Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Chánh Tri Kiến 1 - Gốc Rễ Của Tội Ác Là Gì - Trung Bộ

2026-03-03 00:52:58
Kinh Nikāya Giảng Giải

GỐC RỄ CỦA TỘI ÁC LÀ GÌ?

KINH CHÁNH TRI KIẾN 1 – TRUNG BỘ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thế nào là một vị Thánh? PAGEREF _Toc112676366 \h 1

II. Thiện và bất thiện PAGEREF _Toc112676367 \h 8

I. Thế nào là một vị Thánh?

Chúng ta đi vào vấn đề trọng yếu trong Giáo Pháp của Đức Phật. Hôm trước chúng ta đã tìm hiểu về chánh niệm và tỉnh giác phần tổng quát trong sự thực tập theo lời Phật dạy trong kinh tạng Nikāya, hôm nay chúng ta tìm hiểu về chủ đề quan trọng, có thể nói là cực kì quan trọng trong pháp học và pháp hành, đó là phần chánh tri kiến, đây là bài kinh số 9 trong Trung Bộ Kinh.

Trước nay chúng ta hay nói về chánh kiến (chánh tri kiến), là sự thấy biết chân chánh theo tinh thần của Giáo Pháp, qua bài kinh này chúng ta sẽ thấy được cấp độ của chánh kiến cũng như các khía cạnh của chánh kiến trong Phật Giáo. Không như chúng ta hiểu đơn giản mà trong bài kinh này chánh kiến bao trùm tất cả những khía cạnh của Giáo Pháp. Khi đó Đức Phật đang ở thành Xá-vệ tại Kỳ-đà Lâm của vườn ông Cấp-Cô-Ðộc, lúc bấy giờ ngài Xá-lợi-phất gọi các vị Tỳ-kheo:

"-- Chư Hiền, chánh tri kiến, chánh tri kiến, được gọi là như vậy. Chư Hiền, cho đến như thế nào, một Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?".

(Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)

Hiền giả, chư hiền, hoặc là bậc hiền trí được dùng thông dụng ở thời Đức Thế Tôn còn tại thế. Chữ "hiền" không phải đơn giản như chúng ta nói như người đó hiền lành mà chữ "hiền" này là bậc hiền trí, tức là từ phàm phu lên bậc hiền rồi đến bậc Thánh cho nên bậc hiền này ở kế Thánh, chữ "hiền" này là bậc thành tựu được tâm hiền. Trong quyển Nghi thức tu học Nikāya phần Đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất có hướng dẫn phương pháp thực tập tâm hiền.

Mình nghĩ rằng đi tu rồi nên hiền lành nhưng thật sự vẫn chưa hiền, nhìn thì thấy hiền nhưng đụng vào thì không hiền, trong người mình là những cảm giác dễ khó chịu, bực bội, cau có, dễ sân hận, còn các bậc hiền giả, hiền trí hoặc chư hiền thì tâm họ ở trong cảm giác an tịnh, lắng dịu, trầm mặc, họ thường xuyên trú trong cảm giác an tịnh, lắng dịu, dù cho có chuyện gì đi nữa nhưng các vị này thường trú trong cảm thọ nhẹ nhàng, ngọt ngào, an tịnh và lắng dịu. Vì thế thực tập tâm hiền trong các đạo tràng Nikāya đã trở thành một thời khóa cố định, ngày nào tu học cũng có giờ ngồi thiền thực tập tâm hiền, hiện tại mọi người sẽ thấy lạ, ít người thực tập nhưng lại rất quan trọng thời Đức Phật còn tại thế, đó là tu tâm hiền vì từ tâm hiền mới lên tâm từ, tâm từ là bốn tâm vô lượng.

Cho nên muốn bước đến tâm từ phải qua tâm hiền, muốn thực tập tâm hiền phải học sự an tịnh, lắng dịu nhưng cảm thọ của mình không có lắng dịu mà rất dao động, thường trú trong trạng thái buông lung phóng dật, bất cứ lúc nào không an trú vào đề mục tu hành thì lúc đó là trạng thái của buông lung phóng dật, Minh Thành xuất gia gần ba mươi năm mới phát giác ra điều này, ví dụ người đó tu Tứ Niệm Xứ mà họ không chú tâm vào thân – thọ – tâm – pháp thì lúc này người đó đang buông lung phóng dật, hoặc họ niệm Phật mà không chú tâm vào câu niệm Phật thì họ đang ở trong trạng thái buông lung phóng dật, hoặc người đó tu thiền về niệm hơi thở, xuất nhập tức niệm mà nếu không chú vào cái pháp niệm hơi thở thì người đó đang buông lung phóng dật, cho nên suốt một ngày chúng ta thường xuyên ở trong trạng thái buông lung phóng dật rất nhiều.

Mặc dù đang ở trên chánh điện, giảng đường hoặc trên Bồ-đoàn, thấy cái thân đang ngồi yên nhưng trong tâm không có sự nhiếp phục và chế ngự những triền cái tham dục, sân hận, trạo cử, hôn trầm và nghi ngờ, không tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp thì lúc đó Đức Thế Tôn gọi là người hạ liệt, thấp kém, buông lung. Vì thế khi đọc kinh thấy chữ "hiền" thì đừng xem thường, hiền ở đây chính là bậc hiền Thánh, những bậc này đã vượt qua địa vị của phàm phu, họ thường trú trong một cảm giác rất an tịnh, lắng dịu và trầm mặc.

