Thiền Quán - Sự Tìm Cầu Của Bậc Thánh 5
Thiền Quán
SỰ TÌM CẦU CỦA BẬC THÁNH 5
KINH THÁNH CẦU TRUNG BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lòng tin PAGEREF _Toc65768410 \h 1
II. Chuyển Pháp Luân PAGEREF _Toc65768411 \h 3
III. Nội tâm cấu bẩn PAGEREF _Toc65768412 \h 8
IV. Quán chiếu giải thoát PAGEREF _Toc65768413 \h 11
V. Lời kết PAGEREF _Toc65768414 \h 14
I. Lòng tin
Chúng ta đã học đến đoạn Đức Thế Tôn gặp một người tu ngoại đạo tên là Upaka, sau cuộc đối thoại với nhau thì người này không có lòng tin với Đức Phật. Đức Phật tuyên bố ngài là bậc thắng tất cả, là người thấy biết hết tất cả, ta không bị ô nhiễm tất cả, ta đã xả ly buông bỏ tất cả, ta thật sự là người sống giải thoát, chấm dứt tất cả mọi sự khao khát, thèm muốn, ưa thích, ta là bậc tự mình giác ngộ, không nương dựa vào ai, ta không có đạo sư, không có vị thầy chỉ đường, giữa chư Thiên và loài người không có ai bằng ta, ta xứng đáng được cúng dường, là vị thầy chỉ đường vô thượng, tự mình thấy rõ sự thật của thân tâm, vạn vật.
Ðể chuyển bánh xe Pháp.
Ta đến thành Kàsi.
Gióng lên trống bất tử,
Trong thế giới mù lòa." (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Khi Đức Thế Tôn nói bài kệ này thì ông tà mạng ngoại đạo không tin và trả lời "hi vọng là vậy" rồi kèm theo cái lắc đầu, sau đó rẽ ngã khác mà đi. Lắc đầu là không tin và nghĩ rằng người này nói quá, chắc là không có sự thật. Ở đây chúng ta mới thấy lòng tin rất quan trọng trong sự tu học, khi đã không có niềm tin thì sẽ không muốn nghe, dù có nghe cũng không chấp nhận, khi chấp nhận cũng không chấp nhận hoàn toàn, trọn vẹn, đầy đủ bằng tất cả tấm lòng, điều này liên hệ đến hoài nghi, là một trong năm sự trói buộc và che đậy của tâm.
Chúng ta thấy rằng gặp Phật trước mặt mà không có lòng tin cũng không có lợi ích gì cho nên trong kinh Hoa Nghiêm Đức Phật dạy đức tin là nguồn của đạo, là mẹ sanh ra công đức, vì thế lòng tin rất quan trọng trong bước đầu tiên và tin một cách chân chánh mới có sự phấn đấu nỗ lực để thực hiện, nếu không tin sẽ không cố gắng để thực hiện điều đó.
Ví dụ các cô không tin bản thân có thể làm bánh được, hoặc không tin vào người hướng dẫn thì khi mình nghe, mình học với người đó có đặt hết tấm lòng để ghi nhận không? Mình nghĩ chắc là người này làm không được nên mình sẽ không muốn học, không muốn nghe thì làm sao mình có thể cố gắng để thực hiện điều đó.
Trong sự tu học cũng vậy, đạt được lòng tin không dao động tức là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, con nói những từ rất bình dân để mọi người dễ hiểu là chỉ cần nghe lời trong kinh Nikāya thì người này đã vào Thánh quả thứ nhất, học trò chỉ cần nghe lời thầy bằng tất cả tấm lòng chân thành thì người đó sẽ học thành công, vị thầy đó phải là vị chánh kiến thì nhất định người học trò đó sẽ thành công.
Tại sao chúng ta tu không thành công? Vì mình chưa thành tựu tịnh tín bất động, tịnh tín là lòng tin trong sáng không dao động đối với lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya. Trong mỗi thời khóa buổi sáng chúng ta đều lạy để phát khởi niềm tịnh tín bất động, những buổi nghe pháp là những buổi tưới tẩm, chăm sóc, phát triển quảng đại vững chắc lòng bất động với Phật, Pháp.
Cho nên chúng ta thấy rằng người tà mạng ngoại đạo Upaka không có lòng tin nên đã mất đi cơ hội nghe pháp của Đức Thế Tôn, gặp được Chánh Pháp mà không có lòng tin xác quyết thì chúng ta cũng vuột mất cơ hội thể nhập trí tuệ chân chánh, vì lòng tin sẽ thúc đẩy ra sức mạnh, khi đã có niềm tin sẽ có sức mạnh ở nơi niềm tin đó nên sẽ nỗ lực và sự tinh tấn, nỗ lực là luôn nghĩ nhớ đến pháp để thực hành, đặt hết tâm tư vào đó thì lúc đó sự thấy biết của mình sẽ sáng tỏ, đó là tín – tấn – niệm – định – tuệ, đó cũng là nền tảng và sức mạnh của người tu, ngũ căn và ngũ lực, năm pháp đó được tu viên mãn sẽ thành tựu Thánh quả A-la-hán.
Với những lời Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya thì mình đã thực hành được bao nhiêu điều? Tại sao không thực hành được? Vì lòng tin chưa vững chắc, đại chúng biết rằng phía sau giảng đường có chôn một hủ có rất nhiều vàng, nếu tin chắc ở đó có vàng thì mình không thể ngồi yên mà tự động sẽ có động lực đào bới lên, đó là tấn lực. Khi đào bới lên là mình luôn nhớ và chuyên chú tập trung đào để lấy vàng, chú tâm vào đó và cuối cùng đi đến thành công.
Cũng vậy, nếu biết giá trị của Thánh Pháp gấp ngàn vạn lần hủ vàng đó, mình sẽ nỗ lực ghi nhớ, tập trung ghi nhớ trong đạo lý đó để tu học, còn đằng này nghe cũng như không nghe, trở ra quên hết thì lòng tin chưa đủ, tấn lực chưa có, niệm lực chưa thành, định lực và tuệ lực không đầy đủ.
Cho nên ngũ căn và ngũ lực rất quan trọng từ khi mới tu đến khi thành tựu, hằng ngày phải xem năm pháp này mình được bao nhiêu, mình có nuôi dưỡng, chăm sóc, có làm cho nó tăng trưởng phát triển trong tâm không. Khi nghe tụng lời kinh Nikāya buổi sáng, khi mở trang kinh ra phải kiểm tra lòng tin của mình với những lời kinh đó ở mức độ nào. Khi ngồi thiền hoặc đi ra ngoài phải xem lại niệm lực còn nhớ những pháp đã học không, có tập trung tâm ý để thấy pháp trong thân tâm không, nhận diện ngũ uẩn nhìn thấy tham sân si, thấy bản ngã sanh khởi, vận hành, hoạt động, mình có dùng trí tuệ để soi chiếu ngũ uẩn đó không, có kiểm soát được dục tham không, có dập tắt được ngọn lửa sân không, có nhìn thấy và phá vỡ được si mê không. Đó chính là năm nền tảng và sức mạnh của một người tu.
