Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Dao Bén Thánh Trí - Kinh Giáo Giới NANDAKA Trung Bộ III

2026-03-03 00:52:57
Kinh Nikāya Giảng Giải

Dao Bén Thánh Trí

Kinh Giáo Giới Nandaka Trung Bộ III

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò người nữ tu PAGEREF _Toc139873583 \h 1

II. Sáu xứ là vô thường PAGEREF _Toc139873584 \h 5

III. Sáu ngoại xứ là vô thường PAGEREF _Toc139873585 \h 8

IV. Sáu thức vô thường PAGEREF _Toc139873586 \h 9

I. Dặn dò người nữ tu

Cái đặc biệt khi học kinh Nikāya là mình sẽ thấy được xã hội Ấn Độ thời đó cùng với sự sinh hoạt của Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng sẽ được tái hiện rất sống động, gần gũi, rõ ràng, cụ thể, thậm chí có những bài kinh khi đọc lên giống như mình đang quay trở về 2600 năm trước, được ngồi trong pháp hội, được nghe sự khai thị, chỉ dạy hoặc là quở trách của Thế Tôn, cho chúng ta những cảm giác rất vi diệu, tuyệt diệu, thần diệu, tối diệu, linh diệu. Nếu chúng ta khéo léo trong tâm có sự an trú phá được năm triền cái trong lúc đọc, lúc nghe, lúc học thì chúng ta sẽ cảm thọ được những cảm thọ của các bậc hiền Thánh.

"Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Rồi Mahapajapati Gotami cùng với khoảng năm trăm Tỳ-kheo-ni đi đến bên Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giáo giới cho Tỳ-kheo-ni! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giảng dạy cho Tỳ-kheo-ni! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho Tỳ-kheo-ni!

Lúc bấy giờ, các Thượng tọa (Trưởng lão) Tỳ-kheo thay phiên giáo giới Tỳ-kheo-ni. Nhưng Tôn giả Nandaka không muốn thay phiên giáo giới Tỳ-kheo-ni. Rồi Thế Tôn cho gọi Tôn giả Ananda và nói:

-- Này Ananda, hôm nay đến phiên ai giáo giới Tỳ-kheo-ni?

-- Bạch Thế Tôn, chính là phiên của Nandaka thay phiên giáo giới Tỳ-kheo-ni. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Nandaka không muốn thay phiên giáo giới Tỳ-kheo-ni.

Rồi Thế Tôn cho gọi Tôn giả Nandaka:

-- Này Nandaka, hãy giáo giới Tỳ-kheo-ni! Này Nandaka, hãy giảng dạy Tỳ-kheo-ni! Này Bà-la-môn, hãy thuyết pháp cho Tỳ-kheo-ni!

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Qua đây chúng ta thấy được tình thương của Đức Phật, các vị Ni sư, các vị Ni trưởng, các vị sư cô có thấy tình thương của Đức Phật không? Đức Phật nói ba lần với ngài Nandaka giảng dạy cho Tỳ-kheo Ni, chúng ta đọc chậm để đi vào trong Thánh chúng tinh ba pháp hội. Mình đọc như vầy là giống như mình đang tham dự vào trong đó, mình đang đi về 2600 năm trước.

"Tôn giả Nandaka ấy vâng đáp Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Savatthi để khất thực. Sau khi khất thực ở Savatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, không có người thứ hai cùng đi, đi đến Rajakarama (Vương Tự). Các Tỳ-kheo-ni ấy thấy Tôn giả Nandaka từ xa đi đến, sau khi thấy liền sửa soạn chỗ ngồi và sắp đặt nước rửa chân. Tôn giả Nandaka ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, liền rửa chân. Các Tỳ-kheo-ni ấy sau khi đảnh lễ Tôn giả Nandaka, liền ngồi xuống một bên" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Bát kỉnh pháp ngày xưa cũng như giới luật ngày xưa là chư Tăng thường giáo giới cho bên Ni, bây giờ cũng còn trong 3 tháng hạ nhưng chỉ trên hình thức, còn ngày xưa là thường xuyên dạy dỗ. Giáo là dạy, giới là răn dạy, nhắc nhở, hướng dẫn. Các ngài đến thì các Tỳ-kheo Ni bên Vương Tự phải lạy dưới chân, đem nước ra rửa chân, còn mình bây giờ có khi Tăng Ni gặp nhau nói chuyện ngang hàng, trơ trơ ra, thậm chí với các bậc trưởng thượng, làm mất pháp cung kính, mất bát kỉnh pháp, từ đó sẽ có ra những việc khác. Con hay nhắc các nữ cư sĩ hay các vị về tập tu, các vị xuất gia Sa-di Ni hay các Tỳ-kheo Ni ở chỗ khác về là phải giữ sự cung kính, phải có một hàng rào chứ không được nói chuyện với các thầy mà giỡn. Đây là cái hàng rào rất quan trọng, nếu pháp vỡ hàng rào này sẽ qua những cái bất thiện pháp tiếp theo và tiến vào vùng nguy hiểm.

