Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Hàng Ma

2026-03-03 00:52:59
KINH HÀNG MA

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ác ma PAGEREF _Toc112677363 \h 1

II. Bài kinh Hàng Ma PAGEREF _Toc112677364 \h 2

III. Ác ma bị đọa PAGEREF _Toc112677365 \h 9

I. Ác ma

Trong sự tu học chúng ta cần phải có sự đầu tư lớn, có tâm huyết, biết lập chí, có chí hướng, mục tiêu, lập trường kiên định, vững chắc, quyết tâm. Điều hết sức quan trọng trên con đường đi đến chỗ toàn giác là phải luôn luôn cầu học. Không bao giờ được tự mãn hay hài lòng với sự hiểu biết trong tu tập khi mình chưa đoạn trừ hết dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Sỡ dĩ chúng ta tu học không tới nơi tới chốn, không cứu cánh rốt ráo, nhìn chung là do tánh con người dễ bằng lòng, dễ chấp nhận với những điều nhỏ hẹp, cạn cợt và tạm bợ.

Tánh chung của con người, tập khí, thói quen phàm phu là lười nhác, qua loa, xem thường, không cẩn trọng và không để tâm. Ta cần phải biết rằng pháp là vô lượng vô biên và sự hiểu của mình hiện nay chỉ mới tập tễnh những bước đầu đi vào Chánh Pháp, còn rất nhiều điều, rất nhiều việc chưa thấy, chưa biết, có những thứ ngoài sức tưởng tưởng, ngoài sự thấy, sự hiểu, nhận định của mình. Phải luôn luôn nhớ trú trong cảm giác toàn thân, nhờ đó mà có thể tránh được những tai nạn lớn; có nhiều chuyện không thể ngờ luôn có thể xảy ra, cho nên khi chúng ta trú trong cảm giác toàn thân, nếu có biến động thì mình phát giác và nhiếp phục, hoặc thấy nguy hiểm thì tránh duyên.

Hôm nay chúng ta sẽ nghe bài kinh “Hàng Ma”, khi đọc bản kinh này thì Minh Thành phát hiện ra đạo diễn Ngô Thừa Ân làm phim Tây Du Ký chính là dựa vào bản kinh này. Bản kinh này giúp cho mình thêm trí tuệ:

Phật cao nhất xích, Ma cao nhất trượng

Phật cao nhất trượng, Ma quá đầu thượng.

Tất cả chúng sanh trong tam giới đều nằm trong sự quản lý và sự chi phối ác ma, ma vương. Cho nên một người thật sự chân chánh phát tâm cầu giải thoát, muốn chấm dứt luân hồi, lúc đó tất cả sẽ chấn động, những thế lực nội công ngoại kích, những phiền não, tập khí, tham ái, sân hận, si mê trong tâm không muốn mình từ bỏ nó nên chúng càng chiến đấu quyết liệt. Khi phát tâm thoát khỏi luân hồi, lúc đó mình đã khai chiến với phiền não tặc – giặc phiền não, khai chiến tham, sân, si – ba thứ bên trong thấm vào xương tủy gọi là “câu sanh phiền não”, “câu sanh” là cùng chung với mình sanh ra.

Cho nên từ khi sanh ra không ai dạy mình tham, sân, si, chấp ngã, nhưng mình tự biết, do đó thứ phiền não này gọi là câu sanh. Bây giờ muốn chấm dứt luân hồi phải chiến đấu với tham, sân, si, bản ngã, chấp ngã, cho nên khai chiến với “thù trong” là cả vấn đề cam go. Ví dụ khi ngồi thiền, lúc học pháp, lúc tiếp duyên xuất cảnh, những tập khí đều chống cự mình hết, nó không muốn mình ngồi thiền, không muốn mình quán chiếu, nó không muốn mình từ bỏ, đây gọi là “thù trong”. Còn “giặc ngoài” là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; tài, sắc, danh, thực, thùy; tài của, sắc đẹp, vật chất.