II. Chuyển Pháp Luân
Này các Tỳ-kheo, nhóm năm Tỳ-kheo khi thấy Ta từ xa đi đến, đã cùng nhau thỏa thuận như sau: "Này các Hiền giả, nay Sa-môn Gotama đang đi đến; vị này sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh cần, đã trở lui đời sống đầy đủ vật chất. Chúng ta chớ có đảnh lễ, chớ có đứng dậy, chớ có lấy y bát. Hãy đặt một chỗ ngồi, và nếu vị ấy muốn, vị ấy sẽ ngồi". Này các Tỳ-kheo, nhưng khi Ta đi đến gần, năm Tỳ-kheo ấy không thể giữ đúng điều đã thỏa thuận với nhau. Có người đến đón Ta và cầm lấy y bát, có người sắp đặt chỗ ngồi, có người đem nước rửa chân đến. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Năm vị Tỳ-kheo nghĩ rằng Sa-môn Gotama không tinh cần tinh tấn như họ nữa, đã trở lui đời sống vật chất nên không lạy, không đứng dậy, để ngài ấy tự ngồi. Nhưng khi Sa-môn Gotama đến gần thì các vị Tỳ-kheo này không theo kế hoạch ban đầu đã bàn bạc mà họ tự động cầm y bát, sắp đặt chỗ ngồi… vì dung nghi, phong thái, sự an tường, tĩnh lặng và an tịnh của Đức Thế Tôn làm cho những vị này cảm nhận một điều đặc biệt, khác thường, thù thắng rất lạ.
Nhưng các vị ấy gọi Ta bằng tên với danh từ Hiền giả (Avuso).
Này các Tỳ-kheo khi ta nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỳ-kheo:
"-- Này các Tỳ-kheo, chớ có gọi Ta bằng tên và dùng danh từ Hiền giả. Này các Tỳ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại, mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú."(Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Các ông đừng gọi ta là Hiền giả, ta đã giác ngộ cứu cánh cùng cực, đã sạch hết tất cả những cấu nhiễm trong thân tâm, ta đã hoàn toàn thấy và biết cùng tận của chân lý, các ông hãy lắng tai nghe pháp bất tử ta đã chứng đạt và sẽ thuyết giảng. Nếu các ông sống đúng theo những lời ta hướng dẫn thì các ông tự mình chứng, tự mình biết, tự mình đạt mục đích cao thượng nhất của người xuất gia mà các ông đã bỏ gia đình, bỏ cha mẹ, bỏ người thân, bỏ tình cảm thiêng liêng gia đình để sống không gia đình, các ông sẽ chứng đạt và an trú được.
Này các Tỳ-kheo, khi nghe nói vậy, nhóm năm Tỳ-kheo nói Ta:
"-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này, với đạo tu này, với khổ hạnh này, Hiền giả đã không chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến, thù thắng xứng đáng bậc Thánh, thì này làm sao Hiền giả, với nếp sống sung túc, với sự từ bỏ tinh cần, với sự trở lui đời sống vật chất đầy đủ, lại có thể chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?"
Này các Tỳ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỳ-kheo:
"-- Này các Tỳ-kheo, Như Lai không sống sung túc, không từ bỏ tinh cần, không trở lui đời sống vật chất đầy đủ. Này các Tỳ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỳ-kheo, hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú."
Này các Tỳ-kheo, lại lần thứ hai, nhóm năm Tỳ-kheo nói với Ta:
"-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này... (như trên)... tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?"
Này các Tỳ-kheo, lại lần thứ hai Ta nói với nhóm năm Tỳ-kheo:
"-- Này các Tỳ-kheo, Như Lai không sống sung túc... (như trên) ... các Ông sẽ an trú."
Này các Tỳ-kheo, lại lần thứ ba, nhóm năm Tỳ-kheo nói với Ta:
"-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này... (như trên) ... tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?" (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Lúc này năm vị này chưa phải là Tỳ-kheo, vẫn là những người ngoại đạo nhưng do Đức Phật kể lại nên dùng từ Tỳ-kheo. Năm vị này tu trong sự mê lầm, tà kiến và nói với Đức Phật ba lần tu trong sự khổ hạnh, đời sống gian khó mà không chứng được pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh thì trong đời sống sung túc, đầy đủ thì làm sao Tôn giả Gotama chứng được. Sau đó Đức Phật cũng lập lại ba lần.
Này các Tỳ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỳ-kheo:
"-- Này các Tỳ-kheo, từ trước đến nay, các Ông có chấp nhận là Ta chưa bao giờ nói như vậy chăng?"
"-- Bạch Thế Tôn, chưa bao giờ như vậy." (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Tức là Đức Phật hỏi lại trước giờ ta có nói dối bao giờ chưa thì năm vị nói chưa bao giờ nên Đức Phật lập lại thêm một lần nữa:
"-- Này các Tỳ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tư chứng, tự đạt được ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú".
Này các Tỳ-kheo, Ta đã làm cho nhóm năm Tỳ-kheo chấp nhận. Này các Tỳ-kheo, Ta thuyết giảng cho hai Tỳ-kheo. Ba Tỳ-kheo kia đi khất thực. Ðồ ăn mà ba Tỳ-kheo này khất thực mang về, đủ nuôi sống cho nhóm sáu người. Này các Tỳ-kheo, Ta thuyết giảng cho ba Tỳ-kheo. Hai Tỳ-kheo kia đi khất thực… Ðồ ăn mà hai Tỳ-kheo này khất thực mang về, đủ nuôi sống cho nhóm sáu người. Này các Tỳ-kheo, chúng năm Tỳ-kheo, sau khi được Ta thuyết giảng, sau khi được Ta khuyến giáo, tự mình bị sanh, sau khi biết được sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn, tự mình bị già... cái không già... tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái không chết... tự mình bi sầu... cái không sầu... tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết được sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn, và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn. Tri và kiến khởi lên nơi họ: "Sự giải thoát của chúng ta không bị dao động, đây thức gì được hiện khởi như vậy đều quy là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Sự thấy biết là chánh tri kiến, sự thấy biết chân chánh khởi lên.
(Năm dục)
Này các Tỳ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... (như trên) ... các hương do mũi nhận thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân cảm xúc là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Này các Tỳ-kheo, như vậy, là năm dục trưởng dưỡng. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Năm cái sắc; thanh; hương; vị; xúc này nuôi lớn lòng tham dục của chúng sanh cho nên gọi là năm dục trưởng dưỡng.
Này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc, bị tham đắm, bị mê say bởi năm dục trưởng dưỡng này, không thấy sự nguy hại của chúng, không biết rõ sự xuất ly khỏi chúng, mà thọ dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là: "Các Người đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn". Này các Tỳ-kheo, như một con nai sống trong rừng bị sập bẫy nằm xuống, con nai ấy cần phải được hiểu là: "Nó đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị thợ săn sử dụng như ý muốn. Khi người thợ săn đến, con nai không thể bỏ đi như ý muốn. Này các Tỳ-kheo, cũng vậy, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc... (như trên)... đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Đức Thế Tôn kể cho chúng ta nghe một vài bài pháp mà ngài đã giảng cho nhóm năm vị Tỳ-kheo này. Khi chưa học bài kinh này mình nghĩ khi Đức Phật giảng là năm vị đó nghe là chứng ngộ, không phải vậy mà hai người học thì ba người đi khất thực về chia đồ ăn cho sáu người là tính luôn cả Đức Phật, sau đó là ba người học pháp thì hai người đi khất thực đem thức ăn về cho cả sáu người. Ở đây chúng ta thấy sự luân phiên nhau học pháp dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn và đi khất thực chứ không phải nghe giảng là chứng ngay A-la-hán, cần phải có thời gian để chứng đạt.
III. Nội tâm cấu bẩn
Đức Phật giảng những điều ngài đã đi tìm trước đây và ngài đã tìm được, ngài giảng rằng sau khi biết nguy hiểm và tác hại của cái bị sanh, già, bệnh, chết, sau khi biết nguy hiểm và tác hại của cái bị buồn khổ và sầu đau, sau khi biết nguy hiểm và tác hại của cái bị ô nhiễm của dục nhiễm, hữu nhiễm và vô minh nhiễm trong tâm và cái tâm chúng ta là một nội tâm ô uế, bẩn thỉu, nhơ nhớp cho nên lại gần là bốc mùi.
