Sự Khác Biệt Giữa Phàm Phu & Thánh Đệ Tử (Kinh Từ)
Kinh Nikāya Giảng Giải
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA
PHÀM PHU & THÁNH ĐỆ TỬ (KINH TỪ)
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Vị tu tập lòng từ PAGEREF _Toc114220777 \h 1
II.Đức Phật ví dụ về độ dài một kiếp PAGEREF _Toc114220778 \h 2
III.Khác biệt Phàm phu và Thánh đệ tử PAGEREF _Toc114220779 \h 6
Vị tu tập lòng từ
Chúng ta cùng tìm hiểu hai bài kinh về lòng yêu thương.
"Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người với tâm, cùng khởi với từ, biến mãn một phương rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới".
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Tâm khởi lên với lòng yêu thương, bi mẫn rộng khắp muôn phương rồi an trú trong tâm đó.
Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm từ của ta.
Tâm đầy niềm thương cảm
Tâm đầy nỗi xót thương
Tâm đầy lòng thương tưởng
Tâm đầy tràn tình thương.
(trích Cửa vào bất tử)
Tình thương này rộng lớn khắp vô lượng vô biên giới, đối với các phương phải, trái, trên, dưới, bề dọc, bề ngang cũng vậy, rộng lớn khắp vô lượng vô biên hư không và vị này an trú trong tâm đó bất kể thời gian, không giận, không sân với bất kì ai. Lúc nào cũng an trú trong tâm từ mẫn, từ bi, thương xót, thương yêu tất cả chứ không giận, không sân với bất kì ngũ uẩn nào, chúng sanh nào.
"Vị ấy an trú biến mãn với tâm cùng khởi với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Phạm chúng Thiên". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Do tu tập tâm từ suốt ngày, đêm, năm, tháng nên vị này nếm được vị ngọt của thiền tâm từ, thiền tâm thương. Do nếm được hương vị tuyệt vời đó, họ yêu thích cái thiền đó, muốn ở trong cái thiền đó, tìm được sự an vui, vui vẻ, hỷ lạc trong cái thiền đó nên chú tâm, sống phần lớn trong cái thiền đó. Khi vị này nhắm mắt, kết thúc đời sống sẽ sanh lên với chư Thiên ở cõi Phạm chúng Thiên.
"Một kiếp, này các Tỷ kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở cõi Phạm chúng Thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Bàng sanh là sanh ra làm thú vật, súc sanh. Sanh ra ở chung với Phạm chúng thiên nhưng Đức Phật lại nói "kẻ phàm phu", Phạm chúng thiên là tầng trời rất cao, chúng ta sẽ biết một kiếp dài đến như thế nào.
Đức Phật ví dụ về độ dài một kiếp
"... Trú ở Sàvatthi.
Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn...
Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?
-- Thật dài, này Tỳ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì để có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm, hay một vài trăm ngàn năm.
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?
-- Có thể được, này Tỳ-kheo. Ví như, này Tỳ-kheo, có một thành bằng sắt, dài một do tuần, rộng một do tuần, cao một do tuần, chứa đầy hột cải cao như chóp khăn đầu. Một người từ nơi chỗ ấy, sau mỗi trăm năm lấy ra một hột cải. Này Tỳ-kheo, đống hột cải ấy được làm như vậy, có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.
Như vậy dài, này Tỳ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Hột Cải)
Một thành trì rộng 18 cây số, dài 18 cây số, cao 18 cây số, trong đó cất chứa đầy hột cải, cứ một trăm năm lại lấy một hột cải, lấy đến khi nào không còn hột cải nào cũng chưa được là một kiếp. Vòng luân hồi này, sự sống chết này cứ lặp đi lặp lại, tái diễn lòng vòng hết sống đến chết, chết rồi lại sống, sanh, già, bệnh, tử như vậy đã kéo dài trong cả trăm ngàn kiếp đã qua, cứ sanh ra rồi tham dục, sân hận, vô minh, bản ngã rồi chết đi theo cái nghiệp, sau đó lại sanh ra, làm hoài như vậy trong trăm ngàn kiếp đã qua. Cứ khao khát, thèm thuồng, sân hân, hơn thua rồi chết đi, sanh ra lại tiếp tục như vậy, kéo dài vô tận trong bất cứ hình dạng nào của ngũ thú lục đạo.
"-- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc với sự trôi nổi, quanh quẩn, luân chuyển, quay cuồng trong đó mà không thể biết được khởi điểm của nó.
"Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Cho đến như vậy là vừa đủ để chúng ta thoát khỏi hình thái, hình thù của những đời sống vô thường, đau khổ, đầy bệnh tật, bất an, lo lắng và chết chóc này.
"Ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm).
Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn...
Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
- Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn đã đi qua, đã vượt qua?
Rất nhiều, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được, là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.
Tôn giả Gotama có thể cho một ví dụ được không?
-- Có thể được, này Bà-la-môn. Ví như, này Bà-la-môn, sông Hằng này từ chỗ nguồn bắt đầu đến chỗ nó chảy nhập vào biển. Số cát nằm ở giữa chặng ấy, thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một số hột cát, là số trăm hột cát, là số ngàn hột cát, là số trăm ngàn hột cát.
Nhiều hơn vậy, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì có thể đếm chúng được, là một số kiếp, một trăm kiếp, là một ngàn kiếp, là một số trăm ngàn kiếp".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Sông Hằng)
Hình ảnh thứ nhất là đếm số hột cải, hình ảnh thứ hai là từ đầu nguồn sông Hằng chảy ra tới biển làm sao có thể đếm được bao nhiêu hạt cát, đó là những kiếp chúng ta đã trải qua, đã sống qua, đã đi qua.
"... Trú ở Sàvatthi.
Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?
-- Thật dài, này Tỳ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm hay một vài trăm ngàn năm.
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?
-- Có thể được, này Tỳ-kheo. Thế Tôn nói như vậy. Ví như, này Tỳ-kheo, có một hòn núi đá lớn, một do tuần bề dài, một do tuần bề rộng, một do tuần bề cao, không có khe hở, không có lỗ hổng, một tảng đá thuần đặc. Rồi một người đến, cứ sau một trăm năm lại lau hòn đá ấy một lần với tấm vải kàsi. Này Tỳ-kheo, hòn núi đá lớn ấy được làm như vậy có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.
Như vậy dài, này các Tỳ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, này Tỳ-kheo, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua". Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, V. Núi)
Kàsi là tấm vải tơ tằm mỏng manh, cứ một trăm năm lấy cái tấm vải đó lau một lần cho đến khi nào hòn núi dài 18 cây số, rộng 18 cây số, cao 18 cây số không có khe hở đó tan thành tro bụi cũng chưa được một kiếp. Công đức của tâm từ thật sự rất khủng khiếp. Đức Phật ví dụ một người cho đồ ăn, cơm từ sáng tới trưa, từ trưa đến chiều, từ chiều đến tối cũng không bằng một người tu tập tâm từ trong một khoảnh khắc búng móng tay. Nhưng nói như vậy không có nghĩ là không cần bố thí, mà nghĩa là công đức của từ tâm vượt lên trên tất cả và nhờ có tâm từ, tâm thương mới có thể bố thí được; không có tâm từ, tâm thương thì không thể bố thí.
Cho nên chúng ta cần tu tập tâm từ thường xuyên và liên tục, sống phần lớn trong tâm từ sẽ nếm được hương vị của thiền tâm từ, sẽ yêu thích thiền tâm từ vì tâm từ rất ngọt ngào, tuyệt vời. Tùy theo sự tinh cần tinh tấn và tu đúng pháp trong thiền tâm từ thì sau khi nhắm mắt sẽ sanh lên ở chung với chư Thiên ở cõi Phạm chúng, tuổi thọ của chư Thiên Phạm chúng kéo dài một kiếp.
