Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 17

2026-03-03 00:52:58
Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 17

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Kinh Điển thâm sâu PAGEREF _Toc201584963 \h 1

II. Đức Phật chứng ngộ minh thứ nhất PAGEREF _Toc201584964 \h 3

III. Nhăc nhở tu học PAGEREF _Toc201584965 \h 4

I. Kinh Điển thâm sâu

Sau khi mình đã tìm hiểu tám điều nên làm thì lời kết vào Nikāya là vào trong một khu rừng kinh điển lời dạy của Đức Phật, không có dễ gì nắm bắt được các cái cốt tủy trong các bài kinh, không có dễ xâu chuỗi ý nghĩa của các bài kinh lại với nhau. Nếu mà mình không có xâu chuỗi được cái ý nghĩa các pháp hành thì chẳng khác nào mình đi vào cái khu rừng rậm mà không có tìm được lối ra, hành giả vẫn bị lạc lối ở trong rừng Nikāya hoặc rơi vào một tri kiến ngõ cụt nào đó khi đọc một vài bài kinh trong Nikāya, ngay cả khi đọc hết đại tạng kinh Nikāya cũng chưa chắc nắm được cái cốt tủy nếu như mình không có xâu chuỗi lại được những cái ý nghĩa trọng yếu. Vì vậy cho nên đến với Nikāya là điều hoàn toàn không phải dễ, thật là khó tìm được chân đứng ở trong sự tu học của tự thân, khó mà đạt được lợi ích cho chính mình trong việc nghiên cứu, tìm hiểu những lời dạy nguyên chất này.

Trong đây có mấy điểm chúng ta để ý, ở trong đại tạng kinh giống như là một cái rừng rậm, chính bản thân Minh Thành hồi xưa nghe hàng chục năm, thậm chí có bữa nghe sáng đêm nhưng mà chỉ hiểu được chữ nghĩa thôi, chính bản thân Minh Thành đọc đại tạng là đọc trực tiếp vào trong đại chánh tạng, đọc chữ Hán giống như đọc chữ Việt vậy nhưng khi bước vào Nikāya rất là khó khăn. Trước nay có quý thầy học về Tịnh Độ rất là tha thiết, mong muốn vì tài liệu ở bên Tịnh Độ hiếm quá, cách đây mấy chục năm trước quý thầy tha thiết, mong muốn Minh Thành dịch ra giùm. Minh Thành chỉ cầm bản chữ Hán nói ra tiếng Việt rồi các thầy đó viết ra, đánh máy ra rồi chỉnh lý, xuất bản luôn. Trong đó có quyển lớn nhất là Liên Tông Bảo Giám là ba-bốn trăm trang.

Nói như vậy để cho chúng ta thấy rằng với một sự nghiên cứu về Hán tạng rất sâu sắc như vậy mà khi vào Nikāya vẫn là khó khăn vì không phải chữ nghĩa không mà cái quan trọng nhất ở trong Nikāya là pháp hành, cái quan trọng hơn nữa là đạo lộ tuần tự để tu học. Cái này chúng ta đã có học bài kinh đó rồi, nếu chúng ta không nắm được đạo lộ tuần tự thì chúng ta rất dễ rơi vào một cái tri kiến ngõ cụt nào đó trong một hoặc là vài bài kinh. Cái này rất nhiều, khi Minh Thành đi học ở các cái trường thiền quốc tế Phật giáo nguyên thủy, tám trường thiền lớn của Phật giáo nguyên thủy hay là tham kiến các bậc thiền sư lỗi lạc đương thời từ Mỹ qua Úc, đệ tử của ngài Ajahn Chah là ngài Ajahn Brahm thì Minh Thành cũng có đến viếng thăm, ngoài ra còn các đệ tử khác cũng rất tiếng tăm, hay là thiền sư Kim Triệu bên Mỹ thì Minh Thành cũng có đến thăm và hỏi đạo, hay là dòng thiền Mahasi cũng đã đến nhưng không tìm ra đạo lộ thật sự như ý của mình mong muốn.

Mỗi cái có một cái hay, người Việt mình qua đó học rất nhiều, hàng trăm vị ở trong các cái trường thiền. Mỗi một chỗ có cái đặc sắc riêng, có chỗ thì chuyên quán thân, có chỗ chuyên quán thọ, có chỗ chuyên quán tâm, có chỗ chuyên quán pháp, có những vị tu học nắm cái tâm xả, cái gì cũng xả hết, lúc nào cũng đưa tâm xả rồi xả luôn kinh sách, khỏi học. Thành ra chỗ này gọi là tri kiến ngõ cụt, chỗ này rất quan trọng, các huynh đệ ở đây, các thầy cô ở đây tương lai chẳng những mình tu học mà còn hướng dẫn cho người khác cho nên Minh Thành phải nói kỹ chỗ này. Tri kiến ngõ cụt là mình nắm bắt được một cái ý nghĩa nào đó hay là mình nắm nó luôn, dẹp mấy khác hết thì cái này rất nguy hiểm, không phải là sai nhưng mà nó là một cái thấy biết rất là hạn hẹp, phiến diện, một cái góc, một cái cạnh nhỏ ở trong cái trí tuệ của Đức Phật thôi, nó không đủ sức để đâm thủng cái khối vô minh uẩn to lớn.

