Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm - Tại Sao Ngồi Thiền Mở Mắt - Làm Sao Nhận Diện Tưởng - Thức & Trí Khác Nhau Thế Nào

2026-03-03 00:52:57
Pháp Đàm Nikāya

Tại Sao Ngồi Thiền Mở Mắt?

Làm Sao Nhận Diện Tưởng?

Thức & Trí Khác Nhau Thế Nào?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện tưởng PAGEREF _Toc139301210 \h 1

II. Tại sao ngồi thiền mở mắt PAGEREF _Toc139301211 \h 3

III. Thể nhập Thánh Trí PAGEREF _Toc139301212 \h 6

I. Nhận diện tưởng

Sư Phụ: Tối nay chúng ta có chương trình soi sáng để quý vị có những gì chưa hiểu trong pháp học và pháp hành kinh tạng Nikāya thì có thể nêu lên, quý thầy, quý Ni sư sẽ giúp cho quý vị sáng tỏ những nghi vấn, chưa hiểu trong pháp học và pháp hành.

Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, kính bạch các thầy và các sư cô cùng đại chúng. Con xin phép có câu hỏi và cũng xin sư phụ, các quý thầy, quý Ni sư cùng đại chúng chia sẻ giúp con. Trong những giờ thiền tập thì con cố gắng để nhận thức được ngũ uẩn nhưng nhiều lần con chỉ nhận thức được thọ và hành, không thể nhận rõ được tưởng. Chiều nay Ni sư nói với con là do tâm con chưa đủ lặng cho nên cái tưởng chưa lộ ra, con xin phép sư phụ, quý thầy, quý Ni sư chia sẻ kinh nghiệm tu tập như thế nào để biết cái tưởng.

Sư Phụ: Cô nhắm mắt lại nhớ lại sáng nay đi khất thực, nhớ lại trưa nay đi khất thực. Cô có thấy hình bóng gì không?

Phật tử 1: Bạch sư phụ, con thấy rõ được là từ lúc con mang bình bát theo các Ni sư và các đồng đạo ra nhà bếp lấy thức ăn, sau đó đi ra gốc cây ngồi xuống cùng với Tăng đoàn, được thầy cho nghe pháp, nghe chia sẻ của các quý Ni sư và sư thầy trong Tăng đoàn.

Sư Phụ: Hình bóng đó là gì vậy cô?

Phật tử 1: Hình bóng đó là tưởng ạ.

Sư Phụ: Cô nhớ lại sáng này ngồi trên Quán Chiếu Đường xung quanh đống lửa. Cô thấy được hình ảnh gì?

Phật tử 1: Bạch sư phụ, con thấy được Tăng đoàn ngồi vòng tròn quanh bếp lửa cháy và cùng nhau đón ánh mặt trời lên ạ.

Sư Phụ: Hình bóng trong tâm đó là cái gì vậy cô?

Phật tử 1: Dạ, là tưởng ạ.

Sư Phụ: Cô vẫn nhắm mắt lại, ngay hiện giờ cô xem kĩ trong tâm đang có hình bóng gì?

Phật tử 1: Bạch thầy, con thấy hình bóng sư phụ đang ngồi trên bàn.

Sư Phụ: Còn gì nữa không?

Phật tử 1: Các hình bóng từ nãy đến giờ khi sư cô nhắc đến ạ.

Sư Phụ: Hình bóng Minh Thành đang ngồi phía trên này trong tâm cô đó là gì ạ?

Phật tử 1: Bạch sư phụ, đó là tưởng ạ.

Sư Phụ: Vậy cô rõ tưởng chưa?

Phật tử 1: Dạ, con rõ tưởng nhưng trong thời gian thiền tập cái con cảm thọ được là thân con có đau, hành con nói "đau nhưng cố gắng lên" nhưng con lại không tìm được cái tưởng trong thời điểm ấy, trong các thời thiền định thì con hơi khó việc đấy ạ.

Sư Phụ: Khi cô ngồi thì chân nào đau? Cô đau chỗ nào

Phật tử 1: Con đau ở khủy chân, là nơi giao giữa bàn chân và ống chân ạ.