Có bốn ái sinh ra cho người xuất gia là y phục, ẩm thực, ăn uống, giường chỏng, sàn tòa, hữu và phi hữu, những cảnh giới hưởng thụ của đời sau đó là giặc ngoài. Còn giặc ngoài xa hơn nữa là oan gia trái chủ trong truyền kiếp không muốn mình thoát ra, muốn mình làm bạn với họ, mặc dù tranh đấu thù địch nhưng họ vui, không muốn mình đi ra khỏi, nếu ra khỏi thì mất đi dân ma. Oan gia trái chủ bao nhiêu kiếp của mình là người yêu, hận, thù, ghét sẽ tới, rộng hơn nữa là ác ma, những thứ này nếu không có trí tuệ thiền định, không gặp bậc thiện trí thức lớn thì mình không biết, thậm chí người bị ác ma chi phối cũng không biết, cho nên học bài kinh “Hàng Ma” sẽ thấy được điều đó.

II. Bài kinh Hàng Ma

Trong bài kinh “Hàng Ma”, Trung Bộ Kinh, bài kinh 137:

Khi đó Ngài Mahamoggallana (Mục Kiền Liên) ở vườn Lộc Uyển đang đi kinh hành ngoài trời, Ác ma đi vào trong bụng, ở trong bao tử Ngài. Ngài Mục Kiên Liên mới suy nghĩ như sau:

"Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy?"

Rồi Tôn giả Mahamoggallana từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Mahamoggallana tự chánh niệm. Tôn giả Mahamoggallana thấy Ác ma, sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử. Thấy vậy, Tôn giả liền nói với Ác ma:

– Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!

Rồi Ác ma suy nghĩ: "Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như vậy. Chính vị Bổn sư cũng chưa biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?"

Rồi Tôn giả Mahamoggallana lại nói với Ác ma như sau:

– Này Ác ma, ta biết Ngươi. Đừng có nghĩ rằng: "Vị ấy không biết ta". Ngươi là Ác ma. Này Ác ma, Ngươi nghĩ như sau: "Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: "Hãy đi ra, Ác ma! hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!" Chính vị Bổn sư cũng không biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?"

Ngài Mục Kiền Liên đọc và nói luôn suy nghĩ của Ác ma, nên Ác ma sợ.

Rồi Ác ma suy nghĩ như sau: "Vị Sa-môn này biết ta, thấy ta."

Rồi Ác ma từ miệng Tôn giả Mahamoggallana bước ra, và đứng dựa nơi cửa (miệng?)

Trong phim Tây Du Ký có hình ảnh này, Ngô Thừa Ân dựa vào bản kinh để làm phim, nhưng trước kia mình không biết do chưa từng học bài kinh này. Trong phim Tây Du Ký, có hình ảnh đứng nhảy trên miệng, đó là lấy trong kinh, mà trong này là có thật.

Tôn giả Mahamoggallana thấy Ác ma đứng dựa nơi cửa thấy vậy, bèn nói Ác ma:

– Ác ma, ở đây, ta cũng thấy Ngươi. Ngươi chớ có nghĩ rằng: "Vị ấy không thấy ta". Này Ác ma, nay Ngươi đang đứng dựa nơi cửa (miệng?).

Này Ác ma, thuở xưa, ta là Ác ma tên là Dusi, và chị ta tên là Kali. Ngươi con trai chị ta. Như vậy Ngươi là cháu ta.

Ngài Mục Kiền Liên chứng A-la-hán, thành tựu được sanh tử trí, thiên nhãn minh, sanh tử minh thì Ngài thấy trong vòng luân hồi vô tận, có một kiếp Ngài làm Ác ma, Ác ma là con chị Ngài, nên là cháu Ngài.

Này Ác ma, lúc bấy giờ, Thế Tôn Kakusandha (là Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni), bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ra đời. Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác có hai vị đệ tử tên là Vidhura, và Sanjiva, hai bậc tối thượng, hai bậc Hiền giả.

Này Ác ma, đối với các vị đệ tử của Thế Tôn Kakusandha không một ai ở đây có thể bằng Tôn giả Vidhura về thuyết pháp, Tôn giả Vidhura được gọi là Vidhura (Vô Song).

Còn Tôn giả Sanjiva là vị đi rừng, đi gốc cây, đi các chỗ không người và chứng Diệt thọ tưởng định không khó khăn gì. Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây, thấy vậy liền nói với nhau như sau: "Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi. Chúng ta hãy hỏa táng ngài!"

Do nhập thọ tưởng định là không còn tưởng, không còn cảm giác và bất động, định này là cảnh giới thiền định của bậc A-la-hán nên không còn thở, người bình thường không biết được. Do vậy, những người này tưởng Ngài chết nên đem thiêu.

