Đại Kinh Mãn Nguyệt 4 - Thân Kiến Là Gì
Kinh Nikāya Giảng Giải
THÂN KIẾN LÀ GÌ?
ĐẠI KINH MÃN NGUYỆT 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc83721259 \h 1
II.Thân kiến là gì PAGEREF _Toc83721260 \h 2
III.Phá chấp thủ PAGEREF _Toc83721261 \h 5
IV.Nhiệt tâm, tinh cần trong tu học PAGEREF _Toc83721262 \h 7
Duyên sanh pháp
Duyên sanh pháp là khẩu quyết, là sự chứng ngộ của Đức Phật, nếu không học thuộc thì nhìn lại thân tâm sẽ không biết gì.
"-- Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì được chấp nhận gọi là sắc uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thọ uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là tưởng uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi hành uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thức uẩn?
Bốn đại là nhân, này Tỳ-kheo, bốn đại là duyên được chấp nhận gọi là sắc uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là thọ uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là tưởng uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là hành uẩn. Danh sắc là nhân, này Tỳ-kheo, danh sắc là duyên được chấp nhận gọi là thức uẩn. (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Tại sao có hình bóng trong tâm?
Do mình tiếp xúc.
Tại sao có suy nghĩ?
Do mình tiếp xúc.
Tại sao có cảm giác?
Do mình tiếp xúc.
Xúc tập khởi thì thọ; tưởng; hành tập khởi. Khi gặp một người dễ thương, dễ mến, mình nói chuyện với họ, lúc trở về chùa hình bóng người đó hiện ra trong tâm là tưởng, mình có cảm giác dễ chịu là thọ, có suy nghĩ về người đó là hành, như vậy gọi là xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi. Hoặc gặp một người hủy nhục, phỉ báng mình thì trở về chùa hình bóng người đó hiện ra trong tâm là tưởng, cảm giác khó chịu là thọ, những suy nghĩ về việc người đó chỉ trích mình là hành, đó là xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi. Đây là pháp hành trong sinh hoạt thường nhật của người xuất gia để chúng ta thấy rõ tâm mình sanh khởi như thế nào, tại sao lại có ra những thứ đó, tất cả là do tiếp xúc.
Danh là thọ; tưởng; hành; xúc; tác ý; sắc là tứ đại. Vì có danh có sắc, tức là có thân có tâm cho nên thức mới đủ điều kiện để phát huy tác dụng của nó. Ví dụ, tuy mình có nhãn thức là sự rõ biết của con mắt nhưng khi con mắt bị mù, bị chột, bị hư nhãn căn thì nhãn thức không phát huy tác dụng được. Cũng như có điện nhưng bóng đèn bị hư thì không phát ánh sáng được, có điện nhưng quạt hư thì không quay được. Như vậy để có ánh sáng hoặc có được chuyển động của quạt để mát thì không những phải có điện mà công cụ đó cũng không được hư, tức là phải có điều kiện cần và điều kiện đủ mới thấy rõ được. Cũng vậy, nếu con mắt bị hư thì nhãn thức không phát huy tác dụng được.
Chính vì vậy, duyên sanh pháp là những sự gắn kết, lắp ráp, nương dựa vào nhau để phát huy, thiếu một cái cũng không được, các pháp nương dựa vào nhau để tồn tại, phát huy công dụng của nó. Cho nên, căn bị hư sẽ không nhận thức được trần và cái thức bên trong không phát huy công năng, tác dụng được, nếu có phát huy thì cũng bị hạn chế. Một người bị cận thị, loạn thị, viễn thị là do nhãn căn có vấn đề, để có cảm giác thọ do nhãn xúc sanh phải qua một chuỗi nhân duyên chứ không phải tự nhiên nhìn thấy là thương liền được. Thế nhưng, do mình không biết, mình chỉ biết "tôi thấy thì tôi thích", đó là tà kiến, vô minh, chấp thủ, không có cái tôi nào ở đây hết, nó chỉ là một dòng chảy của các công đoạn vận hành của các pháp mới sanh khởi.
Từ duyên con mắt mà con mắt này là từ gân và máu, là tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, hủy hoại, tan nát, con mắt là nội tứ đại và các sắc bên ngoài là ngoại tứ đại. Con mắt không bị bệnh, có các sắc bên ngoài mới phát huy ra sự rõ biết các sắc, ba pháp này gặp gỡ, giao thoa, hội tụ, tức là căn – trần – thức tiếp xúc mới tạo thành sự tiếp xúc con mắt gọi là nhãn xúc. Chúng ta đang ngồi đây chỉ biết là "tôi thấy", đó là vô minh, không thấy pháp, không thấy căn, không thấy trần, không thấy được thức, xúc, thọ, ái, sắc tưởng, sắc tư. Vì vậy, mình bị cuốn vào trong đó, bị đồng hóa nên cứ nghĩ "tôi đang thấy", "tôi đã thấy", "tôi sẽ thấy", có cái tôi, có cái thấy, có cái tôi thấy tôi thích, tôi thấy tôi ghét… đó là phàm phu vô minh, lúc đó chỉ thấy bản ngã gọi là thân kiến.
Thân kiến là gì
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là thân kiến?