Cõi nhân gian như hoa phù dung, sớm nở tối tàn, ngắn ngủi, chư Thiên nhìn xuống thấy thương con người. Ai ai cũng lo tranh giành, đấu đá, sân si, làm đủ chuyện rồi cũng chết hết. Một ngày của chư Thiên bằng cả một đời sống của mình, thế nên, buổi sáng họ thấy mới sanh ra khóc oa oa, vậy mà buổi chiều nhìn xuống đã thấy ra nghĩa địa. Hơn nữa, bây giờ rất nhiều vụ giết người cướp của, đua xe, đâm chém nhau nên tuổi thọ bị rút ngắn xuống rất nhiều.
"Này Bà-la-môn, ít ỏi là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, con sông trên núi chảy xa, dòng nước chảy nhanh, lôi cuốn theo vật này vật khác, không có sát-na nào, không có giây phút nào, không có thời khắc nào có dừng nghỉ, nó phải chảy tới, cuồn cuộn chảy, thúc đẩy chảy tới. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví như con sông ấy là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể... Với người đã sanh, không có bất tử".
(Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (X). Araka)
Đời sống con người nhỏ bé, mong manh, tạm bợ như vậy, còn chư Thiên sống đến một kiếp là nhờ an trú vào từ vô lượng tâm, sống một kiếp dài đằng đẵng mà an trú vào hỷ lạc liên tục nhưng vẫn là phàm phu thiên.
Khác biệt Phàm phu và Thánh đệ tử
"Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Qua đây cho chúng ta thấy vòng luân hồi thật là ngao ngán, vô thường, một kiếp dài như vậy rồi cũng có lúc phải hết, khi hưởng hết một kiếp đó là từ đỉnh cao của thiên giới rớt thẳng xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
"Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho đến hết trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Này các Tỳ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Các bậc Thánh đệ tử thiên sanh lên thiên giới rồi các ngài tiếp tục tu học để nhập Niết-bàn ngay đó.
" Ở đây, về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Sự sanh khởi này, này các Tỳ-kheo, không có chung cùng với các hàng phàm phu".
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (IV). Các Hạng Người Sai Khác (2))
Tuy là tu tập tâm từ nhưng lại kết hợp quán chiếu sắc uẩn, sắc pháp là vô thường, thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, quán chiếu ngũ uẩn là khổ đau, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ngũ uẩn này là hướng ngoại, hoại diệt, trống không, vô ngã.
Vị phàm phu thiên chỉ tu tập tâm từ vô lượng nên khi chết sẽ được sanh lên cõi trời Phạm chúng, tuổi thọ kéo dài đến một kiếp nhưng khi hết tuổi thọ của chư Thiên đó sẽ bị rớt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Vị thứ hai cũng tu tập tâm từ nhưng vị này là Đa văn Thánh đệ tử, vị này kết hợp với sự quán chiếu về năm uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, tan hoại, trống không, cho nên vị này sau khi chết ở thế gian sẽ được sanh lên Tịnh cư thiên, đó là chỗ của các bậc Thánh giả cư trú, tu tập diệt tận các lậu hoặc vi tế cho đến khi sạch hết thì nhập Niết-bàn tại đó. "Sự sanh khởi này, này các Tỳ-kheo, không có chung cùng với các hàng phàm phu" nghĩa là chỗ Tịnh cư thiên đó không có phàm phu ở mà chỉ có các bậc đã thành tựu chánh tri kiến, đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử. Đó là sự khác biệt, sự đặc thù, sự thù thắng, sự khác nhau giữa phàm phu không thành tựu năm uẩn và người thành tựu trí huệ năm uẩn, qua đây chúng ta mới thấy được giá trị của việc tu tập Thánh trí về năm uẩn.
"Hai bài kinh trên cho ta biết 'Cách tu tập Tứ vô lượng tâm và sự quan trọng của Trí về ngũ uẩn'. Nếu tu tập Tứ vô lượng tâm và quán chiếu ngũ uẩn trong bốn tâm này thì lợi ích sẽ vô cùng to lớn, chứng được Bất Lai quả, sanh ở cõi Tịnh cư Thiên, sau khi hết thọ mạng ở đây thì không sanh lại các cảnh giới thấp kém mà sẽ thể nhập vào Niết bàn và hoàn toàn giải thoát sanh tử. Bài kinh cho ta thấy tầm quan trọng của Trí về ngũ uẩn và từ bi hỷ xả, giúp ta nỗ lực tinh tấn hơn trong sự tu học Thánh trí về ngũ uẩn".
(trích Cửa vào bất tử)
Có những người phàm phu tu tập bốn tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả, trong thời Đức Phật vẫn có người biết tu những cái thiền này nhưng họ không thành tựu về năm uẩn. Vì thế cốt tủy của kinh tạng Nikāya chính là Thánh trí năm uẩn và Thánh trí lậu hoặc, Bồ-tát chứng ngộ hai Thánh trí này. Còn về nhân quả nghiệp báo, từ bi hỷ xả là phàm phu vẫn biết nhưng về ngũ uẩn và lậu hoặc là không biết không thấy.
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người với tâm cùng khởi với bi ... với tâm cùng khởi với hỷ ... với tâm cùng khởi với xả, biến mãn một phương rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm cùng khởi với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Có người an trú trong tâm xót thương, bi mẫn, có người có tâm luôn sanh khởi với sự hoan hỉ hoặc có người có tâm cùng khởi với xả bỏ, buông bỏ, biến mãn cùng khắp vô biên giới, không giận không sân. Nhưng nếu không giận, không sân thì tại sao bị đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh? Khi trú trong từ, bi, hỷ, xả thì tất nhiên sẽ không hận, không sân nhưng không hận, không sân không có nghĩa là hết hoàn toàn giận và sân. Do không thành tựu trí ngũ uẩn, do không thành tựu chánh tri kiến để thấy tận cùng hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si nên chúng cứ nằm yên thôi nhưng không có nghĩa nó bị diệt tận, do không thành tựu nên không thấy được chỗ trú ẩn vi tế của nó, mà không thấy thì làm sao nhiếp phục, đoạn tận hoàn toàn nên chúng nó chỉ nằm yên đó thôi.
Ví dụ ngoài đời sống cho dễ hiểu, nhìn bề ngoài thấy hiền lành, dễ thương nhưng đụng chuyện là sân si, hung dữ như vậy có hiền thật sự không, đó là do cảm thọ sân hận tiềm ẩn đằng sau vẻ hiền lành đó, nó chỉ nằm yên thôi, gặp đúng duyên sẽ bộc phát ra. Cũng vậy, người phàm phu không thành tựu chánh tri kiến mà tu bốn tâm vô lượng thì đương nhiên cái sân hận sẽ nằm yên xuống nhưng không có nghĩa nó hết hoàn toàn.
"Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Quang âm thiên". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Đây chính là tham ái vi tế, nếu không có Thánh trí sẽ không thấy được những cái vi tế này nên không thể diệt được nó. Làm sao tu có sự an lạc, hỷ lạc mà lại không thích cho được, chỉ trừ khi nào thành tựu Thánh trí ngũ uẩn mới không tham thích trong sự hỷ lạc đó, thành tựu Thánh trí ngũ uẩn là quán chiếu sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, khổ, vô ngã, bệnh hoạn, hoại diệt, mũi tên, hướng ngoại, trống rỗng. Người nào thật sự thành tựu trí ngũ uẩn thì dù cho có đạt được những tầng thiền an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào như vậy những vẫn biết cái thọ đó là vô thường, là khổ, đây là chỗ rất sâu sắc, chúng ta chỉ mới học chứ tu là không phải dễ để thấy được điều này.