Thí dụ giờ mình ngồi mình cứ thở vô thở ra vậy thôi thì làm sao mình phá được vô minh, tham ái? Đi đâu mình cũng cứ thở vô thở ra thôi, như vậy là mình nắm một cái pháp rất là nhỏ, trong mười sáu hơi thở của Đức Phật sau này chúng ta có dịp học đâu phải chỉ có thở vô thở ra thôi, cái đó là Tứ Niệm Xứ, cái thở đó phải quán được, phải thấy được thân trên thân, phải thấy được các cảm thọ, mượn hơi thở đó soi rọi lại trong nội tâm, tâm hành của mình để phát hiện, phát giác ra các lậu hoặc, các kiết sử, các chấp thủ. Hoặc là mình xem lại trong tâm đang có pháp gì sanh khởi, nó là thiện pháp hay bất thiện pháp, vô minh hay là minh, hay là trí, hay là giác và từ đó mình mới đánh phá vô minh, làm cho các pháp minh, pháp giác được tăng trưởng lớn mạnh trong thân tâm mình chứ không phải chỉ ngồi thở thôi, vậy mà giờ đi đâu cũng chỉ nắm vào hơi thở, bảo rằng tu vậy thôi, chỗ đó là chỗ thiếu sót.

Có nhiều người thích quán thọ thì đi đâu cũng nói thọ thôi, bỏ hết mấy cái khác, lập ra tông phái quán thọ thôi. Bây giờ mình nói trong người mình bộ não là quan trọng hơn hết tất cả thì chỉ có bộ não thôi có thành một con người không? Không có cái chân tay gì hết, vậy đâu có được, thành ra cái pháp của Phật viên mãn cho nên sơ thiện, trung thiện, hậu thiện có nghĩa, có văn, bằng đầy đủ tất cả các phạm hạnh, viên mãn phạm hạnh. Gồm có tám mặt để đánh vào tám cái phương diện vô minh của mình, chánh kiến là đánh vô tà kiến, chánh tư duy là nó phá tà tư duy, chánh ngữ là nó dẹp cái tàn ngữ, chánh nghiệp chánh mạng cũng vậy, nó đánh vào cái tà nghiệp, tà mạng, chánh tinh tấn diệt cái tà tinh tấn.

Nhiều khi mình nghĩ mình đang siêng năng lắm, đang làm dữ lắm rồi nhưng đó là tà tinh tấn, không phải tinh tấn để đoạn tham, sân, si mà cái tinh tấn để phát huy cái tham, tô bồi cái bản ngã thì nó đâu phải là chánh tinh tấn. Mấy người ngoài chạy bỏ ăn bỏ ngủ, siêng lắm nhưng cái siêng đó đi vào luân hồi sanh tử, siêng để phát huy cái tham lên thêm, cái đó đâu phải chánh tinh tấn, không phải siêng đúng, thành ra rất sâu sắc, mình cần phải học nhiều. Chánh niệm để diệt tà niệm, cái nhớ nghĩ về vô thường, khổ, về vô ngã, cái nhớ nghĩ về cái thân tứ đại, về ba mươi hai thể trượt, chín giai đoạn tử thi, cái nhớ nghĩ về nỗi khổ của vòng luân hồi này, sự oan nghiệt ở trong cái dòng sống chết này, những cái nhớ nghĩ làm cho mình nhàm chán, ly tham, viễn ly, xả ly, xuất ly, đoạn ly thì cái nhớ nghĩ đó gọi là chánh niệm chứ không phải chánh niệm là không nghĩ gì hết, đa số mình học theo Trung Quốc vô niệm là không nghĩ gì hết, Đức phật không có dạy như vậy.

II. Đức Phật chứng ngộ minh thứ nhất

Dừng những suy nghĩ là một cái một cái phương tiện, một cái góc nhỏ ở trong thiền thôi chứ không phải dừng lại là xong, dừng lại để lắng sâu nội tâm.

"Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: 'Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây'. Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Này Bà-la-môn, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần." (Trung Bộ Kinh, 4. Kinh Sợ hãi khiếp đảm)

Tâm của ta lúc đó định tĩnh, nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, ta bắt đầu hướng tâm quan sát dòng sanh tử từ đâu có chết này, ta suy xét mới thấy bằng như lý tư duy, tức là ta suy xét một cách đúng sự thật, ta thấy rằng do có sanh ra cho nên mới có chết, vì có sanh ra cho nên mới có chết. Cứ như vậy bằng như lý tư duy ta suy xét đúng với sự thật chân lý tại sao có sanh, bắt đầu suy xét chứ không phải là ngồi im ru hết. Thành ra nhiều khi mình học, chính bản thân Minh Thành cũng vậy đó, thưa với các thầy các cô là con cũng đi qua hết như vậy, thích vô niệm lắm, thích ngồi im ru không nghĩ gì hết, vậy cho khỏe chứ nghĩ nhiều quá mệt rồi mình tưởng đâu cái đó là tối cao, tối thượng, nhưng không phải vậy.

III. Nhắc nhở tu học

Nhiều khi có những người cứ nắm vô bài Tứ Niệm Xứ, nói rằng cái này là đủ hết rồi không cần học gì nữa hết, học một bài kinh này thôi, vậy là rất nguy hiểm. Nếu mình chỉ học một bài kinh Tứ Niệm Xứ thì mình không có tu được Tứ Niệm Xứ, ví dụ mình đi học ba năm thì bữa đó thầy lên thầy nói bữa học này là quan trọng nhất trong tất cả các bữa học, nắm vững cái nghĩa lý trong bữa học này là đủ trong vòng ba năm học thì như vậy có người nói vậy tôi đi học bữa đó thôi, còn tất cả các bữa khác khỏi học, như vậy có được không? Nói vậy mà không phải vậy, người đó muốn được như vậy thì phải học hết tất cả ba năm rồi bữa đó học mới nắm được, cũng vậy, nhiều khi Đức Phật nói rằng bài kinh này là quan trọng nhất, thánh trí tuệ này là quan trọng nhất nhưng mình không có Đa văn thì sao mình biết thánh trí huệ, mình không có tư thì làm sao mình có tuệ. Thành ra mình nghe cái chữ, nghe cái từ là mình dễ bị nhận lầm lắm.