Trong từ "Thánh đệ tử" thì Thánh là Đức Phật, đệ tử là chúng ta nhưng chúng ta đừng lầm chữ "Thánh" này với những người được tôn xưng là Thánh như Thánh Khổng Tử hoặc là Quan Thánh, thậm chí ở ngoài đời gọi là Thánh Tăng, Đức Thánh Khổng Tử, Đức Thánh Trần Hưng Đạo, hai chữ "Thánh" đó rất khác nhau, chữ "Thánh đệ tử" trong kinh Nikāya có ý nghĩa rất cao thượng.

Có hai loại Thánh là Thánh thế gian và Thánh xuất thế gian. Bậc Thánh được thế gian tôn trọng là Thánh của người phàm phu, do người này có những đức hạnh cao thượng trong đời nên được người đời tôn xưng là bậc Thánh, nghĩa là một bậc có đời sống cao thượng nhưng chữ "Thánh" trong kinh Nikāya nghĩa là Thánh trung chi vương, tức là Thánh của tất cả bậc Thánh, vua của tất cả các bậc Thánh là Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác tối tôn tối thượng và duy nhất, không có người so sánh, không có người ngang hàng, không có người ngang bằng, không có người đối xứng, một chúng sanh duy nhất trong tam thiên đại thiên thế giới chứng ngộ chân lý tối thượng.

Vì sao Đức Phật được gọi là Thánh trong tất cả các bậc Thánh? Sau đây chúng ta sẽ thấy được sự vĩ đại vô cực của Đức Phật khác với sự hiểu biết của chúng ta, khi đi sâu vào kinh Nikāya rồi sẽ thấy không thể nào chúng ta thấy được vô kiến đảnh tướng của Đức Phật, sự giác ngộ của Đức Phật siêu việt hơn tất cả những gì mà mình có thể thấy, có thể nghe, có thể suy nghĩ, có thể nhận thức được, sự giác ngộ của Đức Phật vượt ra ngoài ngũ uẩn cho nên mới gọi là Thánh trung chi Thánh vì thế không thể đem bậc Thánh của thế gian để so sánh với Đức Phật.

Những tư tưởng "Tam giáo đồng nguyên" là người ta không hiểu về Đức Phật nên mới nói như vậy. Chúng ta học rồi sẽ thấy Thánh thế gian và Thánh xuất thế khác nhau như thế nào, Quan Công được tôn làm Thánh nhưng vẫn còn sát sanh thành ra bậc Thánh trong đạo Phật rất cao thượng, không dừng lại ở chỗ nhân nghĩa đạo đức trong đời mà còn vượt lên chỗ đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si và chứng ngộ vô ngã, đó là sự cao quý của Đức Phật.

Thánh đệ tử là những đệ tử của bậc Thánh, đệ tử là chúng ta đây nhưng chúng ta có được xét làm Thánh đệ tử hay không? Đây là chỗ khó nói, chúng ta có được xem là Thánh đệ tử không? Tiêu chuẩn của bậc Thánh đệ tử (đệ tử Phật) là gì? Không phải riêng người xuất gia mà kể cả cư sĩ, nếu xét theo tiêu chuẩn này thì chúng ta chưa chắc được gọi là đệ tử chính thức của Phật dù cho có thọ giới Tỳ-kheo, đây là chỗ thâm sâu mà trong Nikāya mới có, đệ tử Phật là bốn đôi tám chúng hiền Thánh. Muốn trở thành đệ tử Phật phải có điều kiện, chuẩn mực chứ không phải vào quy y Tam Bảo cũng trở thành đệ tử Phật, điều này cũng được nhưng chỉ ở trên hình thức, còn để được công nhận là Thánh đệ tử thì phải là bốn đôi tám chúng hiền Thánh. Cũng như phải thi đại học, phải đạt được điểm chuẩn mới vào học, không phải ai muốn vào học cũng được. Cũng vậy, đệ tử bậc Thánh phải là bốn đôi tám chúng, đó là từ bốn đạo và bốn quả, trong đó bốn quả là:

Tu-đà-hoàn (Sơ quả/Nhập Lưu),

Tư-đà-hàm (Nhị quả/Nhất lai),

A-na-hàm (Tam quả/Bất lai),

A-la-hán (Tứ quả).

Bốn đạo là:

Hướng Dự Lưu,

Hướng Nhất Lai,

Hướng Bất Lai.

Hướng A-la-hán.

Như vậy bốn quả là bốn phẩm vị đã đạt được kết quả, còn bốn đạo là bốn vị đang đi đến quả đó chứ chưa đạt được quả đó, thành ra hướng Dự Lưu quả giống như đang luyện đại học, đang ôn bài chứ chưa vào được đại học, còn Tu-đà-hoàn là đã đậu đại học. Trên đây là bốn đạo, bốn quả hay còn gọi là bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật, đây mới gọi là Thánh đệ tử. Nếu chưa vào bốn đạo, bốn quả này thì vẫn còn là phàm phu, cũng là đệ tử Phật nhưng chỉ ở trên hình thức chứ chưa chính thức tham dự vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh, đây là chỗ rất quan trọng.

Mình phải biết điều này để suốt cuộc đời tu mình đến đâu cũng không biết, "tu vô tu tu chứng vô chứng chứng" là khỏi tu khỏi chứng gì hết. Quả vị thấp nhấp hướng Dự Lưu là vị này nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với cảm thọ, nhàm chán đối với những hình bóng trong tâm là tưởng, nhàm chán đối với mọi suy nghĩ là hành, nhàm chán đối với thức, vị này thấy được tính chất vô thường, khổ đau, bất toại nguyện, tính chất tan hoại, hoại diệt, diệt vong của ngũ uẩn, vị này không còn ham thích mà hướng đến sự xuất ly, đi ra khỏi ngũ uẩn, chứng đạt tâm diệt tận tham sân si, tâm vị này xác quyết mãnh liệt để thoát ra sự vô thường, khổ não, vô ngã của tứ đại ngũ uẩn thì vị đó mới gọi là hướng Dự Lưu.

