Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thánh Trí Năm Uẩn 23 - Làm Sao Trừ Chấp Thủ - Kêu Mạn - Dục - Tuỳ Miên Bản Ngã

2026-03-03 00:52:57
Tinh Hoa Nikāya

Thánh Trí Năm Uẩn 23

Làm Sao Trừ Chấp Thủ

Kêu Mạn - Dục - Tuỳ Miên Bản Ngã?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tôn kính sự hành trì PAGEREF _Toc139876121 \h 1

II. Năm uẩn vô ngã PAGEREF _Toc139876122 \h 3

III. Dư tàn trong năm uẩn PAGEREF _Toc139876123 \h 5

IV. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc139876124 \h 11

I. Tôn kính sự hành trì

Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe kể chuyện thời Đức Phật có liên hệ đến tôn giả Khemaka, cái này thuộc về Thánh trí năm uẩn.

"Một thời, nhiều Tỳ-kheo Trưởng lão sống ở Kosambi, tại vườn Ghosita.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Khemaka trú tại vườn Badarica, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

Rồi các Tỳ-kheo Trưởng lão, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy và gọi Tôn giả Dàsaka:

-- Hãy đến đây, này Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỳ-kheo Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỳ-kheo Khemaka: "Này Hiền giả Khemaka, các Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả, Hiền giả có kham nhẫn được không? Hiền giả có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?’"

-- Thưa vâng, chư Hiền" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)

Ngài Khemaka bị bệnh nặng, trọng bệnh thì có nhiều vị Tỳ-kheo trưởng lão đi đến chỗ một thầy Tỳ-kheo khác là tôn giả Dàsaka đi thăm bệnh ngài Khemaka. Trong kinh dùng từ khổ thọ tổn giảm không tăng trưởng là từ chuyên môn trong Hán Việt, dùng từ khổ thọ sẽ hay hơn là nói bệnh. Nếu mình nghĩ là mình bị bệnh nghĩa là có một cái "mình" đang bị bệnh cho nên lời kinh rất sâu sắc.

Câu hỏi "Có phải khổ thọ tổn giảm không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?" hàm chứa một chánh tri kiến trong đó, nó cũng nhắc nhở người đang bị bệnh. Các ngài đều là bậc hiền Thánh Tăng nên khi đọc bài kinh mình học được rất nhiều điều, bình thường lúc bệnh mình sẽ đồng hóa với cái bệnh. Cái ngài hỏi đang có khổ thọ thì khổ thọ này tổn giảm hay tăng trưởng, cảm giác khó chịu, đau đớn đó của thân là nhiều lên thêm hay giảm bớt chứ không hỏi rằng có bớt bệnh không, bệnh có nặng thêm không. Khi nói như vậy thì có khổ, có khó chịu thì cũng là cảm thọ, mình có tỉnh giác để thấy đang có cảm giác khổ không hay là mình bị đồng hóa "tôi đang bệnh nặng, tôi đau lắm, tôi chịu không nổi nữa".

Trong đạo tràng, trong huynh đệ từ xuất gia đến cư sĩ nếu đi thăm bệnh thì phải học thuộc câu này "Này Hiền giả, Hiền giả có kham nhẫn được không? Hiền giả có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?". Tất cả chúng ta khi học kinh phải hết sức cẩn thận vì mỗi một chữ trong bài kinh không phải bình thường, đây là của các bậc Thánh A-la-hán kết tập cho nên khi mình hiểu sai hoặc thêm bớt từ ngữ vào thì sai hết. Chính vì vậy con rất cẩn thận với chúng ta trong cái tu của những tư tưởng khác, mình phải hết sức cẩn thận và phải thưa hỏi thật kĩ, chỉ riêng việc thăm bệnh thôi mà từ ngữ đã như vậy, nếu chúng ta không có chánh kiến sâu sắc, không có sự sát sao trong cái thấy của mình thì đọc vào kinh rồi diễn sai hết, các bậc Thánh dùng chữ không thiếu cũng không thừa.

Chữ "ta bà" trong thế giới của mình được dịch ra là kham nhẫn, muốn sống trong đây thì phải cố gắng chịu đựng, người nào chịu đựng không nổi thì không muốn sống nữa. Khổ thọ có tăng hay giảm là chuyện của cảm thọ, còn mình có tỉnh giác chánh niệm để thấy nó là thọ không hay thấy mình đang bệnh, mình đang đau khổ. Nhiều khi mình bệnh một chút là mình bị cơn bệnh nhận chìm ngay, mình thấy có một cái mình đang bị bệnh, đang rất khó chịu, mình không thấy pháp, trong khi cái đó là thọ. Mình phải đối chiếu lại mình thì mới thấy pháp, còn nhìn ra ngoài nghĩ rằng đi thăm bệnh người ta chứ không liên quan gì mình thì không thấy được pháp cho nên trong mỗi việc đều phải quay lại mình thì mới thấy pháp.