Sư Phụ: Khi cô nói như vậy thì cô có thấy hình bóng gì không?

Phật tử 1: Dạ, vâng con thấy hình bóng cái chân của con.

Sư Phụ: Hình bóng cái chân đó là gì?

Phật tử 1: Bạch sư phụ, đó là tưởng ạ.

Sư Phụ: Đó là tưởng, không có gì khó cả. Tại vì mình không để ý vào trong, cô thấy rõ rồi phải không?

Phật tử 1: Dạ, vâng ạ.

Sư Phụ: Cô còn thắc mắc cái gì về tưởng nữa không?

Phật tử 1: Dạ, con rõ biết rồi ạ, con cảm ơn sư phụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Khi tu nhận diện ngũ uẩn, mình nhìn vào trong thì dễ nhận biết, còn người hướng ngoại nhiều sẽ khó nhận diện ngũ uẩn, chỉ cần để ý vào trong là thấy rõ hết thôi. Ví dụ mình đau xương sống khi đang ngồi thiền, hoặc đau lưng, đau vai thì mình có cảm giác đau nhưng do mình không để ý, con mắt nhìn ra ngoài nên không thấy, nếu để ý thật kĩ thì hình bóng của những chỗ đau sẽ hiện ra lờ mờ. Bình thường cái thọ; tưởng; hành sẽ dính chặt với nhau, vì nó quá quen thuộc, nó gần gũi nên mình không để ý chứ không phải là khó.

II. Tại sao ngồi thiền mở mắt

Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ cùng quý thầy, quý cô và tất cả đại chúng. Con có một thắc mắc xin sư phụ, quý thầy, quý sư cô giải đáp giúp con, khi ngồi thiền con hay bị ngủ gục, khi nhắm mắt thì con ý thức toàn thân mới cảm được, còn khi mở mắt giống như không tập trung. Xin sư phụ chỉ dạy cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Con đi ngang có thấy cô ngồi thiền nhắm mắt, cái này là cái bệnh chung của người mới đi vào dòng pháp Nikāya, con có chia sẻ nhiều bài về vấn đề này. Ở đây chỉ nói ý chính, mình nhắm mắt quen rồi vì nó làm cho mình dễ chịu, nó làm cho mình thấy có vẻ như mình tập trung nhưng không phải vậy, nhắm mắt làm mình rơi vào trạng thái lờ mờ, si mê, rơi vào trạng thái tưởng, nhiều hình bóng xuất hiện và rơi vào trạng thái hôn trầm cho nên tượng Đức Phật sẽ là mở mắt ½ hoặc 1/3 còn ai làm tượng Đức Phật nhắm hẳn mắt lại thì có hai trường hợp, một là làm không đúng và hai là những khi Đức Phật nhập đại định, bình thường những khi ngồi thiền Đức Phật sẽ mở mắt nhìn xuống 1/3 hoặc 1/2 . Tượng Đức Phật nhắm hẳn mắt thì một là làm sai, hai là đó những khi Đức Phật nhập đại định cho nên mình không nhắm mắt, khi nhắm thì tâm sẽ mờ tối, con hay nói ngồi thiền để tỉnh nhưng đằng này ngồi thiền còn mê hơn cả khi tỉnh ở bên ngoài vì khi mình nhắm lại là mình mê lắm nhất là buổi sáng nữa.

Con thường cho thiền quán buổi sáng vang dội trong giảng đường để tỉnh táo vậy mà vẫn ngồi ngủ như thường, huống hồ gì để ngồi yên thì hơn phân nữa người ở đây sẽ ngủ. Ngày xưa con ở trong thiền viện, vào lúc 3h sáng lên ngồi thiền giống như sóng biển trong thiền viện vì ngồi theo từng hàng mà đầu người cứ gật gù lên xuống vì ngủ gục như sóng biển dập dìu. Con không thích ngủ gục trong khi thiền, nó là kẻ thù, một là không ngồi, còn ngồi là không ngủ thì mới ngồi, con lấy dầu xanh chấm vào mắt. Vào năm 1994 ở Đà Lạt rất lạnh, buồn ngủ mãi không biết làm thế nào vì 10h khuya ngủ nhưng 3h sáng phải dậy trong khi mình còn nhỏ, đang trong tuổi ăn tuổi ngủ, lúc đó mới 19 tuổi, con lấy ca nước lạnh và cái khăn theo lau mặt mà cũng ngủ, sau đó lấy dầu xanh chấm vô mắt, từ từ cũng trị được con ma hôn trầm.

