Kinh NIKAYA Giảng Giải - Chúc Xuân - Xuất Gia Để Làm Gì - ĐĐ Thích Minh Thành (AutoRecovered)
Kinh Nikāya Giảng Giải
CHÚC XUÂN – XUẤT GIA ĐỂ LÀM GÌ
Thích Minh Thành
Minh Thành cũng thường tâm sự với các huynh đệ là Minh Thành luôn nghĩ rằng chúng ta cùng nhau tu học. Ở trong bản thân kinh nghiệm đời tu của thầy, thì thầy có những điều rất bình thường nhưng lại vô cùng trọng yếu của người xuất gia, nếu không giữ được thì sự nghiệp tu hành của mình không có thành tích, không có thành tựu, không có thành quả.
Điều quan trọng phải giữ đầu tiên là có trước có sau. Thế nào là có trước có sau? Tức là ngày đầu tiên mình đến chùa gặp thầy, khi đó cái tâm tôn kính, tâm tôn trọng, tâm bỡ ngỡ, tâm cẩn thận như thế nào thì phải giữ cho được cái tâm đó, dù cho mười năm hai chục năm cho đến hết đời phải giữ được tâm đó. Đừng có lúc đầu thì cung kính, tôn trọng giữ oai nghi như con dâu mới về nhà chồng nhưng sau đó một thời gian rồi thì sỉ vã cả mẹ chồng và chồng và những người thân trong gia đình. Đó là lời Phật dạy trong tạng kinh Nikāya.
Mình phải luôn giữ tâm thái cô dâu mới về nhà chồng, luôn giữ tâm thái mới ban đầu bước vào đạo. Đó là điều rất đơn giản mà rất là khó. Vì thầy ở trong chùa ba mươi năm chứng kiến không biết bao nhiêu người tu mà ra đời, cuối cùng họ đi ngang thang. Dù ở trong chùa mà có xác không có hồn, không có sự hỉ lạc trong pháp, không có sự hoà hợp của tăng và không có được niềm an tịnh để tăng thượng tâm học, tăng thượng giới học, tăng thượng giới học.
Điều thứ hai cực kì quan trọng là người tu đừng sống theo tình cảm của phàm phu. Mình phải sống theo tinh thần hoà kính.
Sống theo tình cảm phàm phu là như thế nào? Là thân với những người thân và không thân với những người không thân, chơi với những người hợp và không chơi với những người không hợp. Đó là thường tình của thế gian.
Người xuất gia phải biết chữ tăng cao quý như thế nào. Chữ tăng là thánh thiện, cao thượng, đó là đời sống xuất li, viễn li. Và tình thương đó phải được rèn luyện, huấn luyện, tập luyện tu luyện để trở thành một tâm từ. Không còn tình thường của thương ghét thân sơ của phe nhóm thuận nghịch nữa. Mà đó là một tâm từ trang trải cùng khắp đến thậm chỉ con vật, cỏ cây. Cái này thấy đơn giản nhưng làm được thì rất là khó khăn. Phải giữ được tinh thần tăng, phải có được niềm vui ở trong sinh hoạt thiền môn.
-- Này Hiền giả Sàriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?
-- Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này.
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, cái gì là khó làm?
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, hoan hỷ (abhirati) là điều khó làm.
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, cái gì là khó làm?
Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp.
-- Có lâu không, này Hiền giả, một người đã thực hành đúng pháp và tùy pháp có thể thành vị A-la-hán?
-- Không lâu, này Hiền giả.
(Tương Ưng Bộ Kinh – tập IV, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, bài kinh Khó làm)
Có một vị hỏi ngài Xá-lợi-phất rằng trong giáo pháp Như Lai cái gì là khó. Ngài Xá-lợi-phất trả lời trong giáo pháp Như Lai xuất gia là khó. Vị này mới hỏi sau khi xuất gia rồi cái gì là khó. Ngài nói sau khi xuất gia rồi sống đời phạm hạnh an vui là khó. Và cuối cùng thành tựu được mục đích phạm hạnh cái đó là khó.
Như vậy xuất gia là một việc rất là khó mà không phải xuất gia xong rồi là xong. Mà bước thứ hai là niềm vui trong đời sống xuất gia. Làm sao để có được hỷ lạc, có được sự tịnh lạc, sự an lạc, xuất ly lạc, viễn ly lạc, xuất thế lạc, Niết-bàn lạc. Phải tìm cho ra được niềm vui ở trong pháp, ở trong sự thực tập, ở trong đời sống viễn li, ví đó là điều tưới tẩm nuôi dưỡng đời giống xuất gia của chúng ta. Hỷ lạc giống nước, giống như phân, giống như đất, có nó thì cây bồ đề mới tăng trưởng được, không có những yếu tốt này thì như cây không có đất để bám.
Và điều cực quan trọng sau khi xuất gia rồi là liên tục không ngừng nghỉ tìm cầu pháp. Riêng bản thân Minh Thành về phương diện cầu pháp tự mình thấy không có hổ thẹn. Từ ngày xuất gia đến bây giờ Minh Thành không ngừng nghỉ cầu pháp. Luôn luôn lắng nghe cầu học khắp mọi nơi, mọi lúc, mọi miền, mọi quốc gia. Chỗ nào có Phật Pháp hưng thịnh là đến đó. Chính vì vậy mà mình mới tìm ra được nguồn cội của Đức Phật. Tinh thần cầu pháp là hết sức quan trọng, quyết định sự nghiệp tu hành của mình. Nếu không thấy được pháp thật sự của Đức Phật thì mình sẽ không liên hệ đến mục đích xuất gia. Trong tạng kinh, khi thường nói về cái gì, Đức Phật cũng nói là phải có liên hệ đến mục đích. Này các Tỷ-kheo hãy bàn nói những việc có liên hệ đến mục đích.