Các chú khi lạy pháp bảo trong nhà mà đội nón là chưa đủ sức tôn kính với tam bảo. Khi lễ pháp bảo là mình đang bày tỏ lòng biết ơn tột cùng của mình đối với Đức Phật, đối với pháp, đối với Thánh chúng mà mình đội nón là không được. Trừ khi bị bệnh rất nặng còn ngoài ra khi vào đến các chùa ở Myanmar, Sri Lanka đều phải cởi bỏ tất vớ, giày, đầu trần, chân đất, tức là bày tỏ sự tôn kính đối với Đức Phật.

Trừ khi nào mình bệnh nặng phải đội nón mới được, những giờ khác có thể cho qua nhưng giờ lễ pháp bảo thì lúc đó đang trong nhà, đang vận động nên không đến nỗi, mình thấy như vậy mà mình thương Phật, mình kính Phật, kính các bậc Tỳ-kheo thời Đức Phật, các ngài không ở trong nhà mà ở ngoài bãi tha ma, ở ngoài bãi đất trống, ngoài nghĩa địa, ở ngoài đống rơm, không những thời Đức Phật mà thời cận đại cũng có các ngài như thiền sư Hư Vân, thiền sư Lai Quả cũng ở ngoài trời, có khi ngồi thiền sáng đêm trong núi rừng.

Chỉ riêng khía cạnh này thôi cũng đủ để mình học để giảm bớt sự nâng niu, tham ái đối với thân này, mình mới nhìn ra được cái thọ, nhiều khi bệnh chút là mất pháp, quên tâm, không thấy được năm uẩn. Sau đó ngài Khemaka trả lời các Tỳ-kheo trưởng lão:

"-- Tôi không có thể kham nhẫn, thưa Hiền giả... tôi không có thể chịu đựng... có những dấu hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)

Qua câu nói này chúng ta có thể thấy rằng ngài Khemaka bệnh rất nặng.

"Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến các Tỳ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, thưa với các Tỳ-kheo Trưởng lão:

-- Thưa chư Hiền, Tỳ-kheo Khemaka nói như sau: 'Tôi không có thể kham nhẫn, này Hiền giả... có những dấu hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!'

-- Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỳ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỳ-kheo Khemaka như sau: "Này Hiền giả Khemaka, các bậc Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở không?’"

-- Thưa vâng, chư Hiền" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)

Bây giờ không phải đơn giản chỉ đến thăm bệnh mà tới để nhắc nhở về pháp, các vị trưởng lão kêu ngài Dàsaka đi thăm bệnh lần nữa rồi nói Thế Tôn có nói đến năm thứ mà chúng sanh nắm giữ, nhóm đầu tiên chúng sanh nắm giữ là nhóm về tứ đại, hình hài, sắc thân này, các vật chất, nhóm thứ hai mà chúng sanh nắm giữ là các cảm giác, nhóm thứ ba chúng sanh nắm giữ là những dòng suy nghĩ, lời nói lầm thầm, nhóm thứ tư là những hình bóng trong tâm, nhóm thứ năm là nhận thức, rõ biết.

II. Năm uẩn vô ngã

Trong năm thứ chúng sanh nắm giữ thì tôn giả Khemaka có cho rằng có gì là tôi, là của tôi trong này không? Tôn giả có cho rằng hình hài này, thân xác này là mình, là của mình không? Tôn giả có cho rằng những cảm thọ này là mình, là của mình không? Tôn giả có cho rằng những hình bóng trong tâm là mình, là của mình không? Tôn giả có cho rằng những dòng suy nghĩ này là mình, là của mình không? Tôn giả có cho rằng cái thấy, nghe, hay biết này là mình, là của mình không?

"-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)

Vị Tỳ-kheo Khemaka đang bệnh nặng nói rằng ngài không cho bất kì cái nào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi, là của tôi

"-- Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỳ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỳ-kheo Khemaka như sau: 'Các vị Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với Hiền giả như sau: 'Hiền giả Khemaka, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn...thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, nếu Tôn giả Khemaka không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả, thời Tôn giả Khemaka là vị A-la-hán, các lậu hoặc đã được đoạn tận'

-- Thưa vâng, chư Hiền giả" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)

Ngài Dàsaka sau khi được Tăng sai đi đến nhắc nhở pháp cho người bị bệnh rồi quay về, sau đó các vị trưởng lão kêu ngài đi đến đó một lần nữa. Đến đây mình thấy cái pháp càng ngày càng tiến sâu, lúc đầu đi thăm bệnh thì hỏi cảm thọ khổ có bớt không hay nặng thêm, sau đó trở lại thì các vị Tỳ-kheo trưởng lão kêu quay lại hỏi tiếp trong năm thủ uẩn đó có xem nó là mình, là của mình không, ngài Khemaka nói ngài không xem những cái đó là mình, là của mình, sau đó ngài Dàsaka về nói lại như vậy thì các Tỳ-kheo trưởng lão kêu quay lại lần nữa nói rằng, nếu không xem năm thủ uẩn là mình, là của mình thì ngài Khemaka là bậc A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc.

