Khổ Thánh Trí 6 - Khổ Lớn Nhất Là Không Biết Mình Khổ
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
KHỔ THÁNH TRÍ 6
KHỔ LỚN NHẤT LÀ KHÔNG BIẾT MÌNH KHỔ
–Thích Minh Thành–
Ngày nào chúng ta cũng phải lạy bốn Thánh trí, giờ này chúng ta cũng phải lễ bốn Thánh trí, giây phút nào chúng ta cũng phải luôn nhớ vận dụng bốn Thánh trí, đó gọi là quy y pháp, quay về nương tựa pháp. Nếu quên bốn Thánh trí thì lúc đó mình bị mê lầm, cho nên niệm bốn Thánh trí là một sự nhắc nhở chính mình. Có Phật tử chia sẻ:
"Kính bạch thầy, nhìn lại để thấy phiền não phát sanh kịp thời, không còn cách nào khác".
Nhìn lại chính mình tức là nhận diện ngũ uẩn, biết phiền não phát sanh kịp thời tức là trí tuệ về lậu hoặc, đó chính là bốn Thánh trí.
"Con kính tri ân trên sư phụ, những lời Phật dạy trong kinh Nikāya nguyên chất được sư phụ giảng giải không pha loãng, hiếm có được pháp học pháp hành chỉ thẳng những dục, ái, tham, sân, phá tan bản ngã nên ai chấp nhận tu học sẽ nhàm chán, ly tham và đoạn diệt, từ bỏ thì phước duyên lắm ạ. Con nghe bài pháp độc cư khổ hạnh của Đức Phật nên con trân quý lắm, pháp bảo".
"Con rất cảm ơn sư phụ mỗi ngày đều cho chúng con thấy ra sự thật giáo pháp của Phật để cho con thấm nhuần Phật pháp, để thấy thân thể con người này thật là khổ mà bấy lây nay con không nhận ra. Ôi thôi thật là ngu si! Con mong mỏi mọi người ai cũng biết đến giáo pháp của Phật để tu học giác ngộ, giải thoát, đừng ai đau khổ nữa. Con cầu nguyện chư Phật gia trì cho tất cả quý ngài hiền Thánh Tăng được thật nhiều sức khỏe, được trụ thế dài lâu để chỉ bảo cho tất cả mọi người, ai cũng nhìn lại chính mình để không còn khổ nữa. Chỉ có Phật và những vị Bồ-tát mới thương chúng sanh như chúng con để dạy bảo tận tường chân lý".
"Dạ có bốn hạng, con là hạng thứ tư bị roi quất thấu xương mới chịu nghe pháp Phật, bắt đầu muốn tu ạ".
Bốn hạng ở đây là bốn hạng ngựa để chỉ cho bốn hạng người trong bài kinh Gậy thúc ngựa.
"Bốn tháng dịch bệnh, hoàn cảnh cộng thêm nỗi khổ đến đỉnh nhưng còn một lối thoát là được nghe Thánh pháp trực tuyến mỗi ngày. Con tạ ơn thầy".
"Khi con học về khổ và sự thấu suốt về khổ, về chân lý khổ thì con mới thấy rằng bây giờ thật sự không một cảm thọ nào bên ngoài có thể xoay chuyển được tâm con làm con đau khổ hay làm con sung sướng. Không chấp nhận bất kì một cảm thọ nào bên ngoài trừ cảm thọ về chánh pháp, sự hoan hỉ, hân hoan, chấn động về chánh pháp này là điều không bao giờ mất trong con. Con xin đảnh lễ thầy và đại chúng".
Đó là những lời trình pháp của Phật tử từ xa để chúng ta thấy rằng thật sự chúng ta có điều hy hữu trên cuộc đời này, thật sự là phước báo không gì có thể so sánh được. Chiêm nghiệm kĩ mới thấy mình thừa hưởng được một báu vật xuất thế chí bảo vượt hơn tam giới, vai chánh trong các bộ phim có bí kíp võ công, có được thần khí thời thượng cổ hoặc Tôn Ngộ Không được truyền 72 phép thần thông nhưng vẫn không là gì so với Thánh trí mà mình đang học, phước báo tận cùng trong tất cả phước báo là thấy được khổ, đó mới là cái vĩ đại nhất, cái hạnh phúc nhất trong tất cả hạnh phúc trong đời sống này là thấy được khổ đau bằng Thánh trí tuệ.
Hạnh phúc thật sự trong dòng luân hồi này là thấy được khổ đau bằng trí huệ của bậc Thánh, nửa đêm Minh Thành thức dậy thấy trong người vận hành những thọ; tưởng; hành thì Minh Thành chiêm nghiệm thấy thật sự là sự vận hành của sắc thân này là sự vận hành của khổ, sự sanh ra, an trú, tồn tại của nó là khổ, sự biến hoại của nó là khổ, sự tan rã của nó lại càng khổ hơn. Cả bốn thời đều khổ, khi sanh ra là sự có mặt của khổ, khi nó tồn tại được an trú là sự an trú của khổ, khi nó biến hoại, biến đổi và hoại diệt, thay đổi, suy tàn, khô kiệt, tiều tụy, tàn tạ, héo mòn là sự khổ, khi nó chấm dứt là khổ, như vậy sanh, trụ, dị, diệt là bốn cái khổ, mỗi một giai đoạn như vậy là khổ.
Khi sanh khởi ra cảm thọ là sự sanh khởi của khổ, khi nó an trú là sự an trú của khổ, khi nó biến hoại là khổ, khi nó chấm dứt lại càng khổ, nếu những cảm thọ đó mình tham ái lại tạo ra thêm bốn cái khổ nữa, mỗi một uẩn có bốn giai đoạn là sanh, trụ, dị, diệt đều là khổ. Một cảm giác tức giận nổi lên là khổ, cảm giác nóng bức đó an trú trong thân tâm làm mình khó chịu, cảm giác đó đổi thay nhưng vẫn giận là khổ, cảm giác đó dừng lại nhưng không hết hoàn toàn vì hết cái này lại sanh ra cái khác trong sự chấp thủ cho nên dù dừng lại nhưng vẫn không hết khổ, đó vẫn là trạng thái của khổ. Dục vọng, ham muốn sanh khởi lên làm mình khổ, nó an trú trong thân tâm làm mình khổ vì bị bức xúc, nó biến đổi trong đó làm mình khó chịu, nó tạm thời yên lắng nhưng lại đòi hỏi những cái khác thì tiếp tục khổ. Như vậy bốn giai đoạn của cảm thọ sanh khởi là thành, trụ, hoại, không đều có khổ.
Đối với cái tưởng là hình bóng sanh khởi tự ngã lên tự người kia xúc phạm, khinh khi là khổ, hình bóng đó an trú trong tâm là khổ, hình bóng đó thay đổi là khó chịu, hình bóng đó chấm dứt là chỉ chấm dứt hình bóng đó chứ không chấm dứt hoàn toàn, những hình bóng khác lại khởi lên là khổ. Mình hiểu được cái khổ này sẽ hạnh phúc tuyệt vời, cảm thấy mình quá may mắn nên nửa đêm Minh Thành nằm cười một mình. Những suy nghĩ ta đây, hơn thua sanh khởi lên là khổ, an trú suy nghĩ đó trong tâm là khổ, suy nghĩ đó vận hành, hoạt động thay đổi là khổ, suy nghĩ đó tạm thời yên ắng nhưng lại có suy nghĩ khác sanh khởi lên là khổ, như vậy bốn giai đoạn của hành uẩn là sanh, trụ, dị, diệt đều là khổ.
Đang ngồi chia sẻ pháp mà gió thổi tung cửa đưa hơi lạnh vào là thấy khó chịu, đó cũng là khổ, nếu khéo tác ý, khéo dùng con mắt pháp nhìn thì các pháp sẽ hiển lộ. Đối với thức cũng vậy, do duyên xúc căn, trần sanh khởi ra sự rõ biết trong dục, vô minh, bản ngã, tham ái, chấp thủ, sanh khởi lên nhận thức là khổ, cái thức duy trì bao lâu thì khổ bấy lâu, cái thức đó biến đổi, vận hành là khổ trong đó, dù nó dừng lại nhưng vẫn tiếp tục nhận thức những cái khác gọi là thức thực, không bao giờ hết thỏa mãn nên khổ dài dài. Tư niệm thực, xúc thực để tiếp xúc, để thọ nhận, cho ăn để nuôi thân ngũ uẩn này cho nên bốn giai đoạn sanh, trụ, dị, diệt nằm trong ba bản tánh khổ khổ, hoại khổ, hành khổ, khổ chồng thêm khổ, vận hành trong cái khổ và khi nó hoại diệt thì mình đau đớn, mình không muốn cảm giác đó bị mất nên tiếc nuối, xót xa.
Những người hoặc những vật khả hỷ, khả ái, khả lạc liên hệ đến dục hấp dẫn là mình muốn giữ hoài, không muốn mất đi, cho nên kể từ khi chiêm nghiệm về khổ thì Minh Thành sáng tỏ được nhiều vấn đề hơn lúc trước chưa đi vào những bài kinh về khổ, mình thấy được những điều lúc trước mình chưa thấy, mình cảm thọ được những điều lúc trước mình chưa cảm thọ. Mình thấy cả một đời sống này là sự vận hành của khổ chứ không có gì khác ngoài khổ, mình thấy cả một tạng kinh Nikāya là một sự trình bày về các góc độ, phương diện, khía cạnh của khổ, nếu tóm thâu hết tạng kinh Nikāya lại là chỉ trình bày về khổ và phương pháp về khổ.
