Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Trình Pháp Nikāya - Kiếp Hoại - Làm Sao Có Đại Tam Tai Xảy Ra - Làm Sao Hóa Giải 3

2026-03-03 00:52:13
Trình Pháp Nikāya

Kiếp Hoại – Làm Sao Có Đại Tam Tai?

Làm Sao Hóa Giải 3?

Thích Minh Thành

Ngày 28 tháng 09 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trình pháp PAGEREF _Toc117778289 \h 1

II. Bốn con rắn độc PAGEREF _Toc117778290 \h 18



I. Trình pháp

Kính thưa các bậc hiền trí, Tăng Ni và quý Phật tử. 

Chúng ta tiếp tục trình pháp về sự quán chiếu, nghiền ngẫm các sợ hãi và tam tai. Hôm qua đến nay con được nhận những bài trình pháp rất là sâu sắc của các Phật tử từ xa, cũng như ở trong đại chúng. Hiện tại ai muốn trình pháp trực tiếp thì chúng ta trình, còn không chúng ta đọc bài mà chúng ta đã viết. 

Sư cô Tuệ Quý 

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Dạ mô Phật, do nhân duyên thiên tai, bão lũ đang diễn ra ở một số nước trên thế giới, và Việt Nam của chúng ta cũng đang chịu ảnh hưởng của cơn bão này. Ngày hôm qua, chúng con được sư phụ trùng tuyên và giảng dạy những lời dạy của Đức Phật, về tai họa của thiên tai, cũng như sự biến hoại của quả đất này trong hai bài kinh, “Các Sợ Hãi”, Tăng Chi Bộ kinh tập 1 và bài kinh “Bảy Mặt Trời”, Tăng Chi Bộ kinh tập 3. Qua hai bài kinh này, con có cảm nhận được sự tai họa của thiên tai mang đến cho loài người thật là thảm khốc, không chỉ thiệt hại về người và của. Sự thật này đã được Đức Thế Tôn của chúng ta đã nhìn thấy rõ cách đây hơn 2.600 năm, và sự thật này hiện nay đã được hiện hữu.

Những thiệt hại do thiên tai gây ra, hoặc là do con người gây ra, tất cả đều từ ác tham của con người, do sự tham, sân, si mà gây ra những tai họa đó. Hai bài kinh sư phụ đã giảng dạy cho chúng ta ngày hôm qua, con đã cảm nhận được sự vô thường của đời sống này. Nhắc nhở con không được quên, phải luôn luôn an trú vào tưởng vô thường, sự bất an, sự nguy hiểm của đời sống này. Không nên có cái tâm cho rằng nó như vậy hoài mãi, không biến đổi. Con nhớ trong một bài kinh “Không Có Hạn Chế” số 1, sư phụ đã từng dạy: “Người mà luôn an trú vào tưởng vô thường, sẽ có được 6 lợi ích. 

- Lợi ích thứ nhất là các hành hiện ra với ta, với tôi không có an trú. 

- Thứ hai, ý của tôi không ưa thích tất cả thế giới. 

- Thứ ba, ý của tôi muốn xuất ly tất cả thế giới. 

- Thứ tư, ý của tôi hướng về Niết-bàn. 

- Thứ năm, các kiết sử của tôi sẽ được đoạn diệt. 

- Thứ sáu, tôi sẽ thành tựu tối thượng mục đích của Sa-môn hạnh.” 

Nếu như mỗi người chúng ta thường xuyên an trú vào tưởng vô thường, sự biến hoại, sự nguy hiểm của đời sống này, sẽ có được 6 lợi ích đó. Con thật sự rất là tâm đắc hai bài kinh, mà sư phụ đã giảng dạy cho chúng con ngày hôm qua. Bài kinh đó một lần nữa khắc sâu trong con về vô thường, khổ, vô ngã, là ba dấu ấn của đạo Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Sư cô Nguyên Tú

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin phép sư phụ con được đọc bài trình pháp của con. Kính thưa sư phụ, bây giờ con có những cảm xúc tới hiện tại còn rất là xúc động. Con cũng muốn lên trình pháp, nhưng mà nhiều lúc cảm thọ trong người con rất là nhiều, con sợ khi con lên trình pháp con sẽ nói không rõ cái ý chính, sẽ làm mất thời gian của đại chúng. Cho nên khi hôm qua con nghe chú Việt nói về vấn đề trình pháp, cũng như sư phụ có nhắc nhở, làm cho con cũng thấy xấu hổ. Bây giờ con xin đọc bài trình pháp của con. Kính thưa sư phụ, con xin trình pháp nói về cảm nhận trong buổi thiền sáng nay. Sáng nay khi nghe pháp sư phụ giảng, con nghe rất xúc động.