"-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả. Nhưng tôi không phải là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Và thưa Hiền giả, trong năm thủ uẩn này, dầu cho tôi có chứng được: 'Tôi là', tuy vậy tôi cũng không quán: 'Cái này là tôi'" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)

Đoạn kinh trên có nghĩa rằng ngài Khemaka chưa sạch hết các lậu hoặc nhưng ngài vẫn thành tựu tri kiến của bậc Thánh, vẫn thấy năm thủ uẩn này không phải là mình, không phải của mình. Giống như bây giờ mình hiểu được đôi phần, mình thấy được cấu uế nhưng không phải cấu uế nào mình cũng bỏ được, đối với những tập khí, thói quen, tánh tình có cái mình chiến thắng, có cái mình bị nó quật ngã. Còn ở đây ngài Khemaka thành tựu chánh tri kiến như vậy nhưng chưa đoạn tận các lậu hoặc nên ngài nói mình chưa phải là bậc A-la-hán. Sau đó ngài Dàsaka trở về báo cáo lại cho các Tỳ-kheo trưởng lão thì các Tỳ-kheo trưởng lão bảo đi thăm bệnh lần nữa.

"-- Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỳ-kheo Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỳ-kheo Khemaka: Thưa Hiền giả Khemaka, các Tỳ-kheo Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: 'Tôi là', các Hiền giả nói 'Tôi là, là cái gì?' Hiền giả nói: 'Tôi là sắc?' Hiền giả nói: 'Tôi là khác sắc'?. ..; Hiền giả nói: 'Tôi là thức?'; Hiền giả nói: 'Tôi là khác thức?'. Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: 'Tôi là', các Hiền giả nói: 'Tôi là, là cái gì?'

-- Thưa vâng" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)

III. Dư tàn trong năm uẩn

Các Tỳ-kheo trưởng lão đang khảo sát, chất vấn ngài Khemaka khi ngài ấy nói rằng "tôi là" thì cái tôi là đó là hình hài này hay khác với hình hài này, nó là cảm giác hay khác với cảm giác, nó là tưởng hay khác với tưởng, nó là những dòng suy nghĩ, những lời nói lầm thầm hay khác với những lời nói lầm thầm, nó là thức hay khác với không phải là thức.

"-- Thôi vừa rồi, Hiền giả Dàsaka chạy qua, chạy lại như thế này để làm gì? Hãy đem gậy lại đây! Ta sẽ đi đến các Tỳ-kheo Trưởng lão!

Rồi Tôn giả Khemaka chống gậy đi đến các Tỳ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, nói lên với các Tỳ-kheo Trưởng lão những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

Các Tỳ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Khemaka đang ngồi một bên:

-- Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: 'Tôi là', cái mà Hiền giả nói: 'Tôi là', là cái gì? Hiền giả nói: 'Tôi là sắc?'; Hiền giả nói: 'Tôi là khác sắc"... "là thọ... là tưởng... là các hành'...; Hiền giả nói: 'Tôi là thức?'; Hiền giả nói: 'Tôi là khác thức?'; Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: 'Tôi là', cái mà Hiền giả nói 'Tôi là', là cái gì?

-- Thưa chư Hiền, tôi không nói: 'Tôi là sắc'. Tôi không nói: 'Tôi là khác sắc'... 'là thọ... là tưởng... là các hành'... Tôi không nói: 'Tôi là thức'. Tôi cũng không nói: 'Tôi là khác thức'. Dầu rằng, này các Hiền giả, Tôi có chứng được (tư tưởng): 'Tôi là', nhưng tôi không có quán: 'Cái này là tôi'.

Ví như, này chư Hiền, hương thơm của hoa sen xanh, hay hoa sen hồng, hay hoa trắng, nếu có người nói: 'Hương thuộc về lá hay thuộc về sắc, hay thuộc về nhụy hoa', nói như vậy có nói đúng không?

-- Thưa không, này Hiền giả.

-- Vậy chư Hiền, trả lời như thế nào là trả lời một cách đúng đắn?

Chư Hiền, hương là của hoa. Trả lời như vậy là trả lời một cách đúng đắn.

Dầu cho đối với vị Thánh đệ tử, này chư Hiền, năm hạ phần kiết sử đã được đoạn tận, nhưng vị ấy còn nghĩ: 'Ðối với năm thủ uẩn, vẫn còn dư tàn tế nhị'. Dư tàn kiêu mạn 'Tôi là', dư tàn dục 'Tôi là', dư tàn tùy miên 'Tôi là' chưa được vị ấy đoạn trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: 'Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ... Ðây là tưởng... Ðây là các hành... Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)

Năm hạ phần kiết sử đã được đoạn tận là Thánh quả thứ ba, bậc Bất Lai. Đầu tiên là thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, nếu phá được ba cái này là Sơ quả, hết tham, sân là bậc Bất Lai, còn hai cái đó muội lược, giảm bớt yếu ớt là Nhất Lai, trở lại nhân gian 2-3 đời. Thánh quả thứ nhất Thất Lai là trở lại 7 lần, Thánh quả thứ hai Nhất Lai là trở lại 1 lần, Thánh quả thứ ba Bất Lai là không còn trở lại nữa.

