Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thứ Tự Tu Tập 7 - Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ

2026-03-03 00:53:00
Kinh Nikāya Giảng Giải

Thứ Tự Tu Tập 7

Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Năm triền cái PAGEREF _Toc150520542 \h 1

II. Cây gai PAGEREF _Toc150520543 \h 5

III. Không phóng dật PAGEREF _Toc150520544 \h 8

I. Năm triền cái

Kính thưa quý thầy cô, hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về bài kinh Ganaka Moggallana, gọi là thứ tự tu tập cho dễ hiểu.

"Này Bà-la-môn, sau khi chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: 'Hãy đến Tỳ-kheo, hãy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm'.

Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên; từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc; từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp" (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Đoạn kinh này được trích ra làm bài phục nguyện mỗi ngày tại Linh Quy Pháp Ấn. Đây là phần đoạn trừ năm triền cái, chủ đề năm triền cái Minh Thành đã có chia sẻ mấy chục buổi bên Cao đẳng Phật học, cái này cực kì quan trọng, quý thầy, quý cô nên lên trang linhquyphapan.vn để nghe. Chủ đề này tập hợp hết tất cả những lời dạy trong tạng kinh Nikāya của Đức Phật nói về năm triền cái, nếu chúng ta không nhớ, không biết tên tuổi, mặt mũi, không biết hình dáng, tính chất, không biết nguy hiểm tác hại của năm triền cái thì không bao giờ chúng ta nhiếp phục, đoạn tận được năm triền cái. Nếu đã không đoạn trừ, nhiếp phục, chấm dứt được năm triền cái thì chúng ta không bao giờ đi vào thiền thứ nhất được, tâm của mình sẽ bị che đậy, bị sai khiến, năm pháp này làm cho tâm mình yếu ớt, mờ tối, làm cho tâm mình mê muội, ngu si, làm mù mắt, trí tuệ.

Khi tâm bị dục tham chi phối thì người này không biết cái lợi cái hại của mình và người, Đức Phật ví dụ như một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm, nước đó không được trong, không được sạch.

"Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm gôm lặc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh hay màu vàng và ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía bóng mặt của mình, không có thể như thật biết được, thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!" (Tăng Chi Bộ, Chương V- Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (III). Bà-La-Môn Sangarava)

Khi tâm nóng giận giống như bát nước đun sôi, muốn ngắm gương mặt mình trong đó là không thể được

"Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước được lửa đun sôi, sôi lên sùng sục, sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía bóng mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị sân xâm chiếm...cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!" (Tăng Chi Bộ, Chương V- Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (III). Bà-La-Môn Sangarava)

Tâm hôn trầm thụy miên giống như một bát nước bị rong rêu phủ trên mặt, vừa dơ vừa che lấp mọi thứ bên dưới. Khi hôn trầm thụy miên xâm chiếm tâm làm cho dã dượi, buồn ngủ, biếng nhác thì giống như một bát nước bị rong và rêu che phủ.

"Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!" (Tăng Chi Bộ, Chương V- Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (III). Bà-La-Môn Sangarava)

Trạo hối nghĩa là hối hận, hối tiếc, trạo cử, ray rứt. Khi mình có lỗi lầm, có điều sai quấy, sai phạm thì nhìn lại tâm mình sẽ có sự hối hận, hối tiếc. Nếu mình phạm giới thì khi ngồi yên lại sẽ làm tâm mình ray rứt, bất an, Đức Phật ví dụ giống như một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Mình lỡ nói một câu có bản ngã, có sân si với huynh đệ thì tối ngồi thiền nhớ lại thì mình hối hận "tại sao mình lại nói như vậy, đó là người có ân nghĩa với mình", thậm chí là mình có những lời nói, hành động không cung kính sư phụ thì khi nhớ lại tâm mình hối tiếc, hối hận, ray rứt thì đó là trạo hối.