Có một vị lên núi rất tha thiết, chân thành tu học nhưng lên gặp con lần đầu thì lúc đó con đang ở Thánh Pháp Viện tỉnh tu mà vị đó không đắp y, con nhắc liền lập tức. Lần đầu tiên về Linh Quy Pháp Ấn cầu pháp, học pháp mà không đắp y, chỉ mặc áo lam nhưng nói rất tha thiết, chân thành, khi tác bạch thì chảy nước mắt nhưng sau đó con tán thán đồng thời cũng nhắc nhở. Vừa rồi con dự bên chùa Ni trưởng gần 80 tuổi, mời vài lần con mới qua dự, ngay bàn Ni sư ngồi là Ni sư đề "bát kỉnh pháp là tràng hoa, là vẻ đẹp của Ni chúng, của Ni đoàn" cho nên các cô cư sĩ giỡn hớt, nói chuyện ngang hàng với các thầy là con không bằng lòng, con rầy, nam nữ cư sĩ đều phải có chừng mực.

Mỗi ngày đều phải đọc thanh quy chứ không được bỏ sót, những cái nhỏ này bị mất thì sẽ mất những thứ lớn hơn. Đọc ngày xưa phải ôn lại ngày nay, gọi là ôn cố tri tân, nghĩa là xem lại cái cũ, biết cái mới, đó chính là những cái tường thành, những cái rào chắn để bảo vệ sự tu học từ xuất gia đến tại gia, từ cư sĩ đến tu sĩ, từ Tăng đến tục. Phải có sự cung kính từ cư sĩ cho đến xuất gia và các thầy, các vị nam cư sĩ cũng phải có sự cung kính đối với nhau, không có hàm hồ, không có buông thả, buông lơi trong cách nói chuyện, cư xử qua lại với nhau. Vì hoàn cảnh ở Linh Quy chưa hoàn chỉnh nên tạm thời con mới cho tu chung, sau này ổn định thì Tăng Ni riêng biệt không gặp nhau, chỉ có những ngày lễ lớn quan trọng mới gặp, không được tiếp xúc thường trực như vậy, với nam nữ cư sĩ cũng như vậy, hạn chế tiếp xúc tối đa, trừ khi nào có công việc quan trọng trong pháp và luật.

Xúc sẽ sanh thọ, sanh dục, sanh nghiệp, làm sao lửa gần rơm mà không cháy? Không cháy bên ngoài thì cháy bên trong, không cháy bên trong thì cũng âm ỉ, không âm ỉ thì cũng có cảm giác dễ chịu, ấm áp, dính mắc trong đó lâu ngày. Trong bài kinh "Dâm dục" nói chỉ cần nhìn thôi là yêu thích trong cái nhìn, nghe tiếng nói cũng có thể dính mắc trong đó, tâm không phòng hộ và nhất là những người mới. Đức Phật rất thương mình nên giữ cho mình những cái rào chắn từ trong ra ngoài.

"- Thưa Tôn giả Gotama, Phạm hạnh như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, là bị bể vụn, bị khuyết phạm, bị ô nhiễm, bị điểm chấm?

- Ở đây, này Bà-la-môn, có Sa-môn hay Bà-la-môn, tự xem mình sống Phạm hạnh một cách chơn chánh, tuy không có hành dâm với nữ nhân, nhưng hưởng thụ được nữ nhân thoa, bóp, tắm, xức dầu. Vị ấy thích thú, ước muốn, bị kích thích bởi nữ nhân. Này Bà-la-môn, đây gọi là Phạm hạnh bị bể vụn, bị khuyết phạm, bị nhiễm ô, bị điểm chấm. Này Bà-la-môn, đây gọi là hành Phạm hạnh không thanh tịnh, bị liên hệ, bị hệ lụy với dâm dục, không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng không thoát khỏi khổ.

Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, tự xem mình sống Phạm hạnh một cách chơn chánh, tuy không có hành dâm với nữ nhân, không có hưởng thụ được nữ nhân thoa, bóp, tắm, xức dầu, nhưng cười giỡn, chơi đùa, vui chơi với nữ nhân... tuy không cười giỡn, chơi đùa, vui chơi với nữ nhân, nhưng lấy mắt nhìn mắt, trừng mắt nhìn theo nữ nhân... tuy không lấy mắt nhìn mắt, trừng mắt nhìn theo nữ nhân, nhưng nghe tiếng của nữ nhân, tiếng cười, tiếng nói, tiếng hát, tiếng khóc ngang qua vách, ngang qua hàng rào... tuy không nghe tiếng của nữ nhân, tiếng cười, tiếng nói, tiếng hát, tiếng khóc ngang qua vách, ngang qua hàng rào, nhưng nhớ đến tiếng cười, tiếng nói, tiếng đùa giỡn trước kia đã có với nữ nhân... tuy không nhớ đến tiếng cười, tiếng nói, tiếng đùa giỡn trước kia đã có với nữ nhân, nhưng xem gia chủ hay con gia chủ thọ hưởng, thưởng thức thích thú trong năm dục công đức... tuy không xem gia chủ hay con gia chủ thọ hưởng, thưởng thức thích thú trong năm dục công đức, nhưng sống Phạm hạnh với tâm nguyện hướng đến một thân chư Thiên, nguyện rằng: 'Với giới này hay với giới cấm này, hay với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này, ta sẽ thành một Thiên nhân này hay một Thiên nhân khác'. Vị ấy thích thú, ước muốn, bị kích thích bởi nữ nhân. Này Bà-la-môn, đấy gọi là Phạm hạnh bị bể vụn, bị khuyết phạm, bị nhiễm ô, bị điểm chấm. Này Bà-la-môn, đấy gọi là hành Phạm hạnh không thanh tịnh, bị liên hệ, bị hệ lụy với dâm dục, không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng không giải thoát khỏi khổ" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VII). Dâm Dục)