Nhưng lúc sư phụ nói về bảy mặt trời, thì có một cảm thọ trong thân con bị đau nhức kinh khủng, nên con không thể chú tâm nghe một cách rõ ràng. Con vẫn có cảm thọ, nhưng lúc đó nó không có mạng, khi về đến phòng con bắt đầu nhớ lại bài giảng, và nuôi dưỡng cảm thọ. Con bắt đầu gặm nhấm cảm thọ một cách từ từ, và lúc đó bắt đầu sự xúc động có trong con. Khi sư phụ nói về ba sự sợ hãi về lửa, về lũ lụt, mưa bão và về giặc cướp, làm cho mẹ chia rẽ con, hay làm con chia rẽ mẹ, trong Tăng Chi Bộ kinh. Con lúc đó thấy rằng, trong vô lượng kiếp sanh tử này, con cũng từng là người đi tìm mẹ mình, trong những hoạn nạn ấy. Hay con cũng đã từng là người mẹ, đi kiếm đứa con của mình, lúc đó con có sự xúc động. Vì những hỏa hoạn, những thiên tai, những giặc cướp này, mình đã từng chịu đừng vô lượng lần rồi.

Sự đau khổ khi nhà cửa bị trôi mất hoặc bị thiêu cháy, sự đau khổ khi giặt cướp đến sát hại, tất cả mình đã trải qua. Tất cả những sự thống khổ mình đã từng đi qua hết. Sư phụ nói đúng, không phải thấy trước mặt mới cảm nhận, mà mình phải cảm nhận khi mình chưa thấy, chưa từng nếm trải. Con thấy được một sự thương cho mình. Ngay lúc đó, con lấy cảm thọ thương mình, trải rộng đến nỗi thống khổ của chúng sanh thường tình. Nhưng tất cả sự đau khổ này, cội rễ của nó từ tham, sân, si, từ những cảm thọ của chính mình. Sau đó sư phụ giảng về tiểu tam tai và đại tam tai, trong kinh “Khởi Thế Nhân Bổn” của Trường Bộ kinh, cũng nói về sự tan hoại của chúng sanh, cũng như là trái đất này. Từ bài này sư phụ bắt đầu đưa qua bài kinh “Bảy Mặt Trời” trong Tăng Chi Bộ, câu con ấn tượng nhất đó là: “Này các Tỳ-kheo, các hành là vô thường, là không kiên cố, là không có an ổn. Sự vận hành của ngũ uẩn này là luôn luôn vận chuyển, không có đứng lại, không có thường hằng”.

Thân con mang đầy bệnh tật, tai chướng, nó có thể bắt thình lình khởi lên những cảm thọ khổ sở vì ung hạch. Thật sự có gì an ổn trong đây? Những hình bóng, những suy nghĩ, những nhận thức đều là vô thường. Một ngày nào đó, bất cứ lúc nào, thân này có thể đổ xuống và chết đi. Nhưng nếu không biết rõ về sự đau khổ, sự không thường còn của ngũ uẩn, thì đây mới là cái khổ khốn cùng. Cái mà con xúc động nhất là khi Đức Phật nói về bảy mặt trời, và mỗi mặt trời Ngài đều lặp lại là: “Các hành đều vô thường, các hành là không có kiên cố, phải nhàm chán, ly tham đối với tất cả các hành”. Ngay lúc đó con có một sự rất là xúc động, con thấy rằng, có ai mà nhắc đi, nhắc lại hoài đâu. Cũng giống như sư phụ, lúc nào cũng nhắc chúng con: “Khổ nè con, tỉnh giấc đi con”, mà chúng con có chịu hiểu đâu. Hoặc có lúc thấm thía, nhưng rồi sau đó lại quên mất, vậy mà sư phụ vẫn cứ nhắc.