-- Ở đây, này Tỳ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không hiểu rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không hiểu rõ các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, xem sắc như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có sắc, hay xem sắc như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong sắc; xem thọ như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có thọ, hay xem thọ như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong thọ; xem tưởng như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có tưởng, hay xem tưởng như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong trưởng; xem hành như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có hành, hay xem hành như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong hành; xem thức như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có thức, hay xem có thức như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong thức". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Phàm phu cho rằng sắc pháp này là tôi, thân xác này là tôi, những thứ xung quanh này là của tôi hoặc cho rằng tôi là sắc uẩn này, sắc uẩn này ở trong tôi hoặc tôi ở trong sắc uẩn này… đó là thân kiến. Bậc Thánh nhân, bậc chân nhân là những vị thành tựu chánh tri kiến, ngược lại với chánh tri kiến là thân kiến. Chúng ta xem con mắt này là tôi, là của tôi thì đó là vô văn phàm phu. Chúng ta nhìn thấy bàn tay này là tôi, là của tôi thì chúng ta đang xem sắc là tự ngã. Chúng ta thấy đôi chân này là tôi, là của tôi là đang cho sắc là tự ngã. Chúng ta nghĩ rằng mình là mắt; tai; mũi; lưỡi thì đó là phàm phu. Cho nên, quan ải đầu tiên phải phá của tất cả các bậc Thánh chính là thân kiến, đây là quan ải quan trọng nhất của tất cả hiền Thánh. Nếu không qua được ải này vĩnh viễn là phàm phu, vì vậy, phải phá cho được thân kiến.
Thân kiến là kiến chấp về thân. Kiến chấp về thân là cho rằng sắc này là ta, sắc này bao gồm mắt này là tôi, tai này là tôi, mũi này là tôi, miệng, lưỡi này là tôi, thân này cũng là tôi, tâm ý bên trong cũng là tôi… Biết bao nhiêu người tu đều có suy nghĩ như trên nên tất cả đều là phàm phu, vẫn chưa thể Nhập Lưu, phải phá được thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ thì mới Nhập Lưu được. Ở đây chúng ta chỉ nói về thân kiến, chúng ta luôn nghĩ rằng mắt, tai, miệng, lưỡi, vóc dáng, hình hài này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, cái suy nghĩ đó là thân kiến, là kiến chấp về thân.
Khi có một cảm giác vui sướng thì mình nghĩ rằng "tôi đang sướng", đó là thân kiến. Khi gặp một chuyện đau khổ, buồn phiền thì mình nghĩ rằng "tôi đang buồn", đó là thân kiến. Trong lúc không vui cũng không buồn, không khổ mà chỉ thấy thường thường thì mình nghĩ "tôi bình thường", đó là thân kiến. Con người chấp thủ vào ba loại cảm thọ cho nó là tự ngã nhưng nó chỉ là thọ uẩn. Vì không thành tựu trí tuệ về năm uẩn nên cảm thọ nào mình cũng cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Trong khi sắc là tứ đại, mà tứ đại là pháp duyên sanh, là pháp bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, bị sầu, bi, khổ, ưu, não nhưng mình lại nhận tứ đại này là tôi, của tôi, tự ngã của tôi và mình gắn liền sắc vào tứ đại là mình sầu, bi, khổ, ưu, não trong thân kiến này. Do duyên xúc mới có thọ, trước khi tiếp xúc phải có thân, như vậy căn – trần – thức chỉ toàn là pháp duyên sanh, là tứ đại nhưng cảm giác nào cũng cho là tôi, "tôi đang sướng", " tôi đang quá khổ", "tôi bị bầm dập" hoặc là "tôi thấy bình thường". Vậy là cảm thọ nào mình cũng cho là tôi, đó là thân kiến, cái nào khởi lên mình cũng cho là tôi, tao, mày rồi nhân ngã bỉ thử, hơn thua, cao thấp, ganh tỵ, đố kỵ ở trong ngũ uẩn, trong pháp duyên sanh vô thường, khổ não.
Trong tâm có hình bóng gì mình cũng cho nó là mình, là của mình. Kẻ vô văn phàm phu cho rằng tưởng là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, trong tâm có hình bóng gì cũng cho rằng "tôi đang nghĩ", "tư tưởng của tôi". Khi suy nghĩ "chiều nay mình ăn bún riêu" sẽ có hình bóng của mình ngồi trước tô bún riêu khói bay nghi ngút, hình ảnh đó nếu cho là mình đó là thân kiến. Nếu không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao biết được các pháp này? Kẻ vô văn phàm phu cho hình bóng trong tâm là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, tôi là hình bóng đó, hình bóng đó là tôi, tôi ở trong hình bóng đó, hình bóng đó có tôi, đó là thân kiến. Cái tưởng này do tiếp xúc mới có, trước khi tiếp xúc phải có căn – trần – thức.
Khi có suy nghĩ sau này mình làm cái gì, mình trở thành người như thế nào. Kẻ vô văn phàm phu cho rằng suy nghĩ là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi và họ nói rằng tôi ở trong suy nghĩ đó, suy nghĩ đó ở trong tôi, tôi là suy nghĩ đó, suy nghĩ đó là tôi, đó là thân kiến trong hành uẩn. Cái hành này có cũng do tiếp xúc mới có.
Nhận thức, sự rõ biết của mình cũng bị chấp thủ, "tôi thấy", "tôi biết", "tôi nghe", "tôi rõ biết vấn đề đó", "đây là kiến thức, là cái thấy biết của tôi", "đây là sự nhận định của tôi". Thức do danh và sắc tạo thành, tứ đại, xúc, tác ý, thọ, tưởng, hành mới hình thành ra sự rõ biết.