Ở có vài người chung với nhau mà sân hận, thị phi, hơn thua, cao thấp, đúng sai… Huynh đệ ở chung nhau có an ổn không? Có hờn giận, gay gắt, khó chịu không? Đó là những cái mùi của nội tâm bốc lên, đi tu mà còn vậy thì những người không tu sẽ còn thế nào? Sự dối trá, hơn thua, tật đố, cộc cằn, ganh ghét, nhân ngã bỉ thử, dối trá, ương ngạnh… là những mùi hôi thối bốc ra không ai chịu nổi, đi đến đâu cũng khó chịu, phiền não là đang bốc mùi, ở đâu cũng không hài lòng, người nào cũng không bằng lòng, đó là tâm cấu nhiễm bốc mùi, muốn cái này tham cái kia đó là dục nhiễm, không bao giờ thỏa mãn, vừa lòng.
Dao động, bận rộn, lăng xăng, trong cái vô sự lại sanh sự là hữu nhiễm, cũng là sự trạo cử, trạo hối. Nội tâm âm u, si ám là vô minh nhiễm, không thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không thấy tham dục ái sanh khởi, không thấy sân vận hành, đốt cháy thân tâm, không thấy sự nguy hiểm và tác hại của sân hận, hại mình hại người, làm thành người mù mắt. Một cái tâm nhiễm dục, nhiễm hữu, nhiễm vô minh nên phát ra mùi nhiễm, suy nghĩ nhiễm, ngôn ngữ nhiễm, hành động nhiễm, nói dễ hiểu là nghĩ xấu, làm xấu, nói xấu.
Ở bên trong đều xấu thì làm sao có thể biểu hiện cái đẹp ra ngoài được? Cho nên bây giờ phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại của cái bị ô nhiễm để tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, nghĩa là sự tu là một cuộc thanh lọc vĩ đại. Nhìn lại cảm giác, nghĩ tưởng để thấy cái nào ô nhiễm là tẩy sạch cái đó, thấy cái nào dơ là chùi rửa cái đó thì từ từ mới đi đến chỗ bớt ô nhiễm, hết ô nhiễm và trong sạch, thanh tịnh hoàn toàn, đó là công trình của sự tu chúng ta.
Vì thế khi Đức Phật giảng dạy cho năm vị này thì tri kiến khởi lên nơi họ và họ được giải thoát, tự mình biết rằng đây là đời sống cuối cùng, không còn phải tiếp tục trở lại những tấm thân tứ đại, ngũ uẩn bất tịnh cho nên công trình tu tập của chúng ta là sự thanh lọc tâm cấu nhiễm. Tâm này cấu nhiễm, dơ bẩn, chúng ta phải cố gắng thanh lọc tâm này cho nên hằng ngày phải để ý những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm, nếu ô nhiễm phải tẩy rửa để đi đến chỗ trong sạch.
Đức Thế Tôn nói có năm thứ nuôi lớn lòng tham muốn của chúng sanh. Những hình sắc do con mắt nhận thức mà những hình sắc đó đáng yêu, vui thích, kích thích lòng dục hấp dẫn thì hình sắc đó nuôi lớn lòng dục. Nếu người tu nào bị trói buộc bởi hình sắc đó, bị tham đắm bởi hình sắc đó, bị mê say không thấy sự nguy hiểm và tác hại của hình sắc đó, không biết sự thoát ra khỏi hình sắc đó, lại hưởng thụ và thọ dụng những hình sắc đó thì người đó đã rơi vào bất hạnh, tai hoạ.
Nhìn cái gì đẹp cũng thấy thích, thấy hoa sen nở đẹp tròn trịa cũng thích là mình bị rơi vào bất hạnh, tai họa. Mình được cúng dường xe đẹp, khi nhận chiếc xe thì thấy khả ái, khả lạc, khả hỷ, khả ý khích thích lòng dục hấp dẫn, chiếc xe đẹp, tốt thì mình đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn.
Hiện tại người tu có rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa có nhiều không? Vào Học viện mình có một phòng khang trang, sạch sẽ, vị trí tuyệt vời rồi mình ưa thích, ái trong đó thì mình đã rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa, đây là chỗ cực kì sâu sắc của người chân tu, thực hành theo đúng lời Phật dạy mới thấy giải thoát thật sự.
Mình thấy ngôi chùa này là đáng yêu thích, đẹp, vừa lòng rồi mình luyến ái, ham thích là mình đã rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa, mình như con nai bị sập bẫy, bị thợ săn sử dụng như ý muốn. Khi ngồi một mình trong phòng mà mình thấy thích bàn tay này, soi gương thấy thích gương mặt, con mắt, cái miệng, mình thấy đẹp, thích cái thân này, dính mắc vào nó cho đây là tôi và của tôi là mình đã rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa, mình bị sập bẫy trong thân xác da thịt, gân xương, máu mủ này rồi.
Này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc, bị tham đắm, bị mê say bởi năm dục trưởng dưỡng này, không thấy sự nguy hại của chúng, không biết rõ sự xuất ly khỏi chúng, mà thọ dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là: "Các Người đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Thật là bất hạnh cho chúng ta! Thật là tai họa cho chúng ta khi yêu thích thân xác máu mủ, gan ruột, phèo phổi này. Chúng ta bị sập cái bẫy thọ sanh, bị sập bẫy tái sanh, bị sập bẫy của tử sanh. Chính vì ưa thích, khoan khoái, chấp thủ vào thân xác này nên chúng ta phải tiếp tục luân hồi sanh tử, sống chết dài dài, quay cuồng mãi mãi trong những thân xác lông lá, có sừng, những thân xác sâu bọ, rắn rết, giòi, heo gà, chó ngựa, những thân xác cùi hủi, điên khùng, câm ngọng. Chụp vào thân nào cũng nói là tôi, là của tôi rồi hống hách, kiêu căng, ngã mạn. Thật là bất hạnh cho chúng ta!
IV. Quán chiếu giải thoát
Chúng ta đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, chúng ta đã sập bẫy của năm dục trưởng dưỡng này trong vô lượng vô biên kiếp không thoát ra được, lúc nào cũng cho con mắt, lỗ mũi, cái miệng, gương mặt, hình hài này là tôi, là của tôi rồi suy nghĩ, lo lắng, buồn rầu, sợ hãi, khổ đau, suốt ngày suốt đêm không thoát ra khỏi cái bẫy da thịt, gân xương này, cái bẫy của sắc pháp, sắc chất này. Chúng ta không thấy được sự nguy hiểm và tác hại của những sắc uẩn khả ái này, nó là hiểm nguy, tai họa tiềm ẩn trong đó, chúng ta lại khoan khoái, ưa thích, mong muốn chiếm hữu, sở hữu mà không biết rằng sự nguy hiểm và tai họa đang tiềm ẩn trong đó.
-- Này Tỳ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỳ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm (Tạp 2, Đại 2,14b) (S.iii,100) (Trung Bộ Kinh, trang 109, 110 Tham chiếu))
Cần phải quán những sắc này là phiền não, khổ đau, hủy hoại, tan nát. Nếu không quán chiếu, tác ý, suy xét, không nhắc nhở thường xuyên như vậy thì chúng ta đã rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa. Mình thích hoa sen đó mà có người đã hái mất rồi mình có bực bội không, có khổ không? Mình thích chiếc xe đó mà nó bị trầy xước, bị lấy mất thì mình có sầu bi khổ ưu não không? Mình thích căn phòng đó mà cuối cùng bị chuyển đến căn phòng sau cùng gần toilet thì mình có bực không, có buồn không, có phiền não không?