Giờ thiền phải là giờ tỉnh táo nhưng mình vào ngồi mà nhắm mắt thì lại mê hơn cả giờ không thiền, giờ nghe pháp mở mắt tỉnh táo nhưng khi vào thiền mà nhắm mắt thì không tỉnh bằng lúc không ngồi, như vậy đó là thiền si, thiền mê, thiền mù, thiền vô minh. Khi ngồi nhắm lại thì tâm bị mờ tối, dễ đi vào trạng thái si, hoặc là lạc qua tưởng hiện lên hết hình bóng này đến hình bóng kia và thứ ba là đi vào hôn trầm cho nên quyết định phải mở mắt, những khi buồn ngủ phải mở mắt to hơn nữa phóng tầm nhìn hết mức ra tận cùng có thể. Khi mình nhắm mắt thì rất dễ chịu để ngủ, để si si, dại dại, mê mê, bây giờ mình bắt mở mắt thì cảm thấy mỏi mắt hoặc là bị lóa mắt, hoặc là thấy giống như không được tập trung nhưng không phải vậy, khi vượt qua được những cái này thì mức độ tỉnh sáng của mình rất tinh anh.

Khi ngồi thiền mà mở mắt thì căn – trần – thức đều chánh niệm tỉnh giác. Căn là con mắt mình sáng tỏ, trần là cảnh trước mặt rõ ràng, thức là cái thấy của mình được trong trẻo cho nên khi mở mắt thì căn – trần – thức đều tỉnh sáng, đều tinh anh cho nên đó là ý nghĩa của việc ngồi thiền mở mắt. Phải cố gắng, lúc đó thì khó nhưng sau này khi quen rồi mình sẽ thích, mình không bao giờ muốn ngồi nhắm mắt nữa.

Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ cùng quý thầy, quý cô và tất cả đại chúng. Con có hai thắc mắc, thứ nhất là khi sư phụ nói ngồi thiền mở mắt thì ban đầu con mở mắt, nó giúp con không bị hôn trầm nhưng khi ngồi 1 khoảng thời gian thì con lại không còn cảm giác được cơ thể, lúc đó con mắt con tự nhiên nhắm lại. Khi con mở thì không vô được trạng thái gọi là định vì định là không nhận biết mình đang ngồi ở đó, không cảm giác được cơ thể.

Câu hỏi thứ hai của con là con xin sư phụ giải thích thêm là trong quá trình nhận diện ngũ uẩn thì mình có hướng đến người nhận diện ngũ uẩn hay không, hay là mình chỉ luẩn quẩn trong ngũ uẩn? Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Khi mình không còn biết cảm giác toàn thân thì tự nhiên con mắt mình nhắm xuống thì lúc đó đi vào trạng thái của si, là hôn trầm. Trầm là chìm, hôn là mờ tối, hôn trầm là chìm vào chỗ mờ tối. Cái tâm mình tỉnh táo, sáng suốt thì phải biết đang có cảm giác gì, còn nếu không biết được cảm giác gì thì lúc đó không tỉnh, lúc đó đang mê, chính vì mê trong tâm nên căn cũng bị ảnh hưởng theo, con mắt cũng bị sụp xuống. Còn trạng thái của định là định tĩnh, trong sáng, mình biết nhẹ nhàng trong cảm thọ chứ không phải là mình không biết cảm giác nữa, con mắt sụp xuống, đó là trạng thái của hôn trầm, trạng thái của si, không phải là trạng thái của định. Trạng thái khinh an là mình phải rõ biết đây là một cảm thọ nhẹ nhàng, dễ chịu, rất khinh an, mình biết rõ như vậy. Đó là khinh an giác chi trong bảy giác chi, còn cái định thì mình vẫn chưa thể đạt được, có đến bốn thánh chánh định, sơ thiền là thánh chánh định thứ nhất, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền là các tầng chánh định tiếp theo, đó là bốn cái thiền định đúng của bậc Thánh, gọi là chánh định nghĩa là định đúng.