Như vậy vô văn phàm phu đều cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức là tôi, là tự ngã của tôi mà không biết rằng ngũ uẩn này là pháp vô thường, duyên sanh, vô ngã, tan nát, hoại diệt. Thân kiến này là quan ải tối quan trọng của người tu, nếu phá được cái này thì Nhập Lưu vào dòng Thánh, tức là vào dòng trí tuệ thật sự của Đức Phật. Do vì chúng ta cứ bám chặt vào trong sắc uẩn này cho nên khi thân này được tươi tắn một chút là mình thích thú, hoan hỉ, hân hoan nhưng khi thân này bị suy hao, biến đổi, hoại diệt thì chúng ta đau khổ quằn quại, lo lắng, sợ hãi, bất an, thống khổ vì tâm chúng ta chấp thủ vào trong sắc này. Sắc là cái bị chấp thủ, lòng dục, lòng tham của chúng ta đối với sắc này là cái chấp thủ, sắc thân mấy chục kí lô thịt này là cái bị chấp thủ, còn lòng dục, lòng tham đối với thân đó gọi là cái chấp thủ.
Phá chấp thủ
Cái bị chấp thủ: Thân
Cái chấp thủ: lòng dục, lòng tham đối với thân.
"Này Tỳ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Nơi nào có lòng dục, lòng tham thì nơi đó có sự chấp thủ, nơi nào có sự chấp thủ thì nơi đó có lòng dục, lòng tham. Có người ưa thích cây kiểng, họ có cây kiểng hình dáng con phụng hoàng, họ chăm sóc, bón phân, yêu quý cây này rất nhiều, đi đâu cũng nhớ đến cây này. Cây kiểng đó là cái bị chấp thủ, lòng thích thú, dính mắc trong cây đó là cái chấp thủ, dục tham ái đối với cây đó. Lỡ hôm nay bị mất hay bị hư hao, gãy cành thì người này sầu, bi, khổ, ưu, não. Có sư cô thích làm bếp chánh, sắp đặt vị trí món đồ đâu vào đó vậy mà có người mới về phát tâm vào phụ nhưng họ thay đổi vị trí các món đồ làm cô khó chịu. Như vậy, nhà bếp là cái bị chấp thủ, tâm ham thích là cái chấp thủ, bị người khác vào làm lộn xộn các món đồ thì mình sân si, bực bội.
Chúng ta chấp thủ trong con mắt, mình đang đi ngoài đường mà có người đánh nhau lỡ đánh trúng bầm tím hoặc làm hư mắt mình thì lúc đó chúng ta thế nào? Con mắt đó là cái bị chấp thủ, lòng yêu thích vào con mắt đó là cái chấp thủ, mình yêu thích nó và cho con mắt là mình, là của mình, là tự ngã của mình nên khi con mắt có vấn đề, bị vô thường biến đổi thì đau khổ quằn quại. Dù cho nó gắn mắt giả vào nhưng mình vẫn tiếc nuối, sầu, bi, ưu, não vì mình đã chấp thủ vào con mắt, đó là thân kiến.
Nếu bình thường mình có thiền quán, có tác ý, quán chiếu, tư duy, tư niệm, tư sát "cái này không có gì là mình, là của mình mà là tứ đại tạo thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng. Đây chỉ là xương da" thì khi lỡ có chuyện gì xảy ra với con mắt thì mình không đau khổ. Nhờ tâm không chấp thủ vào đó nên tâm được tịch tịnh, không bị dao động, đó là Niết-bàn. Đến giờ ra về mà bị mất cái đãi thì lúc đó phải quán chiếu "không có gì là tôi, là của tôi nên không sao hết", như vậy tâm được bình an, nhẹ nhàng, dù có buồn nhẹ một chút nhưng tác động tâm ý "không có gì của mình, tấm thân này còn không phải của mình thì cái đãi nào là của mình", vậy là mình bình thản.
"Con tôi, tài sản tôi,
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu".
(Kinh Pháp cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 62)
Nếu người nào làm không được như vậy thì vĩnh viễn không có cơ hội thể nhập trí tuệ Nhập Lưu. Vì đối với cái đãi mà mình còn chấp thủ nặng nề, sầu, bi, khổ, ưu, não đến vậy thì đến khi thân thể mình bệnh hoạn hoặc xảy ra tai nạn đột ngột thì mình sẽ đau khổ khủng khiếp. Lúc chuẩn bị ra đi trong hơi thở cuối cùng thì mình càng thống khổ hơn nữa. Vì thế, nếu có suy nghĩ “mình không làm được” thì đó là phi Như lý tác ý, cần dẹp bỏ suy nghĩ này mới tu được, còn suy nghĩ này sẽ không vào được dòng trí huệ. Thật ra sự tu của chúng ta là tác ý, chính là từ suy nghĩ của mình, nếu nghĩ “cái đó khó lắm không làm được” thì vĩnh viễn không bao giờ mình làm được. Còn khi nghĩ “mình sẽ làm được, buông bỏ được” thì chúng ta sẽ làm được. Nếu thái tử Tất-đạt-đa nghĩ không thể bỏ được ngai vàng, bỏ ba bỏ mẹ, bỏ vợ đẹp con ngoan thì có đạo Phật cho chúng ta noi theo không? Cho nên suy nghĩ rất quan trọng, đó là nói phần phá chấp thủ về sắc.