Bây giờ mình đang ở vị trí ngoại phàm, tức là kẻ phàm phu còn ở ngoài vòng của hiền Thánh vì thế chữ "Thánh đệ tử" trong kinh Nikāya dùng rất khủng khiếp, như vậy mới được gọi là đệ tử của bậc Thánh. Làm thế nào để một vị đệ tử của bậc Thánh nhìn thấy tính chất vô thường, khổ não, tan nát, hủy hoại của thân tâm này để nhàm chán? Chính là phải nghe nhiều kinh tạng Nikāya, vì nghe nhiều nên gọi là bậc Đa văn, tức là phải nghe những lời của Đức Phật và các bậc hiền Thánh trong bốn quả bốn đạo, ngoài ra không nghe lời của phàm phu.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng: "Đây là không nghe". Sự nghe ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là nghe vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng".

(Tăng Chi Bộ, chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X). Trên Tất Cả)

Nếu nghe thâu đêm suốt sáng, ngày này qua ngày kia cho đến chết nhưng không phải lời của Như Lai và đệ tử Như Lai thì vẫn không gọi là bậc Đa văn Thánh đệ tử vì cái nghe đó là của phàm phu chứ không phải của bậc thành tựu Thánh trí tuệ. Chúng ta đang học chánh tri kiến là chúng ta đang nghe đa văn vì nghe Chánh Pháp sẽ có công năng làm cho mình nhàm chán, ly tham, viễn ly, đối với những thứ vô thường, khổ não, vô ngã từ từ mình sanh lên cảm xúc nhàm chán, không tham muốn nữa.

Cái nào mà nghe làm cho mình sanh khởi những cảm thọ, cảm giác đó mới gọi là Chánh Pháp, còn nghe mà làm tăng tham muốn, ham thích thì dù cho dán nhãn mác gì đi nữa cũng không phải là Chánh Pháp. Chánh Pháp thật sự khi nghe sẽ có cảm xúc nhàm chán, ly tham, từ bỏ. Chúng ta chưa đi vào bài kinh là để học những khái niệm quan trọng như bậc hiền trí, bậc Thánh đệ tử, bậc Đa văn, chúng ta có kiến thức căn bản, khái niệm tổng quát về những từ ngữ trong tạng kinh Nikāya để từ đó mới dễ dàng thâm nhập vào được, nếu không sẽ như Minh Thành khi xưa nghe tạng kinh này hai mươi năm vẫn không hiểu, khi không nắm được chìa khóa ngũ uẩn sẽ không hiểu được hết ý nghĩa mà chỉ hiểu trên từ ngữ, kiến thức, phải có chìa khóa mở mới thấy được giá trị siêu việt vĩ đại của tạng kinh Nikāya này, từ đó mới thấy những lời dạy của Đức Phật thật sự có công năng nhiếp phục tham sân si.

Bài kinh này không có người hỏi mà ngài Xá-lợi-phất tự nói, thuộc thể loại vô vấn tự thuyết. Ngài Xá-lợi-phất là chí thượng thanh văn, ngài và Mục-kiền-liên được Thế Tôn nói có thể thay thế Như Lai lãnh đạo Tăng đoàn, khi Đức Như Lai xuất hiện thì thường sẽ có hai vị chí thượng thanh văn xuất hiện để phò tá, ngài Xá-lợi-phất được Đức Phật gọi là tướng quân Chánh Pháp vì thế đây là bài kinh của tướng quân Chánh Pháp giảng giải cho chúng ta.

"-- Chúng tôi từ xa đến để được hiểu ý nghĩa lời nói ấy từ Tôn giả Sariputta. Thật lành thay, nếu Tôn giả Sariputta giảng cho ý nghĩa lời nói ấy. Sau khi nghe Tôn giả Sariputta, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.

-- Chư Hiền, vậy hãy nghe, hãy khéo tác ý. Ta sẽ giảng.

-- Thưa vâng, Hiền giả! - Các Tỳ-kheo vâng đáp Tôn giả Sariputta".

(Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)

Tác ý là sự tác động tâm ý, nghĩa là không phải nói rồi ngồi nghe một chiều hoặc suy nghĩ lan man hoặc ngủ gật mà nghe tới đâu là tâm chuyên chú tới đó, gọi là tùy văn nhập quán, khi nghe đến đâu thì tâm ý tác động theo những lời nói đó thì mới có khả năng thể nhập, thẩm thấu, quán chiếu để khai phá được Thánh trí tuệ. Chúng ta đừng đọc kinh như đọc báo, những lời này không phải là lời nói bình thường, mỗi câu mỗi chữ trong kinh đều là trí tuệ của bậc Thánh, là những bậc đã chứng ngộ nên nó không đơn giản như nghe tin tức, đọc báo, đọc sách.

Mình cần đọc và ngồi thiền nghiền ngẫm, suy tư, quán chiếu để thể nhập rồi từ từ mình sẽ thể nhập tri kiến của bậc Thánh, sự thấy biết đúng. Những lời giảng trong kinh Nikāya là tri kiến của bậc Thánh, sự thấy biết của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và các bậc Thánh, không phải là lời nói của bậc phàm phu nên đọc vào là có thể hiểu được mà phải qua nhiều lớp thưa hỏi, tìm hiểu, thậm chí nghiền ngẫm vài năm cho đến vài chục năm rồi từ từ mới thẩm thấu, thể nhập và chứng ngộ. Đầu tiên ngài Xá-lợi-phất trình bày vấn đề thiện và bất thiện

II. Thiện và bất thiện

"Tôn giả Sariputta nói như sau:

(Thiện và bất thiện)

-- Chư Hiền, khi Thánh đệ tử tuệ tri được bất thiện và tuệ tri được căn bổn bất thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri được căn bổn thiện, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.