Dư tàn nghĩa là còn sót lại chút ít, giống như uống nước còn sót lại một chút nước trong ly. Đối với một vị đã sạch hết cả năm hạ phần kiết sử mà còn nói như vậy thì mình tu như thế nào? Học những cái này để chúng ta có nghị lực, có sức mạnh, có sự hướng thượng. Cũng như khi quét nhà, thấy là sạch hết rồi nhưng xem kĩ lại trong hốc kẹt vẫn còn xót lại chút bụi bẩn, thì đó là dư tàn.

"Vì rằng vị ấy sống, quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này, các dư tàn ngã mạn 'Tôi là', các dư tàn ngã dục 'Tôi là', các dư tàn ngã tùy miên 'Tôi là', mà vị ấy chưa được đoạn trừ, nay đi đến đoạn tận" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)

Đối với một vị đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử sẽ ở Tịnh Cư Thiên, là cảnh giới bất thối chuyển mà sau này người ta diễn ra thành thế giới không còn thối chuyển nữa, đó là cảnh giới của Bất Lai Thánh quả thứ ba, không trở lại thế giới này nữa, gọi là Thánh đệ tử thiên. Tịnh cư là cảnh giới của các bậc thanh tịnh cư trú, sau này người ta có câu "chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ" chính là cảnh giới Tịnh Cư Thiên, cảnh giới này là bất thối chuyển, không còn lùi lại nữa vì thân kiến đã phá, hoài nghi không còn, giới cấm thủ hết, tham sân cũng sạch, chỉ còn xót lại chút ít dư tàn nhưng rồi cũng từ từ diệt tận, qua đây chúng ta thấy năm thượng phần kiết sử là còn mạn, còn vô minh trong đó, sắc ái, vô sắc ái, trạo cử, còn sự dao động vi tế.

"Này chư Hiền, ví như một tấm vải nhớp nhúa dính bụi, những người chủ giao nó cho một người thợ giặt. Người thợ giặt sau khi nhồi nó, đập nó trong nước muối, hay trong nước tô đã, trong nước phân bò rồi giặt sạch nó trong nước trong. Dầu cho tấm vải ấy nay được sạch sẽ, trong trắng, nhưng nó vẫn còn dư tàn mùi muối hay mùi tô đã, hay mùi phân bò. Người thợ giặt giao lại tấm vải cho những người chủ. Những người chủ đem bỏ nó vào trong một cái hòm có ướp hương thơm. Như vậy, cái dư tàn mùi muối hay mùi tô đã hay mùi phân bò chưa được đoạn tận, nay được đoạn trừ" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)

Nếu mình giặt đồ trong nước không sạch thì khi đem đồ đi phơi sẽ có mùi của nước giặt còn lại. Ngày xưa người ta giặt đồ bằng muối, bằng tô đã, bằng phân bò, sau khi giặt rồi vẫn còn lại mùi của những thứ đó rồi đem tấm vải đó bỏ vào tủ có ướp hương thơm. Như vậy dư tàn của mùi hôi còn dính lại trong tấm vải đó sẽ hết hoàn toàn.

"Cũng vậy, này chư Hiền, dầu cho vị Thánh đệ tử đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, nhưng với vị ấy, cái dư tàn trong năm thủ uẩn, dư tàn ngã mạn 'Tôi là', dư tàn ngã dục 'Tôi là', dư tàn ngã tùy miên: 'Tôi là' chưa được đoạn trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: 'Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ... đây là tưởng... đây là các hành... đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt'. Vì rằng vị ấy sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này nên các dư tàn trong năm thủ uẩn này, ngã mạn 'Tôi là', ngã dục 'tôi là', ngã tùy miên 'Tôi là' chưa được đoạn tận nay đi đến đoạn trừ.

Khi được nói vậy, các Tỳ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Khemaka:

-- Không phải chúng tôi vì muốn phiền nhiễu Tôn giả Khemaka mà chúng tôi hỏi. Nhưng vì chúng tôi nghĩ rằng: 'Tôn giả Khemaka có thể giải đáp, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai triển, phân tích, hiển lộ một cách rộng rãi giáo lý của Thế Tôn'.

Và rồi Tôn giả Khemaka đã giải đáp, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai triển, phân tích, hiển lộ một cách rộng rãi giáo lý của Thế Tôn.

Tôn giả Khemaka thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo Trưởng lão hoan hỉ, tín thọ lời Tôn giả Khemaka giảng.

Trong khi lời dạy này được nói lên, khoảng sáu mươi Tỳ-kheo được tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, kể cả Tôn giả Khemaka" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, VII. Khemaka)

Mặc dù đang bệnh nặng nhưng khi nói đến pháp là ngài Khemaka đã chống gậy đi qua vì các ngài có khả năng nhiếp phục, chế ngự các cảm thọ, còn nếu là người bình thường sẽ nằm liệt gường liệt chiếu. Sau khi ngài giảng giải lời của Thế Tôn thì 60 vị Tỳ-kheo ở đó đã chứng đắc A-la-hán, bản thân ngài đang ở quả thứ ba cũng chứng đắc quả thứ tư. Vì thế con thường mời quý vị trình pháp vì có thể ngay lúc trình pháp là quý vị Nhập Lưu vì tâm mình trú vào pháp thường xuyên, lúc khai triển đến chín muồi thì chứng thôi. Chúng ta xem phim chỉ làm sanh ra tham, sân, si, bản ngã nhiều thêm, còn học kinh này là nhằm diệt những thứ đó.