Bình thường khi đem hết công sức vào xây đắp một cái gì đó thì tất nhiên mình sẽ giữ gìn, yêu thương. Ví dụ hai mươi năm mới xây được ngôi chùa, đổ vào đây biết bao thời gian, công sức, kinh phí. Khi xây xong là hoan hỉ, vui mừng thì làm sao mình có thể từ bỏ hết để ra đi nhẹ nhàng, làm sao có thể nghĩ "ngôi chùa này không phải tôi, không phải của tôi", chỉ trừ người thành tựu chánh kiến mới có thể làm được điều này. Chỉ khi nào thấy được sắc uẩn này là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã thì mới có thể quải đãi ra đi nhẹ nhàng như làn gió, không thành tựu chánh tri kiến không thể làm được điều này, có làm cũng làm trong sự miễn cưỡng, trong tâm vẫn còn sự tiếc nuối, nhớ nhung.
Những bậc Đa văn Thánh đệ tử đã tu tập nhiều năm, nhiều tháng cho đến nhiều chục năm, cả một đời đã quán chiếu, an trú điêu luyện, thuần thục trí tuệ trống không, tan hoại, hoại diệt, không có gì là mình, là của mình thì mới làm được. Chỉ mới là sắc thôi đã khó đến vậy thì nói gì đến cảnh giới tu chứng ở bên trong tâm thức của người đó. Họ chứng được thiền tứ vô lượng tâm, an trú trong đó rất an lạc, ngọt ngào, dễ chịu, rộng lớn như vậy nhưng vẫn biết đó là thứ vô thường, đó chỉ là những cảm thọ thôi nên dính mắc vào đây là khổ đau.
Cho nên Thánh trí ngũ uẩn và Thánh trí lậu hoặc rất quan trọng, đó là vô thượng pháp luân, không còn cái pháp nào cao hơn pháp này nữa. Tu chứng đến mức như vậy nhưng vẫn không chấp thủ trong đó. Còn bây giờ đọc vào bài kinh này mà nói không cần tu từ, bi, hỷ, xả là đã hiểu sai. Một người học đến tiến sĩ mà cầm bằng tiến sĩ quăng đi thì có thể người ta nể, nhưng đằng này mình dốt, học chưa đến đâu mà lại nói bằng tiến sĩ bỏ đi là làm trò cười cho người ta. Cũng vậy, mình cứ thích học cái gì trên cao nên coi thường những thứ căn bản như nhận diện ngũ uẩn thì không thể thành tựu được. Cho nên, phải đi theo tuần tự cho đến khi lên đến thành tựu tứ vô lượng tâm, đó là đỉnh cao của thiện pháp nhưng vẫn buông xả, không chấp thủ, như vậy mới gọi là Thánh đệ tử thiên.
"Hai kiếp, này các Tỳ-kheo, là thọ mạng của các chư Thiên ở Quang âm thiên… được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Biến tịnh thiên. Bốn kiếp, này các Tỷ kheo là thọ mạng của chư Thiên ở cõi Biến tịnh thiên ... được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Quảng quả Thiên. Năm kiếp, này các Tỳ-kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở cõi Quảng quả Thiên. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Như vậy, tu được tâm từ là được sanh lên Phạm chúng thiên, ở trên đó một kiếp, còn giờ tu tập thêm được tâm bi là sanh lên Quang âm thiên, sống ở trên đó hai kiếp. Khi tu tập thêm được tâm hỷ sẽ ở chung với chư Thiên ở cõi Biến tịnh thiên, tuổi thọ trên đó kéo dài đến bốn kiếp. Một kiếp là quãng thời gian dài đằng đẵng không có con số tính được mà ở đây sống đến bốn kiếp, vì thế chư Thiên rất khó để thấy được vô thường, khổ, vô ngã. Do tuổi thọ rất dài nên các ngài nghĩ bản thân đã trường cửu bất biến, không thể chết được cho nên khi không thấy được vô thường, khổ, vô ngã. Các ngài sẽ đam mê, tham ái, ái luyến, chấp thủ, hưởng thụ cảm thọ sung sướng đó đến khi hết phước, hết tuổi thọ là rơi thẳng xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Vì thế ở nhân giới làm người là tu dễ nhất, địa ngục, quạ quỷ, súc sanh là quá khổ, ám muội, ngu si nên không thể tu được. Lên chư Thiên thì quá sung sướng, rất ít khổ. Chỉ có những chư Thiên ở cõi dục thấp kém mới còn giành giật, sân si, còn những cảnh giới trong kinh ghi là rất cao cấp nên hầu như không bao giờ thấy khổ. Khi tu tập được tâm xả thì được lên chư Thiên ở Quãng quả thiên, sống đời sống kéo dài qua năm kiếp. Bài thực hành chúng ta được học về từ, bi, hỷ, xả có kết hợp với Thánh trí năm uẩn trong đó, sẽ giúp mình nhận diện được sự vận hành của ngũ uẩn để không chấp thủ; còn ở đây đang nói một người tu từ, bi, hỷ, xả, an trú và chứng đắc nhưng không thấy ngũ uẩn, không thấy vô thường, khổ, vô ngã, nên họ không có hướng nhàm chán, ly tham, từ bỏ và chấm dứt để thoát ra.
"Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ. Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Này các Tỳ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Đệ tử Như Lai chính là bậc Thánh đệ tử thiên chỉ ở duy nhất Tịnh cư thiên, là bất thối chuyển là không còn trở lại cõi nào khác nữa của cõi trời và cũng không trở lại cõi người, chỉ từ đó nhập Niết-bàn. Hiện hữu ấy tức là cái thân ở nơi Tịnh cư thiên. Sanh thú là chỗ hướng đến của thọ sanh, sự khác biệt ở chỗ thọ sanh tức là một bên là ở các cõi trời Phạm chúng thiên, Quang âm thiên, Biến tịnh thiên, Quãng quả thiên, đây là những cảnh trời không có thân tướng, vô sắc, sống bằng thọ; tưởng; hành cực kì vi tế. Họ không có sắc thô như mình hoặc cái sắc của các chư Thiên thấp mà họ là vô sắc giới, vì họ không hướng đến đoạn tận tham, sân, si trong ngũ uẩn, họ không hướng đến nhàm chán, ly tham, chấm dứt, từ bỏ thì làm sao họ thoát ra được nên họ phải chịu nhân quả của thiện ác.
Tu tập tâm từ vô lượng thì được sanh lên Phạm chúng thiên có tuổi thọ kéo dài một kiếp, tu tập thêm tâm bi thì sanh lên Quang âm thiên có tuổi thọ kéo dài hai kiếp, tu tập được tâm hỷ vô lượng thì sanh lên Biến tịnh thiên có tuổi thọ bốn kiếp, khi thành tựu cả bốn tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả thì sanh lên Quãng quả thiên có tuổi thọ kéo dài năm kiếp, ở đây là thành tựu được bốn tâm vô lượng nhưng vẫn chưa thành tựu trí về năm uẩn, trí về lậu hoặc.
Sự khác nhau ở chỗ, phàm phu thiên sanh về các tầng trời để hưởng quả của sự tu tập bốn tâm vô lượng, còn bậc Thánh đệ tử thiên sanh về Tịnh cư thiên để hướng đến sự đoạn tận tất cả vô minh, tham ái, chấp thủ vi tế trong ngũ uẩn. Bốn cảnh trời của phàm phu được sanh về đó để thụ hưởng thành quả tu tập bốn tâm vô lượng, điều này vẫn nhằm trong nhân quả của phàm phu, người ta cố gắng tu tập để hưởng được vị ngọt trong đó. Còn Thánh đệ tử cũng tu và cũng thành tựu nhưng được sanh về Tịnh cư thiên để hướng đến đoạn tận tất cả tham, sân, si, dục ái với tất cả ngũ uẩn, có chí hướng ra khỏi thế giới vô thường, đau khổ, bệnh tật này.