Chư Hiền, thế nào là bất thiện, thế nào là căn bổn bất thiện, thế nào là thiện, thế nào là căn bổn thiện? Chư Hiền, sát sanh là bất thiện, lấy của không cho là bất thiện, tà hạnh trong các dục là bất thiện, nói láo là bất thiện, nói hai lưỡi là bất thiện, ác khẩu là bất thiện, nói phù phiếm là bất thiện, tham dục là bất thiện, sân là bất thiện, tà kiến là bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là bất thiện".

(Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)

Đây là mười điều ác hay còn gọi là thập ác, cái này đọc qua thấy bình thường nhưng lại là pháp hành, giới hạnh, giới đức của một con người. Cái gọi là chẳng lành, không tốt, ác điều nằm trong đây, bây giờ ác bất thiện pháp có mặt khắp mọi nơi, rất khủng khiếp và cảm thấy thật sợ hãi. Cách đây khoảng mười, mười lăm năm trước mà nghe tin giết người là chấn động nhưng bây giờ cứ vài ngày lại có án mạng, anh em giết nhau vì vài tấc đất, con giết cha, giết mẹ, vợ giết chồng, cướp của, sát hại…

Những ác tham, ác dục làm cho thế giới đi xuống, sụp đổ luân lý đạo đức, nền tảng của xã hội bị nghiêng ngã và thế giới nhân sinh con người bị đảo điên và chính điều này làm cho sự cộng nghiệp của toàn cầu làm chúng ta ngồi đây phải bịt khẩu trang, chưa bao giờ tưởng tượng được chỉ cần nghe một tiếng ho thôi là ăn ngủ không yên, run sợ, chưa bao giờ tưởng tượng được cảnh tượng toàn thế giới trở nên trống vắng, yên ắng đến vậy, chưa bao giờ tưởng tượng được trường hợp một đứa trẻ hơn mười tháng tuổi bị một ông già bảy tám mươi tuổi xâm hại. Thật khủng khiếp và kinh hãi vì những ác bất thiện pháp đang xâm chiếm, áp đảo, lật đổ những gì thiện lành của thế giới, của chúng sanh hữu tình nên càng ngày con người càng bị giảm tuổi thọ, giảm dung sắc, an bình bị mất đi, càng ngày sống trong sự sợ hãi, lo âu, hoảng loạn, đó là do ác pháp ngày càng bành trướng cho nên đừng đòi hỏi những gì cao thâm trong khi nền tảng của thiện pháp không có thì cũng không xây lên được gì cả.

"Và này chư Hiền, thế nào là thiện? Từ bỏ sát sanh là thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện, từ bỏ nói láo là thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện, từ bỏ ác khẩu là thiện, từ bỏ nói phù phiếm là thiện, không tham dục là thiện, không sân là thiện, chánh tri kiến là thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là thiện".

(Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)

Thập thiện này là nền tảng đạo đức căn bản của xã hội, nhằm duy trì trật tự bình an và hạnh phúc của nhân sinh, của thế giới, của loài người. Một khi năm giới cũng như mười giới bị sụp đổ thì lúc đó thế giới xã hội bị sụp đổ, không dừng lại ở ngoài đời mà ngay cả người xuất gia cũng có nhiều chuyện lạ, không theo đúng với tinh thần giới luật của Đức Phật dạy càng ngày càng nhiều, không những tự mình làm sai mà còn khuyến khích cho người khác làm sai, phô trương những cái sai lầm đó ra. Người nào phạm vào bốn mươi điều bất thiện sẽ đọa địa ngục, ác thú, đọa xứ, họ vừa sai lầm tà kiến lại còn khuyến khích người khác sai lầm tà kiến, họ vừa sát sanh lại còn khuyến khích người khác sát sanh. Nếu không có cái thấy biết chân chánh về thiện và bất thiện thì họ làm ra những chuyện khinh sư diệt tổ, phá pháp, phá mất lòng tin Tam Bảo những người tín tâm nên thiện pháp sụp đổ. Trong bài kinh Chuyển luân Thánh vương sư tử hống của Trường Bộ Kinh Đức Phật nói rằng khi cái ác của con người càng ngày càng tăng, thập thiện mất đi, năm giới không còn nữa cho đến lúc tuổi thọ con người giảm xuống chỉ còn năm tuổi là con gái đi lấy chồng, mười tuổi là mạng chung.

 "Này các Tỳ-kheo, một thời sẽ đến khi những người con của loài Người chỉ sống đến mười tuổi. Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ mười tuổi, con gái đến năm tuổi sẽ lập gia đình. Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài người đến mười tuổi, chữ thiện cũng sẽ không còn, nói gì ai là người làm điều thiện? Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người đến mười tuổi, những ai thiếu sự hiếu kính đối với cha mẹ, thiếu sự hiếu kính đối với Sa môn, Bà-la-môn, thiếu sự cung kính đối với người cầm đầu trong gia đình, những người ấy sẽ được người ta lễ bái, tán dương. Này các Tỳ-kheo, như hiện nay những ai hiếu kính với cha mẹ, kính lễ đối với các vị Sa môn, Bà-la-môn, cung kính đối với những người cầm đầu trong gia đình, những người ấy được người ta lễ bái tán dương. Cũng vậy này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người đến mười tuổi, những ai thiếu sự hiếu kính đối với cha mẹ, thiếu sự kính lễ đối với các vị Sa môn, Bà-la-môn, thiếu sự cung kính đối với các vị cầm đầu trong gia đình, những người ấy được người ta lễ bái tán dương".