Mỗi lần đi ngang căn phòng cũ mình đều thấy tiếc "Đúng ra căn phòng này là của mình", đó là sự bất hạnh, tai họa, đó là các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn, nếu người nào không thấy sự nguy hại của nó, không biết rõ sự xuất ly khỏi nó, thưởng thụ nó thì những người đó bị rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa.
Đây chỉ mới nói những thứ bên ngoài, còn giờ nói đến tấm thân này, cái mà mình vỗ ngực xưng tên tôi và của tôi mà có người nào nói nặng mình thì lúc đó mình bị sập bẫy, bị bất hạnh, rơi vào tai họa vì mình cho sắc pháp này là tôi, là của tôi. Còn ngay lúc đó có người la mắng, chỉ trích mình mà mình cho sắc pháp này không có gì là tôi, là của tôi, nó là vô thường, trống rỗng, bất tịnh, hoại diệt thì lời nói đó không tác động được mình, mình vẫn an trú trong cảm giác toàn thân an tịnh, lắng dịu thì mình như con nai sống trong rừng, đi qua đi lại trong rừng, an tâm nó đi, an tâm nó đứng, an tâm nó ngồi, an tâm nó nằm. Tại sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì nó vượt khỏi tầm tay của người thợ săn (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Nó đã thoát ra khỏi năm dục trưởng dưỡng, nó không ưa thích, khoan khoái, không nắm giữ, ràng buộc, chấp thủ trong đó nữa. Mình muốn là con nai bị sập bẫy hay làm con nai sống trong rừng ung dung, tự tại? Nếu mình muốn làm con nai đi qua đi lại trong rừng thong dong thì mình phải luôn xét sự nguy hiểm và tác hại của năm dục trưởng dưỡng sắc; thanh; hương; vị; xúc. Hãy thường nhớ những tiếng nào, những mùi hương nào, những sắc nào, những sự tiếp xúc, cảm xúc nào đáng yêu, đáng mừng, khích thích lòng dục hấp dẫn thì hãy nhìn thấy sự nguy hiểm và tác hại của nó, coi chừng sập bẫy, phải thận trọng cảnh giác, hộ trì căn, trở về an trú cảm giác toàn thân, quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại để thoát ra khỏi nó, không khéo mình sẽ sập bẫy, bị rơi vào tai họa và bất hạnh, sẽ bị ác ma sử dụng như ý muốn.
Ví dụ bệnh gan mà thích ăn tương, ăn chao, ăn những món nguy hiểm thì rõ ràng những món đó đối với mình là khả hỷ, khả lạc, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, mình không biết sự nguy hiểm và tác hại của bệnh và thức ăn nên cứ ăn thôi, đến khi phát ra ung thư gan thì có phải rơi vào bất hạnh, tai họa không? Cho nên khi thấy, khi nghe, khi tiếp xúc, ngửi, nếm mà nó đáng yêu, đáng thích, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn thì cần đặc biệt cẩn thận, phòng hộ, giữ gìn và phải quán xét sâu sắc sự nguy hiểm và tác hại của nó, đừng để bị trói buộc, say đắm mà cần thoát ra khỏi chúng nó. Chúng ta đang bị dính một cái bẫy rất lớn là thân này và những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong. Sau khi Đức Phật giảng đầy đủ sự nguy hiểm và tác hại của dục thì Đức Phật dạy đến ly dục, tứ thiền bát định. Khi ly dục thì phải có gì để hướng đến chứ không có thì mình không có chỗ bám cho nên Đức Phật dạy:
Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được gọi là: một vị đã làm Ác Ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Khi mình luôn để ý để xa lìa các dục trưởng dưỡng, lìa những điều ác bất thiện thì mình sẽ ngồi bên vườn trúc, ngồi trên nền Thánh Pháp viện tác ý "Ta đã từ bỏ phố thị ồn ào đang tràn ngập dịch bệnh hiểm nguy. Ta đã từ bỏ sự hệ lụy, ràng buộc của gia đình, của những tham ái nhỏ nhặt, phiền bực, phiền não để ngồi một mình giữa trời bao la, thênh thang, mây bay chim hót, giữa không khí trong lành an tịnh của non thiêng này. Ta cảm nhận sự bình an, dào dạt sự hỷ lạc khi nhìn thấy những nguy hiểm và tác hại mà ngày xưa ta không thấy nhưng nay đã thấy. Một sự bình yên thanh tịnh, lắng dịu khi ngồi giữa đất trời Linh Quy Pháp Ấn, từng hơi thở, từng cảm giác toàn thân, từng sự trải tâm ra khắp đại ngàn và lòng từ trải rộng mười phương, lan tỏa tình thương dào dạt của sự hoan hỉ, bốn tâm vô lượng của từ bi hỷ xả".
Chúng ta cảm nhận một niềm hạnh phúc sâu lắng và toàn diện trong cảm giác toàn thân, đó là sự bình an, an lạc, tịnh lạc, chính sự hỷ lạc của thiền sẽ nuôi dưỡng mình dần dần. Ở đây con không nói đến tứ thiền bát định mà con chỉ nói sơ lược về hỷ lạc ly dục, các vị Tỳ-kheo chứng các tầng thiền và bốn tầng định nữa, sau cùng là đoạn trừ hết các lậu hoặc.
Vị ấy đã vượt khỏi mọi triền phược ở đời. An tâm vị ấy đi, an tâm vị ấy đứng, an tâm vị ấy ngồi, an tâm vị ấy nằm. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì vị ấy vượt khỏi tầm tay của Ác ma.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
V. Lời kết
Hôm nay chúng ta đã học xong bài kinh Thánh cầu – sự tìm cầu của bậc Thánh. Thái Tử Tất-đạt-đa khi ý thức được đời sống vô thường, khổ đau, vô ngã nên ngài đã đi tìm cảnh giới của bất tử. Cuối cùng bằng tất cả sự nỗ lực chân thành, nhiệt huyết, bằng tất cả trái tim tấm lòng và ý chí mãnh liệt, vĩ đại ngài đã thành tựu cái ngài muốn thành tựu, chứng đắc cái ngài cần chứng đắc, chứng đạt cái ngài cần chứng đạt, chứng nhập pháp bất tử.
Và bài kinh này chính là lời trình bày, tâm sự, tường thuật lại để chúng ta thấy công cuộc tầm cầu giác ngộ của ngài và con mong các bậc xuất gia hãy ý thức sâu sắc. Ngày xưa bậc đại Đạo sư của chúng ta tu như thế nào, thực hành như thế nào, chứng ngộ những gì chúng ta cần hiểu rõ, nắm rõ và chúng ta cần định hướng được con đường trong sự xuất gia cũng như tu học để chúng ta không lạc lối, không đi vào những ngã rẽ và những lối tẻ rồi cả đời tu không thành tựu. Chúng ta phải nắm hiểu thật vững chắc những gì Đức Phật đã tu tập, đã thực hành, đã chứng ngộ và chúng ta phải đi đúng con đường đó, phải xác định đúng mục tiêu, lý tưởng, phương hướng để chúng ta đi trên con đường Đức Phật đã đi. Xuất gia để tầm cầu sự tầm cầu của bậc Thánh chứ không phải để tầm cầu những thứ bình thường, thấp hèn, hạ liệt.
Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. (Tương Ưng Bộ kinh, tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực)
Mong rằng tất cả người xuất gia chúng ta và những vị tập sự xuất gia cần ý thức sâu sắc, nhắc nhở tự thân tự tâm ý thức con đường cao thượng, tối thắng, an tịnh đạo lộ để không đi lạc hướng.