Sau đó tôn giả Nandaka nói với các Tỳ-kheo Ni đang ngồi một bên, bên nam thì gọi là hiền giả, bên nữ thì gọi là hiền tỷ, không rời xa chữ hiền.

"Tôn giả Nandaka nói với các Tỳ-kheo-ni đang ngồi một bên:

-- Các Hiền tỷ, sẽ có cuộc luận thuyết bằng cách đặt câu hỏi. Ở đây, những ai biết, hãy trả lời: 'Tôi biết'. Những ai không biết, hãy trả lời: 'Tôi không biết'. Nếu có ai nghi ngờ hay nghi hoặc, ở đây, ta cần được hỏi như sau: 'Thưa Tôn giả, sự việc này là thế nào? Ý nghĩa việc này là gì?'

-- Thưa Tôn giả, cho đến đây, chúng con rất hoan hỉ và thỏa mãn với Tôn giả Nandaka, vì rằng Tôn giả đã mời chúng con (hỏi)" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Nhân đây con nhắc trong đại chúng, các chư Tăng Ni, các vị cư sĩ có tâm muốn giúp đỡ, chia sẻ cho người khác thì phải học rất vững chắc pháp học, pháp hành vì khi trình bày một vấn đề gì mà nói suông không thì dễ, còn trình bày để cho người ta hỏi mà mình không trả lời được thì thất bại. Vì vậy muốn có khả năng chia sẻ cho mọi người thì phải thuộc nhiều kinh, nắm vững thứ bậc, lớp lang trong pháp học, pháp hành để khi người ta hỏi thì mình trả lời chính xác, trả lời đúng đem lại lợi ích cho người, lợi ích cho người, còn nếu hỏi mà trả lời không được, hai là đánh trống lảng tìm chuyện khác nói, ba là trả lời sai, nhiễu loạn chánh pháp.

Có những vị phát biểu không trúng huống hồ gì mình không biết, mình cứ nghĩ là mình biết nhưng mình học sai, mình tu trật rồi hướng dẫn cho người ta càng sai mà mình không biết gì cả. Đó là lý do dù là pháp đàm nhưng con phải nghe lại, chính là quan tâm chúng ta, xem từng người nhận thức về pháp có vững chắc chưa, có chân chánh chưa, có chính xác chưa thì mới có thể giúp đỡ, chỉnh sửa lại. Đó là mục đích của pháp đàm, còn mình im lặng thì làm sao biết được cho nên pháp đàm rất cần thiết cho nên muốn giúp đỡ, chia sẻ cho người khác thì phải học rất nhiều kinh pháp. Phải có một buổi trùng tiên Thánh điển để những vị mới về tu học được lợi ích, đọc một câu pháp ngữ của Đức Phật rồi hiểu như thế nào thì chia sẻ.

II. Sáu xứ là vô thường

Từ thời Đức Phật là nhất quán với nhau, Đức Phật truyền cái gì là các bậc Thánh Tăng truyền lại y như vậy thì mới đi theo Thánh đạo, mới đạt được Thánh quả, còn mình bây giờ chỉ thích cái mới.

"-- Các Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Mắt là thường hay vô thường?

-- Thưa Tôn giả, vô thường.

-- Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?

-- Thưa Tôn giả, là khổ" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Đây là đề tài thiền quán ngàn năm, không thay đổi từ ngày mới tu cho đến khi thành tựu đoạn tận các lậu hoặc.

"-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi xem cái ấy: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?

-- Thưa không vậy, Tôn giả" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Xem những thứ vô thường, khổ đau, bại hoại, diệt vong là mình, nếu nó biến đổi là mình khổ đau, sầu, bi, khổ, ưu, não, bứt tóc, đấm ngực, nước mắt đầy mặt, ngất xỉu, gục ngã. Khi những thứ đó bày hiện tính chất vô thường của nó, lộ ra sự biến hoại, tan nát, tan rã, khổ đau, bất an thì mình sẽ ra sao? Sẽ đổ ngục, ngất xỉu, bất tỉnh, nhảy lầu, nhảy cầu, thắt cổ, tự vẫn bằng thuốc độc. Tại sao lại như vậy? Vì cho những thứ vô thường, đau khổ đó, tan biến, hủy hoại, hoại diệt đó là mình, là của mình vì thế cho những thứ đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình là không hợp lý, không thích hợp với chân lý, không phù hợp với chân lý, không khế hợp với chân lý.