Rồi này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành liền thâu lượm cỏ, củi và phân bò chồng lên thân Tôn giả Sanjiva, đốt lửa và bỏ đi. Này Ác ma, Tôn giả Sanjiva, sau khi đếm ấy đã tàn, liền xuất định, phủi áo, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào làng khất thực. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang đi khất thực, thấy vậy liền nghĩ: "Thật vi diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi, nay được sống lại". Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Sanjiva được xưng danh là Sanjiva.

Họ xưng tán một vị thuyết pháp bậc nhất và một vị thiền định bậc nhất, giống như ngài Xá Lợi Phất trí huệ bậc nhất, ngài Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất, đó là hai vị đệ tử lớn của đức Câu Na Hàm Mâu Ni Như Lai.

Ác ma Dusi là tiền thân của Ngài Mục Kiền Liên, cho nên mình mới thấy được Ma với Phật, trước đó là Ma sau này là Phật, nếu gặp Chánh pháp thì Ma thành Phật. Thành ra chúng ta không có gì phải sợ, gặp Chánh pháp thì tất cả sẽ vào đại dương giải thoát.

Này Ác ma, rồi Ác ma Dusi nghĩ như sau: "Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện pháp này. Vậy nay ta hãy nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: "Hãy đến phỉ báng, mạ lỵ, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lỵ, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ."

Đây là tổ Ác ma kể chuyện cho tiểu Ác ma nghe. Ác ma đến quậy nên Ngài Mục Kiền Liên mới kể chuyện của tổ Ác ma cho Ác ma nghe để nhiếp phục nó.

Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và phỉ báng, mạ lỵ, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh như sau: "Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền" và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con cú đậu trên cành cây, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô (là kẻ nô lệ bần tiện, da đen), sanh tự gót chân này (tức là theo kiểu truyền thống của Ấn Độ là sanh dưới gót chân của Phạm Thiên, thấp hèn). Chúng nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền". Và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền.

Đây là nói để hủy nhục nhưng đôi khi cũng đúng, có người ngồi thiền thì “hai vai thụt xuống, mặt gục xuống xong rồi mê mê dại dại”.

Ví như con cú trên cành cây khi đang rình chuột, ví như con gỉa cang trên bờ sông đang rình cá, ví như con mèo ngồi trên đống rác rình chuột, ví như con lừa gánh nặng được đặt xuống, mê mê dại dại, hai vai thụt xuống, mặt gục xuống dại thiền, si thiền, mê thiền.

Này Ác ma lúc bấy giờ, phần lớn những người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Những người bị Ác ma nhập vào để phỉ báng bậc tu giới hạnh, giới đức, đạo hạnh, người đó sau khi mạng chung đều bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh dù tự thân những người ấy không biết. Cho nên có tu cảm giác toàn thân thì rất hay, rất quan trọng, khi có gì biến động trong cơ thể mình đều biết, từ bên trong đến bên ngoài có bị xâm phạm mình đều biết. Cho nên có những người mình cảm nhận được không phải là họ đang nói, khi họ bước vào mình thấy thần sắc không được bình thường. Vì vậy, phải có chánh niệm tỉnh giác, trú cảm giác toàn thân, có định, có niệm, có tuệ mới thấy được. Vừa thấy trong thọ, tưởng, hành, thức của mình; vừa thấy thọ, tưởng, hành, thức vận hành của người kia, xem lúc đó họ bình thường không, còn nếu không biết tu tập, không có trí huệ thì không biết, nhìn ai cũng giống nhau, chỉ thấy trước mắt.

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:

-Này các Tỷ-kheo, hãy đến biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, hoặc bi, hoặc hỷ, hoặc xả rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, hoặc tâm câu hữu với bi, hoặc với tâm câu hữu với hỷ, hoặc tâm câu hữu với xả quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Đó là phương pháp hóa giải tâm sân đối với chính mình, cũng tâm sân bên ngoài, ngay cả đối với thế lực phi nhân hay ác ma bằng tu Tứ Vô Lượng Tâm. Cho nên tu tập bốn tâm này rất quan trọng, đây là bốn nguồn sanh ra phước đức rất lớn. Đức Thế Tôn Câu Na Hàm Mâu Ni dạy các vị Tỷ-kheo phải quán, phải an trú bốn tâm vô lượng này. Vì vậy Tứ Vô Lượng Tâm sẽ trở thành một phương pháp thực tập của Linh Quy Pháp Ấn. Khi dùng bốn tâm này có thể chuyển hóa tâm của mình, tâm của oan gia trái chủ, tâm của những người đến thù hận hại mình cũng như thế lực lớn nhất của ma và ác ma. Khi trú trong bốn tâm vô lượng này, lúc đó tất cả đều bình đẳng, thương hết tất cả chúng sanh, vì chúng sanh là chúng sanh hết.