Tại sao nó có một số người học rồi lập ra tông phái nào đó, tâm đắc cái bản đó là bắt đầu "tôi tu theo bản kinh này thôi", cái này cần để ý thật là kỹ. Phải thành tựu một cái trí tuệ đầy đủ viên mãn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ về năm uẩn thì chúng ta mới đi sâu vào thấy được các cái lậu hoặc để nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch. Nhân duyên hình thành kinh tạng Nikāya là khi Đức Thế Tôn nhập diệt thì lúc ấy có những Tỳ-kheo chưa giải thoát khỏi tham ái, các vị này khóc than, có những cái vị thì nằm ở dưới đất lăn lộn.

"Lúc ấy những Tỳ-kheo chưa giải thoát tham ái, có vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: 'Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm'." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Đức Thế Tôn nhập diệt quá sớm, bậc thiện thệ nhập diệt quá sớm, con mắt của chánh pháp sao lại biến mất ở đời quá sớm. Các vị Tỳ-kheo còn tham ái khóc lóc, lăn lộn ở dưới đất, đau xót, đau lòng quằn quại, kêu thương, kêu than thảm thiết "sao đức Như Lai nhập diệt sớm như vậy? Sao bậc Thiện Tuệ lại từ giã sớm như vậy? Sao con mắt của người và trời, đấng pháp nhãn sao lại nhắm lại sớm như vậy?"

"Còn những Tỳ-kheo đã diệt trừ tham ái, những vị này an trú chánh niệm, tỉnh giác, nhẫn nại suy tư: 'Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?'." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Các bậc đã diệt trừ tham ái tức là từ Bất Lai trở lên cho đến bậc A-la-hán tâm không còn tham ái nữa, đây là các bậc A-la-hán, các bậc bất hoàn Bất Lai an trú chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại suy tư các hành là biến đổi vô thường, làm sao tránh khỏi được sự kiện ấy. Sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức là luôn luôn đổi thay, làm sao tránh khỏi sự chia ly này, sự đoạn diệt này, sư tử vong này. Vậy là có hai trường hợp, các vị còn tham ái khóc lóc, lăn lộn kêu than bi thảm, đau xót, đau lòng, đau đớn, tha thiết, bi thiết, bi thương khi Đức Thế Tôn nhập diệt, trường hợp thứ hai là các vị đã diệt trừ được tham ái từ Bất Lai thánh quả cho đến bậc A-la-hán thì các vị an trú chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại và suy tư các hành là vô thường, sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là đổi thay, làm sao mà tránh khỏi được sự tử vong, sự giả từ, sự biến hoại, sự tan nát, sự hủy hoại, sự hoại diệt.

"Lúc bấy giờ, Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi đang ngồi trong hội chúng này. Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi nói với những Tỳ-kheo ấy:

- Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Chúng ta đã được thoát khỏi hoàn toàn vị Ðại Sa-môn ấy, chúng ta đã bị phiền nhiễu quấy rầy với những lời: 'Làm như thế này không hợp với các Ngươi. Làm như thế này hợp với các Ngươi'. Nay những gì chúng ta muốn, chúng ta làm, những gì chúng ta không muốn, chúng ta không làm." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Bây giờ có một cái người này lớn tuổi mới đi tu, một vị trung niên, lão niên mới đi xuất gia, người này đó nói các hiền giả đừng có buồn, khóc than gì nữa, chúng ta đã được giải thoát khỏi ông thầy khó khăn làm cho chúng ta mệt mỏi, kêu chúng ta phải làm như thế này, không được làm như thế này, làm như thế kia, không được làm như thế khác, nay những gì chúng ta muốn thì chúng ta làm, những gì chúng ta không muốn không làm. Ông thầy già đi rồi nên mình khỏe, mình muốn làm gì mình làm, không ai còn rầy la gì nữa hết, đó là một người mình lớn tuổi mới đi xuất gia nói như vậy.

Thật là đau lòng!

Thật là đau xót!

Thật là đau nhói!

Thế Tôn mới nhập diệt mà đã có một Tỳ-kheo ở trong Tăng chúng phát ngôn như vậy.

"Tôn giả Mahà Kassapa mới nói với các vị Tỳ-kheo:

- Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải bị sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Bấy giờ đó ngày Maha Ca-diếp nghe được lời đó thì ngài đau lòng, đau nhói, quặng thắt, nghe những cái manh nha loạn động ở trong Tăng chúng nên ngài Ca-diếp quyết định tập hợp các vị thánh Tăng A-la-hán đương thời để trùng tuyên và xác quyết lại những lời dạy của Đức Phật, xác quyết đường lối Đức Phật đã truyền trao và giới luật của ngài đã ban hành. Ngài Maha Ca-diếp sau khi nghe phát ngôn của một vị Tỳ-kheo như vậy là ngài đã lập tức quyết định tập hợp hết tất cả các vị thánh Tăng A-la-hán ba tháng sau khi Đức Phật nhập diệt là đại hội kết tập kinh điển đầu tiên lần thứ nhất được tiến hành. Chúng ta thấy xót xa chưa? Thế Tôn mới vừa nhập diệt thôi đã có những cái phát ngôn như vậy, trong khi chung quanh là tất cả những bậc chí thượng thanh văn, tướng quân chánh pháp lãnh đạo là có mặt đang hiện tại, khủng khiếp cái tâm chúng sanh, đó là Đức Thế Tôn mới vừa nhắm mắt, mới vừa đi đã có những cái lời nói, hành vi như vậy.