Ngày nào cũng phải hỏi chính mình rằng: Khi mình bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh em, bỏ bạn bè, bỏ hết tất cả, vậy mục đích của mình là gì? Mình phải hỏi mỗi ngày, mỗi giờ. Phải tìm cho ra được mục đích của mình là gì? Mục đích của mình vào chùa là gì? Vào chùa để tìm tình cảm, vào chùa để tìm vật chất, vào chùa để tìm địa vị danh tiếng, vào chùa để tìm thành công hay vào chùa để thật sự tìm phương pháp chấm dứt khổ đau, thành tựu trí huệ để lợi mình lợi người. Phải tự hỏi liên tục trong giờ thiền quán, trong những giờ ngồi trầm tư mặc tưởng, trong những lúc một mình ở tịnh thất trong phòng. Luôn tự hỏi mục đích của mình là gì? Đừng để lệch mục đích, đừng để thời gian trôi qua rồi mình lãng quên, phai nhoà. Ngày đầu tiên quyết định vào chùa xuất gia, ngày mình ràn rụa nước mắt, cha mẹ mình đưa tiễn. Ngày ông bà anh chị em bao nhiêu người ngăn cản mà mình quyết liệt với một chí hướng thánh thiện. Mà giờ này mình ở trong chùa lâu ngày rồi năm tháng phai nhoà, mờ dần và cuối cùng mục đích của mình biến mất. Đó là cay đắng, đó là sự xót xa, đó là sự khốn khổ của người xuất gia.
Các vị Tỷ-kheo có lỗi ngài nhắc nhở. Này các Tỷ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn hạ nhất. Tức là nghề khất thực xin ăn. Đây là một lời nguyền rủa trong đời. Này các Tỷ-kheo khi người ta nói ông là kẻ xin ăn, khất thực với bát ở trên tay. Ông đi chỗ này chỗ kia, đấy là nghề sinh sống của ông. Này các Tỷ-kheo điều mà các thiện gia nam tử chấp nhận là những vị sống vì lí tưởng mục đích, duyên với lí tưởng mục đích. Không phải vì ma cưỡng ép, không phải vì trộm cướp cưỡng ép, không phải vì thiếu nợ nần, không phải vì sợ hãi, không phải vì kế sinh nhai nguồn sinh sống mà các ông đi xuất gia. Mà với ý nghĩ rằng: ta bị chìm đắm trong sanh già chết, sầu bi khổ ưu não. Ta bị chìm đắm trong khổ đau, ta bị bao vây bởi đau khổ. Rất có thể sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra khi ta xuất gia. (Tương Ưng Bộ Kinh – tập III, bài kinh Người khất thực)
Những nói này của Đức Phật là lời nói đầu giường Minh Thành để tự nhắc nhở bản thân mỗi ngày. Ngày nay chúng ta không đi khất thực nhưng những miếng ăn hằng ngày chúng ta được dâng lên đều là mồ hôi là nước mắt, là sự nhín ăn bớt mặt, là niềm tin, là sự gởi gắm, là sự cung kính cúng dường của đàn na tín thí. Những lợi dưỡng đó là thứ người ta đã vứt bỏ. Dù chỉ đối với những đồng bạc lẻ, những đồng bạc cắc nhưng nếu không thấy được mục đích của người xuất gia, mà lại thấy hân hoan, vui thích, thích thú, ái nhiễm trong những cái người ta đã vứt bỏ, rồi lấy đó làm sự nghiệp của người tu thì đó là một sự thương xót, một sự đáng khinh bỉ, nhục nhã nhất của người xuất gia. Nếu nghĩ rằng những thứ được cúng dường đó là của tôi thì thật sự nhục nhã không có gì nhục nhã hơn, vì mình còn thua người ăn xin, người bán vé số, người đi thàm thuê làm mướn. Vì những người đó, người ta đem sức lao động ra người ta làm lụng, người ta lấy mồ hôi nước mắt sức khoẻ để người ta đổi bát cơm. Còn mình là kẻ ăn xin, không làm, không cày không cấy thì làm sao mà mình nhận đồng tiền đó rồi lại nhởn nhơ, không thấy hiểm hoạ ở trong đó, mình không thấy tai nạn ở trong đó, không thấy cánh cửa của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đang mở trong những đồng tiền đó.
Nhiều Phật tử đến nói đất ở đây nhiều, chùa rộng nhưng bản thân Minh Thành từ ngày thành lập vùng đất này cho đến bây giờ không bao giờ để cho tâm mình có một ý nghĩ là đây là của mình. Cho nên hãy nhớ cho thật là kỹ, ông là kẻ ăn xin, là kẻ hèn hạ nhất trên thế gian này. Nếu như không thành tựu đạo nghiệp, không có giới đức, không có thiền định, không có tuệ quán, không có sự giải thoát, không có sự thấy biết về giải thoát thì cuộc đời người tu được ví như thế nào?