Tiếp theo là cảm giác, hằng ngày chúng ta trải qua rất nhiều cảm giác, nóng một chút là "nóng quá, học không được". Khi nóng nực cần biết đây là khổ thọ và khổ thọ này do duyên xúc mới có, vì có thân này nên mới có sự tiếp xúc, từ tiếp xúc mới có ra khổ thọ, nó là pháp duyên sanh nên khổ thọ này sanh rồi lại diệt. “Cảm thọ đó không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi”, câu này là vô thượng chú, đẳng đẳng chú, tối thượng chú. Mỗi khi bực mình thì tác ý "cảm giác bực mình này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi", "cảm giác này là sanh diệt, là vô thường, là tan hoại, là hủy hoại, cảm giác này như mây, như khói, hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, đừng cư trú trong đây quậy phá ta nữa, tan biến đi", khi tác ý như vậy thì cảm thọ khó chịu đó sẽ được an tịnh, lắng dịu và tan biến. Đó là những pháp lệnh chúng ta phải ban ra.
Nhiệt tâm, tinh cần trong tu học
Một điều rất quan trọng trong việc tu là mình phải ra pháp lệnh, những câu này là pháp lệnh của Đức Phật. Nếu chúng ta không học, không thực tập, không vận dụng, hành trì, nhắc nhở thường xuyên liên tục thì mình sẽ sống với trí phàm phu, của vô minh, thân kiến, bản ngã, chấp thủ, tham ái. Nếu không để tâm vào sự tu thì học vẫn cứ học nhưng không vận hành, không khởi động trí huệ đó lên, khi học xong thì mình là mình, kinh là kinh, ra khỏi giảng đường là quên hết nên Đức Phật gọi đó là trí tuệ bắp vế.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỳ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... Người ấy, tại chỗ ngồi ấy ... có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế". (Tăng Chi Bộ, chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, 30 - Lộn Ngược)
Chúng ta phải thành tựu trí tuệ kim cương, tức là thể nhập vào dòng Thánh trí của Đức Phật để nhìn thấy ngũ uẩn này làm chúng ta đau khổ như thế nào, đã làm cho chúng ta tuôn chảy bao nhiêu dòng nước mắt, cái dục, tham, ái, sân si, chấp thủ này hành hạ chúng ta vô lượng đời vô lượng kiếp. Bỏ cha mẹ, anh em, lục thân quyến thuộc, bỏ thầy tổ, huynh đệ để lên thành phố đi học giữa trưa nắng cháy da người, vậy mà vào học lại buồn ngủ, đầu óc mơ màng, thật là khổ não. "Mày tỉnh giùm tao đi", tác ý như vậy để con mắt mở ra sáng như ánh chớp, đó gọi là pháp nhãn, đạo nhãn, tuệ nhãn, trí nhãn. Khi tác ý thì si mê trong con mắt sẽ tan biến còn không tác ý thì cứ ngồi gục lên gục xuống, con mắt lờ đờ trong trạng thái vô minh, si ám.
Mỗi một buổi học của mình là thần thánh, thiêng liêng, vi diệu, màu nhiệm, hãy xem mỗi buổi học là buổi cuối cùng trong cuộc đời nên phải tinh cần, tinh tấn, cần tác ý "đây là buổi học cuối cùng trong cuộc đời này, không được buông lung phóng dật, không được lơ là, tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp để mình có cơ hội thể nhập trí tuệ lưu vào dòng chảy trí tuệ của các bậc hiền Thánh". Lúc đó tâm mình phấn chấn, hân hoan, dòng Thánh thủy của Chánh pháp mới thấm đượm vào trong từng tế bào. Từ đỉnh đầu tới gót chân là dòng Thánh thủy của Chánh pháp thấm đượm cả châu thân, như vậy mới là người thông minh. Nếu không tác ý thì mình cứ ngồi đần ra, trong người có thọ; tưởng; hành; thức gì cũng không hề biết thì làm sao tu tiến?
Cho nên cần tác ý làm cho tâm hân hoan, phấn khởi, vui sướng, hỷ lạc trong pháp, đó là người học thông minh. Minh Thành làm công việc chia sẻ pháp mười bảy tiếng liên tục, xong rồi vẫn không biết mệt mà cảm thấy hỷ lạc, đó là do sự tác động tâm ý của mình. Nếu cứ tác ý cái gì cũng "tôi" thì vĩnh viễn là phàm phu nên cần tác ý "không phải tôi, không phải của tôi, cái này là vô thường, khổ đau, phiền não nên bỏ nó ra, buông nó xuống, vứt khỏi tâm mình", huấn luyện tâm mình từ từ sẽ đi vào dòng trí tuệ.
Vì vậy, trong sự tu học cần nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác chứ không phải tu đơn giản như lục bình trôi sông. Phải nắm được cốt lõi của pháp, sau đó đặt tâm đúng hướng thì mới đi nhanh, có kết quả đúng như Đức Phật và các bậc Thánh Tăng đã đi, đó gọi là Thánh đạo. Nếu không tinh tấn, nhiệt tâm tu học, chúng ta sẽ chết trong thân kiến vô lượng vô số, vô biên vô thỉ kiếp, cái gì cũng tôi, ta, tao, mi, tớ thì vĩnh viễn là phàm phu vô minh, tham ái và chấp thủ.