(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)

Gần đây báo chí đăng tin đứa bé gái mới mười một tuổi đã mang bầu được vài tháng, khi người mẹ thấy bụng con mình càng ngày càng to lên mới đưa đi khám thì phát hiện con mình đã mang thai, công an điều tra mới phát hiện ra người hàng xóm sau khi xâm hại đứa nhỏ đã kề dao vào cổ bảo rằng nếu khai ra sẽ bị giết chết. Điều này cho thấy những gì Đức Phật nói cách đây 2600 năm trước đã biểu hiện ra, những đứa nhỏ mới ở độ tuổi vị thành niên đã biết yêu, biết thích người khác phái trong khi thời của mình ở độ tuổi đó còn vô tư cởi truồng tắm mưa, vì càng ngày những ác pháp, bất thiện pháp càng biểu hiện rõ ràng và xâm nhập, áp đảo làm nghiêng ngã đạo đức. Thế Tôn đã nói khi con người chỉ còn sống mười tuổi thì danh từ "Tam bảo" không còn ở thế gian nữa, chữ thiện cũng sẽ không còn, nói gì ai là người làm điều thiện, Đức Phật dùng từ ác ý, "sát tâm mãnh liệt", "hại tâm mãnh liệt" mà không phải với người dưng mà là với cha mẹ, chồng con mình, cầm cái gì cũng thành vũ khí, đi đến sự tận diệt của thế giới, đó là kiếp hoại.

"Này các Tỳ-kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi, các loài hữu tình đối với nhau, hại tâm rất mãnh liệt, sát tâm rất mãnh liệt. Mẹ đối với con, con đối với mẹ, cha đối với con, con đối với cha, anh đối với em, em đối với anh, em đối với chị, chị đối với em, hại tâm rất mãnh liệt, sân tâm rất mãnh liệt, ác ý rất mãnh liệt, sát tâm rất mãnh liệt". 

(Trường Bộ Kinh, 26. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống)

Những điều này đã biểu hiện ra, có cô Phật tử đang đứng trước cổng chùa bị giật điện thoại nên đập đầu xuống đất phải may mười mấy mũi, thậm chí là vào tận chùa sát hại thầy trụ trì cướp của, những ác pháp này nghe nói đến mà rùng rợn, chưa bao giờ nghe nói đến từ khi sanh ra cho đến nay đã bốn mươi năm, không tưởng tượng được cảnh giết thầy trụ trì để cướp tiền nhưng không phải chỉ một hai trường hợp mà là rất nhiều, những lòng tham này gọi là ác tham, điều này cho thấy nền tảng căn bản của đạo đức bị nghiêng ngã, sụp đổ và con người phải sống trong sự lo âu, bất an. Đi ra đường rất lo sợ, anh chàng thanh niên mới bước xuống xe đã bị giật mất ba lô, như vậy cái tham rất mãnh liệt, áp đảo, bao trùm khắp mọi nơi, chỗ nào cũng có thể xảy ra tai họa, giết người chặt xác…

Chúng ta là người tu nên mỗi ngày cần niệm giới chứ không phải đợi đến nửa tháng mới lên tụng giới, sáng dậy là phải niệm bốn giới căn bản của Tỳ-kheo là những giới quan trọng nhằm nhắc nhở bản thân. Chúng ta không phải chỉ đọc kinh trên chữ nghĩa mà cần nhìn ra xã hội đương thời, thực trạng của thế giới ngày nay để thấy giá trị sâu sắc và rộng lớn, dài xa của trí huệ giác ngộ của Đức Phật và các bậc Thánh Tăng từ ngàn xưa, nếu nói về pháp bất thiện này thì muôn đời vạn kiếp sau giá trị của nó vẫn là siêu việt thời không, giá trị của thiện pháp này một vạn năm sau vẫn không thay đổi.

Chữ "sát sanh" rất rộng lớn, tức là sát hại sinh mạng sự sống và sự sống này bao gồm cả người và không phải người, chặt cây cũng là một dạng sát sanh vì đã sát hại sự sống của cây đó. Chúng ta chặt cây quá nhiều nên bây giờ ảnh hưởng đến môi trường làm biến đổi khí hậu, lũ lụt, sạt lở… đó là quả báo của sát sanh. Nếu chỉ nói hậu quả là thiên tai mà không thấy nhân tạo trong này, chính con người góp phần lớn trong việc biến đổi khí hậu, con người đi đến đâu là tàn phá tới đó. Ở bên Úc ban hành luật lệ không cho đào xới đất cách đây năm bảy năm, muốn xây cất nhà trên đồi phải làm nhà sàn, muốn cào đất phải xin phép cực kì khó khăn chứ không phải đơn giản là cứ đào bới, xới đất, phá hoại môi trường tự nhiên, đó cũng là một dạng sát sanh, sát hại sự sống.

Bây giờ có câu "một mét vuông mười thằng ăn cắp", hở ra là bị mất cắp, không phải ngoài đời mà ngay trong chùa cũng bị mất cắp, có những chùa phải đề bảng "coi chừng mất dép", "cẩn thận bị móc túi", cái ác đã lấn vào tận trong chùa. Minh Thành đưa mẹ mình lên bệnh viện để mổ lỗ tai cách đây hai mươi năm, trong lúc làm giấy tờ thủ tục thì nhìn lại cái đãi bị rọc một đường dài nhưng may mắn không bị mất tiền, túi đãi của thầy chùa mà bọn trộm cắp cũng không tha cho, đâu đâu cũng có kẻ trộm cắp, thậm chí ngay cả trên Linh Quy Pháp Ấn là chỗ nghèo nàn, xa xôi mà nhiều cũng có kẻ trộm lấy cần câu câu tiền trong thùng phước sương.