Thiện gia nam tử xuất gia, này các Tỷ-kheo. Vị ấy có tham dục đối với các dục vọng, tham ái cuồng nhiệt, tâm tư sân hận, tư niệm ô nhiễm, thất niệm không tỉnh giác không định tỉnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự. Này các Tỷ-kheo, ví như là một que củi từ chỗ hoả táng hai đầu đều cháy, ở giữ lại dính phân. Không được làm củi trong làng, không được làm củi trong rừng. Ví dụ ấy này các Tỷ-kheo, ta tả cho các ông, người ấy mất cả nhà và tài sản, lại không làm viên mãn hạnh phúc mục đích của Sa-môn hạnh. (Tương Ưng Bộ tập III, bài kinh Người khất thực)
Thật là bất hạnh, thật là khốn khổ cho một người xuất gia! Mất nhà rồi, mất cha mất mẹ rồi, mất tài sản rồi mà không viên mãn mục đích của Sa-môn hạnh. Sống vất vơ vất vưởng qua ngày qua tháng, không chịu tinh tấn nỗ lực tìm cầu chánh pháp, không chịu thiền định, không chịu thiền quán mà quay trở lại tìm những cái vui của thế gian. Đó là sự nhục nhã, sự xấu hổ cùng cực, đó là sự hổ thẹn, sự tàm quý, đó là hiểm hoạ, đó là tai nạn, đó là sự khốn cùng của người xuất gia.
Thế nên, cần phải nuôi dưỡng thật lớn sự hổ thẹn, sự tàm quý. Hổ thẹn tàm quý này là con đường dẫn đến tàm quý, thánh quả. Nhìn ngoài thế gian, người ta suốt ngày lo ăn uống, vui chơi, quần là áo lụa. Còn chúng ta, tất cả những cái đó mình không hưởng được cái gì hết, vậy tại sao mình không đem hết thời gian ý chí tâm lực của mình để cầu pháp, hành đạo. Cứ lơ lơ lửng lửng, đạo không ra đạo, đời không ra đời. Đời không hưởng được dục lạc, đạo không hưởng được pháp lạc, xuất gia như vậy chẳng khác người chết giữa dòng, hai đường đều mất hết. Đức Phật gọi đó là người đã mất nhà và tài sản, lại không làm được mục đích của Sa-môn hạnh.
Thế nào là mục đích của Sa-môn hạnh? Là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Làm sao để đoạn tận? Nhận diện được năm uẩn, nhìn được cảm giác để thấy được tham sân si. Dùng bất tịnh quán để trị tham dục, dùng từ tâm giải thoát để trị sân hận, dùng sự tinh cần tinh tấn nỗ lực tinh cần giới, tuệ quán để phá được si mê. Đó là lí tưởng, đó là mục tiêu, đó là con đường, đó là cái mà mình đã bỏ cha mẹ bỏ tài sản, bỏ gia đình để đi xuất gì, vì vậy, chúng ta cần thực hiện mục đích cao quý đó. Ai không đem hết tâm để thực hành mục đích của Sa-môn hạnh là người đó chưa thấy được mục đích của người xuất gia, như vậy thì làm sao đạt được thành tựu viên mãn. Nhìn lên tượng Đức Phật phải thấy hổ thẹn, nhục nhã. Nhìn lên các bậc thánh A-la-hán phải thấy có tàm quý.
Tự nhìn lại xem hiện tại mình sống như thế nào? Chúng ta đâu phải vì trốn nợ mà đi tu, đâu phải vì cưỡng ép mà đi tu, đâu phải sợ một cái gì ở ngoài đời mà đi tu, đâu phải mình đi mưu sinh ở nhà mình cũng có ăn vậy. Vậy người có tâm xuất gia thật sự sẽ nghĩ gì? Hãy thấy rằng mình bị chìm đắm trong sanh già bệnh chết, sầu bi khổ ưu não. Chỗ nào cũng là chỗ nguy hiểm, chỗ nào cũng là chỗ rình rập tai nạn. Trên cơ thể mình chỗ nào cũng có thể phát sinh ra những chứng bệnh, có thể ung thư bất cứ chỗ nào. Tâm mình luôn bị biết bao những nỗi buồn rầu, bực bội, khổ sở hành hạ và mình cứ sống mãi ở trong đêm đen, mình phải tìm ngọn đèn, phải luôn luôn hướng thượng, cầu tiến vượt lên. Phải rèn luyện, huấn luyện mình, phải chịu khó kham nhẫn vượt lên. Mình không chấp nhận hiện tại. Mình phải tầm cầu thánh trí, tầm cầu sự thể nhập, sự chứng nhập, phải đi trên thánh đạo để thành tựu thánh quả.
Chúng ta bị chìm đắm trong đau khổ mà không thấy đau khổ. Mình chưa thấy khổ, mình còn tưởng cuộc đời này là chỗ ở lâu dài, là vui sướng, là bền chắc. Nhưng chỉ cần một phút thôi là có thể phát hiện ra những chứng bệnh, một phút thôi là có thể điên loạn, một phút thôi là có thể mất trí nhớ, một phút thôi là cha mẹ mình có thể chia li và chúng ta bị chìm đắm trong đau khổ. Trong năm uẩn này có cái gì mà vui. Cái sắc này là vô thường, cảm giác này là vô thường, chúng hành hạ, sai khiến mình suốt ngày đi tìm cảm giác. Tìm được thì dính mắc, tìm được thì khổ đau sân hận. Bao nhiêu cái tưởng toàn là sai quấy không đúng sự thật, chỉ là ảo tưởng. Mình đan dệt ra biết bao ác nghiệp, những kiến chấp trong nội tâm. Bao nhiêu những suy nghĩ đây là tôi là của tôi, mình bị vô minh che đậy, tham ái trói cột.
Đức Phật có dạy, đã từ rất lâu ngày, chính Ngài và tất cả chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột. Nếu không thấy Tứ Thánh Đế thì không thể nào thoát ra khỏi khổ đau. Rất có thể sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra được trong đời sống xuất gia cao thượng này, tìm ra trong giáo pháp thù diệu này, tìm ra ở trong lời dạy của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác này, vì vậy, chúng ta phải tìm cho ra bằng được pháp.