Cho nên Tịnh cư thiên có nghĩa là chỗ cư trú thanh tịnh, đó là cõi trời của các bậc thanh Tịnh cư trú, đó đều là những bậc Thánh đệ tử thiên không còn thối chuyển. Muốn lên đó phải đoạn tận năm hạ phần kiết sử, phải phá được thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham, sân chứ không phải đơn giản mà lên được đến chỗ bất thối chuyển. Cái nặng nhất trong năm hạ phần kiết sử chính là thân kiến, phải phá được cái kiến chấp về thân vì trong cảnh giới đó đếu hướng đến nhàm chán đối với ngũ uẩn, hướng đến từ bỏ, thoát ra cho nên Đức Phật đã nói "về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã", thân xác này, tài sản này, những thứ xung quanh đều là thứ tan hoại, biến diệt, tan nát, đổ vỡ, phải quán hai chữ "vô thường" cho ngấm vào xương tủy.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh trong một gia đình giàu có ở Kosala, tên là Sandhita. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài nghe bài giảng về vô thường, hoảng hốt lo sợ, và xin xuất gia với trí tuệ chín muồi, ngài an trú thiền quán và chứng đạt sáu thắng trí. Nhớ đến đời sống trước của mình, sau khi đức Phật Sikhì (Thi-khí) mệnh chung. Ngài đảnh lễ tại cây Bồ-đề và nhận thức được ý nghĩa vô thường, ngài tuyên bố ngài thành đạt ý tưởng, nhờ nguyên nhân ấy với những bài kệ như sau:
Dưới gốc cây Bồ-đề,
Với ánh sáng lá xanh,
Khi cây đang vươn lên,
Trong sức sống lớn mạnh,
Một tưởng về Phật hành,
Chánh niệm ta đạt được.
Ðã qua ba mốt kiếp,
Tưởng ấy ta không chứng,
Nay chính nhờ tưởng ấy,
Ta đạt lậu hoặc diệt".
(Tiểu Bộ Kinh, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương II - Hai Kệ, Phẩm Năm, (CLXIX) Sandhita (Thera. 28))
Ngài trải qua 31 kiếp tu tập vô thường nhưng vẫn không chứng đắc cho đến đời Phật Thích-ca mới thành tựu trí tuệ, an trú thiền quán và chứng đạt sáu thắng trí. Có khi chữ "kiếp" dùng để chỉ một đời sống, còn chữ "kiếp" khi nãy là đại kiếp, là một kiếp lớn, còn chữ "kiếp" thông thường là một đời sống, trong ngữ cảnh này chúng ta có thể hiểu là 31 đời sống của ngài, tức là chết đi sống lại 31 lần và quán chiếu về vô thường nhưng không thành công. Cho đến đời sống gặp được Phật Thích-ca Mâu-ni, nghe được bài giảng về vô thường thì ngài hoảng hốt, lo lắng và sợ hãi, xin đi xuất gia an trú thiền quán, chứng dắc trí tuệ diệt tận các lậu hoặc. Sau khi chứng đắc ngài nhớ lại những đời kiếp trước sau khi Đức Phật Thi-khí mệnh chung thì ngài lạy dưới cây Bồ-đề ý thức được cái vô thường. Ngài trải qua nhiều kiếp từ thời Đức Phật Thi-khí cho đến thời Đức Phật Thích-ca thì có thể đây là kiếp lớn. Đầu tiên là Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù, Phật Câu-lưu-tôn, Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Phật Ca-diếp… trải qua biết bao đời Phật như vậy cho nên 31 kiếp này chính là 31 đại kiếp, cho đến thời Đức Phật Mâu-ni mới thành tựu trí tuệ về vô thường.
Chính vì vậy, ta thấy rằng, muốn thành tựu trí huệ này không phải chuyện một sớm một chiều. Vậy mà giờ mình học vài buổi đã cho là biết hết rồi nên không thể chứng đắc được. Cho nên, trong tất cả mọi lúc, phải ăn, phải ngủ, nghiền ngẫm, sống với pháp, gọi là tùy pháp hành, tùy quán để thể nhập trí huệ thâm sâu trong ngũ uẩn này.
Cái gì vô thường? Ngũ uẩn vô thường, muốn biết ngũ uẩn vô thường thì phải thành tựu trí về ngũ uẩn. Phải quán cảm giác là vô thường, dù là cảm giác gì cũng là khổ đau, bệnh tật, là ung nhọt, là mũi tên. Nếu bị trúng mũi tên của cảm giác dễ chịu, không bỏ được. Cảm giác của dục ái, yêu thích là ung nhọt, là mũi tên, là đau khổ, là bất hạnh. Cảm giác dục, tham, ái là tai họa, là khổ đau. Những cảm giác này là hướng ngoại, do xúc tập khởi, có tiếp xúc mới sanh khởi ra, những cảm giác này là thứ hoại diệt, tiêu tan, mau chóng tan biến thành hư không, không có gì là tôi, là của tôi trong đây.
Phải quán chiếu tất cả hình bóng trong tâm là vô thường, là thứ khổ, là bệnh hoạn, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh. Những hình bóng này do hướng ngoại, tham ái, dính mắc mới có ra. Ngay cả hình bóng của tự thân cũng là đau khổ, bị ám ánh hoài nên mới hờn giận, hơn thua, cao thấp. Những hình bóng này là thứ mang lại ách nạn, khổ nạn, nguy nan. Hãy diệt tận, tan biến hoàn toàn những hình bóng nay đi, đừng xuất hiện lại nữa.
Những suy nghĩ này là thứ vô thường, là những thứ khổ đau, là bệnh tật, là ung nhọt, là mũi tên, những lời nói lầm thầm này là bất hạnh, là hướng ngoại, "ngươi hãy diệt tận đi, chấm dứt hoàn toàn đi". Những lời nói lầm thầm là cái thứ trống không, hoại diệt, không có gì là tôi, là của tôi trong này.
Những thứ thuộc về sự rõ biết này, rõ biết sắc, rõ biết thanh, rõ biết mùi vị, rõ những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong, rõ biết sự xúc chạm này là vô thường, là khổ đau, là bệnh tật, là ung nhọt. Những sự rõ biết làm sanh khởi lên tham, sân, si, dục ái, bản ngã là mũi tên, là bất hạnh, rõ biết để khởi sân lên, khởi dục lên, khởi cái bản ngã thì nó là khổ nạn, là ách nạn, là thứ hoại diệt, là ảo giác, ảo tưởng. Trong sự rõ biết này không có cái nào là tôi, là của tôi.
Như vậy các pháp thuộc về sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều được vị ấy tùy quán vô thường. Lúc nào vị ấy cũng quán về vô thường, quán về khổ đau, quán về bệnh tật, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, là tai họa. Sự nắm chặt, say đắm, si mê trong ngũ uẩn này là tâm hướng ngoại, là tâm đứng núi này trông núi nọ. Phải tác ý quở trách tâm này, "tất cả những cảm giác, suy nghĩ, nhận thức, hình bóng này hãy an tịnh hoàn toàn đi", "hướng ngoại để làm gì, nhìn ngó người ta để làm gì, dừng lại đi, đừng hướng ngoại nữa". Ngũ uẩn này là thứ hoại diệt, là thứ trống không, trống trơn, nó là bong bóng nước, là khói sương, là ảo giác, ảo mộng. Chúng ta phải đuổi hình bắt bóng trong cái ảo mộng đó rồi sầu, bi, khổ, ưu, não, lo lắng, bất an, hãy chấm dứt hoàn toàn ngũ uẩn vô ngã này.
Đây là pháp tu từ lúc bắt đầu cho đến rốt ráo cứu cánh của người tu trong dòng pháp Nikāya. Bậc Thánh đệ tử tu pháp này khi nhắm mắt ra đi không đi chung với phàm phu thiên mà bậc Thánh đệ tử sẽ ở cõi Tịnh cư thiên. Họ ở đó tu tập đến khi tất cả lậu hoặc vi tế diệt tận, vô minh không còn nữa, kiêu mạn không còn nữa, những kiết sử vi tế nhỏ nhiệm không còn nữa, ở ngay đó nhập Niết-bàn cứu cánh tối thượng. Như vậy, chúng ta vừa tìm hiểu hai bài thương nói về sự thương yêu, kinh “Từ” trong Tăng Chi Bộ.