./.
THÂN KIẾN LÀ GÌ?
ĐẠI KINH MÃN NGUYỆT 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc83721259 \h 1
II.Thân kiến là gì PAGEREF _Toc83721260 \h 2
III.Phá chấp thủ PAGEREF _Toc83721261 \h 5
IV.Nhiệt tâm, tinh cần trong tu học PAGEREF _Toc83721262 \h 7
Duyên sanh pháp
Duyên sanh pháp là khẩu quyết, là sự chứng ngộ của Đức Phật, nếu không học thuộc thì nhìn lại thân tâm sẽ không biết gì.
"-- Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì được chấp nhận gọi là sắc uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thọ uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là tưởng uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi hành uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thức uẩn?
Bốn đại là nhân, này Tỳ-kheo, bốn đại là duyên được chấp nhận gọi là sắc uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là thọ uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là tưởng uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là hành uẩn. Danh sắc là nhân, này Tỳ-kheo, danh sắc là duyên được chấp nhận gọi là thức uẩn. (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Tại sao có hình bóng trong tâm?
Do mình tiếp xúc.
Tại sao có suy nghĩ?
Do mình tiếp xúc.
Tại sao có cảm giác?
Do mình tiếp xúc.
Xúc tập khởi thì thọ; tưởng; hành tập khởi. Khi gặp một người dễ thương, dễ mến, mình nói chuyện với họ, lúc trở về chùa hình bóng người đó hiện ra trong tâm là tưởng, mình có cảm giác dễ chịu là thọ, có suy nghĩ về người đó là hành, như vậy gọi là xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi. Hoặc gặp một người hủy nhục, phỉ báng mình thì trở về chùa hình bóng người đó hiện ra trong tâm là tưởng, cảm giác khó chịu là thọ, những suy nghĩ về việc người đó chỉ trích mình là hành, đó là xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi. Đây là pháp hành trong sinh hoạt thường nhật của người xuất gia để chúng ta thấy rõ tâm mình sanh khởi như thế nào, tại sao lại có ra những thứ đó, tất cả là do tiếp xúc.
Danh là thọ; tưởng; hành; xúc; tác ý; sắc là tứ đại. Vì có danh có sắc, tức là có thân có tâm cho nên thức mới đủ điều kiện để phát huy tác dụng của nó. Ví dụ, tuy mình có nhãn thức là sự rõ biết của con mắt nhưng khi con mắt bị mù, bị chột, bị hư nhãn căn thì nhãn thức không phát huy tác dụng được. Cũng như có điện nhưng bóng đèn bị hư thì không phát ánh sáng được, có điện nhưng quạt hư thì không quay được. Như vậy để có ánh sáng hoặc có được chuyển động của quạt để mát thì không những phải có điện mà công cụ đó cũng không được hư, tức là phải có điều kiện cần và điều kiện đủ mới thấy rõ được. Cũng vậy, nếu con mắt bị hư thì nhãn thức không phát huy tác dụng được.
Chính vì vậy, duyên sanh pháp là những sự gắn kết, lắp ráp, nương dựa vào nhau để phát huy, thiếu một cái cũng không được, các pháp nương dựa vào nhau để tồn tại, phát huy công dụng của nó. Cho nên, căn bị hư sẽ không nhận thức được trần và cái thức bên trong không phát huy công năng, tác dụng được, nếu có phát huy thì cũng bị hạn chế. Một người bị cận thị, loạn thị, viễn thị là do nhãn căn có vấn đề, để có cảm giác thọ do nhãn xúc sanh phải qua một chuỗi nhân duyên chứ không phải tự nhiên nhìn thấy là thương liền được. Thế nhưng, do mình không biết, mình chỉ biết "tôi thấy thì tôi thích", đó là tà kiến, vô minh, chấp thủ, không có cái tôi nào ở đây hết, nó chỉ là một dòng chảy của các công đoạn vận hành của các pháp mới sanh khởi.
Từ duyên con mắt mà con mắt này là từ gân và máu, là tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, hủy hoại, tan nát, con mắt là nội tứ đại và các sắc bên ngoài là ngoại tứ đại. Con mắt không bị bệnh, có các sắc bên ngoài mới phát huy ra sự rõ biết các sắc, ba pháp này gặp gỡ, giao thoa, hội tụ, tức là căn – trần – thức tiếp xúc mới tạo thành sự tiếp xúc con mắt gọi là nhãn xúc. Chúng ta đang ngồi đây chỉ biết là "tôi thấy", đó là vô minh, không thấy pháp, không thấy căn, không thấy trần, không thấy được thức, xúc, thọ, ái, sắc tưởng, sắc tư. Vì vậy, mình bị cuốn vào trong đó, bị đồng hóa nên cứ nghĩ "tôi đang thấy", "tôi đã thấy", "tôi sẽ thấy", có cái tôi, có cái thấy, có cái tôi thấy tôi thích, tôi thấy tôi ghét… đó là phàm phu vô minh, lúc đó chỉ thấy bản ngã gọi là thân kiến.
Thân kiến là gì
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là thân kiến?