Hãy bỏ hết, bỏ hết đi những thứ tầm thường của thế tục. Chúng ta đã bỏ cha mẹ, bỏ nhà cửa, bỏ tài sản, bỏ những thú vui dục lạc của thế gian. Bây giờ vào chùa hãy tiếp tục bỏ tất cả tài sản, bỏ tất cả những lợi hại, được mất, khen chê, vinh nhục trong chùa. Bỏ luôn những nghĩ tưởng về tôi về của tôi để thể nhập trí hệ của bậc thánh. Không cần bảo vệ chùa gì đâu, không cần phải chăm sóc, được mất, lời lỗ, lớn nhỏ vì những thứ này là sắc pháp, sẽ tan hoại.
Vừa rồi Minh Thành có chuyến đi qua Sri lanka thì thấy những thánh tích Phật giáo hai ngàn năm đổ nát hết, chỉ còn mấy trụ đá. Những nơi ở của mười ngàn tăng sĩ ngày xưa thì bây giờ chỉ còn trụ đá và nền đã bị sụp đổ. Thánh tích Ấn Độ cũng vậy, Trung Hoa cũng vậy, Nhật Bản cũng vậy. Dù cho mình có xây lên ngất trời đi nữa, rồi cũng sụp đổ, tan hoại. Sắc này là biến đổi, là vô thường, là tan hoạ, là bại hoại. Đừng nương tựa vào cái gì khác, hãy thắp sáng ngọn đèn của Chánh pháp để được thành tựu chánh tri kiến.
Hãy luôn luôn nhìn lại năm uẩn, hãy luôn luôn nhìn lại cảm giác của mình để khám phá mạch nguồn thánh trí ở trong năm uẩn, ở trong cảm giác, để thấy được pháp, thấy được vô thường diễn ra trong mỗi hơi thở trong mỗi tế bào, trong mỗi ý niệm, trong mỗi ý hành. Mỗi suy nghĩ, tưởng tượng đều là vô thường, khổ, vô ngã. Trong mỗi cảm giác của mình là dục tham đầy trong đó. Trong mỗi suy tư đều là tật đố, cống cao, ngã mạn, khen mình chê người, ta đây, đầy dẫy ở trong đó. Khám phá chính mình đi, để thấy để biết để thành tựu trí hệ. Từ chỗ đó mình mới có thể giúp được người, giúp được cha mẹ anh chị cô bác và chia sẻ với những người có duyên. Còn bằng không đời sống xuất gia của mình là trống rống, vô tích sự, chỉ tu cho có hình thức, không khéo bại hoại ẩn nấp sau lớp áo cà sa. Không thực hành Chánh pháp thì cái tôi càng ngày càng lớn, suốt ngày mải mê giao thiệp, tìm kiếm những sự tiếp xúc, trong khi người tu chúng ta phải tập sống đời sống độc cư thiền định.
Hãy quán chiếu rằng cha mẹ mình không còn sống bao lâu nữa, ông bà mình đã ra đi, anh chị em mình đang mong đợi từng ngày, mình lấy cái gì để cho họ, lấy cái gì đền đáp họ. Mình lấy sầu bi khổ ưu não, tham sân si, bản ngã của mình để báo đáp họ hay sao? Mình đã xuất gia bao nhiêu năm, mình học được cái gì, trạng thái tâm mình ra sao? Không khéo là mình hoàn toàn không thấy không biết gì hết.
Đừng bao giờ quên mục đích của người xuất gia là nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt ngũ uẩn này. Đó là định lí giải thoát của Thế Tôn. Nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với cảm giác, nhàm chán đối với những nghĩ tưởng nhận thức. Nhàm chán, không ưa thích, không thích thú, không đắm chìm đối với năm uẩn. Nhàm chán đối với tất cả sắc, nhàm chán đối với tất cả cảm thọ, cảm giác, nhàm chán đối với tất cả nghĩ tưởng, nhàm chán với nhận thức. Nhàm chán để từ bỏ, để viễn ly, để xa lìa, xa lìa để giải thoát. Chính sự giải thoát đó mới có năng lực mạnh mẽ lợi lạc cho nhân thiên, trời và người. Một ý niệm, một lời nói, một hành động, một cử tâm động niệm của mình cũng được lợi lạc.
Bỏ quá, hiện, vị lai,
Đến bờ kia cuộc đời,
Ý giải thoát tất cả,
Chớ vướng lại sanh già.
(Kinh Pháp cú – phẩm Tham ái, kệ 348)
Quá khứ đã qua đi, vị lai chỉ là ảo vọng, hiện tại vô thường, thế nên không nên hoan hỷ, ái luyến, thích thú trong đó. Bỏ được tất cả quá, hiện, vị lai thì sẽ đi đến bờ kia cuộc đờ, tức là bờ đã viễn ly năm uẩn, bờ ra khỏi năm uẩn, bờ ra khỏi sự tham ái, chấp thủ trong năm uẩn này. Khi đó, ý của mình giải thoát hết tất cả, như vậy sẽ không vướng lại sanh già, liễu sanh thoát tử, chấm dứt luân hồi. Đó là bậc đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đãng lể, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thường ở trên đời này. Đó là bản sắc của Tăng bảo.
Xuất gia như vậy quang tông diệu tổ, xuất gia như vậy là rạng rỡ cho dòng tộc, xuất gia như vậy cha mẹ một ngàn đời cũng được lợi ích, xuất gia như vậy mới là người chiến thắng, mới là người thành công! Xuất gia như vậy đất trời mới rúng động, quỷ thần mới lễ kính!Phải đặt hướng đi của mình cao thượng như vậy và từ từ hướng đến.