Thật là đắng cay!

Thật là đau đớn, đau xót, đau lòng, quặn thắt, xót xa!

Trong lần kết tập kinh điển này có ngài Maha Ca-diếp, ngài A-nan, ngài Upali… tất cả là năm trăm vị thánh Tăng A-la-hán, phần nhiều là các vị này đã được chính Đức Phật xác chứng là đã đắc thánh quả A-la-hán, chính Đức Phật ấn chứng các vị này là bậc A-la-hán nên lần này còn gọi là ngũ bách kết tập, tức là năm trăm vị thánh Tăng A-la-hán kết tập kinh điển. Các vị này cùng nhau tập hợp, đúc kết lại những lời dạy của Đức Phật, các ngài cùng nhau xác định những điều mà Đức Phật đã chỉ dạy, sau khi đã cùng nhau khẳng định lại, xác quyết lại tất cả những lời dạy, những bài giảng của Đức Phật thì các ngài đã kết tập, tập hợp những bài pháp này lại để cùng nhau đọc tụng, bộ đúc kết những bài giảng Đức Phật được gọi là kinh hay là Nikāya. Chữ Nikāya là đúc kết lại, là xâu kết lại, là gom góp lại, là tập hợp tất cả những lời dạy nguyên chất, đó là ý nghĩa của chữ Nikāya. Vì thế lần kết tập này còn gọi là ngũ bách kết tập, tức là năm trăm vị thánh Tăng kết tập lần thứ nhất, đại hội kết tập kinh điển thứ nhất.

Các vị thánh đệ tử này tiến hành sắp xếp lại các bài giảng theo các mức độ dài ngắn của bài giảng, theo chủ đề ý nghĩa của bài giảng, theo số lượng pháp được đề cập đến trong cái bài giảng. Năm trăm vị A-la-hán này đã công nhận bốn bộ kinh Nikāya là tất cả những lời dạy những bài giảng của Đức Phật khi ngài còn tại thế hay đó chính là toàn bộ phần kinh tạng trong giáo pháp của đạo Phật. Mục đích của việc làm này nhằm để ngăn chặn sự thêm bớt, bịa đặt, ngụy ngôn, ngụy tạo, giả mạo, bôi nhọ, xuyên tạc trá hình lời dạy của Đức Phật, đây là nguyên nhân đưa đến sự hình thành bộ đại tạng kinh Nikāya. Chúng ta thấy được là các bậc Thánh đã biết trước nên ngăn ngừa rất là kỹ, các ngài sợ sau này sẽ có nhiều sự ngụy ngôn, ngụy tạo, giả mạo, bôi nhọ, xuyên tạc trá hình lời dạy của Đức Phật cho nên lập tức kết tập liền.

Trong lần đầu tiên tập kinh điển này năm trăm vị la-hán đã công nhận hình thành chính thức của tạng kinh và tạng luật ở trong đạo Phật. Tạng kinh lúc này chính là Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ và Tăng Chi Bộ kinh, không có kinh Tiểu Bộ và không có tạng luận. Lần kết tập thứ nhất chỉ có bốn bộ đó thôi, chưa có Tiểu Bộ và luận tạng vi diệu pháp, kinh Tiểu Bộ là những bài kinh được kết tập thêm trong lần kết tập kinh điển lần thứ hai và thứ ba. Như vậy các bản kinh được đưa vào trong tạng kinh thành lập Tiểu Bộ kinh đã không được năm trăm vị la-hán chính thống thời Đức Phật xác chứng. Nếu xét về nội dung và ý nghĩa của các bài kinh trong Tiểu Bộ thì một số bài kinh trong Tiểu Bộ trùng lặp trong bốn bộ kinh trước, còn các bài kinh còn lại thì tương đối phù hợp ý nghĩa của bốn bộ kinh Nikāya đầu tiên nhưng để đảm bảo tính nguyên chất lời Phật dạy khi làm công trình phân loại kinh Nikāya chúng tôi đã tách phần kinh Tiểu Bộ ra để làm phân loại riêng, kinh Tiểu Bộ còn được kết tập thêm trong lần kết tập kinh điển lần thứ ba.

Tác giả rất là kỹ và cẩn trọng cực kỳ khi phân loại kinh tạng Nikāya là ngài không có đem Tiểu Bộ vô chung với bốn bộ trước, để riêng, tại vì Tiểu Bộ là từ lần thứ hai, thứ ba mới được thêm vô, còn bốn bộ trước là do năm trăm vị thánh Tăng A-la-hán xác chứng. Ngay cả tạng kinh Nikāya mà còn phải cẩn trọng như vậy thì huống hồ là những cái kinh điển sau này, tức là tác giả chỉ sử dụng bốn bộ Trường – Trung – Tương Ưng – Tăng Chi, chúng ta thấy khi con chia sẻ rất ít dẫn Tiểu Bộ. Tạng luận được xuất hiện rải rác từ thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ hai cho đến thời kỳ cách tập kinh điển lần thứ ba, giai đoạn này là giai đoạn Tăng đoàn rơi vào tình trạng tranh luận gay gắt, lý luận nhiều kiểu, chia rẽ tả tơi, không phải là chia năm xẻ bảy mà chia rẽ ra tới hơn hai mươi bộ phái. Sau này một số ý kiến cho rằng nếu không hiểu biết về tạng luận thì sẽ không hiểu bốn thánh trí về ngũ uẩn, nếu nghĩ như vậy thì chúng ta nên biết rằng trong lần kết tập kinh điển lần thứ nhất, khi ấy tạng luận chưa hình thành, mãi đến kết tập kinh điển lần thứ ba thì tạng luận mới chính thức xuất hiện.