Vì tình thương, sư phụ biết rằng thật sự rất khó, và một ngày nào đó sẽ không ai lôi chúng con ra khỏi chỗ tối tăm này. Khi con nghe sư phụ giảng tới mặt trời thứ bảy đốt cháy trái đất này, tới cõi trời phạm thiên. Con lúc đó thấy rằng, dù cõi trời nào đẹp đẽ nhất, dù cõi trời nào thù thắng nhất, tất cả cũng phải bị thiêu đốt, tất cả đều phải đi đến lụi tàn. Thì còn lý do gì, con mong hiện hữu trong cuộc đời này nữa. Ai có thể tin rằng, ai có thể nghĩ rằng trái đất này sẽ bị đốt cháy. Chính con còn không tin được trái đất này sẽ bị đốt cháy. Cho nên mới chấp chứa, tìm cầu một cái gì tồn tại mãi ở trên đời. Và Đức Phật kể về vị ẩn sĩ tu tập ly dục, tâm từ, và được hưởng những cái phước của cõi trời. Nhưng cuối cùng vị ấy vẫn không thể thoát ra khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưa não trên cuộc đời. Chỉ vì không tu tập Thánh giới, Thánh định, Thánh tuệ, Thánh giải thoát, con cảm thấy xúc động lẫn vui mừng.

Trong sanh tử, khổ đau này, cuối cùng thật sự con được chạm tới sự thật, Chánh pháp, ly tham tối thượng. Được học tất cả các pháp, mà các bậc Thánh truyền trao. Con xin nguyện, dù là còn một hơi thở, con xin luôn luôn thở được trong Chánh pháp này. Nếu như một ngày nào đó con có chết, thì con nguyện cũng xin ly tham một cách hoàn toàn khỏi ngũ uẩn này, để không còn bị chìm đắm vào bất kỳ sự hiện hữu nào nữa. Con xin tri ân đến sư phụ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.” 

Sư cô Đăng Phổ 

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên chư đại đức Tăng Ni, cùng thiền đường đại chúng. Dạ Mô Phật, kính bạch trên sư phụ, cùng đại chúng. Hôm nay con xin được trình pháp về buổi sáng và ngày hôm qua, sư phụ giảng về hai bài kinh “Các Sợ Hãi” và “Mặt Trời”. Sau những ngày sống trong giông tố và bão bùng của thân tâm.  Và bên ngoài những biến động trên thế giới, do những trận bão. Nó đã đem đến những tang thương, chết chóc, đau khổ cho tất cả chúng sanh, trong đó có miền trung Việt Nam chúng ta. Thì trong con lắng động rất là nhiều cảm xúc, cảm xúc của con một tình thương trải rộng đến tất cả chúng sanh. Và quay lại thương cho chính mình.

Qua những lời giáo huấn trên sư phụ ban xuống, con càng nhận rõ hơn về sự vô thường, một chân lý vĩnh hằng. Càng hiểu rõ về vô thường, thì con lại càng có những cái xúc động, những cái cảm nghĩ, cảm nhận, khi mà con được tiếp xúc, chạm tới sự thật từ trên những lời dạy của Đức Phật cách đây hơn mấy ngàn năm, và đã trở thành hiện thực. Con bám vào bài pháp của sư phụ giảng, con nhận rõ ra những sợ hãi của chúng ta, sợ hãi về lửa cháy, về bão tố, hay về sự bị giật cướp, loạn lạc, chiến tranh. Thì những điều đó hiện nay đều có, đều xảy ra hết rồi. Và thực sự không phải ở ngoài thế giới, bên ngoài đó có những hiện tượng đó, những sự việc xảy ra như vậy. Mà trong tâm của mỗi người chúng ta, đều có những bão tố, phong ba, những ngọn lửa tham, sân, si nung nấu ngày đêm. Mô Phật, con rất là sợ hãi, con sợ hãi cho bản thân mình.