Cho nên căn bản của sự tu thiện là tự thân chúng ta phải nhắc nhở tác ý và tu tập từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, người xuất gia phải từ bỏ dâm dục, từ bỏ nói dối, nói lời thiêu dệt, nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác, từ bỏ nói những lời phù phiếm, Đức Phật dạy mình phải nói như thế nào cho đúng nếu không sẽ thành nói lời phù phiếm, đó là vẫn phạm giới, tức là nói chuyện vô ích, không liên hệ đến mục đích của sự giải thoát, đoạn tận tham sân si, tăng trưởng các thiện pháp, nếu những lời nói nào không liên hệ đến những mục đích đó đều phạm giới, là nói lời phù phiếm, là ác bất thiện pháp.

"Và chư Hiền, thế nào là căn bổn bất thiện? Tham là căn bổn bất thiện, sân là căn bổn bất thiện, si là căn bổn bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn bất thiện".

(Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)

Những điều này rất thâm sâu chứ không đơn giản như chúng ta hiểu về tham sân si, tu cho đến khi chết cũng chưa thấy hết được tham sân si, người thấy được tham sân si là bậc Dự Lưu Thánh quả thứ nhất, người này mới thấy đúng được bộ mặt của nó. Còn mình thấy người kia phạm giới ra đời, người kia sân hận hở chút là gây lộn, cự cãi, người kia không minh mẫn mà lúc nào cũng lờ đờ… cái đó không cần tu vì người thế gian cũng biết, nếu mình thấy được tham sân si của mình thì hỡi ơi, gớm ghê, ê chề vì tham sân si của mình rất khủng khiếp, bao trùm mọi thời mọi chốn, chiếm lấy toàn bộ nhận thức, suy nghĩ, cảm giác đều là tham sân si, từng cọng tóc, từng lỗ chân lông, từng cái răng, từng tế bào trong thân xác này chỉ toàn là tham dục, tham ái, không có cái nào là không tham ái.

Nếu có ai cọ quẹt trúng thân này là biết ngay có tham ái hay không, nhiều khi chưa chạm vào mà chỉ cần đứng xa xa liếc mắt thôi đã có chuyện ngay nên mới có chuyện giết nhau, đánh nhau vì nhìn đểu, chỉ vì một ánh mắt mà có thể xảy ra án mạng giết người. Thật là khủng khiếp, kinh hãi! Điều này chứng tỏ sự sân hận lên đến tột đỉnh, tự nhiên nhìn rồi bị cho là nhìn đểu nên quay lại đâm chết, cái chết phi lý, chết oan ức, đó là sự phát triển đỉnh điểm của tâm sân, của bản ngã nên làm ra khổ mình khổ người, đó là giết mình giết người vì giết người ta chết thì mình cũng phải vào tù chung thân hoặc tử hình.

Phải ngồi thiền quán chiếu những thứ này để run sợ, khiếp sợ trước ác nghiệp ngày nay, đọc những tin tức như vậy phải thấy hoảng sợ trước sự nguy hiểm và tác hại của ác bất thiện pháp và gốc rễ của những thứ đó chính là lòng tham muốn, lòng nóng giận và lòng si mê, chấp ngã, làm khổ mình khổ người, báo đời. Ban đêm không ngủ lại đi đua xe, nẹt pô ầm ầm, chạy tốc độ bàn thờ phóng nhanh vượt ẩu, hại mình hại người và làm mọi người khó chịu, bất an cũng chỉ vì sự thúc giục bên trong, chạy cho đã cảm giác bên trong cho nên gốc rễ của tội ác là tham dục, sân hận và si mê. Đây chính là gốc rễ của tội ác, đây cũng là đề tài thiền quán, ngồi lại nghiền ngẫm "Thật là ngao ngán cho đời sống tội lỗi! Thật là hoang phí cho đời sống si mê! Thật là uổng phí cho đời sống tham dục, tham lam, ác độc! Thật là đau đớn và cay đắng xót xa cho một kiếp người được cha mẹ sanh ra, cơm cháo nuôi dưỡng, được lo lắng, giáo dưỡng để rồi phải sống cuộc đời hại mình hại người, khổ mình khổ người, gây ra sự bất an, hoạn nạn, khổ nạn, hiểm nạn, ách nạn. Thật là vô minh cho một đời sống như vậy!"

Phải quán chiếu như vậy để sanh ra cảm giác rùng mình, ghê sợ để nhàm chán cái ác và bất thiện pháp, nhàm chán những tội lỗi bất thiện từ đó vượt ra, viễn ly, xuất ly, đó là chúng ta đang làm nền vững chắc của thiện pháp để xây lên những tòa lâu đài. Phải làm nền móng kiên cố cứng chắc vững mạnh, không những giữ giới ở những điều mình sợ không dám phạm phải mà từ những điều mình nhìn thấy lợi và hại, cái nào đưa đến khổ đau và cái nào đưa đến bình an, cái nào là thiện cái nào bất thiện, cái nào là phước cái nào là tội, thấy được nguyên lý nhân quả trong đó mới có sự nhàm chán, sợ hãi đối với tội lỗi, ác bất thiện pháp, từ trong những cảm thọ, cảm xúc, suy nghĩ, nhận thức đã thấy nhàm chán muốn thoát ra thì đó mới là giữ giới thâm sâu của trí tuệ, không còn giữ giới ở ngoài hình thức là vì sợ nên phải giữ mà là từ trong cảm giác, nghĩ tưởng nhìn thấy sâu sắc hậu quả, hệ lụy, những nguy hiểm và tác hại của những ác bất thiện pháp này, tác hại của lòng tham dục, si mê, bản ngã, sự nguy hiểm và tai họa của nó dẫn đến điều gì.

