết các hình sắc, sự tiếp xúc sanh ra những cái cảm giác.., sau đó sự suy nghĩ những hình bóng trong tâm. Sau khi sắc tưởng, sắc tư, nó sanh tiếp tục thọ, tưởng, hành.
Chỗ này là chỗ sâu, nên ra cái tưởng hành thứ hai, những cảm giác, những hình bóng sanh ra thêm một lớp thứ hai, sanh thêm một lớp thứ ba nữa, rồi cứ tiếp tục thọ, tưởng, hành, tiếp tục suy nghĩ, rồi tưởng.., rồi những cảm giác thứ tư, năm, sáu.., vô cùng vô tận, do chính nó sanh khởi, gọi là chúng sanh – chúng nó liên tục sanh khởi, hết hình bóng này đến hình bóng kia, hết suy nghĩ này tới suy nghĩ kia, hết cảm giác này tới cảm giác kia...
Ví dụ, mình cứ nhớ người làm cho mình đau khổ, lúc đó mình sanh ra cảm giác khổ thứ hai, rồi sanh thêm hình bóng, suy nghĩ thứ hai, rồi nhớ thêm chuyện thứ ba..; nó sanh hoài như vậy, nếu mình không thoát ra thì mình đắm chìm trong thọ, tưởng, hành. Mình cứ nghĩ hoài người mà mình thù hận, người làm cho mình khổ thì sự hận thù người này càng làm cho mình được tưới tẩm, càng được chăm sóc, và hận thù ngày càng sâu đậm. Cái ái cũng vậy, cái dục cũng như vậy, nó nhớ lại những cảm giác ngọt ngào, cảm xúc êm ái, rồi hình bóng hiện ra, cảm giác sanh khởi, suy nghĩ tiếp tục sanh thọ, tưởng, hành; cứ vậy, cái gốc ái được tưới tẩm, tăng trưởng và phình trướng, quảng đại trong thân tâm.
Lý do tại sao mình phải nhận diện năm uẩn là như vậy. Mình vô đây, mới thấy cái nào là thọ, là tưởng, là hành, nếu không, tâm mình nhìn vô là rối nùi như đống xà bần, không biết cái nào là cái nào hết. Cái nào cũng là tôi, “tôi đang có cảm giác bực mình.” Những suy nghĩ cứ về, dồn dập liên tục, rối trong đầu, nhức đầu. Tại vì tất cả những thứ đó mình không thấy được, không nhận diện được. Đó là vô minh, không thấy được thọ, hành, thức, sắc là gì hết.
II. Thanh – nhĩ căn – nhĩ thức
Điều thứ nhất hôm trước đã học, bây giờ qua điều thứ hai. Do duyên có lỗ tai, cái tiếng, cái âm thanh mới sanh khởi ra "sự rõ biết âm thanh là nhĩ thức". Ba pháp này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc lại với nhau gọi là "nhĩ xúc"; khi tiếp xúc như vậy thì chắc chắn sanh ra thọ, "thọ do nhĩ xúc sanh". Nó sanh ra những cảm giác, và khi sanh ra những cảm giác như vậy, hình bóng của âm thanh vang vọng ở trong tâm.
Câu nói đó đã đi qua rồi, nhưng nó vang vang lại, hình bóng của âm thanh vang lại. Ví dụ, ngoài đời, chỉ cần nói một câu có ba chữ thôi, khi về là thọ tưởng hành vận hành liền, âm thanh đó vang lên gọi là "thanh tưởng", sau đó mình suy nghĩ âm thanh đó, gọi là "thanh tư". Rồi nó tiếp tục sanh ra những cảm giác , những hình bóng, những suy nghĩ nữa, thọ tưởng hành thứ hai, thứ ba.., Xong rồi cầm điện thoại lên, nội trần sanh, làm ra ngoại trần, là chỉ từ những âm thanh bên trong, bây giờ muốn nói, nên cầm điện thoại.
Đó là duyên sanh pháp của lỗ tai. Sau khi đã nghe tiếng nói, tiếng đó làm cho mình tức giận, khi đi về, âm thanh đó vang vọng hoài câu nói đó. Trong phim hay làm điều đó phải không, hay chiếu lại những hình ảnh, cảm giác yêu thương, ngọt ngào, hay cảm giác thù hận.., chiếu tới chiếu lui cái hình ảnh đó. Ví dụ, cha bị xử oan, chém đầu, nó sẽ chiếu hình ảnh đó hoài. Những hình ảnh đó làm tan nát tim gan, những âm thanh đó dội lên, những suy nghĩ, hình bóng sanh khởi lên. Là thanh tưởng, thanh tư. Người này không ra khỏi thọ, tưởng, hành đó, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ ở trong đó, lẩn quẩn không ra được. Đó là sự vận hành của duyên sanh ngũ uẩn.