./.
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA
PHÀM PHU & THÁNH ĐỆ TỬ (KINH TỪ)
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Vị tu tập lòng từ PAGEREF _Toc114220777 \h 1
II.Đức Phật ví dụ về độ dài một kiếp PAGEREF _Toc114220778 \h 2
III.Khác biệt Phàm phu và Thánh đệ tử PAGEREF _Toc114220779 \h 6
Vị tu tập lòng từ
Chúng ta cùng tìm hiểu hai bài kinh về lòng yêu thương.
"Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người với tâm, cùng khởi với từ, biến mãn một phương rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới".
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Tâm khởi lên với lòng yêu thương, bi mẫn rộng khắp muôn phương rồi an trú trong tâm đó.
Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm từ của ta.
Tâm đầy niềm thương cảm
Tâm đầy nỗi xót thương
Tâm đầy lòng thương tưởng
Tâm đầy tràn tình thương.
(trích Cửa vào bất tử)
Tình thương này rộng lớn khắp vô lượng vô biên giới, đối với các phương phải, trái, trên, dưới, bề dọc, bề ngang cũng vậy, rộng lớn khắp vô lượng vô biên hư không và vị này an trú trong tâm đó bất kể thời gian, không giận, không sân với bất kì ai. Lúc nào cũng an trú trong tâm từ mẫn, từ bi, thương xót, thương yêu tất cả chứ không giận, không sân với bất kì ngũ uẩn nào, chúng sanh nào.
"Vị ấy an trú biến mãn với tâm cùng khởi với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Phạm chúng Thiên". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Do tu tập tâm từ suốt ngày, đêm, năm, tháng nên vị này nếm được vị ngọt của thiền tâm từ, thiền tâm thương. Do nếm được hương vị tuyệt vời đó, họ yêu thích cái thiền đó, muốn ở trong cái thiền đó, tìm được sự an vui, vui vẻ, hỷ lạc trong cái thiền đó nên chú tâm, sống phần lớn trong cái thiền đó. Khi vị này nhắm mắt, kết thúc đời sống sẽ sanh lên với chư Thiên ở cõi Phạm chúng Thiên.
"Một kiếp, này các Tỷ kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở cõi Phạm chúng Thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Bàng sanh là sanh ra làm thú vật, súc sanh. Sanh ra ở chung với Phạm chúng thiên nhưng Đức Phật lại nói "kẻ phàm phu", Phạm chúng thiên là tầng trời rất cao, chúng ta sẽ biết một kiếp dài đến như thế nào.
Đức Phật ví dụ về độ dài một kiếp
"... Trú ở Sàvatthi.
Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn...
Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?
-- Thật dài, này Tỳ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì để có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm, hay một vài trăm ngàn năm.
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?
-- Có thể được, này Tỳ-kheo. Ví như, này Tỳ-kheo, có một thành bằng sắt, dài một do tuần, rộng một do tuần, cao một do tuần, chứa đầy hột cải cao như chóp khăn đầu. Một người từ nơi chỗ ấy, sau mỗi trăm năm lấy ra một hột cải. Này Tỳ-kheo, đống hột cải ấy được làm như vậy, có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.
Như vậy dài, này Tỳ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Hột Cải)
Một thành trì rộng 18 cây số, dài 18 cây số, cao 18 cây số, trong đó cất chứa đầy hột cải, cứ một trăm năm lại lấy một hột cải, lấy đến khi nào không còn hột cải nào cũng chưa được là một kiếp. Vòng luân hồi này, sự sống chết này cứ lặp đi lặp lại, tái diễn lòng vòng hết sống đến chết, chết rồi lại sống, sanh, già, bệnh, tử như vậy đã kéo dài trong cả trăm ngàn kiếp đã qua, cứ sanh ra rồi tham dục, sân hận, vô minh, bản ngã rồi chết đi theo cái nghiệp, sau đó lại sanh ra, làm hoài như vậy trong trăm ngàn kiếp đã qua. Cứ khao khát, thèm thuồng, sân hân, hơn thua rồi chết đi, sanh ra lại tiếp tục như vậy, kéo dài vô tận trong bất cứ hình dạng nào của ngũ thú lục đạo.
"-- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc với sự trôi nổi, quanh quẩn, luân chuyển, quay cuồng trong đó mà không thể biết được khởi điểm của nó.
"Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Cho đến như vậy là vừa đủ để chúng ta thoát khỏi hình thái, hình thù của những đời sống vô thường, đau khổ, đầy bệnh tật, bất an, lo lắng và chết chóc này.
"Ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm).
Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn...
Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
- Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn đã đi qua, đã vượt qua?
Rất nhiều, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được, là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.
Tôn giả Gotama có thể cho một ví dụ được không?
-- Có thể được, này Bà-la-môn. Ví như, này Bà-la-môn, sông Hằng này từ chỗ nguồn bắt đầu đến chỗ nó chảy nhập vào biển. Số cát nằm ở giữa chặng ấy, thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một số hột cát, là số trăm hột cát, là số ngàn hột cát, là số trăm ngàn hột cát.
Nhiều hơn vậy, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì có thể đếm chúng được, là một số kiếp, một trăm kiếp, là một ngàn kiếp, là một số trăm ngàn kiếp".
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Sông Hằng)
Hình ảnh thứ nhất là đếm số hột cải, hình ảnh thứ hai là từ đầu nguồn sông Hằng chảy ra tới biển làm sao có thể đếm được bao nhiêu hạt cát, đó là những kiếp chúng ta đã trải qua, đã sống qua, đã đi qua.
"... Trú ở Sàvatthi.
Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?
-- Thật dài, này Tỳ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm hay một vài trăm ngàn năm.
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?
-- Có thể được, này Tỳ-kheo. Thế Tôn nói như vậy. Ví như, này Tỳ-kheo, có một hòn núi đá lớn, một do tuần bề dài, một do tuần bề rộng, một do tuần bề cao, không có khe hở, không có lỗ hổng, một tảng đá thuần đặc. Rồi một người đến, cứ sau một trăm năm lại lau hòn đá ấy một lần với tấm vải kàsi. Này Tỳ-kheo, hòn núi đá lớn ấy được làm như vậy có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.
Như vậy dài, này các Tỳ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, này Tỳ-kheo, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua". Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, V. Núi)
Kàsi là tấm vải tơ tằm mỏng manh, cứ một trăm năm lấy cái tấm vải đó lau một lần cho đến khi nào hòn núi dài 18 cây số, rộng 18 cây số, cao 18 cây số không có khe hở đó tan thành tro bụi cũng chưa được một kiếp. Công đức của tâm từ thật sự rất khủng khiếp. Đức Phật ví dụ một người cho đồ ăn, cơm từ sáng tới trưa, từ trưa đến chiều, từ chiều đến tối cũng không bằng một người tu tập tâm từ trong một khoảnh khắc búng móng tay. Nhưng nói như vậy không có nghĩ là không cần bố thí, mà nghĩa là công đức của từ tâm vượt lên trên tất cả và nhờ có tâm từ, tâm thương mới có thể bố thí được; không có tâm từ, tâm thương thì không thể bố thí.
Cho nên chúng ta cần tu tập tâm từ thường xuyên và liên tục, sống phần lớn trong tâm từ sẽ nếm được hương vị của thiền tâm từ, sẽ yêu thích thiền tâm từ vì tâm từ rất ngọt ngào, tuyệt vời. Tùy theo sự tinh cần tinh tấn và tu đúng pháp trong thiền tâm từ thì sau khi nhắm mắt sẽ sanh lên ở chung với chư Thiên ở cõi Phạm chúng, tuổi thọ của chư Thiên Phạm chúng kéo dài một kiếp.