-- Ở đây, này Tỳ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không hiểu rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không hiểu rõ các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, xem sắc như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có sắc, hay xem sắc như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong sắc; xem thọ như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có thọ, hay xem thọ như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong thọ; xem tưởng như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có tưởng, hay xem tưởng như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong trưởng; xem hành như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có hành, hay xem hành như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong hành; xem thức như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có thức, hay xem có thức như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong thức". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Phàm phu cho rằng sắc pháp này là tôi, thân xác này là tôi, những thứ xung quanh này là của tôi hoặc cho rằng tôi là sắc uẩn này, sắc uẩn này ở trong tôi hoặc tôi ở trong sắc uẩn này… đó là thân kiến. Bậc Thánh nhân, bậc chân nhân là những vị thành tựu chánh tri kiến, ngược lại với chánh tri kiến là thân kiến. Chúng ta xem con mắt này là tôi, là của tôi thì đó là vô văn phàm phu. Chúng ta nhìn thấy bàn tay này là tôi, là của tôi thì chúng ta đang xem sắc là tự ngã. Chúng ta thấy đôi chân này là tôi, là của tôi là đang cho sắc là tự ngã. Chúng ta nghĩ rằng mình là mắt; tai; mũi; lưỡi thì đó là phàm phu. Cho nên, quan ải đầu tiên phải phá của tất cả các bậc Thánh chính là thân kiến, đây là quan ải quan trọng nhất của tất cả hiền Thánh. Nếu không qua được ải này vĩnh viễn là phàm phu, vì vậy, phải phá cho được thân kiến.
Thân kiến là kiến chấp về thân. Kiến chấp về thân là cho rằng sắc này là ta, sắc này bao gồm mắt này là tôi, tai này là tôi, mũi này là tôi, miệng, lưỡi này là tôi, thân này cũng là tôi, tâm ý bên trong cũng là tôi… Biết bao nhiêu người tu đều có suy nghĩ như trên nên tất cả đều là phàm phu, vẫn chưa thể Nhập Lưu, phải phá được thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ thì mới Nhập Lưu được. Ở đây chúng ta chỉ nói về thân kiến, chúng ta luôn nghĩ rằng mắt, tai, miệng, lưỡi, vóc dáng, hình hài này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, cái suy nghĩ đó là thân kiến, là kiến chấp về thân.
Khi có một cảm giác vui sướng thì mình nghĩ rằng "tôi đang sướng", đó là thân kiến. Khi gặp một chuyện đau khổ, buồn phiền thì mình nghĩ rằng "tôi đang buồn", đó là thân kiến. Trong lúc không vui cũng không buồn, không khổ mà chỉ thấy thường thường thì mình nghĩ "tôi bình thường", đó là thân kiến. Con người chấp thủ vào ba loại cảm thọ cho nó là tự ngã nhưng nó chỉ là thọ uẩn. Vì không thành tựu trí tuệ về năm uẩn nên cảm thọ nào mình cũng cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Trong khi sắc là tứ đại, mà tứ đại là pháp duyên sanh, là pháp bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, bị sầu, bi, khổ, ưu, não nhưng mình lại nhận tứ đại này là tôi, của tôi, tự ngã của tôi và mình gắn liền sắc vào tứ đại là mình sầu, bi, khổ, ưu, não trong thân kiến này. Do duyên xúc mới có thọ, trước khi tiếp xúc phải có thân, như vậy căn – trần – thức chỉ toàn là pháp duyên sanh, là tứ đại nhưng cảm giác nào cũng cho là tôi, "tôi đang sướng", " tôi đang quá khổ", "tôi bị bầm dập" hoặc là "tôi thấy bình thường". Vậy là cảm thọ nào mình cũng cho là tôi, đó là thân kiến, cái nào khởi lên mình cũng cho là tôi, tao, mày rồi nhân ngã bỉ thử, hơn thua, cao thấp, ganh tỵ, đố kỵ ở trong ngũ uẩn, trong pháp duyên sanh vô thường, khổ não.
Trong tâm có hình bóng gì mình cũng cho nó là mình, là của mình. Kẻ vô văn phàm phu cho rằng tưởng là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, trong tâm có hình bóng gì cũng cho rằng "tôi đang nghĩ", "tư tưởng của tôi". Khi suy nghĩ "chiều nay mình ăn bún riêu" sẽ có hình bóng của mình ngồi trước tô bún riêu khói bay nghi ngút, hình ảnh đó nếu cho là mình đó là thân kiến. Nếu không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao biết được các pháp này? Kẻ vô văn phàm phu cho hình bóng trong tâm là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, tôi là hình bóng đó, hình bóng đó là tôi, tôi ở trong hình bóng đó, hình bóng đó có tôi, đó là thân kiến. Cái tưởng này do tiếp xúc mới có, trước khi tiếp xúc phải có căn – trần – thức.
Khi có suy nghĩ sau này mình làm cái gì, mình trở thành người như thế nào. Kẻ vô văn phàm phu cho rằng suy nghĩ là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi và họ nói rằng tôi ở trong suy nghĩ đó, suy nghĩ đó ở trong tôi, tôi là suy nghĩ đó, suy nghĩ đó là tôi, đó là thân kiến trong hành uẩn. Cái hành này có cũng do tiếp xúc mới có.
Nhận thức, sự rõ biết của mình cũng bị chấp thủ, "tôi thấy", "tôi biết", "tôi nghe", "tôi rõ biết vấn đề đó", "đây là kiến thức, là cái thấy biết của tôi", "đây là sự nhận định của tôi". Thức do danh và sắc tạo thành, tứ đại, xúc, tác ý, thọ, tưởng, hành mới hình thành ra sự rõ biết.