Mình thấy tình đạo ngày xưa cao đẹp làm sao, các chị hiền, các chị nghĩ thế nào?

"-- Các Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Tai là thường hay vô thường?... Mũi là thường hay vô thường?... Lưỡi là thường hay vô thường?.. Thân là thường hay vô thường?... Ý là thường hay vô thường?

-- Thưa Tôn giả, vô thường

-- Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?

-- Thưa Tôn giả, là khổ.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?

-- Thưa không vậy, Tôn giả"  (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Lỗ tai con tối ngủ kêu rột rột như có con gì trong đó, hỏi thì có người nói cứt ráy nằm sát màng nhĩ nên phải đi gắp ra, mà đi thì phải lựa chỗ tốt chứ còn đi chỗ không tốt coi chừng lủng màng nhỉ, điếc luôn cho nên con cũng chưa đi. Lỗ tai này có như vậy mãi không hay là nó sẽ đổi thay? Tại sao lại có bệnh viện tai, mũi, họng? Nước vàng trong này, cứt ráy trong này, mủ máu trong này, đây là nơi chứa nhóm bệnh tật, bất an, lo lắng và tai họa. Trên mạng có video những người lính đứng gác trong thời tiết lạnh giá bị đông cứng lỗ tai, có người bị búng vào tai thì bay luôn cả tai ra, hiện tại bên Mỹ đang trải qua mùa Noel kinh hoàng khi nhiệt độ xuống – 60°C, đem nước sôi tạt ra ngoài trời thì lập tức biến thành băng tuyết.

Mang một tấm thân như vầy thật sự là ngao ngán, mệt mỏi, thật sự phải lo lắng đủ thứ, lỗ mũi bị viêm xoang trị mãi không hết, bị nghẹt mũi, nhức nhối, có mủ trong đó, thậm chí sanh ra lỗ mũi tẹt không đẹp nên phải đi nâng lỗ mũi lên, lỗ mũi bình thường đã mệt mỏi rồi mà bây giờ còn lỗ mũi giả nữa thì còn mệt mỏi đến dường nào nữa nhưng mọi người lại thấy đó là đẹp. Ngoài ra còn việc kéo xương chân cho cao lên, đạp gai một chút cũng thấy đau rồi vậy mà giờ phải mổ để kéo xương ra. Thật sự nhìn vào cuộc đời này thấy đau đớn và cay đắng, xót xa, phải mang vác mắt; tai; mũi; lưỡi và tấm thân này, chỗ nào cũng có thể bệnh, chỗ nào cũng có thể ung hạch, ung bướu, ung thư, chỗ nào cũng có thể gãy đổ, chỗ nào cũng có thể bể nát. Tai họa nằm ở phía trước, phía sau, phía trên, bên phải, bên trái, trong tấm thân này là một đống vi trùng, một hang ổ để sản sinh ra bệnh tật, bệnh đau. Làm sao có thể nhìn ra được những điều này nếu không được truyền thụ Thánh trí tuệ của bậc Chánh Biến Tri, bậc Thiện Thệ, bậc Thế Gian Giải?

Hằng ngày mình phải hỏi thân này là vui hay khổ, thân này là khỏe hay bệnh, thân này thường hay vô thường, thân này là tôi hay không phải của tôi, phải hỏi cho đến khi nào thấy nó thật sự là vô thường, là khổ đau, là bất an, trống rỗng thì mình sẽ được khỏe. Dù có làm chuyện gì bên ngoài cũng không được quên chuyện này trong thân tâm, phải làm sao để đừng mù nữa, mở con mắt ra để thấy được sự thật đó, nếu mình chấp nhận một cách hoàn toàn tuyệt đối thì lúc đó thể nhập sự thật, đó là tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, thể nhập Thánh trí hay còn gọi là thượng nhân pháp, chính là cái thấy này, cái biết này, sự thể nhập này, sự soi thấu bản chất sự thật của mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này. Hiểu được điều này thì sung sướng vô cùng, bây giờ con đang ngồi trong rừng mà hạnh phúc dạt dào, khi có được sự thật này rồi thì bất cứ ở đâu, khi nào cũng được bình an, thân thể này có rã rời sớm cũng càng tốt, mình bớt được bất an, tai họa, cái đống sầu, bi, khổ, ưu, não này, cái đống tật bệnh này, tai ương này.