"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ". (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Cả tạng kinh Nikāya đều nói về Khổ Thánh Trí, bây giờ không chích vaccine thì khổ mà chích cũng khổ vì biết bao lo lắng, đói thì khổ mà no quá cũng khổ, đẹp quá cũng khổ mà xấu quá cũng khổ nhưng không đẹp không xấu cũng có cái khổ kiểu khác. Đức Phật đã nói mọi sự hiện hữu đều là đau khổ, dù là người giàu hay người nghèo thì rất cả đều nằm trong sự đau khổ nhưng điều đặc biệt là mình thấy được chân tướng của đau khổ thì lúc ấy là hạnh phúc, mình đi ra khỏi vòng xoáy đó, mình từ từ trở thành người ngoài cuộc nên thấy hạnh phúc.
Khi chiêm nghiệm bằng Thánh trí huệ này mới thấy toàn bộ đời sống này là một sự vận hành của tổ hợp đau khổ to lớn, tổng hợp của sự đau khổ là năm thủ uẩn, đó là những cái khổ bình thường, ngoài ra còn tai nạn, bệnh hoạn, chết chóc đến thì không thể diễn tả hết được cái khổ của nó. Chúng ta phải đi đến tận cùng cái khổ để sau chuyên đề về khổ này thì ít nhất chúng ta cũng phải nếm được Hướng Dự Lưu, phải thật sự cảm nhận được sâu sắc trong cảm thọ là cái khổ đang bao trùm, đang vận hành, đang khống chế cuộc đời trong dục mê.
Mình thấy đời sống này là sự vận hành của dục ái. Từ dục mình được sanh ra, từ dục mình có mặt, từ dục mình tồn tại và hiện hữu, từ dục mà mình vui sướng và đau khổ, từ dục mà mình chết, kết thúc mạng sống của chúng sanh, muốn mà không được là tự vẫn, nếu không tự vẫn thì tiếp tục cái dục đó đưa con người sanh ra rồi lại chết. Sự vận hành của đời sống này là sự vận hành của những cảm giác bức xúc, tức giận, sân hận, sự vận hành của đời sống này là sự vận hành của vô minh, si mê, ngu muội cho nên Minh Thành rất tâm đắc câu "quờ quạng giữa trời đêm".
"Tôi biết mình chỉ là đom đóm
Không làm sao toả sáng trần gian,
Nên chỉ ngậm ngùi trong thương xót,
Thương đời quờ quạng giữa trời đêm".
(Đom Đóm – Chơn Tín Toàn)
Câu đó thể hiện trí huệ thâm sâu, phải thương mình đang quờ quạng giữa trời đêm, tất cả chúng sanh hữu tình vạn loại đều là những kẻ mù lòa và cũng đang quờ quạng trong bóng đêm. Chỉ có bậc thành tựu cái thấy biết đúng mới như ánh chớp trong đêm đen, người có mắt mới thấy được ánh chớp, đó là những bậc thấy được sự thật giống như ánh chớp lóe lên trong đêm. Một chúng sanh không nghe, không học chánh pháp thì làm sao trong mỗi hơi thở, mỗi suy nghĩ có thể biết được khổ? Điều này không thể xảy ra đối với kẻ vô văn phàm phu, trong khi mình được nghe, được thấy, được biết thì mình phải vui sướng, phấn khởi, thích thú, vững tin, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác và tiến lên. Sự vận hành của đời sống này là sự vận hành của khổ, sự vận hành của sắc uẩn này là sự vận hành của khổ, sự vận hành của các cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức là khổ vì nó bất toại nguyện, vì nó chồng chất những thứ trái lòng nghịch ý, khổ vì thiên lưu, dịch chuyển, đổi thay, khổ vì nó biến hoại.
Những cái mình yêu thương, trân trọng, giữ gìn, ôm ấp đều bị đổ vỡ, bể nát, chia lìa, cái mà mình nâng niu, bảo vệ nhất là tấm thân này rồi cũng có ngày ngã xuống, nằm xuống. Bản chất của thân này, bản chất của thế giới này, bản chất của cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức là khổ, nó là cả một trò ảo thuật của tâm thức này. Nó lừa gạt để chúng ta quờ quạng trong bóng đêm, cũng như những người đi biển thấy họp chợ, thấy lâu đài nhưng chỉ là ảo ảnh mà thôi, do ánh nắng phản chiếu tạo ra ảo ảnh chứ không có thật, đó là trò ảo thuật của tâm thức. Những bậc giác ngộ, những bậc nhìn thấy được chân lý cuộc đời này nhìn những người nói vài câu đã đánh nhau, nhìn những người vì năm đồng gửi xe mà giết nhau chết chỉ thấy thương, họ như những đứa trẻ con giành giật những món đồ chơi bằng đất rồi khóc lóc, kêu gào, đánh đập. Thật ra không có gì đáng giá, đó chỉ là những món đồ bằng đất sét thấp hèn, hạ liệt vậy mà họ chửi mắng nhau, đánh đập nhau, sát phạt nhau, dùng súng ống, lựu đạn, dao kiếm, gậy gộc chống lại nhau.
Minh Thành thấy hình ảnh chém nhau mà con dao còn dính vào đầu nạn nhân được đưa vào bệnh viện mà rùng rợn và sợ hãi, chỉ nói qua nói lại mâu thuẫn nhỏ nhặt vậy mà chém nhau, thậm chí ăn xong không rửa tô mà cũng giết nhau chết, đó là sự vận hành của khổ. Trong nội tâm nung nấu những cảm thọ nóng bức, nhiệt não, nước sôi ùng ục là tràn ra, đó là sự nung đốt của các dòng cảm thọ hung ác, dữ tợn, hủy diệt, nó vận hành thân tâm của chúng sanh hữu tình, của nhân sinh thế giới, đó là khổ, tức là sự vận hành của lò lửa, thiêu đốt, hỏa hoạn. Đánh nhau, hăm he nhau giành giật từ đất liền cho đến biển cả, tất cả là sự vận hành của tham, sân, si, của dục vọng, tham ái, ác tham, đó là sự vận hành của khổ chứ không phải bắn nhau chết mới khổ.
Đức Thế Tôn bậc tri giả, bậc kiến giả, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, bậc thấy biết cùng tột bản chất thân tâm và thế giới của chúng sanh nhìn thấy được mầm móng, căn nguyên, gốc rễ, chỗ thâm sâu mà chúng sanh không thấy được, bên trong đó là những cảm thọ dâng lên và nung đốt, sôi sùng sục để phóng hỏa đốt nhà, đốt người, tự thiêu, tất cả những cái đó là những dòng cảm thọ, cảm xúc, cảm giác.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật)
Những cảm thọ đó sẽ đưa chúng sanh đi vào địa ngục, đưa chúng sanh đi vào loài cô hồn, ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, đưa chúng sanh đi vào loài súc sanh ăn tươi nuốt sống, ăn lông uống máu nóng, đó là những cảm thọ của sân hận, tham dục sẽ đi vào đường súc sanh, ngạ quỷ dưới địa ngục. Những người đâm chém, giết hại người khác sau khi chết rồi đi đâu? Những cảm thọ, nghĩ tưởng, ác nghiệp, sự vô minh sẽ đẩy họ xuống, rơi sâu vào vực thẳm của địa ngục, nơi đó sẽ tương ứng với tâm thức ác độc, tương ứng với những cảm thọ hung bạo, dữ tợn đó, chỉ có thú vật mới nhào đến xé xác chứ con người không làm như vậy, chỉ có vào những tấm thân đó mới thực hiện được những cảm thọ đó cho nên đó là sự vận hành của khổ. Chúng sanh không hề biết đến sắc; thọ; tưởng; hành; thức, họ chỉ nghĩ là họ giận, họ tức, họ muốn làm cho hả giận, làm cho hả dạ, họ chỉ muốn thỏa mãn cảm giác hủy diệt đó rồi vào tù hoặc chết đi cũng được. Đó là sự vận hành của khổ, cho nên mỗi ngày nghe câu tất cả thọ đều nằm trong đau khổ phải thấm vào tim gan, vào tủy não.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Đó là sân, còn giờ là dục tham. Chỉ riêng sắc thôi đã chết dài dài với nó rồi, giờ còn thêm nhậu nhẹt, dùng những chất kích thích, ngáo đá rồi leo lên nóc nhà quăng con xuống đất, những cảm thọ đó làm con người thành như vậy, làm chúng sanh điên loạn, điên đảo. Hằng ngày tin tức trên báo chí đều là sự vận hành của khổ, sự vận hành của thế giới là sự vận hành của ngũ uẩn cũng là sự vận hành của các lậu hoặc và là sự vận hành của các cảm thọ, cảm giác. Chiêm nghiệm rồi sẽ thấy trí tuệ mình học tối thượng đến thế nào, thấy được khổ thì mình là người vui bậc nhất trên thế gian này, phước báo bậc nhất, trí tuệ tối thượng bậc nhất, thấy khổ để làm kẻ ngoài cuộc đới với khổ.
"Xin đừng đem dạ tưởng mà mơ
Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây
Rút gươm huệ dứt dây tham ái
Kiếp tìm thầy cầu phái qui y.
Kiên trì ngũ giới tam qui,
Mở lòng từ nhẫn sân si phải chừa".