Nếu mình không thực tập thiền, không thực tập nhận diện ngũ uẩn thì các pháp sẽ không hiện rõ ra, học thì học chứ không biết trạo hối là gì cho nên hỏi tới là không biết gì cả, không thực hành nên không biết. Nếu một lỗi nhỏ đã như vậy thì khi phạm vào những giới lớn làm sao có thể ngồi thiền? Làm sao tâm yên định, an tịnh được? Đó cũng là lý do càng ngày càng khó tu thiền, khi ngồi lại họ không thể đối diện với tự tâm của chính họ, những sự thúc giục, động loạn, hối tiếc, hối hận, ray rứt khi mình có lỗi, khi mình có tội, khi mình phạm giới, tâm bị bất an.

Khi ngồi lại mình chỉ nhớ tới câu nói, câu chuyện mình đã nói, đã làm với huynh đệ, sư phụ. Những hình ảnh dục, ái, tham, sân si, bản ngã đó cứ hiện về

"Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!" (Tăng Chi Bộ, Chương V- Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (III). Bà-La-Môn Sangarava)

Tâm nghi ngờ, nghi hoặc xâm chiếm thì Đức Phật ví dụ giống như bát nước vừa bị khuấy đục vừa để trong bóng tối.

"Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị khuấy động, khuấy đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!" (Tăng Chi Bộ, Chương V- Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (III). Bà-La-Môn Sangarava)

Năm triền cái làm cho chúng ta si mê, ám muội, năm triền cái này làm cho chúng ta vô trí tức là ngu.

"-- Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Thế nào là năm? Dục tham triền cái, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Sân triền cái... Hôn trầm thụy miên triền cái... Trạo hối triền cái... Nghi hoặc triền cái, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn." (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), IV. Phẩm Triền Cái, X. Triền Cái)

Sự trói cột, che đậy của dục tham làm cho tâm chúng ta mờ tối, làm cho mình thành mù lòa, thành vô trí, làm cho mình mất hết trí tuệ. Ngoài đời có câu "tham thì thâm", "giận quá mất khôn", Minh Thành thường ví dụ cái tham giống như bị lún xuống đầm lầy, càng tham thì càng lún sâu xuống đầm lầy. Giận quá thành ngu luôn, Đức Phật dùng từ không có trí tuệ, vô trí. Ví dụ ở trong một tập thể mà hai người dính mắc với nhau, một là thương và hai là ghét, suốt ngày chỉ nghĩ về người đó thì làm sao tâm thanh tịnh được, làm sao an ổn được. Khi tâm bị tham dục, hôn trầm thụy miên, sân hận, trạo hối và nghi hoặc thì tâm sẽ không được trong sáng.

Ngài Ananda khi nghe pháp của Đức Phật là không có năm triền cái, tâm ngài diệt hẳn năm triền cái cho nên ngài nhớ hết lời Phật dạy. Một người ngáo ngơ, nói gì quên đó, làm gì cũng không minh mẫn là triền cái rất nặng, còn một người tinh minh, tinh anh, sáng suốt là năm triền cái nhẹ hoặc lúc đó không có cho nên năm triền cái trong sự tu học là cực kì quan trọng mà mình không biết. Chữ mình không biết, nghĩ thì không hiểu, không biết tên tuổi, mặt mũi, tánh tình, tính chất, sự nguy hiểm tác hại thì mình tu cái gì? Mình sống chung với nó và nhận nó làm bạn tri âm tri kỷ.

Tương thức mãn thiên hạ,

Tri tâm năng kỷ nhân?

(Trí Bảo thiền sư)

Dịch Nghĩa: Quen biết khắp gầm trời,

Tri âm nào mấy ai.

Tri âm tri kỷ là người hiểu được hết tâm tư của mình, nếu mình nhận năm triền cái làm tri âm tri kỷ của mình thì làm sao tu? Mình kết thân, thâm giao với tham, sân, si, mình thương cơn giận của mình lắm, mình thích tâm tham ái của mình lắm. Nếu giận lên mà có ai can ngăn thì "không được, cái này đáng phải giận", cho nên không nhận diện được năm triền cái thì làm sao mình tu? Đức Phật nói âm thanh là gai nhọn của thiền định.