./.
SỰ TÌM CẦU CỦA BẬC THÁNH 5
KINH THÁNH CẦU TRUNG BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lòng tin PAGEREF _Toc65768410 \h 1
II. Chuyển Pháp Luân PAGEREF _Toc65768411 \h 3
III. Nội tâm cấu bẩn PAGEREF _Toc65768412 \h 8
IV. Quán chiếu giải thoát PAGEREF _Toc65768413 \h 11
V. Lời kết PAGEREF _Toc65768414 \h 14
I. Lòng tin
Chúng ta đã học đến đoạn Đức Thế Tôn gặp một người tu ngoại đạo tên là Upaka, sau cuộc đối thoại với nhau thì người này không có lòng tin với Đức Phật. Đức Phật tuyên bố ngài là bậc thắng tất cả, là người thấy biết hết tất cả, ta không bị ô nhiễm tất cả, ta đã xả ly buông bỏ tất cả, ta thật sự là người sống giải thoát, chấm dứt tất cả mọi sự khao khát, thèm muốn, ưa thích, ta là bậc tự mình giác ngộ, không nương dựa vào ai, ta không có đạo sư, không có vị thầy chỉ đường, giữa chư Thiên và loài người không có ai bằng ta, ta xứng đáng được cúng dường, là vị thầy chỉ đường vô thượng, tự mình thấy rõ sự thật của thân tâm, vạn vật.
Ðể chuyển bánh xe Pháp.
Ta đến thành Kàsi.
Gióng lên trống bất tử,
Trong thế giới mù lòa." (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Khi Đức Thế Tôn nói bài kệ này thì ông tà mạng ngoại đạo không tin và trả lời "hi vọng là vậy" rồi kèm theo cái lắc đầu, sau đó rẽ ngã khác mà đi. Lắc đầu là không tin và nghĩ rằng người này nói quá, chắc là không có sự thật. Ở đây chúng ta mới thấy lòng tin rất quan trọng trong sự tu học, khi đã không có niềm tin thì sẽ không muốn nghe, dù có nghe cũng không chấp nhận, khi chấp nhận cũng không chấp nhận hoàn toàn, trọn vẹn, đầy đủ bằng tất cả tấm lòng, điều này liên hệ đến hoài nghi, là một trong năm sự trói buộc và che đậy của tâm.
Chúng ta thấy rằng gặp Phật trước mặt mà không có lòng tin cũng không có lợi ích gì cho nên trong kinh Hoa Nghiêm Đức Phật dạy đức tin là nguồn của đạo, là mẹ sanh ra công đức, vì thế lòng tin rất quan trọng trong bước đầu tiên và tin một cách chân chánh mới có sự phấn đấu nỗ lực để thực hiện, nếu không tin sẽ không cố gắng để thực hiện điều đó.
Ví dụ các cô không tin bản thân có thể làm bánh được, hoặc không tin vào người hướng dẫn thì khi mình nghe, mình học với người đó có đặt hết tấm lòng để ghi nhận không? Mình nghĩ chắc là người này làm không được nên mình sẽ không muốn học, không muốn nghe thì làm sao mình có thể cố gắng để thực hiện điều đó.
Trong sự tu học cũng vậy, đạt được lòng tin không dao động tức là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, con nói những từ rất bình dân để mọi người dễ hiểu là chỉ cần nghe lời trong kinh Nikāya thì người này đã vào Thánh quả thứ nhất, học trò chỉ cần nghe lời thầy bằng tất cả tấm lòng chân thành thì người đó sẽ học thành công, vị thầy đó phải là vị chánh kiến thì nhất định người học trò đó sẽ thành công.
Tại sao chúng ta tu không thành công? Vì mình chưa thành tựu tịnh tín bất động, tịnh tín là lòng tin trong sáng không dao động đối với lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya. Trong mỗi thời khóa buổi sáng chúng ta đều lạy để phát khởi niềm tịnh tín bất động, những buổi nghe pháp là những buổi tưới tẩm, chăm sóc, phát triển quảng đại vững chắc lòng bất động với Phật, Pháp.
Cho nên chúng ta thấy rằng người tà mạng ngoại đạo Upaka không có lòng tin nên đã mất đi cơ hội nghe pháp của Đức Thế Tôn, gặp được Chánh Pháp mà không có lòng tin xác quyết thì chúng ta cũng vuột mất cơ hội thể nhập trí tuệ chân chánh, vì lòng tin sẽ thúc đẩy ra sức mạnh, khi đã có niềm tin sẽ có sức mạnh ở nơi niềm tin đó nên sẽ nỗ lực và sự tinh tấn, nỗ lực là luôn nghĩ nhớ đến pháp để thực hành, đặt hết tâm tư vào đó thì lúc đó sự thấy biết của mình sẽ sáng tỏ, đó là tín – tấn – niệm – định – tuệ, đó cũng là nền tảng và sức mạnh của người tu, ngũ căn và ngũ lực, năm pháp đó được tu viên mãn sẽ thành tựu Thánh quả A-la-hán.
Với những lời Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya thì mình đã thực hành được bao nhiêu điều? Tại sao không thực hành được? Vì lòng tin chưa vững chắc, đại chúng biết rằng phía sau giảng đường có chôn một hủ có rất nhiều vàng, nếu tin chắc ở đó có vàng thì mình không thể ngồi yên mà tự động sẽ có động lực đào bới lên, đó là tấn lực. Khi đào bới lên là mình luôn nhớ và chuyên chú tập trung đào để lấy vàng, chú tâm vào đó và cuối cùng đi đến thành công.
Cũng vậy, nếu biết giá trị của Thánh Pháp gấp ngàn vạn lần hủ vàng đó, mình sẽ nỗ lực ghi nhớ, tập trung ghi nhớ trong đạo lý đó để tu học, còn đằng này nghe cũng như không nghe, trở ra quên hết thì lòng tin chưa đủ, tấn lực chưa có, niệm lực chưa thành, định lực và tuệ lực không đầy đủ.
Cho nên ngũ căn và ngũ lực rất quan trọng từ khi mới tu đến khi thành tựu, hằng ngày phải xem năm pháp này mình được bao nhiêu, mình có nuôi dưỡng, chăm sóc, có làm cho nó tăng trưởng phát triển trong tâm không. Khi nghe tụng lời kinh Nikāya buổi sáng, khi mở trang kinh ra phải kiểm tra lòng tin của mình với những lời kinh đó ở mức độ nào. Khi ngồi thiền hoặc đi ra ngoài phải xem lại niệm lực còn nhớ những pháp đã học không, có tập trung tâm ý để thấy pháp trong thân tâm không, nhận diện ngũ uẩn nhìn thấy tham sân si, thấy bản ngã sanh khởi, vận hành, hoạt động, mình có dùng trí tuệ để soi chiếu ngũ uẩn đó không, có kiểm soát được dục tham không, có dập tắt được ngọn lửa sân không, có nhìn thấy và phá vỡ được si mê không. Đó chính là năm nền tảng và sức mạnh của một người tu.