Vì con nghe được những lời giảng của sư phụ về bảy mặt trời, con cũng nhận thấy được những diễn biến từ từ, dần dần của trái đất này với định luật là thành hoại. Thông qua bài kinh “Bảy Mặt Trời”, thì chúng ta thấy rõ là hiện nay, mặc dù chỉ mới xuất hiện một mặt trời, nhưng mà nó cũng sẽ dần dần đi đến cái cuối cùng, là trái đất này sẽ bị tan hoại, vỡ tan, hủy diệt. Hiện nay thì trái đất và con người chúng ta, đang ở trong thời kỳ của họai kiếp. Cho nên những hiện tượng lửa cháy, bão tố, giặt cướp hoành hành khắp nơi, hiện rõ từng ngày mồn một qua những sự thật, thực tế trong đời sống hàng ngày. Mà cốt lõi, cội nguồn, gốc rễ của nó chính là tham, sân, si, dục ái, tham muốn, vô minh và bản ngã. Đã tạo nên những vở kịch, những màn kịch rất là bi thương, thống khổ và đầy đau khổ, máu và nước mắt.

Mô Phật, khi con nhận rõ được những điều ấy, thì con quay vào trong tâm của con, con nhìn lại, con cũng rất là cảm ơn sự vô thường. Chúng ta nghe nói sự vô thường chúng ta rất sợ hãi, nhưng riêng con thì con lại càng hiểu được. Vì vô thường mà chúng ta có thể thay đổi, thay đổi các bản chất, bản tâm của chúng ta. Thay đổi từ một con người xấu, để đi đến tốt. Và mình bị vô minh, để có thể sẽ phá tan màn vô minh, tìm ra ánh sáng. Con quay lại thanh tâm của mình, nhận thấy rõ sự vô thường, sự trống rỗng, sự vô ngã, không có gì trong đó. Và con thấy rõ ràng nó sẽ đi đến chỗ hoại diệt, biến diệt, rồi nó sẽ tan hoại, tan rã, vỡ tan.

Cũng như chính bài kinh mà Đức Phật đã dạy chúng ta về bảy mặt trời, từ từ nó sẽ đi đến cái chỗ đó. Mô Phật, con thấy rõ như vậy, con thấy được sự sợ hãi đó. Chính vì sợ hãi, cho nên con mới tìm cách để trấn an sự sợ hãi đó. Chúng ta thấy sự sợ hãi, chúng ta có một phương cách, một phương pháp, một ánh sáng, một lối đi để chúng ta thoát khỏi. Và không gì hơn, đối với người tu sĩ hay những người tại gia cũng vậy. Chúng ta phải thường xuyên quán sát, chiêm nghiệm, nhận diện trong tâm của mình. Nhìn thấy rõ những sắc thân huyễn hoặc, vô thường, trống rỗng, không có gì trong đó. Chỉ toàn máu, thịt, xương, gân dơ bẩn, nhuốt nhơ. Nhìn thấy rõ những cảm thọ, vui, buồn, thương, ghét, giận, hờn. Để chúng ta cho nó đến, rồi cho nó đi, rồi biến mất.

Chúng ta nhìn rõ những suy nghĩ tiêu cực, tính cực trong thọ, trong tâm chúng ta, để chúng ta loại trừ. Loại trừ những rác bẩn, cấu uế, những suy nghĩ tiêu cực, những suy nghĩ xấu ác, bất thiện pháp. Và chúng ta trú trong pháp, Chánh pháp. Chúng ta nhìn thấy rõ những hình ảnh, những gì nó còn tồn tại trong chúng ta, để chúng ta đưa đến một quyết định, là chúng ta sẽ nhàm chán, ly tham, đưa đến đoạn diệt. Và sẽ từ bỏ tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, để đi đến con đường cuối mà chúng ta đã lựa chọn từ trước. Dạ Mô Phật, Con xin cảm niệm ân đức sư phụ và xin cảm ơn chư đại đức Tăng Ni cùng đại chúng đã lắng nghe con trình pháp. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Phật tử 1

“Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa quý Ni sư và toàn thể tất cả đại chúng. Con xin trình pháp, qua bài thiền quán của sư phụ sáng hôm qua, hai bài kinh “Nỗi Sợ Hãi” và “Mặt Trời”, thì con có sự suy tư. Cái thọ con cũng ưu tư, lo lắng rất là nhiều. Khi sư phụ nói đến thiên tai, thì cảm nhận của con qua những thiên tai, sự bão lũ hiện nay, cái cơn bão rất là lớn, rất là mạnh. Thì lúc đó, con tưởng đến mọi người trong cơn bão phải chịu những cảnh khổ. Khi cơn bão đang hoành hành, thì hiện tại ở đây con không biết làm gì, con chỉ trải tâm từ đến tất cả mọi người trong hoàn cảnh hiện tại. Và khi con nghe được sư phụ nói về bảy mặt trời, con nghe thì không có được rõ lắm. Nhưng con hiểu được đó là sự vô thường, biến đổi và sự tan hoại của trái đất này.