III. Hương – tỷ căn – tỷ thức
Lỗ mũi thì sao? Do duyên của lỗ mũi, có các mùi, mình khởi lên "sự rõ biết các mùi". Sau đó, ba cái này giao thoa, tiếp xúc, giao tiếp với nhau gọi là "tỷ xúc", khi mình xúc thì sanh ra thọ, có cảm giác. Khi có cảm giác, sanh ra thọ rồi thì nó "hương tưởng, hương tư". Chỉ đi ngang, phớt qua mùi, vậy mà, hồi sau về chùa, một mình, cái mùi đó giống như còn quanh đây. Là hương tưởng, hương tư hình bóng của mùi hương đó, và những suy nghĩ về mùi hương đó. Ghê gớm không?
Cái tâm mình làm việc khủng khiếp lắm nhưng mình không thấy vì mình không học duyên sanh pháp, không tập nhận diện, không tập ngồi thiền để nhìn ra mấy điều này. Cứ điều nào sanh khởi lên, nhập vô thì mình nói “tôi, của tôi” thôi. "Cái mùi đó thích quá, đặc biệt quá". Đừng nói chuyện gì xa, nói chuyện gần gũi nhất, dễ hiểu nhất, đi học về đói bụng. Bước vào bếp, hôm nay bếp có nấu một món đặc biệt như lẩu mắm, bốc mùi lên, nếu mình thích món đó, mới nghe mùi thôi thì trong này đã tươm ra. Đó gọi là hương tưởng, hương tư. Rõ ràng lắm.
Đó là nói món ăn, nói về con người, món đồ cũng vậy thôi. Mùi đó hôi rình nhưng mà chết với mùi đó. Dân gian mình có câu, “lia thia quen chậu...” Mình đừng tưởng “bây giờ con tu ngon lắm, con thấy con không có tham, sân, si, nhẹ lắm.” Nhưng mà chết, mười ngón tay, mười ngón chân, từng cọng tóc, sợi lông của mình đều dính trong ái dục, tham dục. Đức Phật ví dụ trong kinh Bẫy mồi, con khỉ bị dính vô bẫy, tay chân bị dính keo, nên lấy tay này gỡ tay kia, lấy miệng gỡ.., nhưng đều bị dính keo lại hết. Ông thợ săn lấy cây đưa ngang, rồi quảy lên rồi đi. Dính bẫy của ác ma, dính mùi thôi cũng chết, mà không phải mùi thơm, hôi lắm. Thấy khổ không?
Giải thoát những điều này là cả một công trình tu tập. Cho nên, phải quán bất tịnh cái mùi mà nước chảy ra, phân huỷ, quán mùi đó để trị mùi kia. Học điều này và thực tập rồi mới thấy cái ái, cái tham, cái dục của mình ghê gớm lắm, không giống như mình nghĩ tưởng, không đơn giản như trí phàm phu của mình. Ghê gớm đến mức độ có những người biến thái, chuyên đi trộm đồ của người ta. Khủng khiếp như vậy đó. Sắc ái, hương ái, vị ái, xúc ái, thanh ái, pháp ái. Sáu ái.
Đừng nói mùi người ta, mùi của mình, mình cũng chết. Lâu lâu có móc móc ngửi không? Đó là ví dụ thực tế. Không chỉ một lần mà còn ngửi thêm lần nữa. Đó là ái. Cái mê, tham ái của mình thật khủng khiếp, nhưng do vô minh nên mình không thấy. Tu tập rồi sẽ thấy. Bộ đồ hôi của mình, trước khi đi giặt, đem ra ngửi, chưa đủ, rồi hít cái nữa, thấy gớm, đừng nói chi dính mùi của người khác, là chết, chết không có đất chôn, suốt đời không đi ra khỏi cái mùi đó. Đó là thọ do tỷ xúc sanh, hương tưởng, hương tư. Ghê gớm một cảm giác, nó sanh khởi do lỗ mũi tiếp xúc rồi, thà rằng chưa tiếp xúc, nó không biết. Như có một bé Phật tử nói, “con chưa có biết mùi đó thầy ơi!” Chưa biết thì tốt, biết rồi sẽ bị nhiễm, khó ra lắm. Đừng có đi tìm cái mùi đó để rồi đi ra không được.
Người chánh tín xuất gia đồng chơn nhập đạo, niên thiếu đã vào trong đạo, có mấy vị 7-8 tuổi đã vào chùa, nếu tất cả trong trắng hết như vậy thì tu mới dễ. Tùy theo trường hợp, nếu có gia đình rồi thì tu hết sức khó. Mình thấy kinh nghiệm, một số vị đi tu, có gia đình rồi là ngồi thiền chịu không nổi, mùi đó hiện ra, hình bóng đó, âm thanh hiện ra… và cái đó lôi kéo chịu không nổi. Người nào vượt ra được thì người này vững, vượt không được là chết, mà thường thường là vượt không được.