II. Cây gai

"Này các Tỳ-kheo, 'Tiếng ồn là gai cho thiền', đã được Ta nói như vậy. Này các Tỳ-kheo, có mười loại cây gai này. Thế nào là mười?

Với người ưa thích viễn ly, ưa thích hội chúng là cây gai. Với người chuyên chú tu tập tướng bất tịnh, tu tập tịnh tướng là cây gai. Với người phòng hộ các căn, đi xem văn nghệ trình diễn là cây gai. Với người sống Phạm hạnh, thân cận với phụ nữ là cây gai. Với người chứng Thiền thứ nhất, tiếng ồn là cây gai. Với người chứng Thiền thứ hai, tầm tứ là cây gai. Với người chứng Thiền thứ ba, hỷ là cây gai. Với người chứng Thiền thứ tư, hơi thở là cây gai. Với người đã đạt được Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ là cây gai. Tham là cây gai. Sân là cây gai. Si là cây gai" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Ước Nguyện, (II). Cây Gai)

Với người muốn tu thiền phải tránh xa khỏi nơi ồn ào, náo nhiệt cho nên năm triền cái này chúng ta phải biết tên tuổi, mặt mũi, tánh tình, sự nguy hại của nó thì mình mới biết được những phương pháp chế ngự, đoạn tận, nhiếp phục được nó.

"Vui thay, chúng ta sống,

Không rộn giữa rộn ràng;

Giữa những người rộn ràng,

Ta sống, không rộn ràng"

(Kinh Pháp Cú 15 – Phẩm An Lạc, kệ 199)

Tại sao nghe tiếng chuông lại dễ chịu mà nghe tiếng máy cưa lại khó chịu? Nó cũng chỉ là tiếng thôi nhưng tại sao lại khó chịu? Vì trong suy nghĩ của mình cho rằng tiếng máy cưa là chướng ngại tướng, là âm thanh làm chướng ngại cho mình, nếu mình nghĩ tiếng đó để luyện tâm, để kiểm tra mình có dao động trước âm thanh hay không, cái tiếng đó là một bài tập về sự nhận diện ngũ uẩn, cái tiếng đó là một bài thi để kiểm tra tâm khi đối duyên xúc cảnh thì nó động nhiều hay là không động. Nếu mình nghĩ như vậy thì tâm mình sẽ khác, mình kêu tâm an tịnh lắng dịu vì tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, gần đây có thêm cụm từ "ô nhiễm tiếng ồn", đó cũng là lý do con chọn lập làng tu Nikāya ở trong rừng.

Đức Phật dạy phải viễn ly khỏi những chỗ ồn ào, đông đúc, náo nhiệt thì chúng ta mới có một không gian trong lành, thanh tịnh, yên tĩnh, tĩnh tâm cho nên vấn đề ở đây là không biết nhận diện cảm giác, không biết nhiếp phục cảm giác, không biết chế ngự cảm giác, không biết tu tập cảm giác, công phu tu của chúng ta là ở chỗ đó. Không phải đợi đến khi lên ngồi thiền rồi mới tu, không phải đợi đến khi mở cuốn kinh ra mới tu, cái cần tu thật sự là ngay chỗ này, đó là sự thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời của Phật pháp.

"Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương IX. Tương Ưng Dự Lưu (a). I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)

Thiết thực hiện tại là ngay tại chỗ có tiếng ồn mình tu được sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, bình yên. Nếu con cũng bực mình, khó chịu, sân si thì làm sao con có thể nói các thầy các cô nhận diện ngũ uẩn, làm bài tập, bây giờ đang bị ô nhiễm tiếng ồn, nếu mình không tu cái này thì mai sau mình sẽ khổ với nó, mình muốn yên mà không được yên cho nên phải nhiếp phục, chế ngự cảm thọ trong con người của mình.