Con nghĩ hiện bây giờ, mình chỉ thấy có một mặt trời thôi, mà biết bao nhiêu sự thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt, gây đến rất là nhiều đau khổ cho nhiều người. Đến khi mặt trời thứ 7 mà xuất hiện, thì sự đau khổ, sự vô thường, biến đổi, tan hoại đến khắp thế giới này là biết bao nhiêu. Lúc đó con tưởng tới trong bài kinh “Niệm Thập Thiện Giới”, trong bài kinh 40 pháp đó, con đã nhìn thấy được tất cả chỉ là cái nghiệp. Mà cái nghiệp hiện tại đây, cũng vì cái nghiệp này, chính thân, khẩu, ý, chính bản thân của con người làm ra. Mà cái gốc thì từ tham, sân, si, mà tạo ra biết bao nhiêu ác nghiệp, để đi đến một kết quả phải chịu những nỗi khổ. Con thấy rất là thương, nhất là cái nghiệp sát sanh.

Mỗi ngày biết bao nhiêu sự thống khổ, đau đớn, mà chính mình, chính con người đã tạo ra, trong bản thân của mình, trong cái thân năm uẩn này. Lúc đó con nghĩ, nếu mà con người trên thế gian này từ bỏ những cái ác nghiệp này, sống cuộc sống hiền thiện, tu tập tâm hiền, tâm từ, thì cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn biết bao. Và con nghĩ rằng, mình cũng được may mắn, được tu học trong vòng Chánh pháp này. Mình mới thấy được tất cả, không ngoài cái ngũ uẩn này, chính từ chỗ này mà ra. Cho nên con nguyện cố gắng tu tập, để tâm mình được an tịnh, lắng dịu và hiền thiện. Để sự tu tập này được lan tỏa cho mình và cho tất cả mọi người. Và đây là cảm nhận của con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Cô Nguyên Tú có bài trình pháp của mẹ cô không? Cô đọc dùm cho mẹ đi.

Mẹ sư cô Nguyên Tú

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch lên sư phụ, cảm thọ sáng nay khi con nghe sư phụ giảng, đầu tiên là một cảm thọ sợ hãi và xúc động trong con. Khi con nhìn về miền trung, là sự đau thương của một kiếp người trong hiện tại, phải chịu bao nhiêu sự thống khổ. Con thấy được luật nhân quả do ác nghiệp của chính con và tất cả chúng sanh, đều do tham, sân, si mà tạo ra bao nhiêu thảm cảnh. Con nhìn lại chính mình và gia đình con, những người đời này đã làm nghề đánh cá, sát sanh. Và bản thân con đã từng bỏ những chất độc hại, để bảo quản thức ăn. Giờ đây con đã nhận quả dị thục do con làm, và con của con phải gánh chịu. Những căn bệnh cũng vì do ăn uống, mà thành những khối u trong cơ thể.

Con thấy mình khổ và làm cho những người xung quanh mình phải chịu đau khổ. Căn nguyên, nguồn gốc, đau khổ này là do nơi cảm thọ tham dục và sự vô minh, không thấy biết sự tham dục này. Không phải của riêng con, mà còn của cả nhân loại, cho nên mới đưa đến sự hủy hoại toàn cầu của thế giới. Sự tham lam, tham vọng với một nội tâm chất đầy bản ngã, sân hận và khát ái. Vì những ác nghiệp tham này, mà tạo ra biết bao nhiêu sự đau khổ. Sư phụ ơi! Con rất ê chề và ngăn ngẩm cái tham dục, cái cảm giác, đã làm cho con rất là sợ hãi. Sau đó con nghe sư phụ giảng về bảy mặt trời, cái hành của con nghĩ rằng: “Sự tham dục trong hiện tại, quá khứ và vô lượng kiếp, đã đốt cháy và tạo ra biết bao nhiêu ác nghiệp”. Cho tới khi bảy mặt trời xuất hiện, thì sự luân hồi của nhân loại cũng ngập tràn ác nghiệp, mà chính tự thân của mỗi người đã tạo ra.