Cho nên, tại sao Đức Phật nói mình nên giữ giới là do vậy. Khi đã quen, một khi dính vào mấy thứ đó rồi thì còn hơn thuốc phiện, rất khó thoát ra, vì nó vận hành bên trong, sắc tưởng sắc tư, thanh tưởng thanh tư, hương tưởng hương tư, rồi vị tưởng vị tư, xúc tưởng xúc tư. Nó giết chết hết người trong thiên hạ, hết cả trái đất chết vì xúc tưởng xúc tư. Thọ do thân xúc sanh là chết hết.
IV. Vị - thiệt căn – thiệt thức
Do duyên của lưỡi, các vị sanh ra "sự rõ biết các vị", gọi là "thiệt thức". Khi ba cái này giao thoa, hội tụ như vậy thì "thọ do thiệt xúc sanh", cảm giác lưỡi tiếp xúc, sanh ra "vị tưởng vị tư". Ăn món đó, phải nhớ, biết vị, rõ biết các vị là thiệt thức thôi, chứ thiệt thức không thể biết mùi hương. Mỗi một cái biết, nó nằm riêng, sáu cái biết là sáu lãnh vực riêng. Nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới, sáu cái biết này không chung. Nó là pháp duyên sanh. Ví dụ, ngồi đây, nãy giờ mình không để ý có mùi gì, nhưng có mùi bún riêu hay mùi chao bốc lên là mình cảm thấy được liền. Cho nên đó là pháp duyên sanh, nó vô thường, cái duyên nó mới sanh khởi. Bây giờ mình nếm vị đó rồi, lúc về thì hình bóng, cái sắc của món ăn đó hiện ra trong tâm của mình, cái đó là vị tưởng, mình suy nghĩ về cái vị đó, là vị tư. Cái vị chua chua cay cay, lẩu thái, mì quảng.., hình bóng của vị gợi lại, suy nghĩ về món ăn đó.., tiếp tục thọ sanh ra cảm giác nghĩ tưởng, muốn đi ăn hoài rồi lên cân, rồi kiếm thuốc giảm cân. Nó vận hành như vậy đó.
V. Xúc – thân – thân thức
Điều này ghê gớm lắm, do duyên có thân, sự đụng chạm sanh khởi "/sự rõ biết chỗ đụng chạm đó". Mình nói thân thức dễ, nhưng mình không biết, mình chỉ biết chữ nghĩa thôi, chứ thực pháp thì mình không biết. Cái thân, chỗ nào mà cái thân đụng chạm tiếp xúc thì nó mới biết. Ví dụ, thường mình không để ý, bây giờ để ý lại, cái thân này đụng chạm với cái bàn ghế, tay chạm vô bàn, cái chân, cái mông chạm vô ghế, quần áo… ngay chỗ đụng chạm thì nó biết ngay chỗ đó, nó sanh khởi sự rõ biết chỗ đụng chạm đó. Điều này bắt đầu khó.
Do duyên có thân, sự đụng chạm tiếp xúc, cọ quẹt thì mới sanh khởi sự rõ biết chỗ đụng chạm đó. Sự rõ biết đó là thân thức. Cái thân thức chỉ biết chỗ đụng chạm trên thân thôi, chứ nó không thể biết được cái khác. Mang mắt kiếng bị cấn, thì mình biết chỗ cấn hơi khó chịu, hay ngồi một lát thấy hơi mỏi, mình suy nghĩ ngồi ghế salon êm hơn, ngồi ghế gỗ cứng quá.. Những chỗ đụng chạm, rõ biết chỗ đụng chạm, đó là thân thức, chứ không phải nói chung chung. Ba pháp đó hội tụ lại là "thân xúc".
Chỗ đó sanh ra thọ và thân xúc sanh, tức là cái cảm thọ, cảm giác do thân tiếp xúc sanh khởi ra cái cảm giác đó. Ví dụ, mình cho tiền một người ăn xin, một cô bé nghèo, có tật, què quặt, lết, sứt môi, xấu xí, tật nguyền, bệnh hoạn.., mình đưa cho mấy đồng bạc lẻ. Khi mình cho tiền, vô tình chạm trúng tay thì mình không có cảm giác, chỉ có cái cảm giác thương xót. Lúc đó mình có sự rõ biết lúc đụng chạm cái tay đó. Nhưng khi mình đưa một món đồ cho một người đẹp, rất đẹp, rủi như cầm chạm trúng cái tay, thọ do thân xúc sanh, lúc trở về thì xúc tưởng xúc tư, hình bóng chỗ tiếp xúc, đụng chạm nó hiện lại. Mà không phải chỉ hiện lại hình bóng đó thôi, nó còn suy nghĩ qua thêm những thứ khác.., xúc tưởng xúc tư làm suy nghĩ thêm những thứ khác nữa.