Khi mình biết được ngũ uẩn, nhận diện được ngũ uẩn và tu tập bốn tầng thiền đó thì bốn tầng thiền đó trở thành bốn tầng thiền của bậc Thánh, gọi là Thánh chánh định, còn người không biết ngũ uẩn, không nhận diện ngũ uẩn, không quán chiếu ngũ uẩn mà tu bốn tầng thiền này và dù cho chứng đắc cả sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, thậm chí cả những tầng thiền cao hơn nữa thành bát định nhưng vẫn không được gọi là định của bậc Thánh, không được gọi là Thánh chánh định vì không thấy ngũ uẩn. Tại sao lại như vậy? Vì thấy ngũ uẩn tức là phá được thân kiến, tà kiến cho nên chỗ quan trọng là chữ "Thánh" có hay không là từ chỗ thấy hay không thấy ngũ uẩn, đó cũng là lý do mình dùng chữ "Thánh trí ngũ uẩn". Khi không thấy ngũ uẩn là tu trên tự ngã, tu trên bản ngã, tu trên cái tham, cái dục, cái ái, khi chứng được thì mình sẽ tự cho mình là hay, mình giỏi, mình hơn người nếu không thấy ngũ uẩn, không thấy vô ngã cho nên các tầng thiền đó đối với các bậc chánh kiến mới gọi là Thánh chánh định.

Câu hỏi thứ hai của cô là mình nhận diện ngũ uẩn, khi mình biết được sắc đây là sắc, chẳng hạn một vị trình pháp nhìn vào gương thấy mặt mình trong đó thì mình không còn như lúc trước là ưa thích, phân biệt hôm nay tươi hay héo, hôm nay trắng hay đen, đẹp hay xấu, mình không muốn chạy theo những sắc tướng đó, không có thích hay luyến ái theo gương mặt này nữa. Khi mình biết được đây là sắc thì cái biết đó có phải sắc không? Khi mình biết lúc này mình bị hôn trầm thì cái biết đó có hôn trầm không? Khi mình biết bây giờ đang có cảm thọ khổ, cảm thọ tức giận thì cái biết đó có phải là cảm thọ không? Khi mình biết mình đang mê thì cái biết đó chắc chắn là không có mê, khi mình biết được đây là sắc thì cái biết đó không phải là sắc, mình biết được cảm thọ đó thì đó cũng không phải là thức. Định nghĩa thức là rõ biết thọ; tưởng; hành nhưng tại sao lại nói cái biết cảm thọ đó không phải là thức? Đức Phật nói thức là rõ biết nhưng cái trí là do mình tu tập, còn tu tập là nhờ nghe được Thánh pháp của Đức Phật rồi huân tập cái biết theo trí huệ của Đức Phật truyền trao cho nên cái biết theo trí tuệ thì gọi là trí chứ không gọi là thức.

III. Thể nhập Thánh Trí

Lúc đầu mình thấy trí tuệ Đức Phật là riêng, lời trong kinh là riêng, đây là Thánh trí, đây là những trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, còn mình là phàm phu, những cái này rất rõ ràng nhưng khi mình học nhiều thì những trí tuệ này đuổi mấy cái phàm tình ra, bắt đầu có sự thể nhập, trở thành một thì lúc đó cái phàm tình bị diệt tận. Phàm tình là tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, lúc đó chỉ còn Thánh trí huệ thôi cho nên mình phải thường nhận diện ngũ uẩn, cái nhận diện ngũ uẩn này rất thâm sâu, từ mới tu cho đến A-la-hán đều phải nhận diện ngũ uẩn, đều phải quán chiếu ngũ uẩn.