./.
CHÚC XUÂN – XUẤT GIA ĐỂ LÀM GÌ
Thích Minh Thành
Minh Thành cũng thường tâm sự với các huynh đệ là Minh Thành luôn nghĩ rằng chúng ta cùng nhau tu học. Ở trong bản thân kinh nghiệm đời tu của thầy, thì thầy có những điều rất bình thường nhưng lại vô cùng trọng yếu của người xuất gia, nếu không giữ được thì sự nghiệp tu hành của mình không có thành tích, không có thành tựu, không có thành quả.
Điều quan trọng phải giữ đầu tiên là có trước có sau. Thế nào là có trước có sau? Tức là ngày đầu tiên mình đến chùa gặp thầy, khi đó cái tâm tôn kính, tâm tôn trọng, tâm bỡ ngỡ, tâm cẩn thận như thế nào thì phải giữ cho được cái tâm đó, dù cho mười năm hai chục năm cho đến hết đời phải giữ được tâm đó. Đừng có lúc đầu thì cung kính, tôn trọng giữ oai nghi như con dâu mới về nhà chồng nhưng sau đó một thời gian rồi thì sỉ vã cả mẹ chồng và chồng và những người thân trong gia đình. Đó là lời Phật dạy trong tạng kinh Nikāya.
Mình phải luôn giữ tâm thái cô dâu mới về nhà chồng, luôn giữ tâm thái mới ban đầu bước vào đạo. Đó là điều rất đơn giản mà rất là khó. Vì thầy ở trong chùa ba mươi năm chứng kiến không biết bao nhiêu người tu mà ra đời, cuối cùng họ đi ngang thang. Dù ở trong chùa mà có xác không có hồn, không có sự hỉ lạc trong pháp, không có sự hoà hợp của tăng và không có được niềm an tịnh để tăng thượng tâm học, tăng thượng giới học, tăng thượng giới học.
Điều thứ hai cực kì quan trọng là người tu đừng sống theo tình cảm của phàm phu. Mình phải sống theo tinh thần hoà kính.
Sống theo tình cảm phàm phu là như thế nào? Là thân với những người thân và không thân với những người không thân, chơi với những người hợp và không chơi với những người không hợp. Đó là thường tình của thế gian.
Người xuất gia phải biết chữ tăng cao quý như thế nào. Chữ tăng là thánh thiện, cao thượng, đó là đời sống xuất li, viễn li. Và tình thương đó phải được rèn luyện, huấn luyện, tập luyện tu luyện để trở thành một tâm từ. Không còn tình thường của thương ghét thân sơ của phe nhóm thuận nghịch nữa. Mà đó là một tâm từ trang trải cùng khắp đến thậm chỉ con vật, cỏ cây. Cái này thấy đơn giản nhưng làm được thì rất là khó khăn. Phải giữ được tinh thần tăng, phải có được niềm vui ở trong sinh hoạt thiền môn.
-- Này Hiền giả Sàriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?
-- Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này.
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, cái gì là khó làm?
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, hoan hỷ (abhirati) là điều khó làm.
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, cái gì là khó làm?
Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp.
-- Có lâu không, này Hiền giả, một người đã thực hành đúng pháp và tùy pháp có thể thành vị A-la-hán?
-- Không lâu, này Hiền giả.
(Tương Ưng Bộ Kinh – tập IV, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, bài kinh Khó làm)
Có một vị hỏi ngài Xá-lợi-phất rằng trong giáo pháp Như Lai cái gì là khó. Ngài Xá-lợi-phất trả lời trong giáo pháp Như Lai xuất gia là khó. Vị này mới hỏi sau khi xuất gia rồi cái gì là khó. Ngài nói sau khi xuất gia rồi sống đời phạm hạnh an vui là khó. Và cuối cùng thành tựu được mục đích phạm hạnh cái đó là khó.
Như vậy xuất gia là một việc rất là khó mà không phải xuất gia xong rồi là xong. Mà bước thứ hai là niềm vui trong đời sống xuất gia. Làm sao để có được hỷ lạc, có được sự tịnh lạc, sự an lạc, xuất ly lạc, viễn ly lạc, xuất thế lạc, Niết-bàn lạc. Phải tìm cho ra được niềm vui ở trong pháp, ở trong sự thực tập, ở trong đời sống viễn li, ví đó là điều tưới tẩm nuôi dưỡng đời giống xuất gia của chúng ta. Hỷ lạc giống nước, giống như phân, giống như đất, có nó thì cây bồ đề mới tăng trưởng được, không có những yếu tốt này thì như cây không có đất để bám.
Và điều cực quan trọng sau khi xuất gia rồi là liên tục không ngừng nghỉ tìm cầu pháp. Riêng bản thân Minh Thành về phương diện cầu pháp tự mình thấy không có hổ thẹn. Từ ngày xuất gia đến bây giờ Minh Thành không ngừng nghỉ cầu pháp. Luôn luôn lắng nghe cầu học khắp mọi nơi, mọi lúc, mọi miền, mọi quốc gia. Chỗ nào có Phật Pháp hưng thịnh là đến đó. Chính vì vậy mà mình mới tìm ra được nguồn cội của Đức Phật. Tinh thần cầu pháp là hết sức quan trọng, quyết định sự nghiệp tu hành của mình. Nếu không thấy được pháp thật sự của Đức Phật thì mình sẽ không liên hệ đến mục đích xuất gia. Trong tạng kinh, khi thường nói về cái gì, Đức Phật cũng nói là phải có liên hệ đến mục đích. Này các Tỷ-kheo hãy bàn nói những việc có liên hệ đến mục đích.