Như vậy thì các vị chứng Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, A-la-hán trong thời Phật còn tại thế, sau khi Phật nhập diệt cho đến khi tạng luận xuất hiện thì sự chứng đắc thánh quả của các vị này không chịu sự ảnh hưởng nào của các tạng luận sau này. Rõ ràng sự chứng đắc này chính là do học hỏi trực tiếp từ tinh thần bốn thánh trí về ngũ uẩn, Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo hay là Tứ Niệm Xứ thế nên trong sự tu tập này không nhất thiết phải hiểu biết về luận tạng thì mới tu tập được. Xin thưa con không có nghiên cứu tạng luận, bây giờ ở bên Myanmar người ta rất quý tạng luận và thậm chí cho rằng tạng luận còn quan trọng hơn những tạng khác, trong khi đó tạng luận chỉ mới được kết tập sau thời kỳ thứ hai, thời kỳ thứ ba.

Có gì mâu thuẫn đáng nghi là kinh giả sau này thêm vào trong bộ Nikāya này không. Tiểu Bộ kinh là khoảng một trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt cho đến khoảng trên ba mươi năm sau khi Đức Phật diệt độ, tức là Tiểu Bộ kinh xuất hiện từ lần kết tập kinh điển lần thứ hai và được kết thêm từ từ cho đến lần kết tập thứ ba. Như vậy có sự thêm vào từ từ, lúc này tôi đã tỏ lộ sự nghi ngờ trong một vài bài kinh Tiểu Bộ, như là vấn đề Tiểu Bộ 1 nói về vấn đề ăn thịt, một số bài kinh thuộc về tiền thân ở trong Tiểu Bộ, những cái bài kinh nói về trạng thái Niết-bàn trong Tiểu Bộ, đó là một vấn đề bất cập Tiểu Bộ kinh nhưng nếu xét về tinh thần chung thì Tiểu Bộ kinh vẫn không đi ra ngoài tinh thần của Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo. Đọc lại cẩn thận chúng tôi thấy một số bài kinh Tiểu Bộ trùng lặp với các bài kinh ở trong bốn bộ kinh chính, nhưng để cẩn trọng trong học tập, trong phần này và trong tập sách tôi không đề cập Tiểu Bộ kinh mà chỉ trình bày chung của bốn bộ Nikāya chính thống được công nhận bởi các vị thánh Tăng chân chánh thời Đức Phật còn tại thế.

Như vậy có gì mâu thuẫn và đáng nghi ngờ là kinh giả sau này thêm vào trong bốn bộ kinh chính của Nikāya không, chính thống trong Nikāya là gì. Nếu xét về tinh thần giáo pháp Nikāya thì tất cả các bài kinh trong bốn bộ Nikāya chính thống lời Phật dạy đều hướng về sự trình bày và làm tỏ lộ tinh thần của Tứ Thánh Đế, Bát Thánh Đạo, giới, định, tuệ và ba mươi bảy bồ đề phần. Nội dung của các bài kinh này không có gì mâu thuẫn nhau, chống trái nhau, đối nghịch nhau, tất cả các bài kinh trong bốn bộ kinh Nikāya chính này có nội dung, ý nghĩa tương đồng với nhau, tất cả đều hướng về và làm sáng tỏ Bốn Thánh Trí về ngũ uẩn, Tứ Niệm Xứ, hay là Tứ Chánh Cần, hay là bốn như ý túc, bốn việc chân chánh cần phải làm của người tu, bốn pháp giúp định tâm cho người tu, năm nền tảng tu tập, năm sức mạnh cần có, bảy pháp đưa đến giác ngộ, phương pháp đưa đến tám sự chân chánh trong đời sống của người tu, giới, định, tuệ của người tu và bốn tâm vô lượng cần phải được tu tập để hỗ trợ tâm đi đến sự nhiếp phục tham, sân, si đối với ngũ uẩn.

Sau này các thầy, các cô đi giảng dạy thì những điều này rất quan trọng. Lại nữa sau mười lăm năm học hỏi, tìm hiểu, tu tập, thực hành, làm việc và xem xét từng bài kinh trong Nikāya, chúng tôi nhận thấy tất cả các bài kinh trong Nikāya đều hướng về một mục đích là chỉ rõ những hành tướng của ngũ uẩn, của vô thường, mông lung, đau khổ, bấp bênh của đời sống và sự thực tập để đi đến sự diệt tận, chấm dứt khát ái, chấm dứt luân hồi sanh tử phiền não và khổ đau do tâm chấp thủ ngũ uẩn đem lại. Ý nghĩa xuyên suốt trong bốn bộ kinh Nikāya chính là phơi bày, mở rộng thánh trí về ngũ uẩn, Tứ Thánh Đế cho cuộc đời này. Như vậy nếu xét trên tinh thần chung của bốn bộ Nikāya thì tất cả những gì mâu thuẫn và đáng nghi ngờ là kinh giả sau này thêm vào. Đó là chúng ta khái quát nguyên nhân hình thành kinh tạng Nikāya.