Khi các vị Tỷ-kheo tu tập, Ác ma đổi hướng, tức là Mara Dusi suy nghĩ như sau:

"Làm như vậy, ta không thể biết chỗ đến hay chỗ đi của các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Vậy ta hãy nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: "Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh này. Do được tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ".

Khi học bài này mình sẽ thành tựu trí huệ mới. Lúc đầu là phỉ báng, mắng chửi, hủy nhục dùng đủ mọi cách làm tâm động nên sanh khởi sân. Còn bây giờ là khen ngợi, tán thán, tôn trọng, đảnh lễ cúng dường, lúc đó tâm bị đổi, như vậy ác ma Dusi mới có dịp chi phối họ. Tâm bị động, bị đổi khởi tham, sân thì lúc đó nó chi phối mình, do mình không trú trong pháp. Thật ra, nếu không có tu tập sâu sắc về Chánh Pháp, thì Ác ma không dòm ngó tới, do mình không có gì để dòm ngó. Tuy nhiên, mình tu Chánh Pháp chuẩn bị Hướng Dự Lưu, chuẩn bị bước ra thì lúc đó Ác ma mới bắt đầu tới thăm. Nói điều này không có gì đáng sợ, nói để mình thành tựu trí tuệ, để thấy và biết được. Chứ nếu mình không thấy, không biết thì đó là ở trong nguy hiểm nhưng không thấy, không biết.

Hôm qua Minh Thành xem tin tức, thấy đoàn cầu thủ đi máy bay để chuẩn bị thi đấu, trước khi bay thì họ chụp hình tươi thắm đẹp đẽ vô cùng, họ đâu biết chút nữa máy bay rơi và chết hết, nếu biết thì họ đâu vui cười. Cho nên giác ngộ của đạo Phật là phải rõ biết hết tất cả các pháp bên trong, bên ngoài. Nếu không biết thì mình ở trong mê, trong si, trong vô minh. Một chuyện vừa rồi rất là thương tâm, có đoàn xe đi rước dâu 13 người, tài xế ngủ gục do lái xe suốt 12 giờ đồng hồ, sau đó xảy ra tai nạn chết hết, rạp đám cưới biến thành rạp đại tang. Chỉ còn lại những hình chụp là quả cưới đem qua nhà gái có chữ song hỷ, thiệp màu đỏ, những đồ cưới, mâm lễ ngổn ngang, trước đó họ đâu biết mình chết. Nếu có biết, có cẩn thận thì sẽ đỡ hơn, ngay cả trước đó 2-3 phút họ cũng không biết là chết, lúc biết chết là đang ở trong sự hoảng loạn.

Cho nên thành tựu trí huệ là mình thấy biết một cách chính xác, sâu sắc trong tự thân mình và pháp xung quanh nhất là hoạt động của ngũ uẩn. Những gì thâm sâu trong nội tâm là phải nhìn ra hết. Càng nhìn được những thứ tồi tệ, xấu xa, nhục nhã, đê hèn, dòi bọ rắn rết trong nội tâm là thành tựu trí huệ. Càng nhìn rõ những thứ ô uế, cấu nhiễm thì càng thành tựu trí huệ.

Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói: "Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ", Rồi này Ác ma, những Bà-la-môn gia chủ, bị Ác ma Dusi xâm nhập, tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Này Ác ma, sau một thời gian những vị này mạng chung và phần lớn sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới và đời này.