Đối với bậc Thánh thứ ba thì dùng từ "dư tàn" nhưng với phàm phu thì không thể dùng từ "dư tàn" vì ngã mạn của mình rất khủng khiếp. Chính vì kiêu mạn 'tôi là' nên không học được Thánh pháp, không nghe lời dạy, bên trong là sự chống đối, đây là đại chướng ngại để thành tựu chánh kiến chính là kiêu mạn của bản ngã. Con thấy cái này rất nhiều, chính tự thân mình cũng vậy, phải cố gắng nhiếp phục rất nhiều nên ngày giờ này mới còn ở trong pháp này, còn nếu mình nghe theo lời xúi giục của cái kiêu mạn 'tôi là' đó thì mình sẽ văng khỏi dòng pháp này rất nhanh, mình không chấp nhận. Do dòng pháp này đánh thẳng vào những cái mình yêu thích, những cái mình tôn thờ, những cái mình nâng niu mà bị đánh trực diện nên không thể bước vào chánh pháp, cái kiêu mạn quá khủng khiếp nên không chịu cúi đầu, không chịu vâng lời.

Nếu không vào dòng pháp này, không thực hành thì người ta sẽ không hiểu "nùi giẻ là nùi giẻ, làm sao tu thành nùi giẻ được", chính cái này làm cho người ta không thể nhập được, cái Thánh trí tuệ bẻ gãy cái tôi này rồi đem những cái học thức, cái kiến thức của phàm phu, của kiến chấp, của định kiến, của những cái xưa bày nay làm rồi mình tưởng đó là hay, mình đem cái đó so sánh với Thánh pháp, so đo cao thấp, đúng sai, bước đầu đã bị cái kiêu mạn 'tôi là' hất mình ra khỏi dòng Thánh pháp diệt ngã, nếu có học thì cũng học chơi chơi, học chút chút ngoài da như cưỡi ngựa xem hoa, không đi sâu vào Thánh pháp được, vẫn mang những tư tưởng tà kiến. Thậm chí là đang ở trong đạo tràng nhưng lại không nhìn sâu vào cũng không nghe lời, mình không tuân thủ theo bậc đạo sư của mình, cái ngấm ngầm bên trong vẫn chống đối, những cái này phải nhận diện ngũ uẩn mới thấy được, nếu không là không thấy được.

Giai đoạn đầu chúng ta phải chịu khó rất nhiều, ai cũng phải như vậy, vì ngũ uẩn là tham ái, chấp thủ mà mình kêu nó từ bỏ thì làm sao không chống đối được, điều quan trọng là mình thấy được sự chống đối này, chống ở mức độ nào thì từ từ mình thuần hóa nó. Cái khó khăn nhất chính là kiêu mạn, bản ngã, kế đó khi nhiếp phục cái này tương đối, tập được tâm hiền thì mình có điều kiện đi vào dòng Thánh này, còn hai cái này không làm được thì không thể nào đi vào dòng pháp này được. Những vị mới về tu học con ít nói gì vì con muốn để cho những cái đó mòn từ từ, chừng nào họ cảm nhận pháp thì lúc đó mình nói, giống như Ấn Hòa ngày xưa và Ấn Hòa ngày nay khác nhau rất nhiều, đó là cả một cuộc chiến đấu nội tâm, đã qua được bước 1 nhưng còn bước 2, bước 3, bước 4,… Với bất cứ ai ngay cả với bản thân con khi vào dòng pháp này là một cuộc nội chiến cam go và đầy chông gai, cay đắng và thử thách, lúc nào cũng ở trên trận tuyến, chỉ cần sơ hở chút là cái kiêu mạn này sẽ bẻ gãy mình ngay.

Dù cho thân ở trong chùa nhưng tâm lại không chấp nhận pháp hoặc chỉ chấp nhận 50-60% thôi, 40% còn lại nó sẽ giết mình, có cơ hội nó trồi lên là văng khỏi dòng pháp. Cho nên 99% cũng vẫn còn trong phạm trù hiểm nguy chứ đừng nói gì 70-80%, cho đến khi nào tuyệt đối 100% thì lúc đó mới bảo đảm, đó là lý do con không ngừng lại mà con muốn tăng thượng thêm nữa. Nếu để im thì còn trụ được nhưng chỉ điểm vài cái vào bản ngã là văng khỏi dòng pháp ngay, hoặc là điểm vào dục ái thì cũng văng liền, những cái khó chịu ập đến là sân lên ngay, bực bội ngay, đó là dư tàn dục.