II. Chuyển Pháp Luân
Này các Tỳ-kheo, nhóm năm Tỳ-kheo khi thấy Ta từ xa đi đến, đã cùng nhau thỏa thuận như sau: "Này các Hiền giả, nay Sa-môn Gotama đang đi đến; vị này sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh cần, đã trở lui đời sống đầy đủ vật chất. Chúng ta chớ có đảnh lễ, chớ có đứng dậy, chớ có lấy y bát. Hãy đặt một chỗ ngồi, và nếu vị ấy muốn, vị ấy sẽ ngồi". Này các Tỳ-kheo, nhưng khi Ta đi đến gần, năm Tỳ-kheo ấy không thể giữ đúng điều đã thỏa thuận với nhau. Có người đến đón Ta và cầm lấy y bát, có người sắp đặt chỗ ngồi, có người đem nước rửa chân đến. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Năm vị Tỳ-kheo nghĩ rằng Sa-môn Gotama không tinh cần tinh tấn như họ nữa, đã trở lui đời sống vật chất nên không lạy, không đứng dậy, để ngài ấy tự ngồi. Nhưng khi Sa-môn Gotama đến gần thì các vị Tỳ-kheo này không theo kế hoạch ban đầu đã bàn bạc mà họ tự động cầm y bát, sắp đặt chỗ ngồi… vì dung nghi, phong thái, sự an tường, tĩnh lặng và an tịnh của Đức Thế Tôn làm cho những vị này cảm nhận một điều đặc biệt, khác thường, thù thắng rất lạ.
Nhưng các vị ấy gọi Ta bằng tên với danh từ Hiền giả (Avuso).
Này các Tỳ-kheo khi ta nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỳ-kheo:
"-- Này các Tỳ-kheo, chớ có gọi Ta bằng tên và dùng danh từ Hiền giả. Này các Tỳ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại, mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú."(Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Các ông đừng gọi ta là Hiền giả, ta đã giác ngộ cứu cánh cùng cực, đã sạch hết tất cả những cấu nhiễm trong thân tâm, ta đã hoàn toàn thấy và biết cùng tận của chân lý, các ông hãy lắng tai nghe pháp bất tử ta đã chứng đạt và sẽ thuyết giảng. Nếu các ông sống đúng theo những lời ta hướng dẫn thì các ông tự mình chứng, tự mình biết, tự mình đạt mục đích cao thượng nhất của người xuất gia mà các ông đã bỏ gia đình, bỏ cha mẹ, bỏ người thân, bỏ tình cảm thiêng liêng gia đình để sống không gia đình, các ông sẽ chứng đạt và an trú được.
Này các Tỳ-kheo, khi nghe nói vậy, nhóm năm Tỳ-kheo nói Ta:
"-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này, với đạo tu này, với khổ hạnh này, Hiền giả đã không chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến, thù thắng xứng đáng bậc Thánh, thì này làm sao Hiền giả, với nếp sống sung túc, với sự từ bỏ tinh cần, với sự trở lui đời sống vật chất đầy đủ, lại có thể chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?"
Này các Tỳ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỳ-kheo:
"-- Này các Tỳ-kheo, Như Lai không sống sung túc, không từ bỏ tinh cần, không trở lui đời sống vật chất đầy đủ. Này các Tỳ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỳ-kheo, hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú."
Này các Tỳ-kheo, lại lần thứ hai, nhóm năm Tỳ-kheo nói với Ta:
"-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này... (như trên)... tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?"
Này các Tỳ-kheo, lại lần thứ hai Ta nói với nhóm năm Tỳ-kheo:
"-- Này các Tỳ-kheo, Như Lai không sống sung túc... (như trên) ... các Ông sẽ an trú."
Này các Tỳ-kheo, lại lần thứ ba, nhóm năm Tỳ-kheo nói với Ta:
"-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này... (như trên) ... tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?" (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Lúc này năm vị này chưa phải là Tỳ-kheo, vẫn là những người ngoại đạo nhưng do Đức Phật kể lại nên dùng từ Tỳ-kheo. Năm vị này tu trong sự mê lầm, tà kiến và nói với Đức Phật ba lần tu trong sự khổ hạnh, đời sống gian khó mà không chứng được pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh thì trong đời sống sung túc, đầy đủ thì làm sao Tôn giả Gotama chứng được. Sau đó Đức Phật cũng lập lại ba lần.
Này các Tỳ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỳ-kheo:
"-- Này các Tỳ-kheo, từ trước đến nay, các Ông có chấp nhận là Ta chưa bao giờ nói như vậy chăng?"
"-- Bạch Thế Tôn, chưa bao giờ như vậy." (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Tức là Đức Phật hỏi lại trước giờ ta có nói dối bao giờ chưa thì năm vị nói chưa bao giờ nên Đức Phật lập lại thêm một lần nữa:
"-- Này các Tỳ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tư chứng, tự đạt được ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú".
Này các Tỳ-kheo, Ta đã làm cho nhóm năm Tỳ-kheo chấp nhận. Này các Tỳ-kheo, Ta thuyết giảng cho hai Tỳ-kheo. Ba Tỳ-kheo kia đi khất thực. Ðồ ăn mà ba Tỳ-kheo này khất thực mang về, đủ nuôi sống cho nhóm sáu người. Này các Tỳ-kheo, Ta thuyết giảng cho ba Tỳ-kheo. Hai Tỳ-kheo kia đi khất thực… Ðồ ăn mà hai Tỳ-kheo này khất thực mang về, đủ nuôi sống cho nhóm sáu người. Này các Tỳ-kheo, chúng năm Tỳ-kheo, sau khi được Ta thuyết giảng, sau khi được Ta khuyến giáo, tự mình bị sanh, sau khi biết được sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn, tự mình bị già... cái không già... tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái không chết... tự mình bi sầu... cái không sầu... tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết được sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn, và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, thoát khỏi các khổ ách, chứng Niết-bàn. Tri và kiến khởi lên nơi họ: "Sự giải thoát của chúng ta không bị dao động, đây thức gì được hiện khởi như vậy đều quy là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Sự thấy biết là chánh tri kiến, sự thấy biết chân chánh khởi lên.
(Năm dục)
Này các Tỳ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... (như trên) ... các hương do mũi nhận thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân cảm xúc là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Này các Tỳ-kheo, như vậy, là năm dục trưởng dưỡng. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Năm cái sắc; thanh; hương; vị; xúc này nuôi lớn lòng tham dục của chúng sanh cho nên gọi là năm dục trưởng dưỡng.
Này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc, bị tham đắm, bị mê say bởi năm dục trưởng dưỡng này, không thấy sự nguy hại của chúng, không biết rõ sự xuất ly khỏi chúng, mà thọ dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là: "Các Người đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn". Này các Tỳ-kheo, như một con nai sống trong rừng bị sập bẫy nằm xuống, con nai ấy cần phải được hiểu là: "Nó đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị thợ săn sử dụng như ý muốn. Khi người thợ săn đến, con nai không thể bỏ đi như ý muốn. Này các Tỳ-kheo, cũng vậy, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc... (như trên)... đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Đức Thế Tôn kể cho chúng ta nghe một vài bài pháp mà ngài đã giảng cho nhóm năm vị Tỳ-kheo này. Khi chưa học bài kinh này mình nghĩ khi Đức Phật giảng là năm vị đó nghe là chứng ngộ, không phải vậy mà hai người học thì ba người đi khất thực về chia đồ ăn cho sáu người là tính luôn cả Đức Phật, sau đó là ba người học pháp thì hai người đi khất thực đem thức ăn về cho cả sáu người. Ở đây chúng ta thấy sự luân phiên nhau học pháp dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn và đi khất thực chứ không phải nghe giảng là chứng ngay A-la-hán, cần phải có thời gian để chứng đạt.
III. Nội tâm cấu bẩn
Đức Phật giảng những điều ngài đã đi tìm trước đây và ngài đã tìm được, ngài giảng rằng sau khi biết nguy hiểm và tác hại của cái bị sanh, già, bệnh, chết, sau khi biết nguy hiểm và tác hại của cái bị buồn khổ và sầu đau, sau khi biết nguy hiểm và tác hại của cái bị ô nhiễm của dục nhiễm, hữu nhiễm và vô minh nhiễm trong tâm và cái tâm chúng ta là một nội tâm ô uế, bẩn thỉu, nhơ nhớp cho nên lại gần là bốc mùi.