Như vậy vô văn phàm phu đều cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức là tôi, là tự ngã của tôi mà không biết rằng ngũ uẩn này là pháp vô thường, duyên sanh, vô ngã, tan nát, hoại diệt. Thân kiến này là quan ải tối quan trọng của người tu, nếu phá được cái này thì Nhập Lưu vào dòng Thánh, tức là vào dòng trí tuệ thật sự của Đức Phật. Do vì chúng ta cứ bám chặt vào trong sắc uẩn này cho nên khi thân này được tươi tắn một chút là mình thích thú, hoan hỉ, hân hoan nhưng khi thân này bị suy hao, biến đổi, hoại diệt thì chúng ta đau khổ quằn quại, lo lắng, sợ hãi, bất an, thống khổ vì tâm chúng ta chấp thủ vào trong sắc này. Sắc là cái bị chấp thủ, lòng dục, lòng tham của chúng ta đối với sắc này là cái chấp thủ, sắc thân mấy chục kí lô thịt này là cái bị chấp thủ, còn lòng dục, lòng tham đối với thân đó gọi là cái chấp thủ.
Phá chấp thủ
Cái bị chấp thủ: Thân
Cái chấp thủ: lòng dục, lòng tham đối với thân.
"Này Tỳ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Nơi nào có lòng dục, lòng tham thì nơi đó có sự chấp thủ, nơi nào có sự chấp thủ thì nơi đó có lòng dục, lòng tham. Có người ưa thích cây kiểng, họ có cây kiểng hình dáng con phụng hoàng, họ chăm sóc, bón phân, yêu quý cây này rất nhiều, đi đâu cũng nhớ đến cây này. Cây kiểng đó là cái bị chấp thủ, lòng thích thú, dính mắc trong cây đó là cái chấp thủ, dục tham ái đối với cây đó. Lỡ hôm nay bị mất hay bị hư hao, gãy cành thì người này sầu, bi, khổ, ưu, não. Có sư cô thích làm bếp chánh, sắp đặt vị trí món đồ đâu vào đó vậy mà có người mới về phát tâm vào phụ nhưng họ thay đổi vị trí các món đồ làm cô khó chịu. Như vậy, nhà bếp là cái bị chấp thủ, tâm ham thích là cái chấp thủ, bị người khác vào làm lộn xộn các món đồ thì mình sân si, bực bội.
Chúng ta chấp thủ trong con mắt, mình đang đi ngoài đường mà có người đánh nhau lỡ đánh trúng bầm tím hoặc làm hư mắt mình thì lúc đó chúng ta thế nào? Con mắt đó là cái bị chấp thủ, lòng yêu thích vào con mắt đó là cái chấp thủ, mình yêu thích nó và cho con mắt là mình, là của mình, là tự ngã của mình nên khi con mắt có vấn đề, bị vô thường biến đổi thì đau khổ quằn quại. Dù cho nó gắn mắt giả vào nhưng mình vẫn tiếc nuối, sầu, bi, ưu, não vì mình đã chấp thủ vào con mắt, đó là thân kiến.
Nếu bình thường mình có thiền quán, có tác ý, quán chiếu, tư duy, tư niệm, tư sát "cái này không có gì là mình, là của mình mà là tứ đại tạo thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng. Đây chỉ là xương da" thì khi lỡ có chuyện gì xảy ra với con mắt thì mình không đau khổ. Nhờ tâm không chấp thủ vào đó nên tâm được tịch tịnh, không bị dao động, đó là Niết-bàn. Đến giờ ra về mà bị mất cái đãi thì lúc đó phải quán chiếu "không có gì là tôi, là của tôi nên không sao hết", như vậy tâm được bình an, nhẹ nhàng, dù có buồn nhẹ một chút nhưng tác động tâm ý "không có gì của mình, tấm thân này còn không phải của mình thì cái đãi nào là của mình", vậy là mình bình thản.
"Con tôi, tài sản tôi,
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu".
(Kinh Pháp cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 62)
Nếu người nào làm không được như vậy thì vĩnh viễn không có cơ hội thể nhập trí tuệ Nhập Lưu. Vì đối với cái đãi mà mình còn chấp thủ nặng nề, sầu, bi, khổ, ưu, não đến vậy thì đến khi thân thể mình bệnh hoạn hoặc xảy ra tai nạn đột ngột thì mình sẽ đau khổ khủng khiếp. Lúc chuẩn bị ra đi trong hơi thở cuối cùng thì mình càng thống khổ hơn nữa. Vì thế, nếu có suy nghĩ “mình không làm được” thì đó là phi Như lý tác ý, cần dẹp bỏ suy nghĩ này mới tu được, còn suy nghĩ này sẽ không vào được dòng trí huệ. Thật ra sự tu của chúng ta là tác ý, chính là từ suy nghĩ của mình, nếu nghĩ “cái đó khó lắm không làm được” thì vĩnh viễn không bao giờ mình làm được. Còn khi nghĩ “mình sẽ làm được, buông bỏ được” thì chúng ta sẽ làm được. Nếu thái tử Tất-đạt-đa nghĩ không thể bỏ được ngai vàng, bỏ ba bỏ mẹ, bỏ vợ đẹp con ngoan thì có đạo Phật cho chúng ta noi theo không? Cho nên suy nghĩ rất quan trọng, đó là nói phần phá chấp thủ về sắc.