Cõi nhân gian như hoa phù dung, sớm nở tối tàn, ngắn ngủi, chư Thiên nhìn xuống thấy thương con người. Ai ai cũng lo tranh giành, đấu đá, sân si, làm đủ chuyện rồi cũng chết hết. Một ngày của chư Thiên bằng cả một đời sống của mình, thế nên, buổi sáng họ thấy mới sanh ra khóc oa oa, vậy mà buổi chiều nhìn xuống đã thấy ra nghĩa địa. Hơn nữa, bây giờ rất nhiều vụ giết người cướp của, đua xe, đâm chém nhau nên tuổi thọ bị rút ngắn xuống rất nhiều.
"Này Bà-la-môn, ít ỏi là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, con sông trên núi chảy xa, dòng nước chảy nhanh, lôi cuốn theo vật này vật khác, không có sát-na nào, không có giây phút nào, không có thời khắc nào có dừng nghỉ, nó phải chảy tới, cuồn cuộn chảy, thúc đẩy chảy tới. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví như con sông ấy là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể... Với người đã sanh, không có bất tử".
(Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (X). Araka)
Đời sống con người nhỏ bé, mong manh, tạm bợ như vậy, còn chư Thiên sống đến một kiếp là nhờ an trú vào từ vô lượng tâm, sống một kiếp dài đằng đẵng mà an trú vào hỷ lạc liên tục nhưng vẫn là phàm phu thiên.
Khác biệt Phàm phu và Thánh đệ tử
"Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Qua đây cho chúng ta thấy vòng luân hồi thật là ngao ngán, vô thường, một kiếp dài như vậy rồi cũng có lúc phải hết, khi hưởng hết một kiếp đó là từ đỉnh cao của thiên giới rớt thẳng xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
"Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho đến hết trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Này các Tỳ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Các bậc Thánh đệ tử thiên sanh lên thiên giới rồi các ngài tiếp tục tu học để nhập Niết-bàn ngay đó.
" Ở đây, về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Sự sanh khởi này, này các Tỳ-kheo, không có chung cùng với các hàng phàm phu".
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (IV). Các Hạng Người Sai Khác (2))
Tuy là tu tập tâm từ nhưng lại kết hợp quán chiếu sắc uẩn, sắc pháp là vô thường, thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, quán chiếu ngũ uẩn là khổ đau, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ngũ uẩn này là hướng ngoại, hoại diệt, trống không, vô ngã.
Vị phàm phu thiên chỉ tu tập tâm từ vô lượng nên khi chết sẽ được sanh lên cõi trời Phạm chúng, tuổi thọ kéo dài đến một kiếp nhưng khi hết tuổi thọ của chư Thiên đó sẽ bị rớt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Vị thứ hai cũng tu tập tâm từ nhưng vị này là Đa văn Thánh đệ tử, vị này kết hợp với sự quán chiếu về năm uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, tan hoại, trống không, cho nên vị này sau khi chết ở thế gian sẽ được sanh lên Tịnh cư thiên, đó là chỗ của các bậc Thánh giả cư trú, tu tập diệt tận các lậu hoặc vi tế cho đến khi sạch hết thì nhập Niết-bàn tại đó. "Sự sanh khởi này, này các Tỳ-kheo, không có chung cùng với các hàng phàm phu" nghĩa là chỗ Tịnh cư thiên đó không có phàm phu ở mà chỉ có các bậc đã thành tựu chánh tri kiến, đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử. Đó là sự khác biệt, sự đặc thù, sự thù thắng, sự khác nhau giữa phàm phu không thành tựu năm uẩn và người thành tựu trí huệ năm uẩn, qua đây chúng ta mới thấy được giá trị của việc tu tập Thánh trí về năm uẩn.
"Hai bài kinh trên cho ta biết 'Cách tu tập Tứ vô lượng tâm và sự quan trọng của Trí về ngũ uẩn'. Nếu tu tập Tứ vô lượng tâm và quán chiếu ngũ uẩn trong bốn tâm này thì lợi ích sẽ vô cùng to lớn, chứng được Bất Lai quả, sanh ở cõi Tịnh cư Thiên, sau khi hết thọ mạng ở đây thì không sanh lại các cảnh giới thấp kém mà sẽ thể nhập vào Niết bàn và hoàn toàn giải thoát sanh tử. Bài kinh cho ta thấy tầm quan trọng của Trí về ngũ uẩn và từ bi hỷ xả, giúp ta nỗ lực tinh tấn hơn trong sự tu học Thánh trí về ngũ uẩn".
(trích Cửa vào bất tử)
Có những người phàm phu tu tập bốn tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả, trong thời Đức Phật vẫn có người biết tu những cái thiền này nhưng họ không thành tựu về năm uẩn. Vì thế cốt tủy của kinh tạng Nikāya chính là Thánh trí năm uẩn và Thánh trí lậu hoặc, Bồ-tát chứng ngộ hai Thánh trí này. Còn về nhân quả nghiệp báo, từ bi hỷ xả là phàm phu vẫn biết nhưng về ngũ uẩn và lậu hoặc là không biết không thấy.
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người với tâm cùng khởi với bi ... với tâm cùng khởi với hỷ ... với tâm cùng khởi với xả, biến mãn một phương rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm cùng khởi với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Có người an trú trong tâm xót thương, bi mẫn, có người có tâm luôn sanh khởi với sự hoan hỉ hoặc có người có tâm cùng khởi với xả bỏ, buông bỏ, biến mãn cùng khắp vô biên giới, không giận không sân. Nhưng nếu không giận, không sân thì tại sao bị đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh? Khi trú trong từ, bi, hỷ, xả thì tất nhiên sẽ không hận, không sân nhưng không hận, không sân không có nghĩa là hết hoàn toàn giận và sân. Do không thành tựu trí ngũ uẩn, do không thành tựu chánh tri kiến để thấy tận cùng hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si nên chúng cứ nằm yên thôi nhưng không có nghĩa nó bị diệt tận, do không thành tựu nên không thấy được chỗ trú ẩn vi tế của nó, mà không thấy thì làm sao nhiếp phục, đoạn tận hoàn toàn nên chúng nó chỉ nằm yên đó thôi.
Ví dụ ngoài đời sống cho dễ hiểu, nhìn bề ngoài thấy hiền lành, dễ thương nhưng đụng chuyện là sân si, hung dữ như vậy có hiền thật sự không, đó là do cảm thọ sân hận tiềm ẩn đằng sau vẻ hiền lành đó, nó chỉ nằm yên thôi, gặp đúng duyên sẽ bộc phát ra. Cũng vậy, người phàm phu không thành tựu chánh tri kiến mà tu bốn tâm vô lượng thì đương nhiên cái sân hận sẽ nằm yên xuống nhưng không có nghĩa nó hết hoàn toàn.
"Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Quang âm thiên". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Đây chính là tham ái vi tế, nếu không có Thánh trí sẽ không thấy được những cái vi tế này nên không thể diệt được nó. Làm sao tu có sự an lạc, hỷ lạc mà lại không thích cho được, chỉ trừ khi nào thành tựu Thánh trí ngũ uẩn mới không tham thích trong sự hỷ lạc đó, thành tựu Thánh trí ngũ uẩn là quán chiếu sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, khổ, vô ngã, bệnh hoạn, hoại diệt, mũi tên, hướng ngoại, trống rỗng. Người nào thật sự thành tựu trí ngũ uẩn thì dù cho có đạt được những tầng thiền an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào như vậy những vẫn biết cái thọ đó là vô thường, là khổ, đây là chỗ rất sâu sắc, chúng ta chỉ mới học chứ tu là không phải dễ để thấy được điều này.
Bình thường khi đem hết công sức vào xây đắp một cái gì đó thì tất nhiên mình sẽ giữ gìn, yêu thương. Ví dụ hai mươi năm mới xây được ngôi chùa, đổ vào đây biết bao thời gian, công sức, kinh phí. Khi xây xong là hoan hỉ, vui mừng thì làm sao mình có thể từ bỏ hết để ra đi nhẹ nhàng, làm sao có thể nghĩ "ngôi chùa này không phải tôi, không phải của tôi", chỉ trừ người thành tựu chánh kiến mới có thể làm được điều này. Chỉ khi nào thấy được sắc uẩn này là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã thì mới có thể quải đãi ra đi nhẹ nhàng như làn gió, không thành tựu chánh tri kiến không thể làm được điều này, có làm cũng làm trong sự miễn cưỡng, trong tâm vẫn còn sự tiếc nuối, nhớ nhung.