Ngài Ấn Thuận đạo sư hi sinh cho nền giáo dục Phật giáo, ngài chịu uẩn khúc, oan ức, thậm chí người ta nói ngày muốn diệt Đại Thừa, trở về Tiểu Thừa nhưng sau này ngài được tôn xưng là Huyền Trang thời hiện đại. Ngài ở một chỗ nhưng nghiên cứu hết tất cả Bắc Tạng và Nam Truyền, sau này ngài quay trở về bốn bộ A-hàm và lấy Tương Ưng Bộ làm vô biên thậm thâm pháp nghĩa. Khi Đức Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni Phật xuất hiện cho đến năm 431 trước Công Nguyên đối chiếu với bên đây Khổng Tử của Trung Quốc thì lúc này cũng xuất hiện trước công nguyên năm 531 cho đến năm 479.Vương Xá thành kết tập bốn bộ A-hàm được hình thành giai đoạn trước công nguyên ba trăm năm, tức là năm nay là năm 2023 + 300 năm thì lúc đó là thời kỳ bốn bộ kinh Nikāya được kết tập thành lập, bên Hán tạng gọi là tứ bộ A-hàm kinh. Giai đoạn sau này là các bộ luật này mới bắt đầu xuất hiện, 300 năm trước công nguyên dài đến năm thứ 50 trước công nguyên mới xuất hiện các bộ luận.

Như vậy là thời kỳ trước công nguyên 431 cho đến trước công nguyên năm thứ 50 thì giai đoạn này nếu mà tính kỹ thì chỉ có cái giai đoạn ngắn này là giai đoạn thành lập bốn bộ Nikāya. Qua cái thời kỳ Phật pháp nguyên chất này là bắt đầu đó là sơ kỳ Đại Thừa Phật giáo là những bộ kinh Bát Nhã kinh, Tịnh Độ bộ, Văn Thù bộ, Bảo Tích bộ, Hoa Nghiêm bộ, Tam Muội bộ, Pháp Hoa, Duy-ma-cật bắt đầu mới thành lập là sau công nguyên hai trăm năm. Sau sơ kỳ Đại thừa Phật pháp rồi hậu kỳ Đại Thừa Phật pháp thì lúc bấy giờ đó thì Như Lai tạng hệ kinh điển mới xuất hiện, duy thức học mới bắt đầu xuất hiện là sau Đức Phật sau công nguyên là năm trăm năm. Bấy giờ có rất nhiều những vị lỗi lạc xuất hiện, Thế-thân, Vô-trước, Thanh-mục rồi Pháp Hiển đi qua Ấn Độ du học là cái thời kỳ này, Kỳ-bà rồi Lục Độ kinh tập mới bắt ra có ra.

Hậu kỳ Đại thừa Phật pháp là thời kỳ này có Vô-trước, Thế-thân, Pháp Hiển, Thanh-mục, Đề-bà, Diệu Âm, Thế Hữu… xuất hiện. Sau cái thời kỳ này thì bí mật Đại Thừa Phật pháp xuất hiện, từ khoảng 1200 năm sau công nguyên, Mật Giáo xuất hiện, sau Mật Giáo là Ấn Độ lúc bấy giờ Phật giáo diệt vong. Chúng ta thấy được Phật giáo nguyên chất có từ trước công nguyên 431 năm cho đến trước công nguyên năm thứ 50, chỉ có năm trăm năm thời kỳ chánh pháp thôi, năm trăm năm thời kỳ đó là chánh Phật pháp, tức là những người tu học sẽ đạt được thánh quả, còn thánh đạo, còn thánh pháp, thể nhập thánh trí và đạt được thánh quả là năm trăm năm. Sau năm trăm năm đó đã tới thời kỳ chánh pháp bị nhiễu loạn, xuất hiện các tư tưởng sau này là phủ nhận các tư tưởng trước, đây là hai ngàn năm thánh giáo Ấn Độ và Trung Hoa, luôn cả Tây Tạng.

Mình có cái duyên còn trẻ nhưng được tu học cẩn thận, sâu sắc, đầy đủ như vậy mà mình không chịu nghiên cứu là rất uổng. Mình cứ vô chùa người ta sao thì mình làm vậy, người ta ăn thì mình ăn, người ta tụng thì mình tụng, người ta học thì mình học, người ta học ê a thì mình cũng học ê a, người ta học ngâm nga thì mình cũng học theo ngâm nga. Mình phải tìm hiểu uống nước tận nguồn, tìm ra được gốc gác, gốc rễ, nguồn cội của Phật pháp, nhất là trong thời đại này quá thuận lợi cho sự nghiên cứu học mà mình không chịu thì rất uổng, mình may mắn lại gặp những cái lời dạy nguyên chất tuyệt diệu, vi diệu, tối thượng, thần diệu mà mình không có chịu cố gắng để tâm thì rất là uổng, cực kì uổng. Bây giờ mình đi học lại không chịu học những cái lời nguyên chất của Đức Phật, mình học ở dưới này, một-hai ngàn năm sau này rồi mình chia năm xẻ bảy, chia ra mấy chục, cả trăm tông, Thiên Thai tông ở Trung Quốc chia làm hai, Lâm Tế cũng chia hai, rồi đến Nhất Chi Ngũ Diệp.