Nếu không học duyên sanh pháp, không thấy được trí huệ của Đức Phật chứng ngộ chỉ cho thì vĩnh viễn mình sẽ không biết được từng cái từng cái một, mà chỉ là một đống lộn xộn trong tâm mình thôi, sẽ không biết cái nào là xúc tưởng, hương tưởng, vị tưởng, cái nào là thanh tưởng, sắc tưởng.. Trước đây mình đã quen rồi, không hỏi điều này. Mình nói, cái này có, cái kia có, nó có hạt giống thì có nước, có cây, có trái. Cái đó phàm phu cũng biết. Đó không phải duyên sanh pháp của đạo Phật. Điều đó bình thường, ai nói cũng được. Còn điều này, chánh đẳng giác mới nói.
Không phải đơn thuần là có cái hột, có cây có trái… thì ai nói cũng được. Nhưng này là sự chứng ngộ thân tâm của Đức Phật, đây mới là duyên sanh pháp chánh thống. Khi Đức Phật nói cái này có, cái kia có, tức là con mắt có, sắc có, nhãn thức có, nhãn xúc có, thọ v.v.., sắc tưởng sắc tư, cái này có cái kia có.., là nói cái này. Nhỡ kỹ, không thôi lẫn lộn. Cái hột không dính dáng đến mình nhiều, không dính dáng tới sự khổ, và diệt khổ.
Tại cái này mới đưa đến cái khổ, những cái sắc tưởng sắc tư, thọ, thanh tưởng thanh tư, hương tưởng hương tư, vị tưởng vị tử, xúc tưởng xúc tư, mới làm cho mình khổ, làm cho mình dục, ái, mình tham, sân, si. Nên mình giải quyết cái này, chứ cái cây là chuyện của cái cây. Mình vẫn ứng dụng được, nhưng cái đó không phải là vấn đề trọng yếu mà Đức Phật muốn nói, Ngài nói là nói cái thân tâm của chính mình, tức là người tu chân chánh là phải nội quán tất cả sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức ở trong thân tâm.
Từ đâu mà sanh khởi ra khổ đau, và chấm dứt đau khổ từ đâu, đó mới là cốt lõi của giáo pháp. Cái gọi là thọ do thân xúc sanh này, xúc tưởng xúc tư, nói hết khóa học này vẫn chưa hết. Quý huynh đệ tự chiêm nghiệm, thiền quán. Một khi đụng chạm vô rồi, nó sanh một cảm giác rồi là gỡ hoài không ra, gỡ suốt đời không ra. Những hình bóng của sự đụng chạm đó, nó sanh khởi ra là ngồi thiền không được, suy nghĩ về những cái đó.
Lên núi một tháng rồi về nhà, khi quay trở lên núi tháng rưỡi, nửa tháng rồi lại chạy về… “thưa sư phụ, chuyến này là con lên luôn”, nhưng được sáu tháng rồi lại quay về. Đợt sau vô cạo đầu được tám tháng, lại quay về. “Tội nghiệp, ở nhà vợ khổ, con không ai lo.” Không biết là tội nghiệp ai, nó, hay mình? Những thứ đó nó vận hành bên trong, nhưng không có đủ binh khí, pháp khí, vũ khí để mà đánh đuổi. Trong đó là bát quái trận, mê hồn trận, mấy chục pháp.., mà mình không có vũ khí gì hết thì làm sao đánh đuổi. Biết còn không biết thì đừng nói là đánh đuổi.
Cho nên, thọ do thân xúc sanh, xúc tưởng xúc tư, hình bóng đó cứ ở bên trong, ám ảnh trong đó hoài, không đuổi hình bóng đó ra được,nên người ta mới nói, “làm sao giết được người trong mộng.” Đó là sắc tưởng. Nhưng trong đó mình phải hiểu còn có thanh tưởng, có mọi thứ hết. Không phải chỉ có hình bóng thôi. Có nhớ nói chuyện, có nhớ mùi hương không, có nhớ sự đụng chạm tiếp xúc không?
Một khi sanh khởi trong tâm là nó xáp lá cà, trùng trùng lớp lớp, tấn công, lúc đó là mình bấn loạn, không biết, không thấy gì cả. Mê hồn trận, bát quái trận, ngũ uẩn trận; sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ.., tấn công một lúc sáu chục pháp,mà lại ngồi đó ngơ ngáo, ngu, không biết gì hết thì sẽ vĩnh viễn muôn kiếp ở trong sanh tử, vô minh và tham ái, chấp thủ, đâu có đi ra được. Giặc mà không biết mặt, nhận nó làm bạn, làm con, thì nó giết chết hết.