Những người này không biết gì hết, tuy nhiên từ chỗ không biết, chỉ là giả dối nhưng đó là những lời xưng tán, đảnh lễ, cúng dường nên họ được thiện phước sanh lên trời, cõi người; còn hủy báng, chê bai, hủy nhục thì bị đoạn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cho nên mình mới thấy được vòng luân hồi không có gì trong đó, mình phải phát tâm chấm dứt luân hồi, ra khỏi luân hồi, tâm này phát lên thật sự vững chắc thì không phải chuyện dễ trong tam thiên đại thiên thế giới, gần trong 7 tỷ người chỉ đếm trên đầu ngón tay. Cần thấy được hết sự nguy hiểm, sự tác hại ở trong vòng luân hồi, ở trong đời sống này, từ đó muốn xuất ly, đây là trí huệ siêu phàm, siêu xuất, siêu thế, không phải dễ mà thành tựu trí huệ này. Cho nên mình phải luôn luôn học, nghe pháp, thực tập, tư duy quán chiếu mỗi ngày. Hãy nhìn những cảnh tai nạn giao thông, nhìn người chết, nhìn vào cảnh bệnh khổ một cách sâu sắc, sao cho mình phát được ý nguyện xuất ly, đó là gọi bồ đề tâm, là tâm giác ngộ chứ không phải tâm làm việc khác.

Lúc đó Đức Thế Tôn Câu Na Hàm Mâu Ni biết được chuyện đó, ngài gọi Tỷ-kheo:

- Hãy sống quán bất tịnh thân, quán tưởng nhàm chán đối với các món ăn, quán tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh nhàm chán đối với tất cả hành.

Tức là quán tưởng không có gì đáng vui thích trong cuộc đời, quán tưởng không có gì vui sướng trong thế gian này. Phải quán tính vô thường đối với tất cả hành, đối với thân hành, khẩu hành, ý hành. Phải quán tính vô thường đối với pháp đang vận hành khi mắt thấy, tai nghe. Tất cả trời đất vạn vật đều phải quán tính chất vô thường của nó,

Và này Ác ma, những Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ trống vắng, sống quán (tánh) bất tịnh trên thân, (quán) tưởng nhàm chán đối với các món ăn, (quán) tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành.

III. Ác ma bị đọa

Kế tiếp, là một đoạn kinh khiếp, khi nghe mình không tưởng tượng nổi.

Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác, buổi sáng đắp y, mang y bát, với Tôn giả Vidhura là thị giả, đi vào làng để khất thực. Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào một đứa trẻ, cầm một hòn đá, đánh trên đầu Tôn giả Vidhura khiến bể đầu. Rồi này Ác ma, Tôn giả Vidhura với đầu bị bể và với máu chảy, vẫn đi sau lưng Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nhìn xung quanh với cái nhìn con voi chúa và suy nghĩ như sau: "Thật vậy, Ác ma Dusi không biết sự vừa phải".

Khi Đức Thế Tôn nhìn xung quanh thì ác ma Dusi liền từ chỗ ấy từ trần và sanh vào cõi địa ngục. Này Ác ma, địa ngục ấy được ba tên gọi: Sáu xúc xứ địa ngục, Thiết qua địa ngục, Biệt thọ khổ địa ngục. Rồi các người giữ địa ngục đến ta và nói như sau: "Này Tôn giả, khi cọc sắt sẽ gặp cọc sắt trong tim của Ngươi, Ngươi mới hiểu như sau: "Ta sẽ bị trụng nước sôi một ngàn năm ở địa ngục.'' Và ta, này Ác ma, ta bị trụng nước sôi, trải nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trong địa ngục. Trải qua một vạn năm trong đại địa ngục ấy, ta bị nấu sôi và cảm thọ cảm giác gọi là Vutthanima (tức là cảm giác đau đớn, kinh khủng). Do vậy, này Ác ma, thân của ta là như vậy, thân như con người, và đầu ta là như vậy, đầu như con cá.

Địa ngục ấy thế nào,

Dusi bị nấu sôi,

Vì đánh Vidhuga,

Đệ tử Kakusandha.

Có trăm loại cọc sắt,

Tự cảm thọ riêng biệt,

Địa ngục là như vậy,

Dusi bị nấu sôi.

Vì đánh Vidhuga,

Đệ tử Kakusandha.

Tỷ-kheo đệ tử Phật,

Hiểu biết rõ như vậy.

Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,

Kanha chịu khổ thọ,

Dựng lên giữa biển cả,

Cung điện trải nhiều kiếp,

Bằng ngọc chói lưu ly,

Huy hoàng cùng chiếu diệu.

Tiên nữ múa tại đây,

Trang sức màu dị biệt,

Tỷ-kheo đệ tử Phật,

Hiểu biết rõ như vậy.

Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,

Kanha chịu khổ thọ.