Hễ gặp tiếng ồn, gặp cảnh khó chịu, chướng tai gai mắt tức là chướng ngại tướng, làm sao có thể đi đến đâu cũng được trải thảm đỏ chào đón cho nên mình chỉ cần trang bị đôi dép, đôi giày cho tốt thì đi đến đâu cũng không sợ bị đạp gai, chỉ cần có đôi giày thật tốt thì đi khắp năm châu bốn biển cũng không bị đạp gai, đạp miểng chai. Làm sao mình có thể bắt thiên hạ trải thảm đỏ cho mình khắp địa cầu để mình đi? Mình chỉ cần có đôi giày, đôi dép tốt mà thôi, cũng vậy mình không thể bắt tất cả ngoại cảnh theo ý mình nhưng mình có quyền bắt tâm mình phải có cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào trong tất cả mọi hoàn cảnh.

Mình phải nhiếp phục cảm thọ chứ không thể bắt hoàn cảnh theo ý mình được, mình phải tập một tâm chấp nhận đối với ngoại cảnh, tập tâm kham nhẫn, chịu khó đối với ngoại cảnh thì mình sẽ có được bình an. Nhưng mình phải hiểu được duyên sanh pháp, phải hiểu được tính chất của vấn đề thì mình nhẫn theo cách khác, ngược lại mình không hiểu mà nhẫn theo tính cách kiềm chế thì cái nhẫn đó sẽ không đi đến chỗ rốt ráo.

III. Không phóng dật

Đức Phật dạy tính chất kham nhẫn là rất quan trọng, ví dụ chiều đi học về bị kẹt xe ồn ào, trời mưa nước ngập, khó chịu, ướt người, lạnh lẽo, bị tắt máy xe không chạy được thì mình bực bội lên, mình càng tức lên, sân lên thì lại càng mệt mỏi, nếu lúc đó mình kêu cảm thọ "thôi an tịnh, lắng dịu đi, bây giờ có bực lên thì cũng phải chịu như vậy thôi chứ không phải bực lên mà hết kẹt xe, chạy được nhanh về nhà thì bực cũng được. Thôi ngươi đừng bực nữa, lắng dịu đi, ngươi ngọt ngào đi", tâm nghe lời thì ngay đó mình đỡ khổ, đỡ bực hơn như vậy là chúng ta tập chấp nhận, tập kham nhẫn đối với những thứ đến với mình.

Đi học về bị mắc mưa ướt hết người lạnh run vậy mà vào bếp chỉ còn vài miếng cơm cháy, phước bất trùng lai nhưng họa vô đơn chí nghĩa là phước không đến hai lần nhưng họa lại không đến chỉ một thứ mà nó dồn dập, mở mâm đồ ăn ra chỉ còn chút rau với nước tương thì mình tu ra sao? Lúc đó mình tác ý "ngươi sân cái gì? Ngươi bực cái gì? Ngươi ăn mấy chục năm rồi vẫn còn thèm khát lắm hay sao? Vẫn còn đói khát lắm hay sao?", mình phải la rầy tâm sân hận, khó chịu đó, phải nhiếp phục, chế ngự nó, "nhìn thái tử Tất-đạt-đa rồi có nhục không? Nhìn lên tượng Phật rồi có thấy nhục không? Ngài là thái tử cho đến khi thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác vẫn ôm bình bát đi khất thực, rất nhiều lần ngài ôm bình bát không về uống nước lã, mình bây giờ còn cơm còn rau đã hơn Thế Tôn ngày xưa rất nhiều nên mình sân si với ai, khó chịu với ai. Tu như vầy cảm thấy nhục nhã quá, nhà ngươi vào chùa để kiếm ăn hay sao? Thiếu ăn là sân si lên hả? Ngươi có thấy nhục với cha mẹ không? Có thấy nhục với thầy tổ, với tam bảo không? Có thấy nhục với thái tử Tất-đạt-đa không?". Mình tác ý như vậy thì tự nhiên cảm thọ bực bội sẽ lắng xuống "thấy xấu hổ, nhục nhã quá", tàm quý sanh ra, từ nhục nhã mới sanh Thánh quả.