Chúng ta phải thường xuyên chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, tư duy, quán chiếu thấu đáo mới làm cho mình phát sanh ra trí tuệ về sự nguy hại, điều này rất quan trọng vì thế chúng ta cần thành tựu về cả ba loại trí huệ này vì nó tuyệt đối quan trọng. Thứ nhất là vị ngọt của các dục, đương nhiên có vị ngọt nên chúng sanh mới tham, mới ham thích, mọi người đều bị vị ngọt này làm cho say mê điên đảo, "ngọt mật chết ruồi" cho nên chúng ta cần phát triển lớn mạnh, sâu sắc, rộng lớn và dài xa trí tuệ về sự nguy hại, tức là sự nguy hiểm và tác hại của các dục. Sự nguy hiểm và tác hại của những cảm giác sân hận sẽ đưa đến đâu? Đưa đến đấu khẩu, đấu võ, đưa đến tù tội, chết chóc, khổ đau. Sự nguy hiểm và tác hại của lòng si mê, ám muội đưa đến đâu? Đưa đến bất an, nước mắt, sợ hãi, lo lắng, đau khổ, tật bệnh, tang tóc, bệnh hoạn, tai ương…

Sự nguy hiểm và tác hại của bản ngã, chấp ngã, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người sẽ đưa đến đâu? Sự tan vỡ, sự đổ nát, sự bất kính, rối loạn trật tự. Cần quán chiếu thâm sâu gốc rễ của tội ác, tham sân si, vô minh và bản ngã, khi đã thấy quá nhiều sự nguy hiểm và tác hại thì tự động mình sẽ muốn thoát ra thì thành tựu trí huệ xuất ly. Đây là bí kíp của Đức Phật, trong kinh tạng Nikāya Đức Phật đã tâm sự với chúng ta rằng lúc đó Bồ-tát tu mãi vẫn không chứng Chánh Đẳng Chánh Giác nên ngài mới xem lại thì phát hiện ngài chưa đủ trí tuệ về sự nguy hại nên ngài trở về tu tập quán chiếu sự nguy hại cho đến sung mãn cho đến khi ly dục, xuất ly và chứng thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

"Này Ananda, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng được Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Lành thay, sự xuất ly! Lành thay, sống viễn ly". Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi trong sự xuất ly ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát, dầu Ta có thấy "Ðây là an tịnh". Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: "Vì Ta không thấy nguy hiểm trong các dục, vì Ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy, lợi ích của xuất ly chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi trong xuất ly ấy, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát". Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy", thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta có thấy: Đây là an tịnh".

(Tăng Chi Bộ, chương IX – Chín Pháp, IV. Đại Phẩm, (X). Tapussa)

Chúng ta không nhiếp phục được dục vì chúng ta không quán sự nguy hiểm và tác hại của dục, mình chỉ thấy vị ngọt nên không thể xuất ly. Nếu thường xuyên quán sự nguy hiểm và tác hại của nó thì ít nhất chúng ta cũng làm cho dục lắng dịu hoặc được nhiếp phục phần nào, còn giờ chúng ta cứ ngồi tụng kinh niệm Phật rồi chờ một ngày nào đó bừng lên hoát nhiên đại ngộ, đây chỉ là sự ảo tưởng chứ không có sự giác ngộ như vậy, trong kinh Nikāya Đức Phật nói đạo lộ tu tập được ngài hướng dẫn không có việc bất thình lình chứng ngộ. Việc huấn luyện, dạy dỗ, giáo dục theo Thánh đạo của ngài là có tuần tự, có phương pháp, có những cấp độ, trình tự chứ không có việc bất thình lình chứng ngộ.

"Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này".

(Tăng Chi Bộ, chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)

Vì thế trong sự tu tập chúng ta đừng ảo tưởng, ước mơ, hi vọng rằng ngồi đó rồi một ngày sẽ bừng lên ngộ mọi thứ. Phải có sự tháo gỡ, tẩy rửa, kiểm tra từng ý niệm, suy nghĩ, từng cảm giác, cảm xúc, từng hình bóng trong tâm, cái nào là bất thiện phải được lau chùi, quét dọn, tẩy sạch thì từ từ mới đi đến chỗ giảm thiểu rồi đến chỗ vô lậu, tức là hoàn toàn sạch sẽ. Một người có căn nhà sạch sẽ vì ngày nào họ cũng quét dọn, lau chùi hoài, tâm mình cũng vậy, mình không lo quay vào nội tâm để đánh đuổi, tẩy rửa mà cứ lo hướng ra ngoài làm việc này việc kia vì danh lợi, khoe khoang, phô trương trong khi bên trong tâm còn quá nhiều tham sân si, dục ái và bản ngã thì sự tu hành đó cuối cùng cũng hối hận.

Vì gốc rễ của đau khổ trong con người mình chưa được trừ khử, chưa được bứng nhổ, chỉ có hướng ngoại chạy theo hình thức bên ngoài trong khi nội tâm còn đầy rẫy rác bẩn thì sự tu đó không đưa đến thành tựu cứu cánh của người xuất gia. Chúng ta có rất nhiều nhân duyên để được ngồi trong mái trường này để tâm sự vì đời tu chúng ta rất cao quý, nếu chúng ta học đúng, thực hành đúng thì chắc chắn sẽ có kết quả như Bát Chánh Đạo và giống như chánh tri kiến, một khi chúng ta đặt tâm sai hướng thì tất cả những gì chúng ta suy tư, nói năng, hành động đều đi theo một hướng khác chứ không đi theo hướng đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si và sau bao nhiêu năm ở trong chùa với cơm chao, tàu hủ, dưa leo, "ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da" nhưng trong lòng chúng ta vẫn sầu bi khổ ưu não, trong tâm chúng ta vẫn là bóng đêm không có con đường, không có hướng đi, không có lối thoát, điều này thật sự rất đáng tiếc.