(Sám Thảo Lư - Sám Hồi Tâm I - Tổ Huệ Đăng)
Nếu không học ngũ uẩn thì không biết nguồn gốc tham, sân, si ở đâu, nó vận hành thế nào thì làm sao trị được nó tận gốc. Chỉ có thấy được bằng bốn Thánh trí lậu hoặc, bốn Thánh trí về ngũ uẩn mới trị được nó, vì vậy chúng ta cần lạy bốn Thánh trí này hằng ngày, đó là thánh chuông, là thánh ngữ, thánh quả, thánh ngôn, phải nhìn thấy giá trị của việc tu học để tinh tấn, tinh cần tiến lên, nếu không sẽ không thấy thú vị, hạnh phúc trong tu học.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này. Thế nào là bốn?
Trong vô thường, nghĩ là thường, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.
Trong khổ nghĩ là không khổ, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.
Trong vô ngã, nghĩ là ngã, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.
Trong không thanh tịnh, nghĩ là thanh tịnh, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.
Này các Tỳ-kheo có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này. Thế nào là bốn?
Trong vô thường, nghĩ là vô thường, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. Trong khổ, nghĩ là khổ, ... Trong vô ngã, nghĩ là vô ngã, ... Trong không thanh tịnh nghĩ là không thanh tịnh, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo.
Này các Tỳ-kheo có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (IX). Tưởng Ðiên Ðảo)
Trong sự đổi dời, đổi thay, biến đổi mà cứ tưởng là nó như vậy hoài, đó là cái thấy ngu muội, cái tưởng sai lầm, cái tâm đảo lộn. Khi có cảm giác sân cần niệm "cảm giác này đổi thay, cảm giác này là biến hoại, cảm giác này không phải tôi, không phải của tôi", mình niệm như vậy cũng là đang tụng đại tạng kinh Nikāya. Khi cảm thọ tham sanh khởi lên thì niệm "cảm thọ này là duyên sanh, đang là sự vận hành của khổ. Chấm dứt đi, tan biến đi". Đừng nghĩ rằng cảm giác đó có hoài, mỗi ngày tụng kinh chỉ thấy bình thường, đó là tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, giây phút này không phải bình thường mà giây phút đó vô cùng quý báu, hiếm có khó tìm trong dòng luân hồi vô lượng kiếp, chỉ có tác ý như vậy mới phá được bất khổ bất lạc thọ, mới phá được sự ngu muội, si ám, bóng đêm.
Đừng sống trơ ra như cục thịt biết đi, có xác mà không có hồn, giống như con rối thì tội nghiệp cho mình, khổ cho mình. Sống trong năm tổ hợp khổ vĩ đại này mà cứ nghĩ là vui, ăn vui nên ăn quá nhiều không chừng bị bội thực phải đi cấp cứu, chơi vui lắm nhưng coi chừng nguy hiểm trong đó, nói vui lắm rồi gây ra thị phi, đôi chối, khổ đang sanh khởi, đang an trú, đang vận hành mà không biết nên mới gọi là vô minh, là bóng đêm. Trong cái khổ này chồng lên khổ kia, trong sự dịch chuyển thay đổi, biển cả biến thành ruộng dâu "tan thương dâu bể" nhưng cứ nghĩ ngày nào cũng như ngày nào, đó là tâm điên đảo, tưởng điên, đảo, kiến điên đảo, không thấy sự sanh diệt của các uẩn, không thấy sự vô thường của các cảm thọ, của các hành, không thấy sự suy lão của sắc uẩn, của tổ hợp vật chất này, chúng sanh cứ u mê, dại khờ, vô tư trong đó mà không biết rằng tử thần đang đứng kế bên.
Sự ghen tuông, ganh tỵ, đố kỵ là sự vận hành của khổ, sự vận hành của thế gian này cũng là sự vận hành của năm uẩn, chỉ có thấy như vậy mới ngao ngán, yểm ly, xa lìa. Trong vô ngã mà chúng sanh cứ nghĩ là ngã, trong sự trống rỗng mà nghĩ có một cái tôi vững chắc, đó là suy nghĩ điên đảo, nhận thức điên đảo, một nội tâm lầm lạc, ngu si. Trong sự không sạch sẽ mà cho là sạch, đó là suy nghĩ điên đảo, nhận thức sai lầm, tư duy đảo lộn. Đó là bốn sự điên đảo của chúng sanh, tư tưởng sai lầm, cái tâm mê muội, cái nhìn thấy, cái nhận thức đảo điên, trong cái trống rỗng mà cứ nghĩ có cái tôi cho nên mới hành hạ, hành tội nhau bằng những cảm thọ hơn thua, đúng sai, lớn nhỏ, cao thấp, đó là sự vận hành của khổ. Khổ Thánh Trí này phơi bày ra những thứ bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho những kẻ có mắt có thể thấy đường, đó là công năng của Phật.
"Này các Tỳ-kheo có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này. Thế nào là bốn?
Trong vô thường, nghĩ là vô thường, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. Trong khổ, nghĩ là khổ, ... Trong vô ngã, nghĩ là vô ngã, ... Trong không thanh tịnh nghĩ là không thanh tịnh, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo.
Này các Tỳ-kheo, có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (IX). Tưởng Ðiên Ðảo)
Hãy thường tác ý bốn sự thật này, thường nhắc những cảm thọ, sắc thân, suy nghĩ, hình bóng này là vô thường, năm uẩn này là vô ngã, là bất tịnh, những suy nghĩ tham, sân, si, bản ngã, dục ái này là dơ bẩn, những suy nghĩ ta, tôi, tao, mi, tớ là xấu xa, khổ đau. Mình kiểm tra từng chút một trong từng suy nghĩ, nếu có những suy nghĩ bất thiện là đánh đuổi, tẩy sạch, Thánh trí tuệ của Đức Phật rất cao thượng, bao trùm hết tất cả mọi thứ, hãy tập nhìn mọi thứ bằng trí tuệ sâu sắc này rồi mình sẽ có sự an lạc, an tịnh, lắng dịu một cách lạ kỳ. Trong mỗi cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức hãy đưa pháp vào đó, đưa trí tuệ vào, đưa minh, đưa sự thật vào đó, tập tác ý nhắc nhở thường xuyên, huấn luyện, dạy dỗ tâm mình, chỉ đường cho tâm đi.
"Ðường này đến thế gian.
Ðường kia đến Niết bàn.
Tỳ-kheo, đệ tử Phật,
Phải ý thức rõ ràng.
Ðừng đắm say thế lợi.
Hãy tu hạnh ly tham".
(Kinh Pháp Cú 05 - Phẩm Ngu, kệ 75)
"Khác thay duyên thế lợi,
Khác thay đường Niết-bàn.
Tỳ-kheo, đệ tử Phật,
Hãy như vậy thắng tri.
Chớ ưa thích cung kính,
Hãy tu hạnh viễn ly"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 75)
Đường sanh tử đi xuống, còn đường Niết-bàn là đi lên, Tỳ-kheo là đệ tử Phật phải ý thức được rõ ràng hai con đường đi xuống và đi lên. Chỉ có nhìn ra cái khổ mới đứng ngoài cái khổ, tất cả chỉ là vô minh, nghiệp và nhân quả thôi.
"Trong vô thường, tưởng thường.
Trong khổ, tưởng là lạc,
Trong vô ngã, tưởng ngã,
Trong bất tịnh, tưởng tịnh,
Chúng sanh đến tà kiến,
Tâm động, tưởng tà vọng,
Bị ma trói buộc chặt,
Không thoát khỏi ách nạn,
Chúng sanh bị luân chuyển,
Trong sanh tử luân hồi.
Khi chư Phật xuất hiện,
Ở đời chói hào quang,
Tuyên thuyết diệu pháp này,
Ðưa đến khổ lắng dịu.
Nghe pháp, được trí tuệ,
Trở lại được tự tâm,
Thấy vô thường, không thường,
Thấy đau khổ, là khổ,
Thấy tự ngã, không ngã,
Thấy bất tịnh, không tịnh,
Do hành chánh tri kiến,
Vượt qua mọi đau khổ". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (IX). Tưởng Ðiên Ðảo)
Trong cái vô thường mà tưởng là thường, trong cái biến đổi mà cứ nghĩ là như vậy hoài, trong cái khổ đau mà nghĩ là vui sướng, trong cái trống rỗng mà tưởng là có ta, trong nhơ nhớp lại cho là sạch đẹp. Chúng sanh đi đến sự thấy biết sai lầm, tâm dao động, tưởng tà vọng. Khi đã thấy sai lầm cho là vui sướng, có ta, có tôi, sạch đẹp, cho nó là thường còn, có tự ngã của ta, đẹp đẽ thì tâm sẽ bị dao động. Mình thấy chỗ nào đẹp là mắt sẽ dừng lại chỗ đó, thân đứng lại đó, cảm thọ sẽ trú vào đó, nghĩ tưởng thọ nhận vào đó, trở về mở hình ra xem, thọ; tưởng; hành; thức lại vận hành, khi cho rằng cái đó đẹp, thích thú, khoan khoái thì tâm mình bị dao động, tưởng tà vọng. Tưởng tà vọng là những sự sai lầm, lệch lạc, vì vậy khi thấy cái nào đẹp đẽ, là sạch sẽ, của ta, tôi thì tâm mình sẽ dao động về cái đó, không thấy đúng về nó, tâm trị trói buộc từ người đến tài sản. Chúng sanh bị trôi nổi, xoay vần trong dòng sanh tử sống chết, bị trôi dạt, chìm đắm trong biển cả của luân hồi.