Cái tùy miên này rất ghê gớm, cái 'tôi là' đó đi theo mình miên man, "biết tôi là ai không", "biết tôi ở đây bao lâu không", lúc nào cũng là "tôi", dép của tôi, áo của tôi, áo của tôi, y của tôi, gường của tôi, phòng của tôi, mắt của tôi, tai của tôi, đi sâu nữa là cảm giác của tôi, suy nghĩ của tôi, nhận thức của tôi, mình không nhận diện được nó mà mình dính chặt với nó. Sáu căn – sáu trần – sáu thức – sáu tưởng – sáu tư – sáu tầm – sáu tứ, 60 pháp vận hành trong tích tắc, nếu mình tha thiết đi tu, mình thao thức, mình trăn trở, mình chăm chăm nhìn vào thân tâm thì không có thời gian, còn người cứ nhìn ra người khác để phân tích, chỉ trích thì làm sao tu hành.

Kêu lên núi tu học nhưng lại xuống núi đi tìm bằng cấp chứ không chịu tu, đó là cái dục dẫn mình đi. Bây giờ làm sao để đoạn trừ những cái này? Phải quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn, cái đơn giản nhất là sắc thủ uẩn, bộ xương này, đống tro này, một đống bầy nhầy này, ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn của một tử thi. Những con ếch, con kiến đó nhà ở đâu, học tới đâu, bằng cấp gì, ai ghi giấy cầu siêu cho nó, ai làm tiểu tường, đại tường cho nó, sao mình không bỏ hết tất cả để cầu chứng đắc trí huệ này đi, mình hãy xem mình giống như con kiến đó, con bướm, con ếch đó. Mình chẳng là gì trên cuộc đời này cả, ngay cả những người nổi tiếng nhất hành tinh này cũng chả là gì trên cuộc đời này cả, 50-60 năm sau hoặc thậm chí ít hơn nữa không còn ai biết đến họ.

Chỉ mới quán một phần sắc uẩn thôi đã thấy thấm thía rồi, ai làm đám ma cho con kiến, ai làm tuần thất cho nó, ai làm đám giỗ cho nó, ai rải tro cốt cho nó, ai khóc cho nó, ai để tang cho nó, những con kiến mà mình đi ra đi vào đạp biết bao nhiêu con, thậm chí là những con chết trong ly nước, ai viết giấy khai tử cho nó, mình đã từng vô lượng lần như vậy rồi và mình sẽ như vậy. Sanh diệt trí trong năm thủ uẩn là tuyệt đối quan trọng, đây là thọ, thọ tập khởi, thọ đoạn diệt, đây là tưởng, tưởng tập khởi, tưởng đoạn diệt, đây là hành, hành tập khởi, hành đoạn diệt, đây là thức, thức tập khởi, thức đoạn diệt. Phải biết được nhân duyên sanh diệt của năm thủ uẩn thì mới quán được, do duyên xúc nên mới có ra những cảm thọ này, những cảm thọ này là vô thường, không có hoan hỉ, không có đắm trước. Trong đó phần sắc uẩn là phần quan trọng, phải phá được nó thì kiêu mạn 'tôi là' mới được lắng dịu, giảm bớt.

Lúc nào cũng là tôi, tôi đi con đường riêng, không cần theo bậc đạo sư, không cần theo thầy gì cả, không cần theo huynh đệ gì cả, đó là kiêu mạn 'tôi là' rất lớn. Cái này có rất nhiều nên ngày nay mới có ra nhiều kiểu tu hành, không đi theo Thánh đạo của Đức Phật, tự mình lập đường lối riêng, đó là nguyên nhân mà Đức Phật nói khi người ngu xuất hiện làm cho chánh pháp biến mất, khi vàng giả xuất hiện thì làm cho vàng thật biến mất, khi tượng pháp xuất hiện thì Thánh pháp biến mất. Khi người ngu xuất hiện làm nhiễu loạn chánh pháp thì chánh pháp sẽ mai một và biến mất vì lời chân thật của Đức Phật không còn, người ta không còn chấp nhận nữa. Muốn phá được kiêu mạn 'tôi là', cái dục 'tôi là', tùy miên 'tôi là' thì phải quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn.

Đối với mình thì không dùng "dư tàn" được vì cái ngã của mình rất lớn, mình được chỉ dạy có khi mình sân hận, bực bội rồi chống đối. Mình phải nhìn ra được những cái này rồi diệt tận nó, con ngày xưa giữa chúng hội hàng trăm người mà con vẫn quỳ lạy bậc đạo sư là vị cư sĩ, khóc chấn động cả núi đồi, vậy mà tối đó con bị rầy "đừng tưởng lạy như vậy là xong", "đừng tưởng lạy như vậy là giỏi, là tu hay" nhưng tâm con cũng hiền, cũng nghe lời thì mới có ngày hôm nay, nếu lúc đó nghe theo lời của bản ngã ác độc này thì con không ngồi đây, cũng không có đạo tràng Nikāya trên Linh Quy Pháp Ấn. Mình phải chửi bản ngã này là đồ súc sanh, khi nó sanh khởi lên là mình nhìn thẳng vào nó và nói "mày là đồ súc sanh, thú vậy", mình phải cưa sừng của nó, bắt nó cúi xuống thì mới có cơ hội vào dòng pháp này, nếu không thì đừng mong gì cả, tu gieo duyên chơi thôi. Một ngày mình phải dùng từ "súc sanh" 100 lần cho những lần dục, bản ngã, hơn thua sanh khởi lên, cứ quay về nội tâm để chửi nó.