Có rất nhiều pháp để mình quán chiếu, đây là bài tập kiểm tra mình còn tham ăn không, đối với món ăn tại sao lại quan trọng như vậy, đây là bài thi để xem mình làm chủ được cảm thọ hay chưa, những đứa trẻ đói khát không có cơm ăn, Việt Nam chúng ta cũng chết rất nhiều người trong nạn đói ngày xưa, trong khi bây giờ mình có cơm có rau mà còn sân si nữa, mình phải quán chiếu và tác ý như vậy, đó chính là thuật trị tâm.

Nhìn những hình ảnh ở Châu Phi là không thể cầm nước mắt, những đứa trẻ chỉ còn da bọc xương, đứng lên không nổi, nghèo khổ không có đồ ăn, có những chỗ người ta đi gom thức ăn thừa đem về làng để chia nhau ăn, những người lớn mới được ăn những miếng còn thịt nhiều, còn những đứa nhỏ nhặt những miếng xương, vậy mà vui mừng trong những miếng ăn thừa người ta đã quăng bỏ nay được nhặt lại, thậm chí vào những đống rác moi móc thức ăn thừa thãi trong đó để ăn.

Chúng ta phải có một cái nhìn thâm sâu và rộng lớn thì mới quán chiếu được, còn mình ngày nào cũng ăn uống đầy đủ, thiếu một chút là lồng lộn lên, phẫn nộ lên, đó là sự ngu si, không có tâm từ bi, hơn thua với nhau những thứ rất vô minh, ai cũng được chia đồ mà mình không có là bực bội lên, thật là hèn hạ, tồi bại, xấu hổ và nhục nhã. Như thế thì tu cái gì? Có một chút như vậy mà tu còn không được thì tu cái gì? Ăn đồ ăn mà nhạt hoặc mặn một chút cũng bực bội lên.

Khi chúng ta đến những nước Phật giáo nguyên thủy sẽ thấy rất khủng khiếp, đi khất thực sẽ được mọi người có khi cho chè, cháo, đồ kho, canh trộn vào bình bát để ăn, đó là để phá chấp vị giác, không lẽ bây giờ người ta cho đồ mà mình bảo "đây là cơm canh bỏ chè vào không được", như vậy là không được cho nên mình tu là phải thực hành, thực tế chứ không phải tu trên lý thuyết rồi gặp trở ngại một chút là mình bực bội, khó chịu, phẫn nộ thì sự tu đó rất yếu kém.

Mình cứ làm theo dục, theo ái, theo tham của mình, cái gì vừa lòng thì mình thích, cái nào không vừa lòng là sân si lên, tu như vậy là nhận tham sân làm bạn, nhận dục ái làm tri âm tri kỷ, nhận bản ngã làm thầy, nhận cái tôi cái ta làm sư phụ của mình. Tu để phát huy cái tôi cho lớn lên, cho cao ra, như vậy thì đáng thương thay cho một đời xuất gia, cho nên những triền cái này rất quan trọng, không vừa ý mình tức là cái dục, tham, ái không đáp ứng được cho mình thì mình sân, mà sân thì giống như bát nước sôi ùng ục vì vậy nhìn lại Thế Tôn và các chư vị Tỳ-kheo Thánh Tăng thời Đức Phật là thấy nhục nhã.

Mình đừng nghĩ rằng mình tu ngon, tu giỏi, đừng tưởng rằng mình như vậy là hay, mình hay trong cái vô minh, trong bản ngã của mình, mình hay trong cái dục ái của mình chứ không hay với các bậc Thánh, không hay đúng với chánh pháp, bây giờ tu chỉ đi tìm những cái vừa ý cho nên rất xót xa, đau lòng. Mình là Tăng sinh mà được thầy hay sư phụ la rầy, quở trách thì mình ra sao? Mình sẽ bực bội, bản ngã, sân si liền, nếu như vậy thì tu cái gì? Không thể nào thể nhập được Thánh trí vô ngã cho nên sự tu của chúng ta đòi hỏi sự nỗ lực quyết liệt chứ không phải như mình hiểu đơn giản. Khi Đức Phật còn tại thế, có rất nhiều đêm Đức Phật, ngài Mục-kiền-liên, ngài Xá-lợi-phất, ngài Ca-diếp và các bậc Thánh khác giảng pháp sáng đêm không ngủ.