Những bậc Đa văn Thánh đệ tử đã tu tập nhiều năm, nhiều tháng cho đến nhiều chục năm, cả một đời đã quán chiếu, an trú điêu luyện, thuần thục trí tuệ trống không, tan hoại, hoại diệt, không có gì là mình, là của mình thì mới làm được. Chỉ mới là sắc thôi đã khó đến vậy thì nói gì đến cảnh giới tu chứng ở bên trong tâm thức của người đó. Họ chứng được thiền tứ vô lượng tâm, an trú trong đó rất an lạc, ngọt ngào, dễ chịu, rộng lớn như vậy nhưng vẫn biết đó là thứ vô thường, đó chỉ là những cảm thọ thôi nên dính mắc vào đây là khổ đau.
Cho nên Thánh trí ngũ uẩn và Thánh trí lậu hoặc rất quan trọng, đó là vô thượng pháp luân, không còn cái pháp nào cao hơn pháp này nữa. Tu chứng đến mức như vậy nhưng vẫn không chấp thủ trong đó. Còn bây giờ đọc vào bài kinh này mà nói không cần tu từ, bi, hỷ, xả là đã hiểu sai. Một người học đến tiến sĩ mà cầm bằng tiến sĩ quăng đi thì có thể người ta nể, nhưng đằng này mình dốt, học chưa đến đâu mà lại nói bằng tiến sĩ bỏ đi là làm trò cười cho người ta. Cũng vậy, mình cứ thích học cái gì trên cao nên coi thường những thứ căn bản như nhận diện ngũ uẩn thì không thể thành tựu được. Cho nên, phải đi theo tuần tự cho đến khi lên đến thành tựu tứ vô lượng tâm, đó là đỉnh cao của thiện pháp nhưng vẫn buông xả, không chấp thủ, như vậy mới gọi là Thánh đệ tử thiên.
"Hai kiếp, này các Tỳ-kheo, là thọ mạng của các chư Thiên ở Quang âm thiên… được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Biến tịnh thiên. Bốn kiếp, này các Tỷ kheo là thọ mạng của chư Thiên ở cõi Biến tịnh thiên ... được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Quảng quả Thiên. Năm kiếp, này các Tỳ-kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở cõi Quảng quả Thiên. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Như vậy, tu được tâm từ là được sanh lên Phạm chúng thiên, ở trên đó một kiếp, còn giờ tu tập thêm được tâm bi là sanh lên Quang âm thiên, sống ở trên đó hai kiếp. Khi tu tập thêm được tâm hỷ sẽ ở chung với chư Thiên ở cõi Biến tịnh thiên, tuổi thọ trên đó kéo dài đến bốn kiếp. Một kiếp là quãng thời gian dài đằng đẵng không có con số tính được mà ở đây sống đến bốn kiếp, vì thế chư Thiên rất khó để thấy được vô thường, khổ, vô ngã. Do tuổi thọ rất dài nên các ngài nghĩ bản thân đã trường cửu bất biến, không thể chết được cho nên khi không thấy được vô thường, khổ, vô ngã. Các ngài sẽ đam mê, tham ái, ái luyến, chấp thủ, hưởng thụ cảm thọ sung sướng đó đến khi hết phước, hết tuổi thọ là rơi thẳng xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Vì thế ở nhân giới làm người là tu dễ nhất, địa ngục, quạ quỷ, súc sanh là quá khổ, ám muội, ngu si nên không thể tu được. Lên chư Thiên thì quá sung sướng, rất ít khổ. Chỉ có những chư Thiên ở cõi dục thấp kém mới còn giành giật, sân si, còn những cảnh giới trong kinh ghi là rất cao cấp nên hầu như không bao giờ thấy khổ. Khi tu tập được tâm xả thì được lên chư Thiên ở Quãng quả thiên, sống đời sống kéo dài qua năm kiếp. Bài thực hành chúng ta được học về từ, bi, hỷ, xả có kết hợp với Thánh trí năm uẩn trong đó, sẽ giúp mình nhận diện được sự vận hành của ngũ uẩn để không chấp thủ; còn ở đây đang nói một người tu từ, bi, hỷ, xả, an trú và chứng đắc nhưng không thấy ngũ uẩn, không thấy vô thường, khổ, vô ngã, nên họ không có hướng nhàm chán, ly tham, từ bỏ và chấm dứt để thoát ra.
"Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ của chư Thiên ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ. Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy. Này các Tỳ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (V). Từ (1))
Đệ tử Như Lai chính là bậc Thánh đệ tử thiên chỉ ở duy nhất Tịnh cư thiên, là bất thối chuyển là không còn trở lại cõi nào khác nữa của cõi trời và cũng không trở lại cõi người, chỉ từ đó nhập Niết-bàn. Hiện hữu ấy tức là cái thân ở nơi Tịnh cư thiên. Sanh thú là chỗ hướng đến của thọ sanh, sự khác biệt ở chỗ thọ sanh tức là một bên là ở các cõi trời Phạm chúng thiên, Quang âm thiên, Biến tịnh thiên, Quãng quả thiên, đây là những cảnh trời không có thân tướng, vô sắc, sống bằng thọ; tưởng; hành cực kì vi tế. Họ không có sắc thô như mình hoặc cái sắc của các chư Thiên thấp mà họ là vô sắc giới, vì họ không hướng đến đoạn tận tham, sân, si trong ngũ uẩn, họ không hướng đến nhàm chán, ly tham, chấm dứt, từ bỏ thì làm sao họ thoát ra được nên họ phải chịu nhân quả của thiện ác.
Tu tập tâm từ vô lượng thì được sanh lên Phạm chúng thiên có tuổi thọ kéo dài một kiếp, tu tập thêm tâm bi thì sanh lên Quang âm thiên có tuổi thọ kéo dài hai kiếp, tu tập được tâm hỷ vô lượng thì sanh lên Biến tịnh thiên có tuổi thọ bốn kiếp, khi thành tựu cả bốn tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả thì sanh lên Quãng quả thiên có tuổi thọ kéo dài năm kiếp, ở đây là thành tựu được bốn tâm vô lượng nhưng vẫn chưa thành tựu trí về năm uẩn, trí về lậu hoặc.
Sự khác nhau ở chỗ, phàm phu thiên sanh về các tầng trời để hưởng quả của sự tu tập bốn tâm vô lượng, còn bậc Thánh đệ tử thiên sanh về Tịnh cư thiên để hướng đến sự đoạn tận tất cả vô minh, tham ái, chấp thủ vi tế trong ngũ uẩn. Bốn cảnh trời của phàm phu được sanh về đó để thụ hưởng thành quả tu tập bốn tâm vô lượng, điều này vẫn nhằm trong nhân quả của phàm phu, người ta cố gắng tu tập để hưởng được vị ngọt trong đó. Còn Thánh đệ tử cũng tu và cũng thành tựu nhưng được sanh về Tịnh cư thiên để hướng đến đoạn tận tất cả tham, sân, si, dục ái với tất cả ngũ uẩn, có chí hướng ra khỏi thế giới vô thường, đau khổ, bệnh tật này.