Khi mình đã có sự nhận diện thường xuyên và liên tục, miên mật, khít khao, tinh vi, sâu sắc thì mình sẽ thành tựu trí tuệ về ngũ uẩn sắc bén, thâm sâu, còn nếu mình chỉ học phất phơ, học cho biết thì mình chỉ hiểu trên kiến thức về ngũ uẩn, chỉ có pháp học chứ không có pháp hành, chỉ được một phần của văn huệ thôi tức là nghe thì cũng hiểu nhưng mình không sống trong đó, mình không tư huệ, mình không chiêm nghiệm, thực tập, không sống bằng cái thấy biết đó cho nên mình vẫn là người ở ngoài cửa. Chừng nào sống với trí huệ đó thường xuyên, vận dụng thọ trì thật nhiều thì từ trong cái sống đó thì tự động mình sẽ thấy được các khía cạnh của ngũ uẩn, mình sẽ thấy được sự vô thường trong đó, sự sanh diệt trong đó, sự đổi thay trong đó và mình sẽ nhìn ra được những cái tinh ranh, xảo quyệt của bản ngã, mình sẽ nhìn ra được những trò ma quái của dục, tham ái, nó cấu kết ra sao, nó hãm hại mình ra sao và mình sẽ nhìn ra được tại sao cái sân hận này xâm chiếm, áp đảo mình và chúng ta. Tự động trong sự nhận diện ngũ uẩn liên tục, tinh vi, tế nhị, thường xuyên, khít khao thì mình sẽ thành tựu trí huệ đó, trí huệ này gọi là bất cộng huệ, không cùng chung với phàm phu và chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử mới có.

Bất cộng huệ là thượng nhân pháp của bậc Thánh, cái này không thể ai cho mình được, Phật cũng không cho mình được, các bậc Thánh cũng không cho mình, mình phải tu thì mới thành tựu được trí huệ đó, mình mới vạch mặt được tham, sân, si. Mình sẽ biết được tên tuổi, mặt mũi, tánh tình, bản chất của tham ra sao, dục ra sao, ái vận hành ra sao, mình sẽ biết được tên tuổi, mặt mũi, tánh tình của sân ra sao hay si ra sao, mình thấy được bản chất của bản ngã, thấy được sự thâm độc của nó, sự gian xảo, mánh khóe, quỷ quyệt, tinh ranh, ma mị của nó như thế nào. Khi thấy được thì não nề, ê chề, những vị nào có sự xúc động mạnh thì những vị đó bắt đầu có sự nhìn thấy, những vị nào chưa tu học đến đó thì đừng ngại, đừng vội phê phán hay đừng vội hiểu lầm vì mình chưa đi tới đó.

Bây giờ nói đi học mà bảo biết rồi thì học làm gì nữa? Học là học cái chưa biết, mình sẽ học được những cái mình chưa biết, mình sẽ nghe được những điều mình chưa nghe, mình sẽ thấy được những điều mình chưa thấy, mình sẽ cảm thọ được những điều mình chưa từng cảm thọ, mình sẽ nhận thức được những điều mình chưa từng nhận thức, mình sẽ trải nghiệm được những điều mình chưa từng trải nghiệm nhưng muốn như vậy phải có cái tâm khách quan. Mình đừng bao giờ nghĩ rằng chỉ muốn thấy cái mà trước nay đã thấy, còn những cái lạ không muốn thấy, "tôi chỉ muốn thấy những cái trước nay đã thấy, còn cái này không được", như vậy là không tu được, đó là cái thấy định kiến, thành kiến, kiến chấp, muốn phá được cái này thì phải nhiếp phục được phần nào bản ngã. Khi vào dòng pháp này mình sẽ nghe được những điều mình chưa nghe, mình sẽ thấy được những điều mình chưa thấy, mình sẽ cảm thọ được những điều mình chưa từng cảm thọ, mình sẽ thức tri được những điều mình chưa từng thức tri, muốn làm được thì đòi hỏi cái tâm phải rất khiêm cung, hết sức khách quan, hiền hòa, khiêm hạ, nếu không thì dội ngay lập tức.