"Rồi Thế Tôn, phần lớn của đêm, với pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ các người Sakka ở Kapilavatthu. Rồi Thế Tôn giải tán họ với câu:

-- Này các Sakka, đêm đã quá khuya, nay các Ông hãy làm những gì các Ông nghĩ là hợp thời.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các người Sakka ở Kapilavatthu vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggalàna:

-- Này Moggalàna, chúng Tỳ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggalàna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỳ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Ðộc, VI. Dục Lậu)

Có bao giờ mình ngồi thiền sáng đêm không? Có bao giờ tụng kinh sáng đêm không? Mình có thể xem phim hoặc xem đá banh tới sáng nhưng không thể hoặc không bao giờ ngồi thiền hoặc nghe pháp đến sáng, chứng tỏ những cái ác và bất thiện pháp rất sung mãn, còn thiện pháp thì cạn cợt, yếu ớt. Các vị cao Tăng ngày xưa đã nói "đạo niệm nhược đồng tình niệm, thành Phật đa thời" nghĩa là nếu đạo bằng với tình thì thành Phật từ lâu, giác ngộ từ lâu vì thế tâm hướng đạo nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, quyết liệt tu hành của mình phải mạnh mẽ, phải là một trái tim nóng bỏng. Mình có nóng bỏng trong sự tu học không? Có nóng bỏng trong sự hành pháp không?

Tất cả ở đây chỉ là ngũ uẩn, là những đống tham, sân, si, vô minh, dục ái, sầu, bi, ưu, não trong sanh, già, bệnh, chết chứ không có người nào ở đây cả, đó là Thánh trí huệ của Nikāya. Nếu mình thấy có một người thì mình sẽ thấy có cao thấp, hơn thua, nếu mình thấy có một người sẽ có đẹp xấu, mập ốm, trắng đen, giàu nghèo. Những cái này cần nghiêm túc tu tập mới có thể học được, với một cái tâm lơ là, xem thường thì không thể nào thể nhập được Thánh trí tuệ của Đức Phật. Cái tâm chung của tất cả chúng ta là cái tâm thích đi du lịch, cái tâm lang thang, không có tập trung, chỉ có tiếng động ngoài kia một chút thôi là chúng ta khó chịu rồi, thì khi nghe tiếng mắng chửi làm sao chúng ta chịu nổi? Trong kinh Đức Phật nói nếu một kẻ cướp dùng cưa để cưa từng thân phần của các Tỳ-kheo, nếu các Tỳ-kheo đó sanh khởi lên tâm sân hận thì không thực hành trọn vẹn giáo pháp của Như Lai.

"Chư Tỳ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta. Ở đây, chư Tỳ-kheo các Ông phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy" (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)

Mình tu tới chừng nào mới được như vậy? Một tiếng ồn mình đã chịu không nổi thì khi người ta kêu ngay tên mình chửi mắng thì lúc đó tâm mình làm sao bình an, làm sao an tịnh được? Chúng ta xuống địa ngục thì làm sao chịu nổi? Hằng ngày phải lấy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ra làm chủ đề quán chiếu, tu tập, một người chân tu thật học sẽ rất lo sợ, ngồi với nhau như vầy nhưng chiều nay hoặc hôm sau có thể có người sẽ xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, có thể bước qua một kiếp khác, có thể làm cô hồn cũng có thể sanh chư thiên nhưng người với chư thiên là rất hiếm hoi.