Mình học điều này không chỉ lý thuyết suông, mà là thiền quán, thiền định, mình nhìn ra được. Ví dụ, tiếp xúc với món đồ đó, hay người đó, mình sanh khởi ra là mình thấy được liền nguyên cả một sự vận hành của duyên sanh pháp. Tuy rằng mình nhìn ra là sau rồi nhưng đỡ hơn là mình không biết, rồi từ từ mai mốt mình có thể chặn đầu, chặn giữa được, còn bây giờ mình chặn đuôi nó thôi. Tức là sau khi chuyện đó xảy ra rồi, bắt đầu mình ngồi quán lại, trình tự nó là như vậy, bây giờ mình sanh khởi ra cái tham ái này, mình sẽ quán Như lý tác ý, mình đánh nó, cả một cái pháp vận hành như vậy.
VI. Pháp – ý căn – ý thức
Cái này là cái khó nhất. Đã chia sẻ hết rồi, nhưng chắc chắn đã quên. Nếu mà người nào có thể lên trình bày lại được thì sẽ lãnh một bộ đại tạng kinh. Con thưa thật với đại chúng và các quý thầy, tu thiền bốn mươi năm chưa chắc gì thực hiện được điều này. Con tu được mười lăm năm, theo đường lối của thiền tông mà con không biết cái này, tới khi qua Nikāya mới biết. Mười lăm năm ngồi thiền mà không biết ý xúc là gì. Nếu không có một sự hướng dẫn chân chính, đúng pháp, là mình sẽ nhìn sai, loạn pháp, tức là trong thân tâm mình nhìn lẫn lộn tất cả mà mình không biết. Có ai xung phong? Nói đúng thì có thưởng, không đúng không sao, không có bị trừ. Điều này là chúng ta đã học hai buổi rồi.
Cái này cực kì thâm sâu. Ngồi thiền suốt đời nhưng nếu không học Nikäya và không có người hướng dẫn thì mình không biết. Minh Thành có hỏi các vị sư, đã học tới tiến sĩ, và các vị tu nhiều, thì cái này không nói rõ ràng ra được. Điều này là trong sự tu tập, mình được gặp các vị đã có sự thành tựu, họ sẽ giải thích thì mình mới có thể hiểu một cách tương đối rõ ràng. Nhìn ví dụ sẽ thấy rõ hơn. Bởi vì, khi nói tới ý là nó ở bên trong chứ không phải ở năm cái phía trước. Cái này đòi hỏi mình phải thiền, thiền mới có thể cảm nhận một cách sâu sắc,thường ngồi thiền sẽ có sự quay trở lại nội tâm, nội soi.
Con sẽ ví dụ những điều dễ hiểu, từ từ tới những cái sâu sắc để quý huynh đệ thấy. Ví dụ, mình đang ngồi đây, bỗng nhiên để ý tới xương sống của mình. Tự nhiên mình chú tâm để ý lại xương cùn, mình thấy nó mỏi, nhức, còn trước đó không để ý thì mình không thấy vậy. Khi mình để ý, hình bóng cái xương cùn, xương cụt của xương sống hiện ra, cảm nhận cảm giác nhức mỏi. Mình suy nghĩ, mình nói “không biết có bệnh gì không, phải về coi sao, hôm nay sao đau nhức, mọi hôm mình không thấy.” Lúc đó có sự rõ biết những cái này đang có mặt, đang diễn ra, rõ biết cái cảm giác đau nhức, có hình bóng cái xương cùn của xương sống, có sự suy nghĩ như vậy.
Cái cảm thọ đau, nhức mỏi càng ngày rõ ràng hơn; những hình bóng của xương sống, những cảm giác, những suy nghĩ đó tiếp tục hiện khởi trong tâm của mình, gọi là pháp tưởng, chữ “pháp” ở đây là thọ, tưởng, hành. Sau đó mình mới suy nghĩ về những vấn đề này, sau đó là suy nghĩ đi khám bệnh, uống thuốc, bác sĩ. Như vậy, chữ ý này mình hiểu nôm na là sự để ý. Ví dụ, tối cúp điện, cầm đèn pin soi hay đi vô chỗ quê không có đèn đường, đi lên núi, đi vô rừng, những chỗ xa xôi hẻo lánh.., mình cầm đèn pin, muốn nhìn chỗ nào thì mình đưa đèn pin soi vào ngay chỗ đó, thì chỗ đó sáng ra, cái chỗ mình muốn nhìn sẽ được phát sáng ra, soi rõ ra. Cái ý căn ở đây là sự để ý, là cầm đèn pin rọi vào vật đó, những sự vật hiện rõ ra là thọ tưởng hành, là sự nhận thức, rõ biết chỗ đó có vật gì, như thế nào, đó là ý thức.