Ai Thế Tôn khuyến khích,

Được Chư tăng chứng kiến,

Với ngón chân rung chuyển,

Lâu đài Vijayanta,

Tỷ-kheo đệ tử Phật,

Hiểu biết rõ như vậy.

Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,

Kanha chịu khổ thọ.

Với ngón chân rung chuyển,

Lâu đài Vijayanta,

Đầy đủ thần thông lực,

Chư thiên cũng hoảng sợ,

Tỷ-kheo đệ tử Phật,

Hiểu biết rõ như vậy.

Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,

Kanha chịu khổ thọ.

Ai hỏi vị Sakka,

Lâu đài Vijayanta,

Hiền giả ngươi có biết,

Chứng ái tận giải thoát?

Sakka đã chân thành,

Trả lời câu được hỏi.

Tỷ-kheo đệ tử Phật,

Hiểu biết rõ như vậy.

Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,

Kanha chịu khổ thọ.

Ai từng hỏi Phạm Thiên,

Tại hội chúng thiện pháp,

Hiền giả nay vẫn chấp,

Các tà kiến thưở xưa?

Có thấy cảnh huy hoàng,

Phạm Thiên cảnh thiên giới?

Brahma đã chân thành,

Tiếp tục đáp câu hỏi:

Tôn Giả, tôi không chấp,

Các tà kiến thưở xưa.

Tôi thấy sự huy hoàng,

Phạm Thiên cảnh thiên giới,

Sao nay tôi nói được,

Tôi thường hằng thường tại?

Tỷ-kheo đệ tử Phật,

Hiểu biết rõ như vậy.

Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,

Kanha chịu khổ thọ!

Ai với sự giải thoát,

Cảm xúc Cao sơ đảnh,

Rừng đông Videha,

Và người nằm trên đất,

Tỷ-kheo đệ tử Phật,

Hiểu biết rõ như vậy.

Vì ngươi đánh Tỷ-kheo,

Kanha chịu khổ thọ.

Thật sự lửa không nghĩ:

“Ta đốt cháy kẻ ngu,”

Kẻ ngu đột kích lửa,

Tự mình bị thêu cháy.

Cũng vậy, này Ác ma,

Ngươi đột kích Như Lai.

Tự mình đốt cháy mình,

Như kẻ ngu chạm lửa.

Ác ma tạo ác nghiệp,

Do nhiễu hại Như Lai,

Ngươi nghĩ chăng, Ác ma,

“Ác quả không đến ta.”

Điều ác Ác ma làm,

Chất chứa đã lâu rồi,

Ác ma, hãy tránh Phật,

Chớ vọng tưởng Tỷ-kheo!

Tỷ-kheo chống Ác ma,

Tại rừng Bhesakala,

Vị Dạ xoa thất vọng,

Biến mất tại chỗ ấy.

Qua sự kiện vừa rồi chúng ta thấy và chiêm nghiệm được một điều. Đức Thế Tôn – bậc Chánh Đẳng Giác đang đi, có một vị thị giả ở kế bên, nhưng Ác ma vẫn tấn công được. Sau khi đánh bể đầu vị Tỷ-kheo – thị giả của Đức Phật thì Ác ma bị đọa địa ngục ngay lập tức. Cho nên khi tu hành theo tinh thần Nikāya, mình thấy rằng cần phải chú trọng nghiệp quả, chứ không được tín ngưỡng, mê tín, cầu nguyện, lễ lạy, van xin. Chúng ta thấy đó, dù có Đức Phật ở bên cạnh, nhưng vị thị giả vẫn bị tấn công. Vì vậy, đừng xem Phật như trong phim, cho rằng Ngài có thần thông, có thể che chở, nâng đỡ cho ta. Phải thấy được trong lịch sử, Đức Phật là một con người trí tuệ, hướng dẫn chúng ta tu học, chỉ cho mình con đường trí tuệ, con đường nhàm chán, yểm ly, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xuất ly. Con đường này phải do chính mình đi, nghiệp quả là do chính mình gây ra và chính mình phải chịu. Tịnh không tịnh là chính mình, không ai tịnh cho ai.

Tự mình, làm điều ác,

Tự mình làm nhiễm ô,

Tự mình không làm ác,

Tự mình làm thanh tịnh.

Tịnh, không tịnh tự mình,

Không ai thanh tịnh ai!

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tự Ngã)

./.