Hào quang của chư Phật chính là hào quang của sự thật, ánh sáng của sự thật được xuất hiện, khi các chư Phật không xuất hiện thì không thể biết ngũ uẩn, không thể biết cảm thọ, không thể biết sự vận hành của tham, sân si, vô minh, bản ngã, không biết được tứ điên đảo, còn khi chư Phật xuất hiện sẽ nói về gốc rễ, căn nguyên, sự vận hành của đau khổ và đạo lộ chấm dứt đau khổ. Diệu pháp chính là khổ và cách diệt khổ, nhìn thấy ngũ uẩn, nhìn thấy sự vận hành của nó là sự vận hành của khổ thì đó là minh kiến, Thánh tri kiến, chánh tri kiến, là sự thấy biết của bậc Thánh, sự thấy biết tận cùng, trọn vẹn, tột đỉnh của các pháp, chỉ có cái thấy này mới đưa đến giải thoát, từ cái thấy này mới nhàm chán, không tham muốn nên hướng đến từ bỏ, chấm dứt và giải thoát, đó là con đường của bậc Thánh.
Buổi sáng nào mình cũng được đi đến Bồ-đề đạo tràng, ngày nào mình cũng đi đến vườn Lộc Uyển là nơi chuyển pháp luân của Đức Phật, có khi đi đến tận nơi mình cũng chưa được nghe những lời Thánh pháp này, đó chỉ là cảnh vật kỉ niệm để phát thiện tâm chứ chưa chắc được nghe Thánh pháp, chân chánh Bồ-đề đạo tràng là ở trong Nikāya, Đức Phật đến với cuộc đời này là nhằm trao truyền Thánh trí tuệ này và mỗi ngày mình đọc lại những lời của ngài, trùng tiên nhắc nhở, suy tư, chiêm nghiệm, quán chiếu là mỗi ngày mình đi đến Bồ-đề đạo tràng nhưng là chân thật Bồ-đề đạo tràng chứ không phải chỉ là hình thức bên ngoài, có nhiều người đến đó lạy Phật nhằm cầu mong được Phật độ cho giàu thêm, hết bệnh… chứ không được nghe Thánh pháp này, chúng ta trùng tiên Thánh điển mỗi sáng là chúng ta đang đi thăm Bồ-đề đạo tràng, thăm vườn Lộc Uyển, thăm vườn Lâm-tì-ni, thăm Câu-thi-na là chỗ Thế Tôn nhập diệt, hằng ngày chúng ta đều đến thăm những nơi đó. Khi đọc đến câu "khi chư Phật xuất hiện, Ở đời chói hào quang" là mình tưởng tượng ra ánh sáng chói lòa nhưng cái đó là ở trong phim ảnh, giả sử có thật thì bây giờ cũng là vô thường, phải làm sao phát khởi ánh sáng trí tuệ trong tâm mình mới là quan trọng, cái đó mới cứu khổ, đó là lý do Đức Phật nói có các loại ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, lửa và ánh sáng của trí tuệ.
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn loại ánh sáng. Thế nào là bốn?
Ánh sáng mặt trăng, ánh sáng mặt trời, ánh sáng ngọn lửa, ánh sáng trí tuệ.
Này các Tỳ-kheo, có bốn loại ánh sáng này. Và này các Tỳ-kheo, loại tối thượng trong bốn loại ánh sáng là ánh sáng trí tuệ". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XV. Phẩm Ánh Sáng, (II). Ánh Sáng)
Ánh sáng của trí tuệ là tối thượng trong tất cả ánh sáng và trí tuệ này là thấy được ngũ uẩn là khổ đau, tham, sân, si là khổ đau, sự vận hành của đời sống trong vô minh và khát ái là khổ đau, trí tuệ là nhìn thấy những thứ đó, nhiếp phục những thứ đó và tẩy sạch những thứ đó ra khỏi thân tâm mình, đó là thứ mà Đức Phật muốn trao cho mình ở Bồ-đề đạo tràng khi ngài còn tại thế, vì vậy Đức Phật đã nói chúng ta hãy thừa tự chánh pháp chứ đừng thừa tự tài vật.
"-- Này các Tỳ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật" (Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)
Đó là mình tiếp nối trí tuệ của bậc Thánh truyền trao cho mình, ngài tuyên thuyết diệu pháp này nhằm đưa đến khổ lắng dịu, lắng dịu ở đây nghĩa là chấm dứt, muốn khổ lắng dịu thì sắc của mình phải lắng dịu, thọ phải lắng dịu, tưởng phải lắng dịu, hành phải lắng dịu, thức phải an tịnh. Chữ lắng dịu này trong kinh Nikāya rất thâm sâu, có thể là bậc A-la-hán vì lắng dịu được ngũ uẩn chính là bậc A-la-hán, lắng dịu và an tịnh đồng nghĩa với dập tắt, những lúc lắng dịu là những lúc thân tâm được nhẹ nhàng, khinh an, còn những khi sôi sục, nổi loạn là những lúc khổ, bức xúc, những khi ngồi thiền mà lắng dịu mà thân thể nhẹ như bông gòn thì đó là ý nghĩa chữ lắng dịu trong kinh.
Nghe pháp được trí tuệ, quay trở lại được tự tâm tức là khi nghe pháp về ngũ uẩn là quay lại nhận diện được ngũ uẩn thì gọi là quay trở lại tự tâm, khi đã nhìn thấy thì quả thật là vô thường, quả thật là khổ, là vô ngã, là một mớ hỗn độn không sạch sẽ. Khi đã phát giác ra, nhận diện được rồi, thấy được bốn đặc tính là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, thường sống với sự thật, với ánh nhìn đó, thường tác ý, tư duy như vậy thì mình sẽ vượt qua mọi đau khổ, mình sẽ đi đến tận cùng biên tế của khổ đau, qua được bờ kia là hết khổ mà đi đến tận cùng biên tế của khổ chính là bậc A-la-hán, tức là đã đi đến chỗ cuối cùng của khổ, vượt qua khổ sang được bến bờ kia, ra khỏi phạm trù của ác ma, ra khỏi sự chi phối của dục, ra khỏi sự vận hành của tham, sân, si, vô minh, bản ngã, nghiệp quả, ra khỏi trạng thái sầu, bi, khổ, ưu, não, khát ái. Tất cả những điều đó là nhờ nghe pháp sẽ có trí tuệ, nhờ quay trở lại tự tâm nhìn ra năm uẩn, nhờ thấy được vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, nhờ thực hành cái thấy, cái suy nghĩ đó, siêng năng quán niệm như vậy, tập trung tâm ý vào cái thấy biết đó nên vượt qua mọi khổ đau.
Chúng ta cần phải đi qua mau, thoát ra khỏi cái khổ, vượt qua, vượt qua đi, qua bờ bên kia đi, qua bờ bên kia hoàn toàn sẽ đạt đến giác ngộ như câu kinh trong Bát Nhã tâm kinh "Yết đế, Yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha". Cho nên mỗi ngày cần tác ý về cái khổ để nó thấm đến tận cùng, đó cũng là cốt lõi của kinh tạng Nikāya.
Khi mình thấy trong cảm thọ có cơn giận bốc lên thì lúc đó mình tìm cách thoát ra khỏi nó, nhiếp phục nó thì đó chính là Tứ Thánh Đế. Thấy cơn giận là Khổ Thánh Đế, là sự phát giác, phát hiện ra, biết cơn giận này sẽ đem đến nguy hiểm là Tập Thánh Đế, tìm cách nhiếp phục là Đạo Thánh Đế, tìm cách dập tắt là Diệt Đế. Khi một cái thấy biết thấu đáo về pháp thì tự động sẽ vận hành cho nên trong Tương Ưng Sự Thật Đức Phật đã nói người nào thấy khổ thì người đó sẽ thấy được nguyên nhân của khổ, người nào thấy được nguyên nhân của khổ thì người đó sẽ thấy được diệt khổ và con đường đưa đến diệt khổ.
"Này các Tỳ-kheo, ai thấy Khổ, người ấy cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ tập, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, X. Gavampati)
Nếu thấy một cách thấu đáo, trọn vẹn, chánh kiến về khổ thì phải thấy được bốn khía cạnh này, chỉ thấy một khía cạnh là chưa thấy đầy đủ. Khi thấy được nó là biết nó nguy hiểm nên cần thoát ra, cũng như thấy rắn là cần tránh xa, cho nên khi tu học đầy đủ chánh kiến về khổ thì tự động mình sẽ có sự nhàm chán, thoát ra, đó là hệ nhân quả và trình tự của pháp diễn biến như vậy, còn khi thấy khổ nhưng không muốn thoát ra là mình vẫn chưa thấy khổ đầy đủ, chỉ mới thấy được chút ít thôi, nếu thấy được thật sự thì tự động nhàm chán, buông bỏ, còn thấy chưa đủ thì cần tu học thêm nữa, cũng như thấy được nó là cục lửa than thì tự động không cầm vào, tránh xa, còn không thấy nó là lửa than sẽ bốc vô, chỉ có con nít không biết, tưởng là đồ chơi, cây kẹo thì bốc vào, người lớn biết rồi là tránh xa. Khi thấy biết đầy đủ là tự động sanh khởi ra nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng và những cái đúng khác theo sau, đó gọi là dòng pháp đưa người về phía trước cho nên cần tập nhận diện năm uẩn, tập nhìn thấy khổ, nhìn thấy tham, sân, si để tu tập chánh kiến, khi nó viên mãn đầy đủ thì tự động sanh khởi chánh tư duy, chánh ngữ, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, cộng với sự để tâm vào đó, dùng Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần thì các pháp sẽ tăng trưởng viên mãn.