Cho nên, mình không để ý thì sẽ không thấy tâm mình, không thấy hình bóng của người này hoài, vì không để ý nên mình không có phát hiện ra, nếu để ý thì mình nhận ra, tại sao lúc sáng lại có hình bóng của người này, lúc trưa cũng có hiện lên hình bóng của người này, lúc tối cũng có hình bóng người này? Khi để ý lại thì mình mới thấy có hình bóng đó, rồi cảm giác, suy nghĩ về nó, rồi ý thức rõ biết mình đang có cảm giác hình bóng, suy nghĩ về người đó. Khi những điều này hiện lên, ý thức mình soi vô được như ở phía trước có ổ gà, hay phía trước có con rắn, cục đá, vũng nước, vũng sình.., thì nó sẽ hiện ra thôi.
Mình phát hiện ra, tâm mình có luyến ái với món đồ, với con người đó, hay tâm mình có cái sân, bực bội với người đó nên cái mặt cứ hiện ra, mỗi lần hình bóng của người đó hiện ra là mình có cảm giác bực, mình suy nghĩ khó chịu, mình rõ biết được đang có những cảm giác khó chịu về người đó. Vì vậy mà nó cứ tiếp tục sanh khởi ra cảm thọ, sanh khởi ra những hình bóng, những suy nghĩ đó liên tục thì pháp tưởng, pháp tư cứ liên tục sanh khởi. Cho nên sự tu tập này mới đào thải được những hàng tồn kho, rác bẩn, cấu nhiễm trong tâm. Phải để ý, lắng sâu mới nhận ra được.
Có nhiều người nhận diện ngũ uẩn, nhắm mắt lại, hỏi trong tâm có gì không, “dạ, trong tâm không có gì hết.” Không phải, là không thấy. Cái tâm dao dộng, hướng ngoại nên không thấy rõ bên trong. Thường thường, mình muốn tu sâu sắc thì phải diệt tâm hướng ngoại. Tâm hướng ngoại còn nhiều thì tâm sẽ dao động, trạo cử, không thể nào định tĩnh để thấy được pháp ở bên trong. Ở bên trong này là cả một thế giới đạo tâm khủng khiếp, thọ tưởng hành hoạt động siêu tốc.
Bài kinh Đức Phật nói, có một người bắn mũi tên, một người kia nhảy lên chụp mũi tên, Đức Phật hỏi A-nan như vậy có nhanh không? “Dạ nhanh.” “Vậy có một người cùng một lúc, bắn bốn mũi tên bốn hướng, thì người kia nhảy lên chụp một lúc bốn mũi tên bốn hướng, nắm được bốn mũi tên thì như vậy có nhanh không?” Ngài A-nan nói người này rất nhanh.
Đức Phật nói cái nhanh này so với cái nhanh của những vị thiên thần, thần thông thì nó không là gì, nó gấp trăm ngàn lần như vậy. Đức Phật nói thêm vài ví dụ và cuối cùng Ngài dạy: cái nhanh của thọ, tưởng, hành còn nhanh siêu việt hơn cái nhanh của người chụp mũi tên.
Cho nên nội tâm của mình rất khủng khiếp, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác liên tục, liên tục nhưng mình không nhìn thấy. Nó kết nối với nhau như xem màn ảnh trên tivi, mình thấy rõ, có người đi, cười, nói, khóc, nhưng phóng lớn ra thì chỉ là những dấu chấm lớn, nhỏ đang di động thôi, chẳng có người nào cả. Hay là bức hình chụp, mình phóng lớn ra thì cuối cùng chỉ là những vết chấm.
VII. Khuyến tấn tu tập – Chánh niệm tỉnh giác
Cũng vậy, những thọ, tưởng, hành trong tâm mình rất khủng khiếp. Phải định, Thánh trí tuệ năm uẩn mới nhìn thấy được sự sanh diệt liên tục đó. Khi để ý lại mới thấy ở bên trong đang có những hình bóng, cảm giác, đang có những suy nghĩ gì, để ý, sâu lắng cái tâm xuống. Như hồ nước, gió thổi nước động, hay những đứa trẻ xuống nghịch lên thì mình đâu nhìn thấy gì. Nhưng nếu mình để yên, lắng trong, mình phải nhìn kỹ xuống thì nó sẽ hiện rõ ra chỗ nào có ốc, cá, chỗ nào có sỏi, đất, rác... Phải để ý vô bên trong.
Cho nên mới gọi là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Niệm thân là thường thường để ý oai nghi, cử chỉ, hơi thở, hành động. "Tỳ-kheo đang đi, tuệ tri đang đi; đứng, tuệ tri đang đứng; nằm, tuệ tri đang nằm; ngồi, tuệ tri đang ngồi; ôm bát, rõ biết; khoác Tăng-già-lê, rõ biết; co duỗi, cúi nhiếp, đại tiểu tiện, rõ biết." Luôn luôn rõ biết, không có cái nào không rõ biết. Để ý mấy điều đó mới chỉ là quán thân trên thân, còn quán thọ là để ý các cảm thọ vận hành như thế nào.