"Vì sao vậy? Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: 'Sáu nội xứ này là vô thường'". (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Sáu nội xứ là sáu cái bên trong là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, sáu ngoại xứ là sáu cái bên ngoài là sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp. Trí tuệ này phá hết trong ngoài, khi tiếp xúc sẽ sanh ra sáu thọ, đó là guồng máy vận hành, hoạt động mà bậc Thánh trí tuệ tối thượng khám ra hết tất cả hệ thống, quy trình hoạt động của nó, khi nó tiếp xúc, sanh khởi như thế nào Thế Tôn đều biết. Mắt là bên trong còn đối tượng bên ngoài của nó là sắc, tai là bên trong còn đối tượng bên ngoài của nó là tiếng, lỗ mũi là bên trong còn đối tượng của nó là mùi, cái lưỡi là bên trong còn đối tượng của nó là vị, là món ăn, nước uống, thân là bên trong còn đối tượng của nó là sự tiếp xúc với những thứ bên ngoài, ý là sự rõ biết của mình được tiếp xúc với thọ; tưởng; hành của mình, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ từ bên ngoài đưa vào. Vì thế nói cho dễ hiểu là sáu thứ bên trong và sáu thứ bên ngoài gặp nhau thì tạo ra sự tiếp xúc, khi tiếp xúc thì sanh ra thọ, bên cạnh đó còn sanh ra sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, tổng cộng là 48 pháp vận hành, sáu căn – sáu trần – sáu thức – sáu xúc – sáu thọ – sáu ái – sáu tưởng – sáu tư, Đức Thế Tôn thấy hết tất cả sự vận hành của nó, như vậy mới là bậc Chánh Biến Tri, Thế Gian Giải.

Tổng cộng 48 thứ vận hành mà mình cứ ngu ngơ, mù mờ, không thấy gì hết, 48 thứ vận hành rồi khởi lên tham, sân, si, dục ái, vô minh. Chỉ riêng việc để hiểu được những thứ vận hành trên thân, trong tâm thức, cảm giác của mình đã không đủ sức sáng suốt để thấy được chứ đừng nói gì học những thứ xa xôi, viễn vong. Các vị Tỳ-kheo Ni nói rằng không hợp lý khi nói những thứ này là tôi, là của tôi thì tôn giả Nandaka mới khen ngợi:

III. Sáu ngoại xứ là vô thường

"-- Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

-- Thưa Tôn giả, vô thường

-- Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?

-- Thưa Tôn giả, là khổ.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?

-- Thưa không vậy, Tôn giả.

-- Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Tiếng là thường hay vô thường?... Hương là thường hay vô thường?... Vị là thường hay vô thường?.... Xúc là thường hay vô thường?... Pháp là thường hay vô thường?

-- Thưa Tôn giả, vô thường.

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Thưa Tôn giả, là khổ.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?

-- Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: 'Sáu ngoại xứ này là vô thường'". (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Cần phải thể nhập Thánh trí tuệ này ngay lúc này, ngay tại chỗ ngồi này, mình cần phải quán liên tục như vậy, ngủ thì thôi chứ thức dậy là quán liền "tấm thân này là vô thường", "cảnh vật này là vô thường", "căn nhà này là vô thường", "chiếc dép này, túi vải này là vô thường", "cái bản ngã này là khổ đau, ý tưởng này, hình bóng trong tâm này là vô thường, là trống rỗng, là khổ đau", nhắc để nhớ, sau khi nhớ vẫn nhắc tiếp vì cái chừng cái tâm này gạt mình, ngày nào cũng dạy dỗ tâm này "cái tâm mê này mở mắt ra nhìn trong ngoài các pháp là khổ đau, vô thường, tan nát, hoại diệt".

"-- Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Đệ tử của Phật phải thấy như vậy, đệ tử của bậc Thánh phải thấy như vậy. Thấy như vậy thì mới là đệ tử bậc Thánh, mới gọi là Phật tử, mới gọi là bậc hiền trí, là hiền giả, là tôn giả. Đây là thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Mình có trân quý cái thấy này không? Hằng ngày mình có đội lên đầu, có lạy cái thấy này không? Mình chỉ ôm cái này thôi là đủ rồi, mình li dị với sáu căn – sáu trần – sáu thức – sáu thọ – sáu ái – sáu thức, mình giã từ hết. Đó chính là tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, Đức Phật gọi là tối thắng tuệ nghĩa là không còn trí tuệ nào hơn trí tuệ này nữa, phá vỡ hết căn – trần – thức – xúc – ái – thọ – sáu tưởng, tư, gọi là độc siêu vật ngoại, một mình vượt ra hết tất cả sự vật. Không còn bất cứ một cái gì bám víu trên cuộc đời này nữa, không còn chấp trước bất cứ một vật gì ở trên đời.

IV. Sáu thức vô thường

"Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Nhãn thức là thường hay vô thường?

-- Thưa Tôn giả, vô thường.

-- Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?

-- Thưa Tôn giả, là khổ.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?

-- Thưa không vậy, Tôn giả.

-- Này các Hiền tỷ, nhĩ thức là thường hay vô thường?