./.
KHỔ THÁNH TRÍ 6
KHỔ LỚN NHẤT LÀ KHÔNG BIẾT MÌNH KHỔ
–Thích Minh Thành–
Ngày nào chúng ta cũng phải lạy bốn Thánh trí, giờ này chúng ta cũng phải lễ bốn Thánh trí, giây phút nào chúng ta cũng phải luôn nhớ vận dụng bốn Thánh trí, đó gọi là quy y pháp, quay về nương tựa pháp. Nếu quên bốn Thánh trí thì lúc đó mình bị mê lầm, cho nên niệm bốn Thánh trí là một sự nhắc nhở chính mình. Có Phật tử chia sẻ:
"Kính bạch thầy, nhìn lại để thấy phiền não phát sanh kịp thời, không còn cách nào khác".
Nhìn lại chính mình tức là nhận diện ngũ uẩn, biết phiền não phát sanh kịp thời tức là trí tuệ về lậu hoặc, đó chính là bốn Thánh trí.
"Con kính tri ân trên sư phụ, những lời Phật dạy trong kinh Nikāya nguyên chất được sư phụ giảng giải không pha loãng, hiếm có được pháp học pháp hành chỉ thẳng những dục, ái, tham, sân, phá tan bản ngã nên ai chấp nhận tu học sẽ nhàm chán, ly tham và đoạn diệt, từ bỏ thì phước duyên lắm ạ. Con nghe bài pháp độc cư khổ hạnh của Đức Phật nên con trân quý lắm, pháp bảo".
"Con rất cảm ơn sư phụ mỗi ngày đều cho chúng con thấy ra sự thật giáo pháp của Phật để cho con thấm nhuần Phật pháp, để thấy thân thể con người này thật là khổ mà bấy lây nay con không nhận ra. Ôi thôi thật là ngu si! Con mong mỏi mọi người ai cũng biết đến giáo pháp của Phật để tu học giác ngộ, giải thoát, đừng ai đau khổ nữa. Con cầu nguyện chư Phật gia trì cho tất cả quý ngài hiền Thánh Tăng được thật nhiều sức khỏe, được trụ thế dài lâu để chỉ bảo cho tất cả mọi người, ai cũng nhìn lại chính mình để không còn khổ nữa. Chỉ có Phật và những vị Bồ-tát mới thương chúng sanh như chúng con để dạy bảo tận tường chân lý".
"Dạ có bốn hạng, con là hạng thứ tư bị roi quất thấu xương mới chịu nghe pháp Phật, bắt đầu muốn tu ạ".
Bốn hạng ở đây là bốn hạng ngựa để chỉ cho bốn hạng người trong bài kinh Gậy thúc ngựa.
"Bốn tháng dịch bệnh, hoàn cảnh cộng thêm nỗi khổ đến đỉnh nhưng còn một lối thoát là được nghe Thánh pháp trực tuyến mỗi ngày. Con tạ ơn thầy".
"Khi con học về khổ và sự thấu suốt về khổ, về chân lý khổ thì con mới thấy rằng bây giờ thật sự không một cảm thọ nào bên ngoài có thể xoay chuyển được tâm con làm con đau khổ hay làm con sung sướng. Không chấp nhận bất kì một cảm thọ nào bên ngoài trừ cảm thọ về chánh pháp, sự hoan hỉ, hân hoan, chấn động về chánh pháp này là điều không bao giờ mất trong con. Con xin đảnh lễ thầy và đại chúng".
Đó là những lời trình pháp của Phật tử từ xa để chúng ta thấy rằng thật sự chúng ta có điều hy hữu trên cuộc đời này, thật sự là phước báo không gì có thể so sánh được. Chiêm nghiệm kĩ mới thấy mình thừa hưởng được một báu vật xuất thế chí bảo vượt hơn tam giới, vai chánh trong các bộ phim có bí kíp võ công, có được thần khí thời thượng cổ hoặc Tôn Ngộ Không được truyền 72 phép thần thông nhưng vẫn không là gì so với Thánh trí mà mình đang học, phước báo tận cùng trong tất cả phước báo là thấy được khổ, đó mới là cái vĩ đại nhất, cái hạnh phúc nhất trong tất cả hạnh phúc trong đời sống này là thấy được khổ đau bằng Thánh trí tuệ.
Hạnh phúc thật sự trong dòng luân hồi này là thấy được khổ đau bằng trí huệ của bậc Thánh, nửa đêm Minh Thành thức dậy thấy trong người vận hành những thọ; tưởng; hành thì Minh Thành chiêm nghiệm thấy thật sự là sự vận hành của sắc thân này là sự vận hành của khổ, sự sanh ra, an trú, tồn tại của nó là khổ, sự biến hoại của nó là khổ, sự tan rã của nó lại càng khổ hơn. Cả bốn thời đều khổ, khi sanh ra là sự có mặt của khổ, khi nó tồn tại được an trú là sự an trú của khổ, khi nó biến hoại, biến đổi và hoại diệt, thay đổi, suy tàn, khô kiệt, tiều tụy, tàn tạ, héo mòn là sự khổ, khi nó chấm dứt là khổ, như vậy sanh, trụ, dị, diệt là bốn cái khổ, mỗi một giai đoạn như vậy là khổ.
Khi sanh khởi ra cảm thọ là sự sanh khởi của khổ, khi nó an trú là sự an trú của khổ, khi nó biến hoại là khổ, khi nó chấm dứt lại càng khổ, nếu những cảm thọ đó mình tham ái lại tạo ra thêm bốn cái khổ nữa, mỗi một uẩn có bốn giai đoạn là sanh, trụ, dị, diệt đều là khổ. Một cảm giác tức giận nổi lên là khổ, cảm giác nóng bức đó an trú trong thân tâm làm mình khó chịu, cảm giác đó đổi thay nhưng vẫn giận là khổ, cảm giác đó dừng lại nhưng không hết hoàn toàn vì hết cái này lại sanh ra cái khác trong sự chấp thủ cho nên dù dừng lại nhưng vẫn không hết khổ, đó vẫn là trạng thái của khổ. Dục vọng, ham muốn sanh khởi lên làm mình khổ, nó an trú trong thân tâm làm mình khổ vì bị bức xúc, nó biến đổi trong đó làm mình khó chịu, nó tạm thời yên lắng nhưng lại đòi hỏi những cái khác thì tiếp tục khổ. Như vậy bốn giai đoạn của cảm thọ sanh khởi là thành, trụ, hoại, không đều có khổ.
Đối với cái tưởng là hình bóng sanh khởi tự ngã lên tự người kia xúc phạm, khinh khi là khổ, hình bóng đó an trú trong tâm là khổ, hình bóng đó thay đổi là khó chịu, hình bóng đó chấm dứt là chỉ chấm dứt hình bóng đó chứ không chấm dứt hoàn toàn, những hình bóng khác lại khởi lên là khổ. Mình hiểu được cái khổ này sẽ hạnh phúc tuyệt vời, cảm thấy mình quá may mắn nên nửa đêm Minh Thành nằm cười một mình. Những suy nghĩ ta đây, hơn thua sanh khởi lên là khổ, an trú suy nghĩ đó trong tâm là khổ, suy nghĩ đó vận hành, hoạt động thay đổi là khổ, suy nghĩ đó tạm thời yên ắng nhưng lại có suy nghĩ khác sanh khởi lên là khổ, như vậy bốn giai đoạn của hành uẩn là sanh, trụ, dị, diệt đều là khổ.
Đang ngồi chia sẻ pháp mà gió thổi tung cửa đưa hơi lạnh vào là thấy khó chịu, đó cũng là khổ, nếu khéo tác ý, khéo dùng con mắt pháp nhìn thì các pháp sẽ hiển lộ. Đối với thức cũng vậy, do duyên xúc căn, trần sanh khởi ra sự rõ biết trong dục, vô minh, bản ngã, tham ái, chấp thủ, sanh khởi lên nhận thức là khổ, cái thức duy trì bao lâu thì khổ bấy lâu, cái thức đó biến đổi, vận hành là khổ trong đó, dù nó dừng lại nhưng vẫn tiếp tục nhận thức những cái khác gọi là thức thực, không bao giờ hết thỏa mãn nên khổ dài dài. Tư niệm thực, xúc thực để tiếp xúc, để thọ nhận, cho ăn để nuôi thân ngũ uẩn này cho nên bốn giai đoạn sanh, trụ, dị, diệt nằm trong ba bản tánh khổ khổ, hoại khổ, hành khổ, khổ chồng thêm khổ, vận hành trong cái khổ và khi nó hoại diệt thì mình đau đớn, mình không muốn cảm giác đó bị mất nên tiếc nuối, xót xa.
Những người hoặc những vật khả hỷ, khả ái, khả lạc liên hệ đến dục hấp dẫn là mình muốn giữ hoài, không muốn mất đi, cho nên kể từ khi chiêm nghiệm về khổ thì Minh Thành sáng tỏ được nhiều vấn đề hơn lúc trước chưa đi vào những bài kinh về khổ, mình thấy được những điều lúc trước mình chưa thấy, mình cảm thọ được những điều lúc trước mình chưa cảm thọ. Mình thấy cả một đời sống này là sự vận hành của khổ chứ không có gì khác ngoài khổ, mình thấy cả một tạng kinh Nikāya là một sự trình bày về các góc độ, phương diện, khía cạnh của khổ, nếu tóm thâu hết tạng kinh Nikāya lại là chỉ trình bày về khổ và phương pháp về khổ.