Sự chánh niệm tỉnh giác, Đức Phật đã giải thích thế nào? Mình học chánh niệm tỉnh giác là đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm, đó chỉ mới là lý lịch trích ngang, chưa đủ, chỉ biết trên thân. Còn tâm thì sao, sâu bên trong thì sao? Chánh niệm tỉnh giác đã giải thích rồi, không về đọc, bỏ tủ cất hết rồi. Về mở mục Chánh niệm tỉnh giác ra, có Chánh niệm tỉnh giác 1, Chánh niệm tỉnh giác 2, này là chính lời của Đức Phật dạy: trang 137-Chú tâm tỉnh giác; trang 138-Chánh niệm tỉnh giác 1; trang 140-Chánh niệm tỉnh giác 2 trong quyển Nghi thức tu học Nikāya. Bây giờ chú tâm tỉnh giác, đọc cho quý vị nghe ba đoạn trong kinh Không thể rơi xuống, Tăng Chi Bộ tập 1:
“Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo chú tâm cảnh giác?
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ban ngày đi kinh hành, hay trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh một, vị ấy đi kinh hành hay trong lúc ngồi tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh giữa, vị ấy nằm dáng nằm con sư tử bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến thức dậy lại. Ban đêm, canh cuối, vị ấy thức dậy đi kinh hành hay trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại.”
(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, 4. Chương Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, bài kinh Không thể rơi xuống)
Các pháp chướng ngại là gì? Ngũ cái, là năm triền cái: dục tham, sân, hôn trầm, trạo cử, và hoài nghi. Đó là tẩy sạch tâm khỏi các chướng ngại pháp. Tẩy được năm pháp này mới vô được sơ thiền, nếu năm cái này còn thì không vô sơ thiền. Và bây giờ, chánh niệm tỉnh giác:
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác? Đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các ông.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Tương Ưng Sáu Xứ, Phần IV, Chương II. Tương Ưng Thọ, bài kinh Tật bệnh)
Chỗ Minh Thành muốn nói với các vị, chánh niệm Tỉnh giác số 2, trang 140.
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda chánh niệm tỉnh giác. Đây, này các Tỷ-kheo, Nanda rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt; rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt; rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt. Này các Tỷ-kheo, đây là Nanda chánh niệm tỉnh giác.”
(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 8. Chương Tám Pháp, I. Phẩm Từ,
bài kinh Tôn giả Nanda)
Điều này cực kỳ thâm sâu. Tu học là tu học điều này, chứ không phải ở bên ngoài. Thế nào là chánh niệm tỉnh giác? Lúc nãy là chánh niệm tỉnh giác một, đi đứng ngồi nằm, nói, nín, động tịnh, đại tiểu tiện v.v.., là tỉnh giác, biết rõ. Nhưng, đó là ngoài thân, còn bây giờ là thọ tưởng hành, chữ tầm là hành, là tâm hướng về cái nào, nó si tầm về điều gì? Rõ biết khi các cảm giác khởi lên. Khi con mắt tiếp xúc với sắc, lỗ tai tiếp xúc với âm thanh, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với vị, thân đụng chạm, ý tiếp xúc với các pháp.., cảm giác sanh khởi lên, rõ biết: thọ này là thọ gì? Lạc thọ, hay khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ? Trong cảm thọ này có tham sân si hay không? Có thì phải như thế nào?
"Tỳ-kheo ban ngày đi kinh hành hay trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp." Có là tẩy sạch liền. Vậy thì mới đi tới chỗ tâm thanh tịnh. Còn ở đây, mình để đóng đen thùi, có biết gì đâu, nó khởi lên hay an trú cũng không biết, nó làm tùm lum cũng không biết. Đó là vô minh, là tham ái, chấp thủ. Mình không biết gì hết, vậy mà gọi là chánh niệm tỉnh giác, chỉ biết bên ngoài. Bây giờ nếu hỏi hôm nay Mỹ chết bao nhiêu, nhiễm bao nhiêu là biết liền, nhưng cái thọ, tưởng, hành trong tâm không biết.
Cái hướng ngoại nặng lắm, phải diệt được tâm này. Cảm giác sanh khởi lên là phải biết liền, cảm giác này là cảm giác gì? Có dục, có ái, có tham không; có sân, có bản ngã, có ta đây trong đây ko? Cảm giác này có hơn thua, cao thấp, ganh tỵ, nhân ngã hay không? Cảm giác này là thiện hay ác, hay bất thiện? Đó mới gọi là chánh niệm tỉnh giác của Đức Phật trong Tăng Chi Bộ tập 3.
Trong tâm mình sanh khởi hình bóng, hình bóng này khởi lên, an trú trong tâm mình, phải xem, nếu hình bóng này có dục, có ái, có tham sân si, bản ngã thì phải triệt tiêu ngay. Hình bóng này là ác, bất thiện pháp, hình bóng này là lậu hoặc, là tăng trưởng tham, sân, si, vô minh. Dập tắt, xóa sạch hình bóng này, phá sập, giải phá nó, đánh vỡ tan hình bóng đó thành hư không, mây khói, diệt tận nó.