-- Thưa Tôn giả, vô thường" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Cái rõ biết âm thanh là thường hay vô thường? Cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái rõ biết mùi vị, rõ biết được sự xúc chạm, rõ biết thọ; tưởng; hành, rõ biết những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng này là vô thường, là khổ, là chịu sự biến hoại, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi. Gỡ con mắt bỏ xuống, gỡ lỗ mũi bỏ xuống… từng cái để riêng, trong cái thân gỡ ra hết 32 vật, Đức Phật dạy chúng ta cách tháo gỡ, cách vạch trần, phơi bày ra hết, chúng ta phải triển khai thiền quán mọi lúc mọi nơi chứ không chỉ trên Bồ-đoàn, lột da mặt ra, gỡ lỗ tai ra, cưa hộp sọ ra, mổ bụng lôi bộ đồ lòng ra, mở ra hết, mở cảm thọ ra xem có gì trong đó, mở cái tưởng ra, mở cái hành ra, mở cái thức ra. Tháo những thứ ác độc, ngu si, hư ảo trong đó ra, đập cho nó tan tành hết, đưa Thánh trí vào cho nổ tung hết để đống khổ to lớn này đi đến chỗ chấm dứt, diệt tận, không còn có thể sanh khởi trở lại trong tương lai. Suốt ngày mình quay vào để đập những thứ ngu si, vô minh trong này, giải quyết trong tâm, không lo nhìn ai, không lo hơn thua với ai.

 "Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: 'Sáu thức thân này là vô thường'.

-- Lành thay, lành thay, chư Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, chư Hiền tỷ, một ngọn đèn dầu được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa là vô thường, chịu sự biến hoại; ánh sáng là vô thường, chịu sự biến hoại. Chư Hiền tỷ, nếu có ai nói rằng: 'Ngọn đèn dầu này được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa là vô thường, chịu sự biến hoại; nhưng ánh sáng ấy là thường còn, thường trú, thường hằng không chịu sự biến hoại'; chư Hiền tỷ, nói như vậy là có nói chân chánh không?

-- Thưa không vậy, Tôn giả" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Dầu vô thường nên nó sẽ cạn kiệt, tim vô thường nên nó tàn lụn, ngọn lửa là vô thường nên nó sẽ tắt nhưng ánh sáng thường còn, thường trú, thường hằng thì có đúng không?

"Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, ngọn đèn dầu này được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc cũng là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa cũng là vô thường, chịu sự biến hoại. Còn nói gì đến ánh sáng, cũng là vô thường, chịu sự biến hoại!" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Ánh sáng có ra từ những cái vô thường thì làm sao ánh sáng là thường được.

"-- Như vậy là phải, này các Hiền tỷ! Nếu có ai nói như sau: 'Sáu ngoại xứ này là vô thường, và do duyên sáu ngoại xứ này, tôi có cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu sự biến hoại'; này các Hiền tỷ, người ấy có nói một cách chân chánh không?

-- Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, do duyên cái này, cái này cảm thọ như thế này, như thế này khởi lên. Do diệt các duyên như thế này, như thế này, các cảm thọ như thế này, như thế này cũng biến diệt" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Do sáu ngoại xứ tức là do cảnh sắc, âm thanh, mùi vị, sự xúc chạm, sáu đối tượng bên ngoài, rồi sáu đối tượng bên trong, có sáu thức là sáu sự rõ biết tạo thành sự tiếp xúc, gặp gỡ nhau. Khi tiếp xúc thì có ra những cảm giác, cảm xúc, những cảm thọ vui, khổ, không vui không khổ làm sao thường còn được, làm sao thường hằng được, làm sao không chịu sự biến hoại được. Căn – trần – thức gặp gỡ mới sanh khởi ra trong khi căn – trần – thức là vô thường thì cảm thọ làm sao thường?

Nhiều khi thấy cũng rất xót xa, con mắt mình nhiều khi nhá nhem hoặc tối chút là không thấy đường thì cảm thấy khó chịu, trong khi người mù thì làm sao đặt mình vào đó để hiểu được nỗi khổ của người ta. Mình mới bị trầy da, sứt móng chân đã đau đớn, khổ cỡ nào, trong khi người ta bị cụt hết một chân hoặc hai chân thì nỗi khổ của người ta lớn đến cỡ nào. Mình chỉ mới quên một chút chuyện này chuyện kia thì bị rầy, bị nhắc hoặc làm hư công việc thì mình đã tức giận, đau đớn, trong khi một người điên loạn thì mình có hiểu cảm giác của người ta không? Vì thế cần đặt mình vào hoàn cảnh đau khổ của các loài hữu tình chúng sanh để niệm thống khổ của chúng sanh, từ đó mới thấy tình thương của mình bao la, dào dạt, thấm đẫm, rộng lớn, vô lượng vô biên. Mình phải thường quán và đặt mình như vậy, cha mẹ mình mới bệnh một chút thôi là mình đã thấy xót xa, ray rứt thì những người có cha mẹ bị tai nạn giao thông nghiền nát dưới bánh xe tải một đống bầy nhầy thì cảm thọ của họ sẽ ra sao, họ đau đớn như thế nào nhưng không phải một người thân mà chết một lần 4-5 người thân, chết vì tai nạn giao thông, Covid, ung thư, hỏa hoạn.