"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ". (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Cả tạng kinh Nikāya đều nói về Khổ Thánh Trí, bây giờ không chích vaccine thì khổ mà chích cũng khổ vì biết bao lo lắng, đói thì khổ mà no quá cũng khổ, đẹp quá cũng khổ mà xấu quá cũng khổ nhưng không đẹp không xấu cũng có cái khổ kiểu khác. Đức Phật đã nói mọi sự hiện hữu đều là đau khổ, dù là người giàu hay người nghèo thì rất cả đều nằm trong sự đau khổ nhưng điều đặc biệt là mình thấy được chân tướng của đau khổ thì lúc ấy là hạnh phúc, mình đi ra khỏi vòng xoáy đó, mình từ từ trở thành người ngoài cuộc nên thấy hạnh phúc.
Khi chiêm nghiệm bằng Thánh trí huệ này mới thấy toàn bộ đời sống này là một sự vận hành của tổ hợp đau khổ to lớn, tổng hợp của sự đau khổ là năm thủ uẩn, đó là những cái khổ bình thường, ngoài ra còn tai nạn, bệnh hoạn, chết chóc đến thì không thể diễn tả hết được cái khổ của nó. Chúng ta phải đi đến tận cùng cái khổ để sau chuyên đề về khổ này thì ít nhất chúng ta cũng phải nếm được Hướng Dự Lưu, phải thật sự cảm nhận được sâu sắc trong cảm thọ là cái khổ đang bao trùm, đang vận hành, đang khống chế cuộc đời trong dục mê.
Mình thấy đời sống này là sự vận hành của dục ái. Từ dục mình được sanh ra, từ dục mình có mặt, từ dục mình tồn tại và hiện hữu, từ dục mà mình vui sướng và đau khổ, từ dục mà mình chết, kết thúc mạng sống của chúng sanh, muốn mà không được là tự vẫn, nếu không tự vẫn thì tiếp tục cái dục đó đưa con người sanh ra rồi lại chết. Sự vận hành của đời sống này là sự vận hành của những cảm giác bức xúc, tức giận, sân hận, sự vận hành của đời sống này là sự vận hành của vô minh, si mê, ngu muội cho nên Minh Thành rất tâm đắc câu "quờ quạng giữa trời đêm".
"Tôi biết mình chỉ là đom đóm
Không làm sao toả sáng trần gian,
Nên chỉ ngậm ngùi trong thương xót,
Thương đời quờ quạng giữa trời đêm".
(Đom Đóm – Chơn Tín Toàn)
Câu đó thể hiện trí huệ thâm sâu, phải thương mình đang quờ quạng giữa trời đêm, tất cả chúng sanh hữu tình vạn loại đều là những kẻ mù lòa và cũng đang quờ quạng trong bóng đêm. Chỉ có bậc thành tựu cái thấy biết đúng mới như ánh chớp trong đêm đen, người có mắt mới thấy được ánh chớp, đó là những bậc thấy được sự thật giống như ánh chớp lóe lên trong đêm. Một chúng sanh không nghe, không học chánh pháp thì làm sao trong mỗi hơi thở, mỗi suy nghĩ có thể biết được khổ? Điều này không thể xảy ra đối với kẻ vô văn phàm phu, trong khi mình được nghe, được thấy, được biết thì mình phải vui sướng, phấn khởi, thích thú, vững tin, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác và tiến lên. Sự vận hành của đời sống này là sự vận hành của khổ, sự vận hành của sắc uẩn này là sự vận hành của khổ, sự vận hành của các cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức là khổ vì nó bất toại nguyện, vì nó chồng chất những thứ trái lòng nghịch ý, khổ vì thiên lưu, dịch chuyển, đổi thay, khổ vì nó biến hoại.
Những cái mình yêu thương, trân trọng, giữ gìn, ôm ấp đều bị đổ vỡ, bể nát, chia lìa, cái mà mình nâng niu, bảo vệ nhất là tấm thân này rồi cũng có ngày ngã xuống, nằm xuống. Bản chất của thân này, bản chất của thế giới này, bản chất của cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức là khổ, nó là cả một trò ảo thuật của tâm thức này. Nó lừa gạt để chúng ta quờ quạng trong bóng đêm, cũng như những người đi biển thấy họp chợ, thấy lâu đài nhưng chỉ là ảo ảnh mà thôi, do ánh nắng phản chiếu tạo ra ảo ảnh chứ không có thật, đó là trò ảo thuật của tâm thức. Những bậc giác ngộ, những bậc nhìn thấy được chân lý cuộc đời này nhìn những người nói vài câu đã đánh nhau, nhìn những người vì năm đồng gửi xe mà giết nhau chết chỉ thấy thương, họ như những đứa trẻ con giành giật những món đồ chơi bằng đất rồi khóc lóc, kêu gào, đánh đập. Thật ra không có gì đáng giá, đó chỉ là những món đồ bằng đất sét thấp hèn, hạ liệt vậy mà họ chửi mắng nhau, đánh đập nhau, sát phạt nhau, dùng súng ống, lựu đạn, dao kiếm, gậy gộc chống lại nhau.
Minh Thành thấy hình ảnh chém nhau mà con dao còn dính vào đầu nạn nhân được đưa vào bệnh viện mà rùng rợn và sợ hãi, chỉ nói qua nói lại mâu thuẫn nhỏ nhặt vậy mà chém nhau, thậm chí ăn xong không rửa tô mà cũng giết nhau chết, đó là sự vận hành của khổ. Trong nội tâm nung nấu những cảm thọ nóng bức, nhiệt não, nước sôi ùng ục là tràn ra, đó là sự nung đốt của các dòng cảm thọ hung ác, dữ tợn, hủy diệt, nó vận hành thân tâm của chúng sanh hữu tình, của nhân sinh thế giới, đó là khổ, tức là sự vận hành của lò lửa, thiêu đốt, hỏa hoạn. Đánh nhau, hăm he nhau giành giật từ đất liền cho đến biển cả, tất cả là sự vận hành của tham, sân, si, của dục vọng, tham ái, ác tham, đó là sự vận hành của khổ chứ không phải bắn nhau chết mới khổ.
Đức Thế Tôn bậc tri giả, bậc kiến giả, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, bậc thấy biết cùng tột bản chất thân tâm và thế giới của chúng sanh nhìn thấy được mầm móng, căn nguyên, gốc rễ, chỗ thâm sâu mà chúng sanh không thấy được, bên trong đó là những cảm thọ dâng lên và nung đốt, sôi sùng sục để phóng hỏa đốt nhà, đốt người, tự thiêu, tất cả những cái đó là những dòng cảm thọ, cảm xúc, cảm giác.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật)
Những cảm thọ đó sẽ đưa chúng sanh đi vào địa ngục, đưa chúng sanh đi vào loài cô hồn, ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, đưa chúng sanh đi vào loài súc sanh ăn tươi nuốt sống, ăn lông uống máu nóng, đó là những cảm thọ của sân hận, tham dục sẽ đi vào đường súc sanh, ngạ quỷ dưới địa ngục. Những người đâm chém, giết hại người khác sau khi chết rồi đi đâu? Những cảm thọ, nghĩ tưởng, ác nghiệp, sự vô minh sẽ đẩy họ xuống, rơi sâu vào vực thẳm của địa ngục, nơi đó sẽ tương ứng với tâm thức ác độc, tương ứng với những cảm thọ hung bạo, dữ tợn đó, chỉ có thú vật mới nhào đến xé xác chứ con người không làm như vậy, chỉ có vào những tấm thân đó mới thực hiện được những cảm thọ đó cho nên đó là sự vận hành của khổ. Chúng sanh không hề biết đến sắc; thọ; tưởng; hành; thức, họ chỉ nghĩ là họ giận, họ tức, họ muốn làm cho hả giận, làm cho hả dạ, họ chỉ muốn thỏa mãn cảm giác hủy diệt đó rồi vào tù hoặc chết đi cũng được. Đó là sự vận hành của khổ, cho nên mỗi ngày nghe câu tất cả thọ đều nằm trong đau khổ phải thấm vào tim gan, vào tủy não.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Đó là sân, còn giờ là dục tham. Chỉ riêng sắc thôi đã chết dài dài với nó rồi, giờ còn thêm nhậu nhẹt, dùng những chất kích thích, ngáo đá rồi leo lên nóc nhà quăng con xuống đất, những cảm thọ đó làm con người thành như vậy, làm chúng sanh điên loạn, điên đảo. Hằng ngày tin tức trên báo chí đều là sự vận hành của khổ, sự vận hành của thế giới là sự vận hành của ngũ uẩn cũng là sự vận hành của các lậu hoặc và là sự vận hành của các cảm thọ, cảm giác. Chiêm nghiệm rồi sẽ thấy trí tuệ mình học tối thượng đến thế nào, thấy được khổ thì mình là người vui bậc nhất trên thế gian này, phước báo bậc nhất, trí tuệ tối thượng bậc nhất, thấy khổ để làm kẻ ngoài cuộc đới với khổ.
"Xin đừng đem dạ tưởng mà mơ
Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây
Rút gươm huệ dứt dây tham ái
Kiếp tìm thầy cầu phái qui y.
Kiên trì ngũ giới tam qui,
Mở lòng từ nhẫn sân si phải chừa".