Mình sẽ không chấp nhận những cái gì lạ, "cái này sao lạ quá vậy, tu gì khóc hoài vậy, sáng khóc, trưa khóc, chiều khóc, ngày mai cũng khóc, tu gì kì vậy?". Như vậy mình muốn cười hay sao? Tu cái này là để thấy được khổ nhưng cái khổ đó không phải khổ mới khóc, có những người quá hạnh phúc như tìm lại được người thân thì khóc vì hạnh phúc, mình không biết đó là giọt nước mắt của hạnh phúc do mình chưa trải nghiệm cảm giác đó. Những người trong đạo tràng Nikāya có những giọt nước mắt của hạnh phúc còn hơn cả mẹ con thất lạc tìm lại nhau sau 40 năm, cái này thất lạc từ vô lượng kiếp mà bây giờ được gặp lại nên quá hạnh phúc. Mình gặp được Đức Thế Tôn là người cha vĩ đại của mình, gặp con đường Thánh đạo.

Khóa tu kì này người mới rất nhiều nên con dừng cái khóc lại vì sợ người mới không chịu nổi, còn khóa tu trước là khóc suốt nửa tháng vì đánh vào khổ thánh trí. Đức Phật nói người nghe pháp có hai loại là có cảm thọ và không có cảm thọ, khóc là có cảm thọ, không phải mình cố tình khóc, không phải làm màu, không phải làm bộ khóc lớn lên thêm mà khóc vì xúc chạm với sự thật, vì xúc chạm đến bản chất làm nhói tim. Người không có cảm thọ thì làm sao biết được những điều này, mình còn đứng ở vòng ngoài, chỉ có mẹ con thất lạc 40 năm nay gặp lại thì chỉ có 2 người đó mới cảm nhận được cảm xúc đó thôi, mình chưa từng bị thất lạc, ngày nào cũng gặp mẹ thì làm gì có cảm thọ đó. Một cảm thọ của phàm phu bình thường mình đã không thể trải nghiệm được thì huống gì cảm thọ này là cảm thọ của bậc Đa văn Thánh đệ tử. Ở Sài Gòn cũng nói "tu gì mà khóc hoài vậy?" cho nên con ít mở những khóa tu ở dưới, người ta muốn lại chùa chỉ cười vui thôi, còn tu cái này là để thấy khổ, để thấm khổ, để chứng nhập vào khổ thánh trí, chứng đạt khổ thánh trí, chứng đạt khổ thánh đế, thấm thía cái khổ đến tột cùng, viên mãn hết tất cả mọi góc độ, khía cạnh của khổ đau trong ngũ uẩn này, không còn một góc độ nhỏ nào về khổ đau mà mình không thấy không biết.

Cả nhân sinh vũ trụ vạn vật này không có một chút vui nào trong đó, ngay cả lạc thọ cũng thấy là khổ, được ăn ngon là lạc thọ nhưng ăn nhiều quá thì bị đầy bụng thế là khổ, phải đi mua thuốc tiêu hóa uống, đó là lạc thọ cũng khổ.

"Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư như sau được khởi lên: 'Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ". Ba thọ này được Thế Tôn thuyết dạy. Nhưng Thế Tôn lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Do liên hệ đến cái gì, lời nói này được Thế Tôn nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'?

-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)

'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ', không thể có người thứ hai nói được câu này, tất cả thọ đều là khổ. Làm sao phàm phu có thể hiểu nổi? Hai người chuẩn bị đám cưới nhưng bà nội bảo "khổ lắm nha con" thì hai người đó có nghe không? "Thôi bà già rồi, về nghỉ đi", đến khi già bằng tuổi bà nội gặp lại những đứa cháu chuẩn bị cưới thì "khổ tới nơi rồi con" nhưng mấy đứa cháu đó cũng không tin. Đức Phật và các bậc Thánh giống như các cụ thấm thía hết bụi đời, hiểu hết nhân sinh, còn chúng sanh như những đứa con nít mới lớn chưa từng trải, chưa từng hiểu cho nên còn ham vui, còn mê chơi. Tất cả mọi sự hiện hữu đều nằm trong đau khổ, đó là thượng nhân pháp, tri kiến của bậc Thánh, cái thấy biết của hàng Thánh nhân, thấy được cái này rồi mình sẽ bớt khổ, được nhẹ nhàng cho nên trí tuệ thấy được ngũ uẩn thì đó không phải ngũ uẩn nhưng trong kinh Nikāya Đức Phật không nói cái này nhiều, ngài chỉ nói là Thánh trí, là thượng nhân pháp, ngài nói là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, sau này người ta mới phát triển ra thêm nhiều danh từ.