Quán như vậy trí huệ sẽ sanh ra, từ bi sẽ phát khởi lớn mạnh, quán như vậy sẽ xả ly được tâm niệm ái luyến, bám chấp vào trong thân xác, đời sống này. Cần phải quán thường xuyên như vậy, thấy là quán, thậm chí không thấy cũng phải sanh khởi lên để quán, tâm mình sẽ nhả ra, sẽ mở ra, sẽ thoát ra, sẽ bung ra. Cho nên các cảm thọ này là vô thường, nó không thể nào thường được, nó biến đổi liên tục. Được khen, được ăn ngon thì cảm thọ vui sanh khởi lên, lạc thọ khởi lên, nếu đang có cái vui mà bỗng nhiên xảy ra tai nạn thì cảm thọ vui mất, khổ sanh ra.

"-- Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Qua đây chúng ta thấy được hình ảnh Tăng đoàn và Ni chúng ngày xưa là như vậy đó, gặp nhau là nói chuyện như vậy chứ không có gặp nhau mà giỡn hớt, nói chuyện đời, chuyện thế tục.

"Ví như, này các Hiền tỷ, có cây to lớn đứng thẳng, có lõi cây, với rễ vô thường, chịu sự biến hoại, với thân cây vô thường, chịu sự biến hoại, với cành lá vô thường, chịu sự biến hoại, với bóng cây vô thường, chịu sự biến hoại. Nếu có người nói như sau: 'Có cây lớn đứng thẳng có lõi cây này, với rễ vô thường, chịu sự biến hoại, với thân cây vô thường, chịu sự biến hoại, với cành lá vô thường, chịu sự biến hoại, nhưng bóng mát của cây ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu biến hoại'; này các Hiền tỷ, người ấy có nói một cách chân chánh không?

-- Thưa không, thưa Tôn giả" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Có một cái cây đứng thẳng, có lõi cây, có rễ cây, cây này bản chất của nó phải đi đến hoại diệt, đi đến tan rã, đi đến diệt vong nhưng có người nói rằng dù cây vô thường, cành lá vô thường, rễ cây vô thường nhưng bóng cây lại thường còn, làm sao chấp nhận được? Bóng cây là từ nơi cành lá, thân, rễ có ra trong khi cành lá, thân, rễ là thứ tan nát, hoại diệt, biến đổi, ngã đổ thì cái bóng đó làm sao thường còn, thường trú, vĩnh viễn được. Cái cây khi ngã đổ xuống rồi thì cái bóng còn đâu cho nên các vị Ni sư nói rằng thân, rễ, cành lá còn bị biến hoại, tan vỡ, khô héo thì còn nói gì đến bóng cây đó,.

"-- Như vậy là phải, này chư Hiền tỷ! Nếu có ai nói như sau: 'Sáu nội xứ này là vô thường, và do duyên sáu ngoại xứ này tôi cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu sự biến hoại'; này các Hiền tỷ, người ấy có nói chân chánh không?

-- Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, do duyên cái này, cái này, cảm thọ như thế này, như thế này khởi lên. Do diệt các duyên như thế này, như thế này, các cảm thọ như thế này, như thế này cũng biến diệt" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Cảm thọ là vô thường như bóng cây, cảm thọ là vô thường như ánh sáng của ngọn lửa.

"Ví như, này các Hiền tỷ, một người đồ tể giết bò thiện xảo hay người đệ tử; sau khi giết con bò, cắt con bò với con dao sắc bén của người đồ tể giết bò, mà không hư hại phần thịt ở trong, không hư hại phần da ngoài, rồi với con dao sắc bén của người đồ tể giết bò, cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt mọi dây thịt phía trong; dây gân phía trong, dây khớp xương phía trong; sau khi cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt và sau khi lột da ngoài, lại bao trùm con bò ấy với chính da bò ấy rồi nói: 'Con bò này đã được dính liền với da này như trước"; này các Hiền tỷ, nói như vậy có nói một cách chơn chánh không?'

-- Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Dầu cho, thưa Tôn giả, người đồ tể giết bò thiện xảo ấy hay người đệ tử sau khi giết con bò... lại bao trùm con bò ấy với chính da bò ấy lại có thể nói như sau: 'Con bò này đã được dính liền với da này như trước', con bò này đã bị lột ra khỏi da ấy.

-- Ta làm ví dụ này, này các Hiền tỷ, là để nêu rõ ý nghĩa. Ở đây, ý nghĩa này như sau: Chư Hiền tỷ, thịt ở trong là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Chư Hiền tỷ, da ở ngoài là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ, Chư Hiền tỷ, dây thịt phía trong, dây gân phía trong, dây khớp xương phía trong là đồng nghĩa với dục hỷ và tham. Chư Hiền tỷ, con dao đồ tể giết bò sắc bén là đồng nghĩa với Thánh trí tuệ. Với Thánh trí tuệ này cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt nội phiền não, nội kiết sử, nội triền phược" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Có một người đồ tể rất giỏi tay nghề, dùng con dao rất sắc bén để giết con bò. Khi họ cắt thì phần nào ra phần đó, không bị dư thừa hay lấn sang bộ phận khác, cắt thịt thì chỉ là thịt, lột da thì chỉ là da, họ lột những khớp xương, dây gân phía trong rồi lấy tấm da con bò buột lại những phần đó thì con bò này có dính liền với da như trước không? Có trở thành con bò giống như trước khi cắt không? Dù cho người đồ tể này có giỏi cỡ nào đi nữa, khéo léo cỡ nào đi nữa, con dao bén cỡ nào đi nữa nhưng khi đã cắt từng bộ phận rời ra rồi lấy da bò túm lại cũng không thể nào dính liền nhau lại giống như một con bò nguyên vẹn lúc trước.