Đặc biệt Trung Quốc là kỹ nữ hay là ăn xin cũng có lịch sử, mình nghe chừng vài câu chuyện thiền là mình cho đó là tổ, những cái này phải suy xét cho thật kĩ, cho sâu sắc lời Phật dạy. Không phải làm được bài kệ là thành thiền sư, nhà thơ nào cũng làm được thơ kệ thì những người đó thành thiền sư hết hay sao? Đắc đạo là nó khác, nó không phải trên cái lời thơ đó mà cái lối sống, cả cái cuộc đời mình sống chung với người đó coi như thế nào, không phải nghe nói rồi tưởng đâu là đắc đạo rồi nhưng tới chừng ở gần mới biết. Bốn bộ Nikāya là lời dạy chính thống, nguyên gốc, nguyên chất của Đức Phật, thật sự là những cái lời dạy thánh ngôn, thánh đạo, thánh ngữ, thánh pháp, thánh trí của Đức Phật nên cần đặt tâm vào trong đó thật nhiều.

"Nhưng này Ananda, truyền thống tốt đẹp ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn và này Ananda, nay thế nào là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này Ananda, đây là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Này Ananda, về vấn đề này, Ta nói như sau: 'Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta'. Này Ananda, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Ananda, Ta nói với Ông: 'Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, các Ông hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta'." (Trung Bộ Kinh, 83. Kinh Makhàdeva)

Con nghe câu này thật là con nhói tim và đau đớn, khi hai người còn tồn tại và có sự dứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho dứt đoạn người ấy là người tối hậu. Con được thầy của con truyền cái pháp này mà bây giờ con cũng chưa có thành tựu, nếu mà con không thành tựu thì con chính là kẻ tối hậu làm đứt đoạn chánh pháp. Đây là sự đau nhức, thao thức, trăn trở, nhói tim. Truyền thống cao thượng, thanh cao, thánh thiện này do ta thuyết lập, chứng ngộ, thành tựu, truyền trao, truyền thống ấy đưa đến sự chán nản và xa lìa đối với ngũ uẩn, truyền thống thánh thiện này đưa đến sự không còn tham muốn đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, truyền thống cao thượng, vi diệu này đưa đến sự chấm dứt lòng vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn, truyền thống này đưa tâm mình đến sự tịch tịnh vắng lặng hoàn toàn, đây là đạo lộ thượng nhân pháp, thượng trí tuệ, là sự thấy biết tột cùng thân tâm và thế giới, dập tắt hoàn toàn tham, sân, si, dục ái, bản ngã đối với ngũ uẩn và đạt được một cái nội tâm bất động giải thoát. Đó chính là tám đúng của bậc thánh, tức là thấy đúng của bậc thánh, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng của bậc thánh. Đây là truyền thống thanh cao, cao thượng, tốt đẹp, thánh thiện được ta thuyết lập, truyền thống này đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thắng trí giác ngộ Niết-bàn, các ông chớ có thành người tối hậu sau ta. Đây là lời di giáo, di chúc, di huấn.

Truyền thống tu tập tốt đẹp mà Đức Phật đã truyền trao là gì? Chính là Bát Thánh Đạo, thấy biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, nói lời chân chánh, hành động chân chánh, nuôi mạng chân chánh, siêng năng chân chánh, quán niệm chân chánh và định tâm chân chánh. Đây là một đường lối tu tập, một pháp tu chân chánh, chân thiện, hoàn hảo, thiện xảo mà Đức Phật đã tự mình thấy biết, tự mình giác ngộ, tự mình phát giác, phát hiện ra, ngài đã tìm thấy một đường tu hành chân chánh hoàn hảo để giúp chúng sanh đi đến sự diệt tận khổ đau, chấm dứt sanh tử.

Trước đó và trong thời điểm mà Đức Phật thành đạo ở tại Ấn Độ chưa có một ai khai mở, khai thị, hiển lộ một cái con đường tu tập hoàn hảo và thiện lành đến như vậy, chỉ cho đến khi Đức Thế Tôn với trí tuệ tròn đầy, với đôi mắt tâm sáng tỏ, ngài đã nhìn thấy rõ Tám Chánh là một đạo lộ tu tập chân chánh, tuần tự hoàn hảo, đưa đến sự chấm dứt sanh tử, phiền não, khổ đau cho chúng sanh. Ngài đã tu tập đạo lộ này, theo pháp hành này và ngài đã đạt được sự chấm dứt đau khổ sanh tử, sau đó ngài trình bày, giới thiệu, ngài đã xác lập cho chúng sanh đạo lộ đưa đến giải thoát này, vì vậy Đức Phật nói rằng Bát Chánh Đạo là truyền thống tu tập tốt đẹp mà ngài đã thiết lập cho cuộc đời này, tức là truyền thống tu tập với sự tám chân chánh.

Người tu chân chánh nào mà muốn tu tập nhiếp phục những cấu uế trong thân tâm này cũng cần phải tu tập, phải dấn thân, phải thực hành, phải thể nhập con đường này. Đây là pháp hành truyền thống mà Đức Phật đã hướng dẫn tất cả chúng sanh, ngài căn dặn những hàng hậu học trong đạo trí tuệ này phải nỗ lực học tập, thể nhập và truyền trao thánh pháp này, chớ để cho thánh pháp này bị diệt vong. Đoạn kinh trên đã xác định, đã làm sáng tỏ pháp hành truyền thống, chánh pháp truyền thống của đạo Phật chính là Bát Thánh Đạo hay là phương pháp tám đúng. Chúng ta thấy được truyền thống tu tập của Phật giáo nguyên chất chưa? Bây giờ chúng ta đang tu cái gì? Lấy một bài kinh làm sự nghiệp, con thưa thiệt các thầy các cô bây giờ con chỉ mặt từng người kêu thấy đúng là thấy như thế nào thì chưa chắc gì ở trong đây được một phần ba người nói cho rõ ràng mà chúng ta đã được học.