(Sám Thảo Lư - Sám Hồi Tâm I - Tổ Huệ Đăng)
Nếu không học ngũ uẩn thì không biết nguồn gốc tham, sân, si ở đâu, nó vận hành thế nào thì làm sao trị được nó tận gốc. Chỉ có thấy được bằng bốn Thánh trí lậu hoặc, bốn Thánh trí về ngũ uẩn mới trị được nó, vì vậy chúng ta cần lạy bốn Thánh trí này hằng ngày, đó là thánh chuông, là thánh ngữ, thánh quả, thánh ngôn, phải nhìn thấy giá trị của việc tu học để tinh tấn, tinh cần tiến lên, nếu không sẽ không thấy thú vị, hạnh phúc trong tu học.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này. Thế nào là bốn?
Trong vô thường, nghĩ là thường, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.
Trong khổ nghĩ là không khổ, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.
Trong vô ngã, nghĩ là ngã, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.
Trong không thanh tịnh, nghĩ là thanh tịnh, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.
Này các Tỳ-kheo có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này. Thế nào là bốn?
Trong vô thường, nghĩ là vô thường, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. Trong khổ, nghĩ là khổ, ... Trong vô ngã, nghĩ là vô ngã, ... Trong không thanh tịnh nghĩ là không thanh tịnh, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo.
Này các Tỳ-kheo có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (IX). Tưởng Ðiên Ðảo)
Trong sự đổi dời, đổi thay, biến đổi mà cứ tưởng là nó như vậy hoài, đó là cái thấy ngu muội, cái tưởng sai lầm, cái tâm đảo lộn. Khi có cảm giác sân cần niệm "cảm giác này đổi thay, cảm giác này là biến hoại, cảm giác này không phải tôi, không phải của tôi", mình niệm như vậy cũng là đang tụng đại tạng kinh Nikāya. Khi cảm thọ tham sanh khởi lên thì niệm "cảm thọ này là duyên sanh, đang là sự vận hành của khổ. Chấm dứt đi, tan biến đi". Đừng nghĩ rằng cảm giác đó có hoài, mỗi ngày tụng kinh chỉ thấy bình thường, đó là tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, giây phút này không phải bình thường mà giây phút đó vô cùng quý báu, hiếm có khó tìm trong dòng luân hồi vô lượng kiếp, chỉ có tác ý như vậy mới phá được bất khổ bất lạc thọ, mới phá được sự ngu muội, si ám, bóng đêm.
Đừng sống trơ ra như cục thịt biết đi, có xác mà không có hồn, giống như con rối thì tội nghiệp cho mình, khổ cho mình. Sống trong năm tổ hợp khổ vĩ đại này mà cứ nghĩ là vui, ăn vui nên ăn quá nhiều không chừng bị bội thực phải đi cấp cứu, chơi vui lắm nhưng coi chừng nguy hiểm trong đó, nói vui lắm rồi gây ra thị phi, đôi chối, khổ đang sanh khởi, đang an trú, đang vận hành mà không biết nên mới gọi là vô minh, là bóng đêm. Trong cái khổ này chồng lên khổ kia, trong sự dịch chuyển thay đổi, biển cả biến thành ruộng dâu "tan thương dâu bể" nhưng cứ nghĩ ngày nào cũng như ngày nào, đó là tâm điên đảo, tưởng điên, đảo, kiến điên đảo, không thấy sự sanh diệt của các uẩn, không thấy sự vô thường của các cảm thọ, của các hành, không thấy sự suy lão của sắc uẩn, của tổ hợp vật chất này, chúng sanh cứ u mê, dại khờ, vô tư trong đó mà không biết rằng tử thần đang đứng kế bên.
Sự ghen tuông, ganh tỵ, đố kỵ là sự vận hành của khổ, sự vận hành của thế gian này cũng là sự vận hành của năm uẩn, chỉ có thấy như vậy mới ngao ngán, yểm ly, xa lìa. Trong vô ngã mà chúng sanh cứ nghĩ là ngã, trong sự trống rỗng mà nghĩ có một cái tôi vững chắc, đó là suy nghĩ điên đảo, nhận thức điên đảo, một nội tâm lầm lạc, ngu si. Trong sự không sạch sẽ mà cho là sạch, đó là suy nghĩ điên đảo, nhận thức sai lầm, tư duy đảo lộn. Đó là bốn sự điên đảo của chúng sanh, tư tưởng sai lầm, cái tâm mê muội, cái nhìn thấy, cái nhận thức đảo điên, trong cái trống rỗng mà cứ nghĩ có cái tôi cho nên mới hành hạ, hành tội nhau bằng những cảm thọ hơn thua, đúng sai, lớn nhỏ, cao thấp, đó là sự vận hành của khổ. Khổ Thánh Trí này phơi bày ra những thứ bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho những kẻ có mắt có thể thấy đường, đó là công năng của Phật.
"Này các Tỳ-kheo có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này. Thế nào là bốn?
Trong vô thường, nghĩ là vô thường, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. Trong khổ, nghĩ là khổ, ... Trong vô ngã, nghĩ là vô ngã, ... Trong không thanh tịnh nghĩ là không thanh tịnh, này các Tỳ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo.
Này các Tỳ-kheo, có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (IX). Tưởng Ðiên Ðảo)
Hãy thường tác ý bốn sự thật này, thường nhắc những cảm thọ, sắc thân, suy nghĩ, hình bóng này là vô thường, năm uẩn này là vô ngã, là bất tịnh, những suy nghĩ tham, sân, si, bản ngã, dục ái này là dơ bẩn, những suy nghĩ ta, tôi, tao, mi, tớ là xấu xa, khổ đau. Mình kiểm tra từng chút một trong từng suy nghĩ, nếu có những suy nghĩ bất thiện là đánh đuổi, tẩy sạch, Thánh trí tuệ của Đức Phật rất cao thượng, bao trùm hết tất cả mọi thứ, hãy tập nhìn mọi thứ bằng trí tuệ sâu sắc này rồi mình sẽ có sự an lạc, an tịnh, lắng dịu một cách lạ kỳ. Trong mỗi cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức hãy đưa pháp vào đó, đưa trí tuệ vào, đưa minh, đưa sự thật vào đó, tập tác ý nhắc nhở thường xuyên, huấn luyện, dạy dỗ tâm mình, chỉ đường cho tâm đi.
"Ðường này đến thế gian.
Ðường kia đến Niết bàn.
Tỳ-kheo, đệ tử Phật,
Phải ý thức rõ ràng.
Ðừng đắm say thế lợi.
Hãy tu hạnh ly tham".
(Kinh Pháp Cú 05 - Phẩm Ngu, kệ 75)
"Khác thay duyên thế lợi,
Khác thay đường Niết-bàn.
Tỳ-kheo, đệ tử Phật,
Hãy như vậy thắng tri.
Chớ ưa thích cung kính,
Hãy tu hạnh viễn ly"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 75)
Đường sanh tử đi xuống, còn đường Niết-bàn là đi lên, Tỳ-kheo là đệ tử Phật phải ý thức được rõ ràng hai con đường đi xuống và đi lên. Chỉ có nhìn ra cái khổ mới đứng ngoài cái khổ, tất cả chỉ là vô minh, nghiệp và nhân quả thôi.
"Trong vô thường, tưởng thường.
Trong khổ, tưởng là lạc,
Trong vô ngã, tưởng ngã,
Trong bất tịnh, tưởng tịnh,
Chúng sanh đến tà kiến,
Tâm động, tưởng tà vọng,
Bị ma trói buộc chặt,
Không thoát khỏi ách nạn,
Chúng sanh bị luân chuyển,
Trong sanh tử luân hồi.
Khi chư Phật xuất hiện,
Ở đời chói hào quang,
Tuyên thuyết diệu pháp này,
Ðưa đến khổ lắng dịu.
Nghe pháp, được trí tuệ,
Trở lại được tự tâm,
Thấy vô thường, không thường,
Thấy đau khổ, là khổ,
Thấy tự ngã, không ngã,
Thấy bất tịnh, không tịnh,
Do hành chánh tri kiến,
Vượt qua mọi đau khổ". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (IX). Tưởng Ðiên Ðảo)
Trong cái vô thường mà tưởng là thường, trong cái biến đổi mà cứ nghĩ là như vậy hoài, trong cái khổ đau mà nghĩ là vui sướng, trong cái trống rỗng mà tưởng là có ta, trong nhơ nhớp lại cho là sạch đẹp. Chúng sanh đi đến sự thấy biết sai lầm, tâm dao động, tưởng tà vọng. Khi đã thấy sai lầm cho là vui sướng, có ta, có tôi, sạch đẹp, cho nó là thường còn, có tự ngã của ta, đẹp đẽ thì tâm sẽ bị dao động. Mình thấy chỗ nào đẹp là mắt sẽ dừng lại chỗ đó, thân đứng lại đó, cảm thọ sẽ trú vào đó, nghĩ tưởng thọ nhận vào đó, trở về mở hình ra xem, thọ; tưởng; hành; thức lại vận hành, khi cho rằng cái đó đẹp, thích thú, khoan khoái thì tâm mình bị dao động, tưởng tà vọng. Tưởng tà vọng là những sự sai lầm, lệch lạc, vì vậy khi thấy cái nào đẹp đẽ, là sạch sẽ, của ta, tôi thì tâm mình sẽ dao động về cái đó, không thấy đúng về nó, tâm trị trói buộc từ người đến tài sản. Chúng sanh bị trôi nổi, xoay vần trong dòng sanh tử sống chết, bị trôi dạt, chìm đắm trong biển cả của luân hồi.