Ở có vài người chung với nhau mà sân hận, thị phi, hơn thua, cao thấp, đúng sai… Huynh đệ ở chung nhau có an ổn không? Có hờn giận, gay gắt, khó chịu không? Đó là những cái mùi của nội tâm bốc lên, đi tu mà còn vậy thì những người không tu sẽ còn thế nào? Sự dối trá, hơn thua, tật đố, cộc cằn, ganh ghét, nhân ngã bỉ thử, dối trá, ương ngạnh… là những mùi hôi thối bốc ra không ai chịu nổi, đi đến đâu cũng khó chịu, phiền não là đang bốc mùi, ở đâu cũng không hài lòng, người nào cũng không bằng lòng, đó là tâm cấu nhiễm bốc mùi, muốn cái này tham cái kia đó là dục nhiễm, không bao giờ thỏa mãn, vừa lòng.
Dao động, bận rộn, lăng xăng, trong cái vô sự lại sanh sự là hữu nhiễm, cũng là sự trạo cử, trạo hối. Nội tâm âm u, si ám là vô minh nhiễm, không thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không thấy tham dục ái sanh khởi, không thấy sân vận hành, đốt cháy thân tâm, không thấy sự nguy hiểm và tác hại của sân hận, hại mình hại người, làm thành người mù mắt. Một cái tâm nhiễm dục, nhiễm hữu, nhiễm vô minh nên phát ra mùi nhiễm, suy nghĩ nhiễm, ngôn ngữ nhiễm, hành động nhiễm, nói dễ hiểu là nghĩ xấu, làm xấu, nói xấu.
Ở bên trong đều xấu thì làm sao có thể biểu hiện cái đẹp ra ngoài được? Cho nên bây giờ phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại của cái bị ô nhiễm để tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, nghĩa là sự tu là một cuộc thanh lọc vĩ đại. Nhìn lại cảm giác, nghĩ tưởng để thấy cái nào ô nhiễm là tẩy sạch cái đó, thấy cái nào dơ là chùi rửa cái đó thì từ từ mới đi đến chỗ bớt ô nhiễm, hết ô nhiễm và trong sạch, thanh tịnh hoàn toàn, đó là công trình của sự tu chúng ta.
Vì thế khi Đức Phật giảng dạy cho năm vị này thì tri kiến khởi lên nơi họ và họ được giải thoát, tự mình biết rằng đây là đời sống cuối cùng, không còn phải tiếp tục trở lại những tấm thân tứ đại, ngũ uẩn bất tịnh cho nên công trình tu tập của chúng ta là sự thanh lọc tâm cấu nhiễm. Tâm này cấu nhiễm, dơ bẩn, chúng ta phải cố gắng thanh lọc tâm này cho nên hằng ngày phải để ý những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm, nếu ô nhiễm phải tẩy rửa để đi đến chỗ trong sạch.
Đức Thế Tôn nói có năm thứ nuôi lớn lòng tham muốn của chúng sanh. Những hình sắc do con mắt nhận thức mà những hình sắc đó đáng yêu, vui thích, kích thích lòng dục hấp dẫn thì hình sắc đó nuôi lớn lòng dục. Nếu người tu nào bị trói buộc bởi hình sắc đó, bị tham đắm bởi hình sắc đó, bị mê say không thấy sự nguy hiểm và tác hại của hình sắc đó, không biết sự thoát ra khỏi hình sắc đó, lại hưởng thụ và thọ dụng những hình sắc đó thì người đó đã rơi vào bất hạnh, tai hoạ.
Nhìn cái gì đẹp cũng thấy thích, thấy hoa sen nở đẹp tròn trịa cũng thích là mình bị rơi vào bất hạnh, tai họa. Mình được cúng dường xe đẹp, khi nhận chiếc xe thì thấy khả ái, khả lạc, khả hỷ, khả ý khích thích lòng dục hấp dẫn, chiếc xe đẹp, tốt thì mình đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn.
Hiện tại người tu có rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa có nhiều không? Vào Học viện mình có một phòng khang trang, sạch sẽ, vị trí tuyệt vời rồi mình ưa thích, ái trong đó thì mình đã rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa, đây là chỗ cực kì sâu sắc của người chân tu, thực hành theo đúng lời Phật dạy mới thấy giải thoát thật sự.
Mình thấy ngôi chùa này là đáng yêu thích, đẹp, vừa lòng rồi mình luyến ái, ham thích là mình đã rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa, mình như con nai bị sập bẫy, bị thợ săn sử dụng như ý muốn. Khi ngồi một mình trong phòng mà mình thấy thích bàn tay này, soi gương thấy thích gương mặt, con mắt, cái miệng, mình thấy đẹp, thích cái thân này, dính mắc vào nó cho đây là tôi và của tôi là mình đã rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa, mình bị sập bẫy trong thân xác da thịt, gân xương, máu mủ này rồi.
Này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc, bị tham đắm, bị mê say bởi năm dục trưởng dưỡng này, không thấy sự nguy hại của chúng, không biết rõ sự xuất ly khỏi chúng, mà thọ dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là: "Các Người đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Thật là bất hạnh cho chúng ta! Thật là tai họa cho chúng ta khi yêu thích thân xác máu mủ, gan ruột, phèo phổi này. Chúng ta bị sập cái bẫy thọ sanh, bị sập bẫy tái sanh, bị sập bẫy của tử sanh. Chính vì ưa thích, khoan khoái, chấp thủ vào thân xác này nên chúng ta phải tiếp tục luân hồi sanh tử, sống chết dài dài, quay cuồng mãi mãi trong những thân xác lông lá, có sừng, những thân xác sâu bọ, rắn rết, giòi, heo gà, chó ngựa, những thân xác cùi hủi, điên khùng, câm ngọng. Chụp vào thân nào cũng nói là tôi, là của tôi rồi hống hách, kiêu căng, ngã mạn. Thật là bất hạnh cho chúng ta!
IV. Quán chiếu giải thoát
Chúng ta đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, chúng ta đã sập bẫy của năm dục trưởng dưỡng này trong vô lượng vô biên kiếp không thoát ra được, lúc nào cũng cho con mắt, lỗ mũi, cái miệng, gương mặt, hình hài này là tôi, là của tôi rồi suy nghĩ, lo lắng, buồn rầu, sợ hãi, khổ đau, suốt ngày suốt đêm không thoát ra khỏi cái bẫy da thịt, gân xương này, cái bẫy của sắc pháp, sắc chất này. Chúng ta không thấy được sự nguy hiểm và tác hại của những sắc uẩn khả ái này, nó là hiểm nguy, tai họa tiềm ẩn trong đó, chúng ta lại khoan khoái, ưa thích, mong muốn chiếm hữu, sở hữu mà không biết rằng sự nguy hiểm và tai họa đang tiềm ẩn trong đó.
-- Này Tỳ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỳ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm (Tạp 2, Đại 2,14b) (S.iii,100) (Trung Bộ Kinh, trang 109, 110 Tham chiếu))
Cần phải quán những sắc này là phiền não, khổ đau, hủy hoại, tan nát. Nếu không quán chiếu, tác ý, suy xét, không nhắc nhở thường xuyên như vậy thì chúng ta đã rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa. Mình thích hoa sen đó mà có người đã hái mất rồi mình có bực bội không, có khổ không? Mình thích chiếc xe đó mà nó bị trầy xước, bị lấy mất thì mình có sầu bi khổ ưu não không? Mình thích căn phòng đó mà cuối cùng bị chuyển đến căn phòng sau cùng gần toilet thì mình có bực không, có buồn không, có phiền não không?