Thấy đúng là thấy cái gì? Đây là truyền thống tu tập của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác của đạo Phật nguyên chất, đạo Phật cội nguồn được Đức Thế Tôn thiết lập. Vậy thì cái đầu tiên thấy đúng là thấy như thế nào?

Sư thầy 1: Dạ mô Phật, kính bạch trên này thầy giáo thọ cùng đại chúng, chúng ta đang học là thấy tám điều chân chánh. Cái đầu tiên là Bát Chánh Đạo là thấy đúng mà theo Nikāya chính là chúng ta phải thấy rõ ngũ uẩn là khổ, như lời thầy dạy thấy là sắc có nghĩa là thân ta, để có thân thì đó chính là vô thường, là khổ. Rất là nhiều bài học, những cảnh trước mắt chúng ta động đất trong một ngày một đêm là mấy mươi ngàn người điều đã mất. Cảm thọ của chúng ta là có lúc tham, có lúc sân và có lúc là si, đó chính là cái cảm thọ hiện tại trong con người của chúng ta, nó cũng là biểu hiện của cái sự thấy khổ.

Tưởng là những cái hình bóng mà nó lặp đi lặp lại ở trong tâm của chúng ta, khi chúng ta nóng giận hay là chúng ta yêu thích cái đó thì những cái hình ảnh đó cũng cứ nhá tới nhá lui, sanh lên cái lòng chúng ta hận thù hoặc là chúng ta ham thích về cái món đồ. Hành chính là những lời nghĩ thầm thì, nhiều khi chúng ta thấy rằng chúng ta giận người đó mà không có người đó ở ngay hiện tại mà chúng ta cũng đưa đến những cái ý nghĩ gặp người đó chúng ta sẽ nói câu này câu kia, hoặc là cái câu gì đó thì cái ý hành đó sẽ đưa chúng ta đến khổ.

Cái sự chúng ta thấy đúng đó thì theo con là thấy về ngũ uẩn mình là khổ là ở trong bản thân mình trước, và mình thấy cái cảnh vật, cái hiện tượng là cái xác ở bên ngoài này thì chúng ta cũng thấy là cái khổ.

Sư Phụ: Tốt rồi, giờ mời các vị tiếp theo.

Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính ngưỡng bạch trên thượng tọa cùng toàn thể đại chúng. Con xin được trả lời câu hỏi là thấy đúng theo kinh văn và bài kinh Chuyển Pháp Luân thì Đức phật có dạy thế nào là thấy đúng, thấy đúng theo kinh văn gọi là chánh kiến. Đức phật có dạy rằng là hãy tuệ tri về Khổ Đế, hãy tuệ tri về Tập Đế, hãy tuệ tri Diệt Đế và hãy tuệ tri về Đạo Đế. Nói đến Khổ Đế thì nói đến cái kết quả của khổ, nói về Tập Đế là nói về cái nguyên nhân của khổ, nói về Diệt Đế là nói về bốn quả vị của bậc thánh tức là bốn đôi tám vị của bậc thánh thành tựu trí giải thoát, và nói về Đạo Đế là nói về cái đạo lộ đưa đến giải thoát đoạn tận khổ, chứng ngộ thánh trí và theo chúng con được tiếp nhận từ thượng tọa thì cái thấy đúng trước mắt là phải thấy được cái ngũ uẩn đang sanh khởi và vận hành, nó từ thô cho đến tế. Từ thô thì trước mắt thấy sắc là thân người là sắc, cảnh vật là sắc, hoàn cảnh mọi thứ xung quanh là sắc, thấy những cái cảm thọ vui buồn trong tâm là thọ, thấy những cái hình bóng trong tâm đang lưu chuyển là tưởng, thấy những cái suy nghĩ trong tâm của mình hiện lên những hình ảnh cũng như là những cái cảm thọ là hành, rõ biết những cái niệm sanh khởi về những cái hình bóng đó có khổ, có vui, đó quá thức.

Khi thấy như vậy nó chuyển vận hành theo trong đời sống của chúng ta, trong đời sống tu tập, trong giao tiếp cũng như khi tiếp nhận giáo lý của Đức Phật, cũng như tiếp nhận bậc thầy truyền trao cho mình từ lời bậc thánh. Chúng ta phải lắng tâm và thấy rõ rằng vì vị đứng trước chúng ta là một bậc thầy mô phạm, chúng ta phải lắng nghe để nhận xét lời người đang dạy là bậc thánh thì ta thấy được rằng ta đang học, tiếp nhận lời bậc thánh, ta phải khởi cái tâm hỷ đang khởi lên và khi khởi lên như vậy ta phải thấy rằng cái thọ đang sanh khởi này cũng vô thường, nó cũng biến đổi, nó cũng thay đổi. Ta mới thấy rõ điều đó và trong kinh Tương Ưng Bộ Đức Phật có dạy thế nào là vô thường, này các Tỳ-kheo hãy quán sắc là vô thường, thay đổi, biến chuyển, hãy quán sắc là khổ bởi vì nó chuyển biến, thay đổi nên cần phải quán như vậy. Theo con được hiểu và tiếp nhận như vậy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Chúng ta giải lao mười lăm phút.

./.