Ngày nào cũng phải hỏi chính mình rằng: Khi mình bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh em, bỏ bạn bè, bỏ hết tất cả, vậy mục đích của mình là gì? Mình phải hỏi mỗi ngày, mỗi giờ. Phải tìm cho ra được mục đích của mình là gì? Mục đích của mình vào chùa là gì? Vào chùa để tìm tình cảm, vào chùa để tìm vật chất, vào chùa để tìm địa vị danh tiếng, vào chùa để tìm thành công hay vào chùa để thật sự tìm phương pháp chấm dứt khổ đau, thành tựu trí huệ để lợi mình lợi người. Phải tự hỏi liên tục trong giờ thiền quán, trong những giờ ngồi trầm tư mặc tưởng, trong những lúc một mình ở tịnh thất trong phòng. Luôn tự hỏi mục đích của mình là gì? Đừng để lệch mục đích, đừng để thời gian trôi qua rồi mình lãng quên, phai nhoà. Ngày đầu tiên quyết định vào chùa xuất gia, ngày mình ràn rụa nước mắt, cha mẹ mình đưa tiễn. Ngày ông bà anh chị em bao nhiêu người ngăn cản mà mình quyết liệt với một chí hướng thánh thiện. Mà giờ này mình ở trong chùa lâu ngày rồi năm tháng phai nhoà, mờ dần và cuối cùng mục đích của mình biến mất. Đó là cay đắng, đó là sự xót xa, đó là sự khốn khổ của người xuất gia.
Các vị Tỷ-kheo có lỗi ngài nhắc nhở. Này các Tỷ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn hạ nhất. Tức là nghề khất thực xin ăn. Đây là một lời nguyền rủa trong đời. Này các Tỷ-kheo khi người ta nói ông là kẻ xin ăn, khất thực với bát ở trên tay. Ông đi chỗ này chỗ kia, đấy là nghề sinh sống của ông. Này các Tỷ-kheo điều mà các thiện gia nam tử chấp nhận là những vị sống vì lí tưởng mục đích, duyên với lí tưởng mục đích. Không phải vì ma cưỡng ép, không phải vì trộm cướp cưỡng ép, không phải vì thiếu nợ nần, không phải vì sợ hãi, không phải vì kế sinh nhai nguồn sinh sống mà các ông đi xuất gia. Mà với ý nghĩ rằng: ta bị chìm đắm trong sanh già chết, sầu bi khổ ưu não. Ta bị chìm đắm trong khổ đau, ta bị bao vây bởi đau khổ. Rất có thể sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra khi ta xuất gia. (Tương Ưng Bộ Kinh – tập III, bài kinh Người khất thực)
Những nói này của Đức Phật là lời nói đầu giường Minh Thành để tự nhắc nhở bản thân mỗi ngày. Ngày nay chúng ta không đi khất thực nhưng những miếng ăn hằng ngày chúng ta được dâng lên đều là mồ hôi là nước mắt, là sự nhín ăn bớt mặt, là niềm tin, là sự gởi gắm, là sự cung kính cúng dường của đàn na tín thí. Những lợi dưỡng đó là thứ người ta đã vứt bỏ. Dù chỉ đối với những đồng bạc lẻ, những đồng bạc cắc nhưng nếu không thấy được mục đích của người xuất gia, mà lại thấy hân hoan, vui thích, thích thú, ái nhiễm trong những cái người ta đã vứt bỏ, rồi lấy đó làm sự nghiệp của người tu thì đó là một sự thương xót, một sự đáng khinh bỉ, nhục nhã nhất của người xuất gia. Nếu nghĩ rằng những thứ được cúng dường đó là của tôi thì thật sự nhục nhã không có gì nhục nhã hơn, vì mình còn thua người ăn xin, người bán vé số, người đi thàm thuê làm mướn. Vì những người đó, người ta đem sức lao động ra người ta làm lụng, người ta lấy mồ hôi nước mắt sức khoẻ để người ta đổi bát cơm. Còn mình là kẻ ăn xin, không làm, không cày không cấy thì làm sao mà mình nhận đồng tiền đó rồi lại nhởn nhơ, không thấy hiểm hoạ ở trong đó, mình không thấy tai nạn ở trong đó, không thấy cánh cửa của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đang mở trong những đồng tiền đó.
Nhiều Phật tử đến nói đất ở đây nhiều, chùa rộng nhưng bản thân Minh Thành từ ngày thành lập vùng đất này cho đến bây giờ không bao giờ để cho tâm mình có một ý nghĩ là đây là của mình. Cho nên hãy nhớ cho thật là kỹ, ông là kẻ ăn xin, là kẻ hèn hạ nhất trên thế gian này. Nếu như không thành tựu đạo nghiệp, không có giới đức, không có thiền định, không có tuệ quán, không có sự giải thoát, không có sự thấy biết về giải thoát thì cuộc đời người tu được ví như thế nào?