IV. Khuyến tấn tu tập

Cái đống khổ to lớn này, cái đống ác độc này mà mình không thẳng tay, không có sức mạnh tinh tấn lực, oai thần lực, trí tuệ lực thì mình chết dài dài, chết mãi mãi. Mình phải dùng những từ ngữ mạnh nhất để tác ý thường xuyên để dập nó, từ từ nó lắng dịu xuống thì mình đỡ lắm, mình sẽ nhẹ khỏe nhưng giai đoạn đầu là giai đoạn quyết định, nếu không mình sẽ văng mất. Giai đoạn đầu mình dồn hết sức lực dập nó tan tành, tan nát thì sau này mình khỏe cho nên cái ác độc nhất chính là kiêu mạn 'tôi là', bây giờ mình phải dạy cái bản ngã, cái bản ngã này giết hết tất cả chúng sanh, nó chết thì mình mới sống. Nếu cái bản ngã này còn hoạt động, còn cao ngạo, còn ngông nghênh thì mình còn chết với nó, đây là điều quyết định tuyệt đối cho người tu kinh Nikāya, nếu không có cái này thì đừng mong vào được Thánh pháp, có được cái này thì các lậu hoặc, ngã mạn 'tôi là', ngã dục 'tôi là', ngã tùy miên 'tôi là' sẽ được đoạn trừ.

Hãy duy trì cảm thọ này, thao thức và trăn trở, ưu tư và lo nghĩ về sự nguy hiểm, tác hại của bản ngã này, thường xuyên để tâm, để ý nhắc nhở làm cho cảm thọ này cúi đầu, quỳ mọp, quỳ lạy bất cứ một ai một cách ngọt ngào, dễ dàng. Hãy quán hình ảnh con kiến bị đạp chết dưới chân mình, quán hình ảnh hàng trăm con kiến chết trong tô cơm của mình, "ta chẳng là ai ở trên đời, chẳng là cái gì cả", 50 năm sau không còn ai biết đến mình như mình chưa từng có mặt trên cuộc đời này, 100 năm sau là những cái mả lạng người ta đạp lên đi qua mà không biết có bộ xương nằm dưới đó.

Tất cả rồi cũng trở thành hư không, cát bụi, hãy dẹp tất cả những ý niệm hơn thua, ta tôi, được mất, đúng sai, đặt hết tất cả tấm lòng của mình vào trong Thánh pháp để thành tựu Thánh trí tuệ tối thượng này, đó mới là sự tối thượng, thù thắng, hy hữu cùng tột của đời sống này, đó mới là người thông minh, người thấu hiểu, người bất khả chiến bại trên cuộc đời này, tức là người thể nhập được Thánh trí tuệ này, người có thể đạp lên tất cả sự vô thường, mong manh này để bước đi, người có thể vượt ra tất cả những ảo mộng này để tỉnh giấc, người có thể quăng bỏ hết tất cả những ảo ảnh để sống với sự thật của khổ đau, người có thể từ bỏ hết tất cả những thứ sớm muộn cũng phải từ bỏ để sống với sự tự do, không hệ lụy với tất cả mọi thứ trên cuộc đời này, nuôi dưỡng cho mình tâm thái bất cứ lúc nào mình cũng có thể chết, mình chẳng là ai cả, chẳng có gì là mình cả.

Hãy luôn an trú được cái tâm lúc nào cũng cúi đầu xuống, khom người xuống, lạy mọp xuống, đầu mình chạm tới nùi giẻ rách và cuối cùng cái đầu này cũng rã ra, cái nùi giẻ rách cũng rã ra hòa với cát bụi, bay vào hư không, cuối cùng là trống rỗng.

Bản chất cuộc đời là trống rỗng,

Bản chất cuộc đời là trống không,

Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,

Dễ dàng tan biến vào hư không.

Hãy tập cho mình cái tâm thoát ly, viễn ly mạnh mẽ có thể từ bỏ được mọi thứ trên đời này, thậm chí là tấm thân này. Hãy an trú vào pháp, tôn kính pháp, tôn trọng pháp, y cứ pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm tối thắng, tối thượng, tối cao, càng an trú vào pháp nhiều chừng nào thì càng tốt chừng nấy, mọi công việc ở chùa sẽ có người khác lo, hãy dành thật nhiều thời gian ngồi thiền, thật nhiều thời gian quán chiếu, thiền quán, nhiều thời gian pháp đàm, nghe pháp. Hãy toàn tâm toàn ý vào trong Thánh pháp này để rồi một ngày kia khi tai nạn ập đến, cái bệnh bất chợt xảy ra, kết thúc sinh mạng này trong bất ngờ thì mình sẽ được điềm nhiên bất động, mình không dao động vì mình đã thấy được sự thật, đã học sự thật, đã chiêm nghiệm sự thật.

Hãy sống trong sự thật, hãy chứng ngộ sự thật thì mình sẽ không hối hận, khi kết thúc cuộc đời này mình sẽ không tuôn trào những dòng nước mắt hối hận. Chúng ta sẽ mỉm cười, sẽ hài lòng với chính mình, bằng lòng với kiếp sống này vì mình đã đánh đổi bằng sinh mạng, bằng trái tim rực lửa, nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn.