Khi mình gọi ngũ uẩn, sắc; thọ; tưởng; hành; thức hay là gọi năm uẩn thì cái tên là khác, còn gọi là Thánh trí thì danh từ cũng khác. Khi tu để tiêu diệt những cái tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã là mình đứng trên Thánh trí để quán chiếu ngũ uẩn thành đối tượng của mình, ngũ uẩn đó là đối tượng, mình lập căn cứ địa của mình ở Thánh trí huệ, ở chỗ thấy biết của bậc Thánh, mình dùng cái thấy biết của bậc Thánh tu thì mới thành tựu thánh quả. Bây giờ thấy biết theo phàm phu thì tu đến khi nào mới thành Thánh nhân? Vừa mở được con mắt pháp là Nhập Lưu vào dòng Thánh thứ nhất vì đó là cái thấy của bậc Thánh, còn giờ mình đang huân tập cái thấy đó, cứ đọc tụng, nhắc nhở liên tục, nghiền ngẫm, suy tư để nhớ mãi không quên thì gọi là niệm lực, từ niệm căn biến thành niệm lực và cuối cùng là thể nhập Thánh trí. Mình phải có thời gian, phải có đầu tư, phải có chiêm nghiệm, tác ý, quán chiếu, hằng ngày mình phải chịu khó nhắc Thánh trí để đuổi tâm phàm ra, đuổi cái phàm tình ra.

Khi buông thả thì phải thu thúc, khi có bản ngã thì phải khiêm hạ, khi có tham muốn thì phải kêu nó ly tham, nó mờ tối thì phải kêu nó tỉnh sáng, nó nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự thì phải dập cái nghi ngờ đó, kêu nó phải xác quyết tịnh tín bất động. Mình phải chịu khó tác ý đánh đuổi những thứ đó ra, cứ nhắc nhở liên tục thì cuối cùng Thánh trí huệ cũng thâm nhập vào thành của mình, lúc trước là của Phật, của các bậc Thánh, của bậc đạo sư còn giờ thành của mình, thể nhập Thánh trí, diệt tham, sân, si, thoát ly sanh tử. Nếu không thể nhập thánh trí thì làm sao diệt tham, sân, si? Không diệt tham, sân, si thì làm sao thoát ly sanh tử? Đó là hệ quả nhưng bước đầu của thể nhập Thánh trí là nhìn ra được năm uẩn.

Mình học thì học nhưng khi nói chuyện ra cái nào cũng cho là tôi, mình học về vô ngã, mình học về khiêm cung, khiêm hạ mà ra nói chuyện lúc nào cũng tôi cho nên tu mãi vẫn không thể nhập được. Học pháp, hiểu pháp và đời sống thực hành phải khế hợp, hòa hợp, tương ưng với nhau, còn nếu mình nghĩ cái đó là lời Phật nói, là kinh sách còn mình là mình thì tu làm gì nữa cho nên chữ hiền giả, hiền trí rất hay vì nó là câu tác ý nhắc nhở cho mình. Hôm nay mình đang tức giận nhưng có người hỏi "hiền giả hôm nay thế nào?", nghe kêu hiền giả thấy xấu hổ quá nên muốn xin lỗi, "sáng giờ hiền giả có dễ chịu không?", đây là câu tác ý hết sức khéo léo để nhắc nhở mà người nghe không tự ái, nói nhẹ nhàng nhưng có hiệu quả lớn.

Muốn tu dòng pháp này phải thành tựu tâm hiền 60%, phải diệt được hơn 50% bản ngã mới vào được pháp này, đó là điều kiện thứ nhất. Bước giữa cũng phải như vậy, phải hiền thuần nhất, đây là chỗ rất dễ cũng rất khó, tâm mình là tâm không chịu nghe lời, lời Phật nói cũng không nghe cho nên tâm đó là không hiền nên không thể nhập được. Vì thế điều kiện tiên quyết tâm hiền là khiêm hạ, diệt ngã.

./.