Hào quang của chư Phật chính là hào quang của sự thật, ánh sáng của sự thật được xuất hiện, khi các chư Phật không xuất hiện thì không thể biết ngũ uẩn, không thể biết cảm thọ, không thể biết sự vận hành của tham, sân si, vô minh, bản ngã, không biết được tứ điên đảo, còn khi chư Phật xuất hiện sẽ nói về gốc rễ, căn nguyên, sự vận hành của đau khổ và đạo lộ chấm dứt đau khổ. Diệu pháp chính là khổ và cách diệt khổ, nhìn thấy ngũ uẩn, nhìn thấy sự vận hành của nó là sự vận hành của khổ thì đó là minh kiến, Thánh tri kiến, chánh tri kiến, là sự thấy biết của bậc Thánh, sự thấy biết tận cùng, trọn vẹn, tột đỉnh của các pháp, chỉ có cái thấy này mới đưa đến giải thoát, từ cái thấy này mới nhàm chán, không tham muốn nên hướng đến từ bỏ, chấm dứt và giải thoát, đó là con đường của bậc Thánh.
Buổi sáng nào mình cũng được đi đến Bồ-đề đạo tràng, ngày nào mình cũng đi đến vườn Lộc Uyển là nơi chuyển pháp luân của Đức Phật, có khi đi đến tận nơi mình cũng chưa được nghe những lời Thánh pháp này, đó chỉ là cảnh vật kỉ niệm để phát thiện tâm chứ chưa chắc được nghe Thánh pháp, chân chánh Bồ-đề đạo tràng là ở trong Nikāya, Đức Phật đến với cuộc đời này là nhằm trao truyền Thánh trí tuệ này và mỗi ngày mình đọc lại những lời của ngài, trùng tiên nhắc nhở, suy tư, chiêm nghiệm, quán chiếu là mỗi ngày mình đi đến Bồ-đề đạo tràng nhưng là chân thật Bồ-đề đạo tràng chứ không phải chỉ là hình thức bên ngoài, có nhiều người đến đó lạy Phật nhằm cầu mong được Phật độ cho giàu thêm, hết bệnh… chứ không được nghe Thánh pháp này, chúng ta trùng tiên Thánh điển mỗi sáng là chúng ta đang đi thăm Bồ-đề đạo tràng, thăm vườn Lộc Uyển, thăm vườn Lâm-tì-ni, thăm Câu-thi-na là chỗ Thế Tôn nhập diệt, hằng ngày chúng ta đều đến thăm những nơi đó. Khi đọc đến câu "khi chư Phật xuất hiện, Ở đời chói hào quang" là mình tưởng tượng ra ánh sáng chói lòa nhưng cái đó là ở trong phim ảnh, giả sử có thật thì bây giờ cũng là vô thường, phải làm sao phát khởi ánh sáng trí tuệ trong tâm mình mới là quan trọng, cái đó mới cứu khổ, đó là lý do Đức Phật nói có các loại ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, lửa và ánh sáng của trí tuệ.
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn loại ánh sáng. Thế nào là bốn?
Ánh sáng mặt trăng, ánh sáng mặt trời, ánh sáng ngọn lửa, ánh sáng trí tuệ.
Này các Tỳ-kheo, có bốn loại ánh sáng này. Và này các Tỳ-kheo, loại tối thượng trong bốn loại ánh sáng là ánh sáng trí tuệ". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XV. Phẩm Ánh Sáng, (II). Ánh Sáng)
Ánh sáng của trí tuệ là tối thượng trong tất cả ánh sáng và trí tuệ này là thấy được ngũ uẩn là khổ đau, tham, sân, si là khổ đau, sự vận hành của đời sống trong vô minh và khát ái là khổ đau, trí tuệ là nhìn thấy những thứ đó, nhiếp phục những thứ đó và tẩy sạch những thứ đó ra khỏi thân tâm mình, đó là thứ mà Đức Phật muốn trao cho mình ở Bồ-đề đạo tràng khi ngài còn tại thế, vì vậy Đức Phật đã nói chúng ta hãy thừa tự chánh pháp chứ đừng thừa tự tài vật.
"-- Này các Tỳ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật" (Trung Bộ Kinh, 3. Kinh thừa tự Pháp)
Đó là mình tiếp nối trí tuệ của bậc Thánh truyền trao cho mình, ngài tuyên thuyết diệu pháp này nhằm đưa đến khổ lắng dịu, lắng dịu ở đây nghĩa là chấm dứt, muốn khổ lắng dịu thì sắc của mình phải lắng dịu, thọ phải lắng dịu, tưởng phải lắng dịu, hành phải lắng dịu, thức phải an tịnh. Chữ lắng dịu này trong kinh Nikāya rất thâm sâu, có thể là bậc A-la-hán vì lắng dịu được ngũ uẩn chính là bậc A-la-hán, lắng dịu và an tịnh đồng nghĩa với dập tắt, những lúc lắng dịu là những lúc thân tâm được nhẹ nhàng, khinh an, còn những khi sôi sục, nổi loạn là những lúc khổ, bức xúc, những khi ngồi thiền mà lắng dịu mà thân thể nhẹ như bông gòn thì đó là ý nghĩa chữ lắng dịu trong kinh.
Nghe pháp được trí tuệ, quay trở lại được tự tâm tức là khi nghe pháp về ngũ uẩn là quay lại nhận diện được ngũ uẩn thì gọi là quay trở lại tự tâm, khi đã nhìn thấy thì quả thật là vô thường, quả thật là khổ, là vô ngã, là một mớ hỗn độn không sạch sẽ. Khi đã phát giác ra, nhận diện được rồi, thấy được bốn đặc tính là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, thường sống với sự thật, với ánh nhìn đó, thường tác ý, tư duy như vậy thì mình sẽ vượt qua mọi đau khổ, mình sẽ đi đến tận cùng biên tế của khổ đau, qua được bờ kia là hết khổ mà đi đến tận cùng biên tế của khổ chính là bậc A-la-hán, tức là đã đi đến chỗ cuối cùng của khổ, vượt qua khổ sang được bến bờ kia, ra khỏi phạm trù của ác ma, ra khỏi sự chi phối của dục, ra khỏi sự vận hành của tham, sân, si, vô minh, bản ngã, nghiệp quả, ra khỏi trạng thái sầu, bi, khổ, ưu, não, khát ái. Tất cả những điều đó là nhờ nghe pháp sẽ có trí tuệ, nhờ quay trở lại tự tâm nhìn ra năm uẩn, nhờ thấy được vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, nhờ thực hành cái thấy, cái suy nghĩ đó, siêng năng quán niệm như vậy, tập trung tâm ý vào cái thấy biết đó nên vượt qua mọi khổ đau.
Chúng ta cần phải đi qua mau, thoát ra khỏi cái khổ, vượt qua, vượt qua đi, qua bờ bên kia đi, qua bờ bên kia hoàn toàn sẽ đạt đến giác ngộ như câu kinh trong Bát Nhã tâm kinh "Yết đế, Yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha". Cho nên mỗi ngày cần tác ý về cái khổ để nó thấm đến tận cùng, đó cũng là cốt lõi của kinh tạng Nikāya.
Khi mình thấy trong cảm thọ có cơn giận bốc lên thì lúc đó mình tìm cách thoát ra khỏi nó, nhiếp phục nó thì đó chính là Tứ Thánh Đế. Thấy cơn giận là Khổ Thánh Đế, là sự phát giác, phát hiện ra, biết cơn giận này sẽ đem đến nguy hiểm là Tập Thánh Đế, tìm cách nhiếp phục là Đạo Thánh Đế, tìm cách dập tắt là Diệt Đế. Khi một cái thấy biết thấu đáo về pháp thì tự động sẽ vận hành cho nên trong Tương Ưng Sự Thật Đức Phật đã nói người nào thấy khổ thì người đó sẽ thấy được nguyên nhân của khổ, người nào thấy được nguyên nhân của khổ thì người đó sẽ thấy được diệt khổ và con đường đưa đến diệt khổ.
"Này các Tỳ-kheo, ai thấy Khổ, người ấy cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ tập, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, X. Gavampati)
Nếu thấy một cách thấu đáo, trọn vẹn, chánh kiến về khổ thì phải thấy được bốn khía cạnh này, chỉ thấy một khía cạnh là chưa thấy đầy đủ. Khi thấy được nó là biết nó nguy hiểm nên cần thoát ra, cũng như thấy rắn là cần tránh xa, cho nên khi tu học đầy đủ chánh kiến về khổ thì tự động mình sẽ có sự nhàm chán, thoát ra, đó là hệ nhân quả và trình tự của pháp diễn biến như vậy, còn khi thấy khổ nhưng không muốn thoát ra là mình vẫn chưa thấy khổ đầy đủ, chỉ mới thấy được chút ít thôi, nếu thấy được thật sự thì tự động nhàm chán, buông bỏ, còn thấy chưa đủ thì cần tu học thêm nữa, cũng như thấy được nó là cục lửa than thì tự động không cầm vào, tránh xa, còn không thấy nó là lửa than sẽ bốc vô, chỉ có con nít không biết, tưởng là đồ chơi, cây kẹo thì bốc vào, người lớn biết rồi là tránh xa. Khi thấy biết đầy đủ là tự động sanh khởi ra nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng và những cái đúng khác theo sau, đó gọi là dòng pháp đưa người về phía trước cho nên cần tập nhận diện năm uẩn, tập nhìn thấy khổ, nhìn thấy tham, sân, si để tu tập chánh kiến, khi nó viên mãn đầy đủ thì tự động sanh khởi chánh tư duy, chánh ngữ, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, cộng với sự để tâm vào đó, dùng Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần thì các pháp sẽ tăng trưởng viên mãn.
./.