Con mong rằng từ ngày hôm nay sẽ trở thành khóa tu, ngày hôm nay hãy tu tập giống như khóa tu vì không còn kịp nữa. Bậc đạo sư bất cứ lúc nào cũng có thể ra đi, trên vai con chưa chắc gánh nổi đại pháp này, nếu không có người tiếp nối chánh pháp này sẽ chấm dứt, thế giới sẽ chìm vào bóng đêm, sẽ quờ quạng trong vô minh, trong si ám. Mỗi một thành viên trong đạo tràng không chịu dốc hết toàn lực thì mình sẽ trở thành người tối hậu trong pháp này, người sau cùng diệt tận giáo pháp này. Phải đem tất cả thời gian, sinh mạng, tâm lực, nguyện lực, hạnh lực, trí lực, sức lực của mình để chứng ngộ pháp, chứng đạt pháp, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, chứng đạt những gì chưa chứng đạt, những việc cần làm mà chưa làm xong thì phải làm cho cùng tận khả năng của mình.

Chúng ta không còn bao nhiêu thời gian nữa, con từng ngày sống trong sự chết, chưa có một ngày nào con không nhớ về cái chết, nhiều lần trong một ngày con thấy sự nguy hiểm, tai họa. Con thấy hết sức là bất an, trong tích tắc chúng ta có thể sang đời khác, không biết có còn trong dòng pháp này nữa không, trừ khi nào chúng ta Nhập Lưu nếu không chúng ta sẽ ra đi trong mê loạn, trong hoảng loạn. Khi mình chưa chứng đạt được cái pháp này thì làm sao có thể nhởn nhơ? Làm sao mình có thể thả trôi, buông xuôi được? Mình có nhớ mẹ nhớ cha không? Mẹ con mất rồi, cha cũng sắp sửa ra đi, các cô ai cũng bệnh nhiều, bệnh nặng, nhìn rộng ra cuộc đời này thì thế giới chìm trong khói lửa, mầm móng của chiến tranh ở khắp mọi nơi, đầy những biến động, thiên hạ đại loạn, ác pháp hưng thịnh sung mãn hoành hành thế gian, mình được tạm an trong những giây phút này, có được Thánh pháp mà không chịu dốc toàn lực tu tập thì có đáng trách không, có đáng thương không, có đáng tội nghiệp không, có đáng đau lòng không. Đừng quan trọng hoàn cảnh ở bên ngoài, lạnh nóng, mệt khỏe, hãy dồn hết tâm lực vào pháp thì mình sẽ có niềm phúc lạc vô biên, tối thượng.

Mình hãy chịu khó giai đoạn đầu, sau này vững chắc rồi thì sống chết hay ở bất cứ nơi đâu mình cũng sẽ được bình an, phải kiên trì, phải bền chí, phải nắm chặt, giữ kĩ sự hành trì này. Phải tìm những các thức để tự thân mình an trú vào pháp và để mọi người an trú vào pháp, đừng có thụ động, đừng có đơ đơ, trơ trơ ra, tới giờ mới tu còn chưa tới giờ thì chưa tu, chừng nào tới khóa tu mới tu. Phải biết thương mình thật nhiều, phải biết lo cho mình thật nhiều, mình đã lớn khôn rồi, trưởng thành rồi, đừng như con nít kêu mới tu, mở khóa tu mới tu, thậm chí kêu tu còn không muốn. Mình phải tu giống như lửa đang cháy trên khăn quấn đầu, cháy trên nón mình đang đội, cháy trên mái tóc của mình, mình tu giống như không còn thời gian nữa, mình tu giống như một chút nữa mình sẽ chết, ngài mai mình sẽ chết, mình sẽ kết thúc sinh mạng này. Mình phải đặt mục tiêu từ đây cho tới cuối năm phải Nhập Lưu, mình đưa ra nhiều phương pháp tác chiến, chiến thuật, dồn hết tâm sức vào. Tại sao người ta làm công trình 5 tháng, 7 tháng, 3 năm xong mà mình tu đến giờ là 10 năm vẫn không biết tới đâu? Mình còn thua những người đi làm ngoài đời, phải quy định bắt buộc thành tựu những pháp gì trong một thời gian, mình không tu một cách thời ơ, buông xuôi được.

Mình phải thành tựu những gì cần thành tựu, ví dụ tâm hiền là phải thành tựu trong vòng 3 tháng, 6 tháng hoặc 1 năm, nhiếp phục bản ngã, nhiếp phục dục, diệt tận tâm hướng ngoại phải thành tựu trong vòng 2 năm, phải đưa ra phương pháp tác chiến như vậy rồi phải làm cho được, còn không mình như chiếc xuồng thả trôi theo lục bình, nước lên thì chảy lên, nước xuống thì chảy xuống. Phải quyết tâm bằng tất cả tấm lòng rồi mình sẽ thấy những thành quả, hiệu quả, những thành tích, những thành công mà mình vĩnh viễn không bao giờ mất trong Thánh trí huệ này.

./.