Tiếp theo là cảm giác, hằng ngày chúng ta trải qua rất nhiều cảm giác, nóng một chút là "nóng quá, học không được". Khi nóng nực cần biết đây là khổ thọ và khổ thọ này do duyên xúc mới có, vì có thân này nên mới có sự tiếp xúc, từ tiếp xúc mới có ra khổ thọ, nó là pháp duyên sanh nên khổ thọ này sanh rồi lại diệt. “Cảm thọ đó không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi”, câu này là vô thượng chú, đẳng đẳng chú, tối thượng chú. Mỗi khi bực mình thì tác ý "cảm giác bực mình này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi", "cảm giác này là sanh diệt, là vô thường, là tan hoại, là hủy hoại, cảm giác này như mây, như khói, hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, đừng cư trú trong đây quậy phá ta nữa, tan biến đi", khi tác ý như vậy thì cảm thọ khó chịu đó sẽ được an tịnh, lắng dịu và tan biến. Đó là những pháp lệnh chúng ta phải ban ra.
Nhiệt tâm, tinh cần trong tu học
Một điều rất quan trọng trong việc tu là mình phải ra pháp lệnh, những câu này là pháp lệnh của Đức Phật. Nếu chúng ta không học, không thực tập, không vận dụng, hành trì, nhắc nhở thường xuyên liên tục thì mình sẽ sống với trí phàm phu, của vô minh, thân kiến, bản ngã, chấp thủ, tham ái. Nếu không để tâm vào sự tu thì học vẫn cứ học nhưng không vận hành, không khởi động trí huệ đó lên, khi học xong thì mình là mình, kinh là kinh, ra khỏi giảng đường là quên hết nên Đức Phật gọi đó là trí tuệ bắp vế.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỳ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... Người ấy, tại chỗ ngồi ấy ... có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế". (Tăng Chi Bộ, chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, 30 - Lộn Ngược)
Chúng ta phải thành tựu trí tuệ kim cương, tức là thể nhập vào dòng Thánh trí của Đức Phật để nhìn thấy ngũ uẩn này làm chúng ta đau khổ như thế nào, đã làm cho chúng ta tuôn chảy bao nhiêu dòng nước mắt, cái dục, tham, ái, sân si, chấp thủ này hành hạ chúng ta vô lượng đời vô lượng kiếp. Bỏ cha mẹ, anh em, lục thân quyến thuộc, bỏ thầy tổ, huynh đệ để lên thành phố đi học giữa trưa nắng cháy da người, vậy mà vào học lại buồn ngủ, đầu óc mơ màng, thật là khổ não. "Mày tỉnh giùm tao đi", tác ý như vậy để con mắt mở ra sáng như ánh chớp, đó gọi là pháp nhãn, đạo nhãn, tuệ nhãn, trí nhãn. Khi tác ý thì si mê trong con mắt sẽ tan biến còn không tác ý thì cứ ngồi gục lên gục xuống, con mắt lờ đờ trong trạng thái vô minh, si ám.
Mỗi một buổi học của mình là thần thánh, thiêng liêng, vi diệu, màu nhiệm, hãy xem mỗi buổi học là buổi cuối cùng trong cuộc đời nên phải tinh cần, tinh tấn, cần tác ý "đây là buổi học cuối cùng trong cuộc đời này, không được buông lung phóng dật, không được lơ là, tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp để mình có cơ hội thể nhập trí tuệ lưu vào dòng chảy trí tuệ của các bậc hiền Thánh". Lúc đó tâm mình phấn chấn, hân hoan, dòng Thánh thủy của Chánh pháp mới thấm đượm vào trong từng tế bào. Từ đỉnh đầu tới gót chân là dòng Thánh thủy của Chánh pháp thấm đượm cả châu thân, như vậy mới là người thông minh. Nếu không tác ý thì mình cứ ngồi đần ra, trong người có thọ; tưởng; hành; thức gì cũng không hề biết thì làm sao tu tiến?
Cho nên cần tác ý làm cho tâm hân hoan, phấn khởi, vui sướng, hỷ lạc trong pháp, đó là người học thông minh. Minh Thành làm công việc chia sẻ pháp mười bảy tiếng liên tục, xong rồi vẫn không biết mệt mà cảm thấy hỷ lạc, đó là do sự tác động tâm ý của mình. Nếu cứ tác ý cái gì cũng "tôi" thì vĩnh viễn là phàm phu nên cần tác ý "không phải tôi, không phải của tôi, cái này là vô thường, khổ đau, phiền não nên bỏ nó ra, buông nó xuống, vứt khỏi tâm mình", huấn luyện tâm mình từ từ sẽ đi vào dòng trí tuệ.
Vì vậy, trong sự tu học cần nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác chứ không phải tu đơn giản như lục bình trôi sông. Phải nắm được cốt lõi của pháp, sau đó đặt tâm đúng hướng thì mới đi nhanh, có kết quả đúng như Đức Phật và các bậc Thánh Tăng đã đi, đó gọi là Thánh đạo. Nếu không tinh tấn, nhiệt tâm tu học, chúng ta sẽ chết trong thân kiến vô lượng vô số, vô biên vô thỉ kiếp, cái gì cũng tôi, ta, tao, mi, tớ thì vĩnh viễn là phàm phu vô minh, tham ái và chấp thủ.
./.