Thế Tôn lấy một chút đất dính trong móng tay rồi ngài hỏi các Tỳ-kheo đất trong móng tay ngài nhiều hay đất trên địa cầu là nhiều, các Tỳ-kheo trả lời đất trong móng tay rất ít so với đất trên quả địa cầu, Thế Tôn nói loài người chết mà sanh xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều như đất đại địa, còn được trở lại làm người ít như đất dính trong móng tay.

"... Trú ở Sàvatthi.

Rồi Thế Tôn lấy một ít đất trên đầu móng tay và nói với các Tỳ-kheo:

-- Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì nhiều hơn, chút đất này Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?

-- Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là quả đất lớn này và ít hơn là chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay. Không thể đi đến ước tính, không thể đi đến so sánh, không thể đi đến một vi phần, khi so sánh quả đất lớn với chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.

-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, rất ít là chúng sanh được tái sanh làm người! Còn rất nhiều là những chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài Người!

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ sống không phóng dật".

Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập" (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, II. Đầu Ngón Tay)

Mình đừng bao giờ nghĩ rằng mình làm thầy tu, làm ni cô thì chết đi đời sau cũng làm thầy tu, làm ni cô, cái nghĩ đó là tà kiến, vô minh, thậm chí người xuất gia còn dễ xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hơn cả người đời. Người ăn xin xấu hổ, nhục nhã, phải chìa tay ra ăn xin, còn mình ăn xin mà mình ngồi cho người ta quỳ lạy, chẳng những cho tiền mà còn phải quỳ lạy mình.

Cái ăn trộm ở ngoài sẽ bị ở tù, mình không những lấy tiền của người ta mà còn cái quỳ, cái lạy, cái cung kính mà trong sách vở gọi là "vô đao đại tặc", giặc lớn không có dao, ăn cướp không dùng dao mác, dùng để ví với hạng Tỳ-kheo không có đạo đức, cướp đoạt đạo đức của người khác hay chỉ làm ra vẻ đạo đức giả, đó là tu giả dối lừa gạt người ta.

Khi quán cái này sẽ thấy rất rùng rợn, mình rung người, sợ hãi, con truyền bí kíp cho quý thầy quý cô vì những điều này bây giờ không ai nói cả, chỉ có trong Nikāya mới nói thôi, trong những bài kinh về địa ngục Đức Phật nói những điều đó chỉ có ngài thấy, chỉ có ngài chứng, chỉ có một mình ngài biết mà thôi.

"Này các Tỳ-kheo, điều Ta đang nói không phải Ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; nhưng điều Ta đang nói chỉ được Ta biết mà thôi, chỉ được Ta thấy mà thôi, chỉ được Ta hiểu mà thôi" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)

Chính vì vậy chúng ta cần quán chiếu hằng ngày về chủ đề địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh để mình có sự lo lắng, sợ hãi. Tiền nước, tiền điện, tiền ăn, tiền xăng, tiền mặc, tiền bệnh, tiền thuốc, tiền học… Biết bao nhiêu thứ đó cộng lại nếu ngoài đời mình đi học 10-20 năm thì bao nhiêu tiền? Ở đây mình không có đồng bạc nào mà người ta còn quỳ lạy mình thì như thế nào?

Thật là kinh khủng! Phải biết lo sợ, kinh sợ, khiếp sợ, lấy đề tài đó thiền quán mỗi ngày để xem giới đức mình có thanh tịnh không, các tầng thiền định mình đã chứng được tầng nào, Thánh trí huệ mình đã thành tựu chưa. Nếu không thành tựu ba cái này thì vô cùng khủng khiếp, mình sẽ không tránh khỏi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đây là chủ đề lớn để chúng ta chiêm nghiệm nhưng hiện nay trong các trường Phật học lại rất ít khai triển vấn đề này, mình cứ tìm những cảm giác vui cười, vỗ tay, đó chỉ là đi tìm cảm giác chứ không phải đi tìm Thánh trí huệ sự thật để diệt khổ đau. Các thầy các cô nhớ kĩ những lời này bằng cả trái tim, tấm lòng của con chia sẻ cho các thầy các cô chiêm nghiệm.

./.