Cho nên Tịnh cư thiên có nghĩa là chỗ cư trú thanh tịnh, đó là cõi trời của các bậc thanh Tịnh cư trú, đó đều là những bậc Thánh đệ tử thiên không còn thối chuyển. Muốn lên đó phải đoạn tận năm hạ phần kiết sử, phải phá được thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham, sân chứ không phải đơn giản mà lên được đến chỗ bất thối chuyển. Cái nặng nhất trong năm hạ phần kiết sử chính là thân kiến, phải phá được cái kiến chấp về thân vì trong cảnh giới đó đếu hướng đến nhàm chán đối với ngũ uẩn, hướng đến từ bỏ, thoát ra cho nên Đức Phật đã nói "về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã", thân xác này, tài sản này, những thứ xung quanh đều là thứ tan hoại, biến diệt, tan nát, đổ vỡ, phải quán hai chữ "vô thường" cho ngấm vào xương tủy.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh trong một gia đình giàu có ở Kosala, tên là Sandhita. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài nghe bài giảng về vô thường, hoảng hốt lo sợ, và xin xuất gia với trí tuệ chín muồi, ngài an trú thiền quán và chứng đạt sáu thắng trí. Nhớ đến đời sống trước của mình, sau khi đức Phật Sikhì (Thi-khí) mệnh chung. Ngài đảnh lễ tại cây Bồ-đề và nhận thức được ý nghĩa vô thường, ngài tuyên bố ngài thành đạt ý tưởng, nhờ nguyên nhân ấy với những bài kệ như sau:
Dưới gốc cây Bồ-đề,
Với ánh sáng lá xanh,
Khi cây đang vươn lên,
Trong sức sống lớn mạnh,
Một tưởng về Phật hành,
Chánh niệm ta đạt được.
Ðã qua ba mốt kiếp,
Tưởng ấy ta không chứng,
Nay chính nhờ tưởng ấy,
Ta đạt lậu hoặc diệt".
(Tiểu Bộ Kinh, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương II - Hai Kệ, Phẩm Năm, (CLXIX) Sandhita (Thera. 28))
Ngài trải qua 31 kiếp tu tập vô thường nhưng vẫn không chứng đắc cho đến đời Phật Thích-ca mới thành tựu trí tuệ, an trú thiền quán và chứng đạt sáu thắng trí. Có khi chữ "kiếp" dùng để chỉ một đời sống, còn chữ "kiếp" khi nãy là đại kiếp, là một kiếp lớn, còn chữ "kiếp" thông thường là một đời sống, trong ngữ cảnh này chúng ta có thể hiểu là 31 đời sống của ngài, tức là chết đi sống lại 31 lần và quán chiếu về vô thường nhưng không thành công. Cho đến đời sống gặp được Phật Thích-ca Mâu-ni, nghe được bài giảng về vô thường thì ngài hoảng hốt, lo lắng và sợ hãi, xin đi xuất gia an trú thiền quán, chứng dắc trí tuệ diệt tận các lậu hoặc. Sau khi chứng đắc ngài nhớ lại những đời kiếp trước sau khi Đức Phật Thi-khí mệnh chung thì ngài lạy dưới cây Bồ-đề ý thức được cái vô thường. Ngài trải qua nhiều kiếp từ thời Đức Phật Thi-khí cho đến thời Đức Phật Thích-ca thì có thể đây là kiếp lớn. Đầu tiên là Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù, Phật Câu-lưu-tôn, Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Phật Ca-diếp… trải qua biết bao đời Phật như vậy cho nên 31 kiếp này chính là 31 đại kiếp, cho đến thời Đức Phật Mâu-ni mới thành tựu trí tuệ về vô thường.
Chính vì vậy, ta thấy rằng, muốn thành tựu trí huệ này không phải chuyện một sớm một chiều. Vậy mà giờ mình học vài buổi đã cho là biết hết rồi nên không thể chứng đắc được. Cho nên, trong tất cả mọi lúc, phải ăn, phải ngủ, nghiền ngẫm, sống với pháp, gọi là tùy pháp hành, tùy quán để thể nhập trí huệ thâm sâu trong ngũ uẩn này.
Cái gì vô thường? Ngũ uẩn vô thường, muốn biết ngũ uẩn vô thường thì phải thành tựu trí về ngũ uẩn. Phải quán cảm giác là vô thường, dù là cảm giác gì cũng là khổ đau, bệnh tật, là ung nhọt, là mũi tên. Nếu bị trúng mũi tên của cảm giác dễ chịu, không bỏ được. Cảm giác của dục ái, yêu thích là ung nhọt, là mũi tên, là đau khổ, là bất hạnh. Cảm giác dục, tham, ái là tai họa, là khổ đau. Những cảm giác này là hướng ngoại, do xúc tập khởi, có tiếp xúc mới sanh khởi ra, những cảm giác này là thứ hoại diệt, tiêu tan, mau chóng tan biến thành hư không, không có gì là tôi, là của tôi trong đây.
Phải quán chiếu tất cả hình bóng trong tâm là vô thường, là thứ khổ, là bệnh hoạn, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh. Những hình bóng này do hướng ngoại, tham ái, dính mắc mới có ra. Ngay cả hình bóng của tự thân cũng là đau khổ, bị ám ánh hoài nên mới hờn giận, hơn thua, cao thấp. Những hình bóng này là thứ mang lại ách nạn, khổ nạn, nguy nan. Hãy diệt tận, tan biến hoàn toàn những hình bóng nay đi, đừng xuất hiện lại nữa.
Những suy nghĩ này là thứ vô thường, là những thứ khổ đau, là bệnh tật, là ung nhọt, là mũi tên, những lời nói lầm thầm này là bất hạnh, là hướng ngoại, "ngươi hãy diệt tận đi, chấm dứt hoàn toàn đi". Những lời nói lầm thầm là cái thứ trống không, hoại diệt, không có gì là tôi, là của tôi trong này.
Những thứ thuộc về sự rõ biết này, rõ biết sắc, rõ biết thanh, rõ biết mùi vị, rõ những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong, rõ biết sự xúc chạm này là vô thường, là khổ đau, là bệnh tật, là ung nhọt. Những sự rõ biết làm sanh khởi lên tham, sân, si, dục ái, bản ngã là mũi tên, là bất hạnh, rõ biết để khởi sân lên, khởi dục lên, khởi cái bản ngã thì nó là khổ nạn, là ách nạn, là thứ hoại diệt, là ảo giác, ảo tưởng. Trong sự rõ biết này không có cái nào là tôi, là của tôi.
Như vậy các pháp thuộc về sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều được vị ấy tùy quán vô thường. Lúc nào vị ấy cũng quán về vô thường, quán về khổ đau, quán về bệnh tật, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, là tai họa. Sự nắm chặt, say đắm, si mê trong ngũ uẩn này là tâm hướng ngoại, là tâm đứng núi này trông núi nọ. Phải tác ý quở trách tâm này, "tất cả những cảm giác, suy nghĩ, nhận thức, hình bóng này hãy an tịnh hoàn toàn đi", "hướng ngoại để làm gì, nhìn ngó người ta để làm gì, dừng lại đi, đừng hướng ngoại nữa". Ngũ uẩn này là thứ hoại diệt, là thứ trống không, trống trơn, nó là bong bóng nước, là khói sương, là ảo giác, ảo mộng. Chúng ta phải đuổi hình bắt bóng trong cái ảo mộng đó rồi sầu, bi, khổ, ưu, não, lo lắng, bất an, hãy chấm dứt hoàn toàn ngũ uẩn vô ngã này.
Đây là pháp tu từ lúc bắt đầu cho đến rốt ráo cứu cánh của người tu trong dòng pháp Nikāya. Bậc Thánh đệ tử tu pháp này khi nhắm mắt ra đi không đi chung với phàm phu thiên mà bậc Thánh đệ tử sẽ ở cõi Tịnh cư thiên. Họ ở đó tu tập đến khi tất cả lậu hoặc vi tế diệt tận, vô minh không còn nữa, kiêu mạn không còn nữa, những kiết sử vi tế nhỏ nhiệm không còn nữa, ở ngay đó nhập Niết-bàn cứu cánh tối thượng. Như vậy, chúng ta vừa tìm hiểu hai bài thương nói về sự thương yêu, kinh “Từ” trong Tăng Chi Bộ.
./.