Thiện gia nam tử xuất gia, này các Tỷ-kheo. Vị ấy có tham dục đối với các dục vọng, tham ái cuồng nhiệt, tâm tư sân hận, tư niệm ô nhiễm, thất niệm không tỉnh giác không định tỉnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự. Này các Tỷ-kheo, ví như là một que củi từ chỗ hoả táng hai đầu đều cháy, ở giữ lại dính phân. Không được làm củi trong làng, không được làm củi trong rừng. Ví dụ ấy này các Tỷ-kheo, ta tả cho các ông, người ấy mất cả nhà và tài sản, lại không làm viên mãn hạnh phúc mục đích của Sa-môn hạnh. (Tương Ưng Bộ tập III, bài kinh Người khất thực)
Thật là bất hạnh, thật là khốn khổ cho một người xuất gia! Mất nhà rồi, mất cha mất mẹ rồi, mất tài sản rồi mà không viên mãn mục đích của Sa-môn hạnh. Sống vất vơ vất vưởng qua ngày qua tháng, không chịu tinh tấn nỗ lực tìm cầu chánh pháp, không chịu thiền định, không chịu thiền quán mà quay trở lại tìm những cái vui của thế gian. Đó là sự nhục nhã, sự xấu hổ cùng cực, đó là sự hổ thẹn, sự tàm quý, đó là hiểm hoạ, đó là tai nạn, đó là sự khốn cùng của người xuất gia.
Thế nên, cần phải nuôi dưỡng thật lớn sự hổ thẹn, sự tàm quý. Hổ thẹn tàm quý này là con đường dẫn đến tàm quý, thánh quả. Nhìn ngoài thế gian, người ta suốt ngày lo ăn uống, vui chơi, quần là áo lụa. Còn chúng ta, tất cả những cái đó mình không hưởng được cái gì hết, vậy tại sao mình không đem hết thời gian ý chí tâm lực của mình để cầu pháp, hành đạo. Cứ lơ lơ lửng lửng, đạo không ra đạo, đời không ra đời. Đời không hưởng được dục lạc, đạo không hưởng được pháp lạc, xuất gia như vậy chẳng khác người chết giữa dòng, hai đường đều mất hết. Đức Phật gọi đó là người đã mất nhà và tài sản, lại không làm được mục đích của Sa-môn hạnh.
Thế nào là mục đích của Sa-môn hạnh? Là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Làm sao để đoạn tận? Nhận diện được năm uẩn, nhìn được cảm giác để thấy được tham sân si. Dùng bất tịnh quán để trị tham dục, dùng từ tâm giải thoát để trị sân hận, dùng sự tinh cần tinh tấn nỗ lực tinh cần giới, tuệ quán để phá được si mê. Đó là lí tưởng, đó là mục tiêu, đó là con đường, đó là cái mà mình đã bỏ cha mẹ bỏ tài sản, bỏ gia đình để đi xuất gì, vì vậy, chúng ta cần thực hiện mục đích cao quý đó. Ai không đem hết tâm để thực hành mục đích của Sa-môn hạnh là người đó chưa thấy được mục đích của người xuất gia, như vậy thì làm sao đạt được thành tựu viên mãn. Nhìn lên tượng Đức Phật phải thấy hổ thẹn, nhục nhã. Nhìn lên các bậc thánh A-la-hán phải thấy có tàm quý.
Tự nhìn lại xem hiện tại mình sống như thế nào? Chúng ta đâu phải vì trốn nợ mà đi tu, đâu phải vì cưỡng ép mà đi tu, đâu phải sợ một cái gì ở ngoài đời mà đi tu, đâu phải mình đi mưu sinh ở nhà mình cũng có ăn vậy. Vậy người có tâm xuất gia thật sự sẽ nghĩ gì? Hãy thấy rằng mình bị chìm đắm trong sanh già bệnh chết, sầu bi khổ ưu não. Chỗ nào cũng là chỗ nguy hiểm, chỗ nào cũng là chỗ rình rập tai nạn. Trên cơ thể mình chỗ nào cũng có thể phát sinh ra những chứng bệnh, có thể ung thư bất cứ chỗ nào. Tâm mình luôn bị biết bao những nỗi buồn rầu, bực bội, khổ sở hành hạ và mình cứ sống mãi ở trong đêm đen, mình phải tìm ngọn đèn, phải luôn luôn hướng thượng, cầu tiến vượt lên. Phải rèn luyện, huấn luyện mình, phải chịu khó kham nhẫn vượt lên. Mình không chấp nhận hiện tại. Mình phải tầm cầu thánh trí, tầm cầu sự thể nhập, sự chứng nhập, phải đi trên thánh đạo để thành tựu thánh quả.
Chúng ta bị chìm đắm trong đau khổ mà không thấy đau khổ. Mình chưa thấy khổ, mình còn tưởng cuộc đời này là chỗ ở lâu dài, là vui sướng, là bền chắc. Nhưng chỉ cần một phút thôi là có thể phát hiện ra những chứng bệnh, một phút thôi là có thể điên loạn, một phút thôi là có thể mất trí nhớ, một phút thôi là cha mẹ mình có thể chia li và chúng ta bị chìm đắm trong đau khổ. Trong năm uẩn này có cái gì mà vui. Cái sắc này là vô thường, cảm giác này là vô thường, chúng hành hạ, sai khiến mình suốt ngày đi tìm cảm giác. Tìm được thì dính mắc, tìm được thì khổ đau sân hận. Bao nhiêu cái tưởng toàn là sai quấy không đúng sự thật, chỉ là ảo tưởng. Mình đan dệt ra biết bao ác nghiệp, những kiến chấp trong nội tâm. Bao nhiêu những suy nghĩ đây là tôi là của tôi, mình bị vô minh che đậy, tham ái trói cột.
Đức Phật có dạy, đã từ rất lâu ngày, chính Ngài và tất cả chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột. Nếu không thấy Tứ Thánh Đế thì không thể nào thoát ra khỏi khổ đau. Rất có thể sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra được trong đời sống xuất gia cao thượng này, tìm ra trong giáo pháp thù diệu này, tìm ra ở trong lời dạy của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác này, vì vậy, chúng ta phải tìm cho ra bằng được pháp.