Đó mới gọi là sự tinh tấn của Tỳ-kheo. Còn để hình bóng này xâm chiếm hết thân tâm của mình, làm cho say mê điên đảo, chạy đi tìm, thì còn gì nữa mà tu. Đi đâu cũng có hình bóng ngôi chùa ở trong tâm, “chùa của tôi, đẹp.” Cái sắc tưởng còn y nguyên, cái thân kiến còn dày đặc, cái tham ái, chấp thủ còn y nguyên thì tu cái gì? Đụng tới là sừng sộ lên. Cho nên, sự tu của mình còn ngoài da lắm, chỉ là mặc áo thôi, chứ chưa đi vào được bên trong, chưa vào được thọ tưởng hành của mình. Mình đợi nó phát ra khẩu hành, thân hành thì không kịp nữa.
Chữ tầm này sâu lắm. Rõ biết khi các tầm. Chữ tầm là tâm mình si tầm, nó hướng tới một cái gì đó, thì gọi đó là tầm. Cái này tế nhị hơn hành, nhưng mình tạm gọi là hành cho dễ hiểu. Ví dụ, mình đang ngồi học, nhưng có cái bóng nào đó đi ngang, mình thấy người đó quen, “chắc tìm mình, hay chút nữa sẽ gặp nói chuyện.” Thì, cái tâm mình, tuy rằng thân ngồi đây nhưng tâm hướng ra ngoài, đó là tầm. Hoặc, tuy đang ngồi một mình trong chùa, nhưng mình hướng về dưới quê, cứ nhớ và hiện ra những hình bóng, cảm giác suy nghĩ.., đó là tầm, là hướng tâm về chỗ đó. Tầm cầu, si tầm, hướng tâm. Khi nó sanh khởi, phải biết; khi nó có mặt và hiện hữu trong tâm, phải biết; và khi nó chấm dứt, mình phải biết. Như vậy gọi là chánh niệm tỉnh giác.
Đó là chỗ sâu mà Minh Thành đã giải thích cho quý huynh đệ thấy từ những ví dụ dễ hiểu, mình cầm cái cây đèn pin, rọi đến chỗ nào là chỗ đó hiện rõ ra, thì cầm cây đèn pin rọi. Ví dụ cho nó là ý căn, các pháp chỗ đó hiện ra là thọ tưởng, hành. Điều này là hoàn toàn phải nhớ, cái ý thức thọ, tưởng, hành. Ý thức là chỉ biết những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong, bên ngoài nó không biết gì hết. Khi mình chú trọng, phóng tâm ra ngoài, sắc, xúc.., thì quên ở bên trong, không để ý, gọi là hướng ngoại, bên trong thọ, tưởng, hành thì mình không biết.
Cho nên, nó hiện rõ như vậy thì lúc đó mình nhìn thấy,rõ biết, mình ý thức là đang có cảm giác suy nghĩ đó, đang có hình bóng ở trong đó; và tiếp tục sanh ra thọ tưởng hành, thọ do ý xúc sanh, nó sanh ra thọ tưởng hành. Những hình bóng hiện ra, suy nghĩ hiện ra..; tiếp tục cái thọ tưởng hành thứ hai, thứ ba, tư... tiếp tục. Đây gọi là ý xúc. Mình khổ với cái này nhiều nhất. Đi vô nhập thất không được, vào trong là nó quậy, bỏ được những điều bên ngoài để trốn vô trong, nhưng trốn không được, ý xúc, làm cho bể thất, xuống núi.
Cái ý xúc rất ghê gớm, khủng khiếp, ngồi một mình nhưng bên trong bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu cảm giác, suy nghĩ.. Sắc quá khứ, hiện tại, tương lai.., thắng, liệt, thô, tế, xa, gần.., tất cả các sắc, thọ quá khứ. Những cảm giác quá khứ hiện về, hình bóng, suy nghĩ quá khứ hiện về, rối nùi bên trong, vận hành bên trong, đánh sập bể thất, phá hạ. Ở một mình không được, buồn, bên trong thúc giục chạy đi kiếm ai nói chuyện, lấy điện thoại nhắn tin, đi đâu đó, chứ một mình thì chịu không nổi. Cái ý xúc này quậy ghê lắm!
Vậy là hôm nay chúng ta đã tìm hiểu về duyên sanh pháp. Nắm cho vững, ghi chép cho đầy đủ để sau này mình thi, chứ đi qua là không trở lại, ai còn thắc mắc về điều này thì kỳ sau đưa tờ giấy lên hỏi, chứ đã đi qua rồi là chấm dứt, khi qua một chuyên đề mới là không quay lại nữa./.