Thịt ở trong là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, da ở ngoài là sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, dục hỷ là tham là những sợi dây cột da thịt, gân xương dính liền với nhau. Hằng ngày mình tu là nhằm đả phá, cắt dứt những sợi dây này, mình quán những cái khổ đau, nguy hiểm, tai họa để tâm tham này nhả ra, tâm khoan khoái, thích thú này không còn muốn nữa, tâm thúc giục được lắng dịu xuống. Thánh trí tuệ là con dao sắc bén cắt đứt, cắt đoạn, cái tiệt những cái bực bội bên trong, những sự trói cột và sai khiến bên trong, những nội kết bên trong. Những lời kinh này rất hay, thấm thía, thâm sâu, nó cụ thể, thực tế, rõ ràng, thiết thực, một khi đã dùng con dao Thánh trí tuệ này cắt rồi thì làm sao lấy bộ da túm lại như trước được, các ngài đã cắt thì phải đứt hết tất cả, không thể nào dính lại được, đó là trí tuệ của bậc tối thiểu là từ Nhập Lưu cho đến A-la-hán, thể nhập Thánh trí, diệt tham, sân, si, thoát ly sanh tử.

Cảm thọ trong người con đang dâng trào sung mãn, tràn ngập thân tâm, một sức mạnh không thể nghĩ bàn bên trong, đang trào dâng lên một thanh dao sắc bén của Thánh trí tuệ, đang có mặt, đang hiện hữu, cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt nội phiền não, nội kiết sử, nội triền phược.

"Chư Hiền tỷ, có bảy giác chi, do tu tập, làm cho sung mãn bảy giác chi này, vị Tỳ-kheo với sự đoạn tận các lậu hoặc, tự mình chứng tri ngay trong hiện tại với thượng trí; chứng đạt và an trú, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Thế nào là bảy? Ở đây, chư Hiền tỷ, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; tu tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập hỷ giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Chư Hiền tỷ, bảy giác chi này, do tu tập, làm cho sung mãn, Tỳ-kheo với sự đoạn tận các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri ngay trong hiện tại, với thượng trí chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi giáo giới các Tỳ-kheo ni ấy với lời giáo giới, liền cho giải tán: -- Chư Hiền tỷ, hãy đi về, giờ đã đến rồi.

Rồi các Tỳ-kheo ni ấy, sau khi hoan hỉ tín thọ lời Tôn giả Nandaka dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Nandaka, thân phía hữu hướng về Tôn giả, rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo-ni ấy đang đứng một bên: -- Này các Tỳ-kheo-ni, hãy đi. Giờ đã đến rồi.

Rồi các Tỳ-kheo-ni ấy, sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Rồi Thế Tôn, sau khi các Tỳ-kheo-ni ấy ra đi không bao lâu, gọi các vị Tỳ-kheo và nói:

-- Này các Tỳ-kheo, ví như vào ngày Bố-tát, ngày mười bốn, quần chúng không có nghi ngờ hay nghi hoặc rằng mặt trăng là không tròn hay mặt trăng là tròn vì khi ấy mặt trăng chưa tròn; cũng vậy, này các Tỳ-kheo, dầu cho các Tỳ-kheo-ni ấy hoan hỉ với bài thuyết pháp của Nandaka, nhưng tâm trí của họ chưa được thỏa mãn.

Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Nandaka:

-- Vậy này Nandaka, ngày mai, Ông sẽ giáo giới cho các Tỳ-kheo-ni ấy với bài giáo giới.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Nandaka vâng đáp Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Tỳ-kheo Nandaka vâng lời Thế Tôn giảng dạy lại một lần nữa. Thế Tôn đã nói:

"Thế Tôn, sau khi các Tỳ-kheo-ni ấy ra đi không bao lâu, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo và nói:

-- Này các Tỳ-kheo, ví như vào ngày Bố-tát, ngày rằm, quần chúng không có nghi ngờ hay phân vân rằng mặt trăng là không tròn hay mặt trăng là tròn, vì khi ấy mặt trăng đã tròn; cũng vậy, này các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo-ni ấy hoan hỉ với bài thuyết pháp của Tôn giả Anandaka, và tâm tư của họ được thỏa mãn. Này các Tỳ-kheo, trong năm trăm Tỳ-kheo-ni ấy, Tỳ-kheo-ni cuối cùng chứng được Dự lưu, không còn bị đọa lạc, và chắc chắn đạt đến chánh giác.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy" (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka)

Đức Phật đã nói ngài Nandaka giảng lại thêm một lần nữa bài pháp đó, sau khi giảng xong lần thứ hai thì người cuối cùng trong năm trăm vị chứng quả Dự Lưu. Chúng ta phải tham dự vào dòng Thánh trí huệ này.

./.