Mỗi lần đi ngang căn phòng cũ mình đều thấy tiếc "Đúng ra căn phòng này là của mình", đó là sự bất hạnh, tai họa, đó là các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn, nếu người nào không thấy sự nguy hại của nó, không biết rõ sự xuất ly khỏi nó, thưởng thụ nó thì những người đó bị rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa.
Đây chỉ mới nói những thứ bên ngoài, còn giờ nói đến tấm thân này, cái mà mình vỗ ngực xưng tên tôi và của tôi mà có người nào nói nặng mình thì lúc đó mình bị sập bẫy, bị bất hạnh, rơi vào tai họa vì mình cho sắc pháp này là tôi, là của tôi. Còn ngay lúc đó có người la mắng, chỉ trích mình mà mình cho sắc pháp này không có gì là tôi, là của tôi, nó là vô thường, trống rỗng, bất tịnh, hoại diệt thì lời nói đó không tác động được mình, mình vẫn an trú trong cảm giác toàn thân an tịnh, lắng dịu thì mình như con nai sống trong rừng, đi qua đi lại trong rừng, an tâm nó đi, an tâm nó đứng, an tâm nó ngồi, an tâm nó nằm. Tại sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì nó vượt khỏi tầm tay của người thợ săn (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Nó đã thoát ra khỏi năm dục trưởng dưỡng, nó không ưa thích, khoan khoái, không nắm giữ, ràng buộc, chấp thủ trong đó nữa. Mình muốn là con nai bị sập bẫy hay làm con nai sống trong rừng ung dung, tự tại? Nếu mình muốn làm con nai đi qua đi lại trong rừng thong dong thì mình phải luôn xét sự nguy hiểm và tác hại của năm dục trưởng dưỡng sắc; thanh; hương; vị; xúc. Hãy thường nhớ những tiếng nào, những mùi hương nào, những sắc nào, những sự tiếp xúc, cảm xúc nào đáng yêu, đáng mừng, khích thích lòng dục hấp dẫn thì hãy nhìn thấy sự nguy hiểm và tác hại của nó, coi chừng sập bẫy, phải thận trọng cảnh giác, hộ trì căn, trở về an trú cảm giác toàn thân, quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại để thoát ra khỏi nó, không khéo mình sẽ sập bẫy, bị rơi vào tai họa và bất hạnh, sẽ bị ác ma sử dụng như ý muốn.
Ví dụ bệnh gan mà thích ăn tương, ăn chao, ăn những món nguy hiểm thì rõ ràng những món đó đối với mình là khả hỷ, khả lạc, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, mình không biết sự nguy hiểm và tác hại của bệnh và thức ăn nên cứ ăn thôi, đến khi phát ra ung thư gan thì có phải rơi vào bất hạnh, tai họa không? Cho nên khi thấy, khi nghe, khi tiếp xúc, ngửi, nếm mà nó đáng yêu, đáng thích, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn thì cần đặc biệt cẩn thận, phòng hộ, giữ gìn và phải quán xét sâu sắc sự nguy hiểm và tác hại của nó, đừng để bị trói buộc, say đắm mà cần thoát ra khỏi chúng nó. Chúng ta đang bị dính một cái bẫy rất lớn là thân này và những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong. Sau khi Đức Phật giảng đầy đủ sự nguy hiểm và tác hại của dục thì Đức Phật dạy đến ly dục, tứ thiền bát định. Khi ly dục thì phải có gì để hướng đến chứ không có thì mình không có chỗ bám cho nên Đức Phật dạy:
Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được gọi là: một vị đã làm Ác Ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Khi mình luôn để ý để xa lìa các dục trưởng dưỡng, lìa những điều ác bất thiện thì mình sẽ ngồi bên vườn trúc, ngồi trên nền Thánh Pháp viện tác ý "Ta đã từ bỏ phố thị ồn ào đang tràn ngập dịch bệnh hiểm nguy. Ta đã từ bỏ sự hệ lụy, ràng buộc của gia đình, của những tham ái nhỏ nhặt, phiền bực, phiền não để ngồi một mình giữa trời bao la, thênh thang, mây bay chim hót, giữa không khí trong lành an tịnh của non thiêng này. Ta cảm nhận sự bình an, dào dạt sự hỷ lạc khi nhìn thấy những nguy hiểm và tác hại mà ngày xưa ta không thấy nhưng nay đã thấy. Một sự bình yên thanh tịnh, lắng dịu khi ngồi giữa đất trời Linh Quy Pháp Ấn, từng hơi thở, từng cảm giác toàn thân, từng sự trải tâm ra khắp đại ngàn và lòng từ trải rộng mười phương, lan tỏa tình thương dào dạt của sự hoan hỉ, bốn tâm vô lượng của từ bi hỷ xả".
Chúng ta cảm nhận một niềm hạnh phúc sâu lắng và toàn diện trong cảm giác toàn thân, đó là sự bình an, an lạc, tịnh lạc, chính sự hỷ lạc của thiền sẽ nuôi dưỡng mình dần dần. Ở đây con không nói đến tứ thiền bát định mà con chỉ nói sơ lược về hỷ lạc ly dục, các vị Tỳ-kheo chứng các tầng thiền và bốn tầng định nữa, sau cùng là đoạn trừ hết các lậu hoặc.
Vị ấy đã vượt khỏi mọi triền phược ở đời. An tâm vị ấy đi, an tâm vị ấy đứng, an tâm vị ấy ngồi, an tâm vị ấy nằm. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì vị ấy vượt khỏi tầm tay của Ác ma.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
V. Lời kết
Hôm nay chúng ta đã học xong bài kinh Thánh cầu – sự tìm cầu của bậc Thánh. Thái Tử Tất-đạt-đa khi ý thức được đời sống vô thường, khổ đau, vô ngã nên ngài đã đi tìm cảnh giới của bất tử. Cuối cùng bằng tất cả sự nỗ lực chân thành, nhiệt huyết, bằng tất cả trái tim tấm lòng và ý chí mãnh liệt, vĩ đại ngài đã thành tựu cái ngài muốn thành tựu, chứng đắc cái ngài cần chứng đắc, chứng đạt cái ngài cần chứng đạt, chứng nhập pháp bất tử.
Và bài kinh này chính là lời trình bày, tâm sự, tường thuật lại để chúng ta thấy công cuộc tầm cầu giác ngộ của ngài và con mong các bậc xuất gia hãy ý thức sâu sắc. Ngày xưa bậc đại Đạo sư của chúng ta tu như thế nào, thực hành như thế nào, chứng ngộ những gì chúng ta cần hiểu rõ, nắm rõ và chúng ta cần định hướng được con đường trong sự xuất gia cũng như tu học để chúng ta không lạc lối, không đi vào những ngã rẽ và những lối tẻ rồi cả đời tu không thành tựu. Chúng ta phải nắm hiểu thật vững chắc những gì Đức Phật đã tu tập, đã thực hành, đã chứng ngộ và chúng ta phải đi đúng con đường đó, phải xác định đúng mục tiêu, lý tưởng, phương hướng để chúng ta đi trên con đường Đức Phật đã đi. Xuất gia để tầm cầu sự tầm cầu của bậc Thánh chứ không phải để tầm cầu những thứ bình thường, thấp hèn, hạ liệt.
Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. (Tương Ưng Bộ kinh, tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực)
Mong rằng tất cả người xuất gia chúng ta và những vị tập sự xuất gia cần ý thức sâu sắc, nhắc nhở tự thân tự tâm ý thức con đường cao thượng, tối thắng, an tịnh đạo lộ để không đi lạc hướng.
./.