Hãy bỏ hết, bỏ hết đi những thứ tầm thường của thế tục. Chúng ta đã bỏ cha mẹ, bỏ nhà cửa, bỏ tài sản, bỏ những thú vui dục lạc của thế gian. Bây giờ vào chùa hãy tiếp tục bỏ tất cả tài sản, bỏ tất cả những lợi hại, được mất, khen chê, vinh nhục trong chùa. Bỏ luôn những nghĩ tưởng về tôi về của tôi để thể nhập trí hệ của bậc thánh. Không cần bảo vệ chùa gì đâu, không cần phải chăm sóc, được mất, lời lỗ, lớn nhỏ vì những thứ này là sắc pháp, sẽ tan hoại.
Vừa rồi Minh Thành có chuyến đi qua Sri lanka thì thấy những thánh tích Phật giáo hai ngàn năm đổ nát hết, chỉ còn mấy trụ đá. Những nơi ở của mười ngàn tăng sĩ ngày xưa thì bây giờ chỉ còn trụ đá và nền đã bị sụp đổ. Thánh tích Ấn Độ cũng vậy, Trung Hoa cũng vậy, Nhật Bản cũng vậy. Dù cho mình có xây lên ngất trời đi nữa, rồi cũng sụp đổ, tan hoại. Sắc này là biến đổi, là vô thường, là tan hoạ, là bại hoại. Đừng nương tựa vào cái gì khác, hãy thắp sáng ngọn đèn của Chánh pháp để được thành tựu chánh tri kiến.
Hãy luôn luôn nhìn lại năm uẩn, hãy luôn luôn nhìn lại cảm giác của mình để khám phá mạch nguồn thánh trí ở trong năm uẩn, ở trong cảm giác, để thấy được pháp, thấy được vô thường diễn ra trong mỗi hơi thở trong mỗi tế bào, trong mỗi ý niệm, trong mỗi ý hành. Mỗi suy nghĩ, tưởng tượng đều là vô thường, khổ, vô ngã. Trong mỗi cảm giác của mình là dục tham đầy trong đó. Trong mỗi suy tư đều là tật đố, cống cao, ngã mạn, khen mình chê người, ta đây, đầy dẫy ở trong đó. Khám phá chính mình đi, để thấy để biết để thành tựu trí hệ. Từ chỗ đó mình mới có thể giúp được người, giúp được cha mẹ anh chị cô bác và chia sẻ với những người có duyên. Còn bằng không đời sống xuất gia của mình là trống rống, vô tích sự, chỉ tu cho có hình thức, không khéo bại hoại ẩn nấp sau lớp áo cà sa. Không thực hành Chánh pháp thì cái tôi càng ngày càng lớn, suốt ngày mải mê giao thiệp, tìm kiếm những sự tiếp xúc, trong khi người tu chúng ta phải tập sống đời sống độc cư thiền định.
Hãy quán chiếu rằng cha mẹ mình không còn sống bao lâu nữa, ông bà mình đã ra đi, anh chị em mình đang mong đợi từng ngày, mình lấy cái gì để cho họ, lấy cái gì đền đáp họ. Mình lấy sầu bi khổ ưu não, tham sân si, bản ngã của mình để báo đáp họ hay sao? Mình đã xuất gia bao nhiêu năm, mình học được cái gì, trạng thái tâm mình ra sao? Không khéo là mình hoàn toàn không thấy không biết gì hết.
Đừng bao giờ quên mục đích của người xuất gia là nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt ngũ uẩn này. Đó là định lí giải thoát của Thế Tôn. Nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với cảm giác, nhàm chán đối với những nghĩ tưởng nhận thức. Nhàm chán, không ưa thích, không thích thú, không đắm chìm đối với năm uẩn. Nhàm chán đối với tất cả sắc, nhàm chán đối với tất cả cảm thọ, cảm giác, nhàm chán đối với tất cả nghĩ tưởng, nhàm chán với nhận thức. Nhàm chán để từ bỏ, để viễn ly, để xa lìa, xa lìa để giải thoát. Chính sự giải thoát đó mới có năng lực mạnh mẽ lợi lạc cho nhân thiên, trời và người. Một ý niệm, một lời nói, một hành động, một cử tâm động niệm của mình cũng được lợi lạc.
Bỏ quá, hiện, vị lai,
Đến bờ kia cuộc đời,
Ý giải thoát tất cả,
Chớ vướng lại sanh già.
(Kinh Pháp cú – phẩm Tham ái, kệ 348)
Quá khứ đã qua đi, vị lai chỉ là ảo vọng, hiện tại vô thường, thế nên không nên hoan hỷ, ái luyến, thích thú trong đó. Bỏ được tất cả quá, hiện, vị lai thì sẽ đi đến bờ kia cuộc đờ, tức là bờ đã viễn ly năm uẩn, bờ ra khỏi năm uẩn, bờ ra khỏi sự tham ái, chấp thủ trong năm uẩn này. Khi đó, ý của mình giải thoát hết tất cả, như vậy sẽ không vướng lại sanh già, liễu sanh thoát tử, chấm dứt luân hồi. Đó là bậc đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đãng lể, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thường ở trên đời này. Đó là bản sắc của Tăng bảo.
Xuất gia như vậy quang tông diệu tổ, xuất gia như vậy là rạng rỡ cho dòng tộc, xuất gia như vậy cha mẹ một ngàn đời cũng được lợi ích, xuất gia như vậy mới là người chiến thắng, mới là người thành công! Xuất gia như vậy đất trời mới rúng động, quỷ thần mới lễ kính!Phải đặt hướng đi của mình cao thượng như vậy và từ từ hướng đến.
./.