Bằng tất cả tấm lòng Minh Thành thưa với các huynh đệ, những buổi học của Minh Thành không chỉ đơn thuần là những buổi trao đổi về kiến thức Phật học mà Minh Thành muốn đem tất cả những gì đã tu học trong suốt ba mươi năm qua cúng dường cho các thầy một phương pháp, một cách thức, một con đường thực tập đúng như lời Đức Phật đã dạy, đó là Phật Pháp nguyên chất. Chúng ta đừng đặt nặng đây là môn gì, tên gì, chúng ta hãy đặt tâm đúng hướng là làm sao để chúng ta nắm được pháp hành thật sự của Đức Phật, đó là sự nghiệp – đời sống xuất gia của chúng ta. Ban giám hiệu phân công môn này lúc đầu gọi là Các vấn đề Phật học nhưng sau đó có vài vị nêu ý kiến học những bộ lớn như Duy-ma-cật…

Nhưng Minh Thành lại mong muốn gửi đến các huynh đệ pháp thực tập trở về những lời dạy nguyên chất của Đức Phật để chúng ta cùng chia sẻ, tu tập. Thật sự không biết chúng ta có đủ duyên để gặp tiếp không vì hoàn cảnh dịch bệnh, thứ hai là vô thường vì Minh Thành phải di chuyển quãng đường năm trăm cây số nên không biết còn gặp nhau không, quý huynh đệ hiểu được và thông cảm thì chúng ta mới cùng nhau chia sẻ trong môn học này.

Thật sự các chư tôn đức rất tha thiết trong pháp hành, Hòa Thượng phó hiệu trưởng Thượng Thiện Hạ Pháp trưởng ban Tăng sự của Trung Ương, thượng tọa hiệu phó Giác Trí… băn khoăn làm sao để chia sẻ diệu pháp thực hành cho các anh em, chú trọng vào pháp hành, lý thuyết đã có sẵn trên mạng rất nhiều nên bây giờ phải nắm pháp hành, tuy rằng bây giờ chúng ta vẫn chưa thực hành hoặc có thể thực hành chút ít nhưng ít nhất khái niệm căn bản, những gốc rễ mà Đức Phật trao truyền thì chúng ta cũng nắm bắt được để sau này ra trường hoặc gặp chuyện phiền não sanh khởi thì chúng ta cũng có pháp hành để thực tập.

Sau này lớn lên có thời gian yên tĩnh hoặc có duyên chia sẻ với Phật tử hoặc các huynh đệ đi sau thì mình cũng có quy trình, lộ trình tu học trong những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Đây là tấm lòng cũng như tâm nguyện của Minh Thành trình bày lên để các huynh đệ thấu hiểu để cùng đi chung với nhau trong chặng đường còn lại. Bây giờ chỉ tu chung chung là một ngày tụng hai thời khóa, lấy đó làm công phu nhưng thật thà nói với nhau thì vẫn chưa đủ để giải quyết triệt để vấn đề tham dục, sân hận, bản ngã, những vấn đề nhức nhối nội kết trong tâm, chúng ta phải có những phương pháp hiệu quả và thiết thực nhất để thực hành, môn này chính là nhằm đáp ứng nhu cầu đó cho các huynh đệ.

Đây là phương pháp thực tập cấp bách và cần thiết cho đời sống, nhất là đối với những vị Tăng trẻ, nếu bây giờ không học, không thực tập thì sau này lớn lên chúng ta sẽ không có thời gian, chúng ta bị cuốn vào công việc, công tác, bị cuốn vào bổn phận trách nhiệm cho nên đây là thời điểm vàng son nhất của người xuất gia. Vì thời gian này mình được ngồi ghế nhà trường, được nghe những kinh nghiệm sâu sắc từ những bậc giáo thọ sư, từ những bậc thầy trưởng thượng, vì đây là lúc mình có nhiều thời gian nhàn rỗi để sống đời sống thanh tịnh, từ đó có nhiều thời gian ngồi một mình, đi một mình, tĩnh lặng một mình để quán chiếu sâu sắc về ý nghĩa, giá trị, mục đích của đời sống xuất gia.

Việc này không hề uổng công cho nên chúng ta hãy để tâm, để ý vào mục đích tu tập của người xuất gia rồi trái ngọt sẽ trổ ra, hương vị của Chánh Pháp sẽ được nếm, mùi thơm của giải thoát sẽ được thưởng thức. Trong những năm tháng khó khăn gian khổ trên ghế nhà trường, trong tự viện, trên Bồ-đoàn một mình vì đau đớn, tê chân, buồn ngủ, ở một mình lạnh lẽo, nhạt nhẽo, cô đơn sẽ được đánh đổi bằng giá trị siêu xuất thế gian, vĩ đại siêu việt.

Hãy mạnh mẽ lên, tinh tấn lên, dõng mãnh lên để chúng ta tiến bước trên Thánh đạo, trên Thánh quả để chúng ta xứng đáng bước vào bốn đôi tám chúng, chính thức là đệ tử chính tông của Đức Phật, là bậc Đa văn Thánh đệ tử. Chúng ta phải làm người con chánh tông của Đức Phật, bước vào bốn đôi tám chúng, thành tựu trí tuệ thật sự của Đức Phật truyền trao. Hãy làm người thừa tự Chánh Pháp chứ đừng làm người thừa kế tài vật.

"-- Này các Tỳ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật".

(Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.