Nó bốc cháy mà không còn ai thấy một thiện pháp nào nữa. Một cảm thọ hỷ lạc vừa dâng trào trong con, đời này con đã học được pháp ly tham tối thượng. Sau đó con nghe sư phụ nói về một bậc đạo sư ngoại đạo, đã tu tập được tâm từ viên mãn và ly tham tối thượng. Hưởng được con đường sống dài lâu ở phạm thiên, nhưng không thoát được sanh, già, bệnh, chết. Một cảm thọ lo lắng, nhàm chán, ly tham về ngũ uẩn. Và thấy được sự biến hoại, vô thường của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Con nguyện không chấp bất cứ một cái gì, mà cố gắng thực hành tu tập, thoát ra. Lời cuối cùng, con xin tri ân lên sư phụ một sự biết ơn vô cùng. Nhờ có sư phụ đã giảng giải, chỉ rõ tận tình, con mới thấy được khổ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Chúng ta đọc tiếp một số bài trình pháp của quý Phật tử có vị nào đọc dùm. Pháp Tâm đọc.

Dạ con kính thưa sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin phép đọc bài trình pháp của các quý Phật tử. 

Phật tử 2

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con xin tri ân sư phụ. Từ khi con được tiếp xúc với Chánh pháp Nikāya, con như vỡ òa cảm xúc khi lần đầu được nghe thầy giảng về ngũ uẩn. Bao năm qua con khổ mà không biết mình khổ, cho đến khi con có duyên vô tình nghe được thầy. Từ trong con đã thôi thúc tìm kiếm một pháp hành, giúp cho con hiểu được tâm mình. Con mừng quá, vì con được gặp thầy, người là bậc ân nhân của con trong đời này. Ơn này con không biết làm sao để có thể trả hết. Con chỉ biết thực hành pháp hàng ngày, để gìn giữ Chánh pháp này, để trả ơn cho Phật, cho thầy tổ. Vì những gì các Ngài đã làm cho hằng hữu học chúng con.

Một hôm con đi ngang nghĩa trang Bình Hưng Hòa, trên con đường ấy, con phát sanh một cảm thọ xót xa. Xót xa cho chính bản thân mình, và mọi người. Rồi đến ngày con cũng ra nghĩa trang nằm, thật là xót xa. Có một ý hành sanh khởi: Vô minh và tham ái, chính vô minh và tham ái đã dẫn dắt con đến nấm mồ, con thấy vô cùng đau khổ, xót xa. Vì bao năm qua đã phục vụ cho vô minh và tham ái. Chính nó là thủ phạm dẫn con đến nấm mồ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Một vòng luẩn quẩn, con nghĩ lại thật ngao ngán. Thêm một ý hành sanh khởi: “Hãy chiến đấu với vô minh, nay ta đã có gươm trí của Phật. Đời này phải xử lý vô minh và tham ái, không bao giờ làm nô lệ cho nó nữa”. Từng ngày, từng giờ dẫn dắt tâm về với minh, giải thoát.

Chỉ vì sự tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, để rồi dẫn dắt ra nghĩa trang. Vì những sự ngọt ngào của sắc, thành, hương, vị, xúc, pháp, mà dẫn dắt đến nghĩa trang, quan tài, tử vong, bệnh tật, già nua, sầu, bi, khổ, ưu não. Con nguyện sẽ luôn huấn luyện thân tâm hàng ngày, Chánh niệm tỉnh giác, để thấy tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Để dẫn dắt chúng đến thiền tâm, để dẫn dắt chúng đi trên con đường của bậc hiền Thánh. Xứng đáng là đệ tử của bậc Chánh giác, xứng đáng với những gì thầy tổ đã làm cho Phật tử chúng con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.” 

Phật tử 3

“Buổi đầu bài giảng khi nghe sư phụ nói về thiên tai trên toàn cầu, trong con là hai dòng cảm thọ. Con vừa thấy xót xa cho những người lâm vào cảnh mất nhà cửa, mất người thân, bơ vơ, đói khát. Vô minh, đối với cái nguyên nhân của thiên tai, và vô minh cái khổ của bản thân mình. Con vừa lo lắng, sợ hãi, vì vừa nhận ra sự mất mát, bất an, của đời sống, của thế giới mà ngũ uẩn con đang nương náu vào đây. Chưa bao giờ con cảm thấy bất an như vậy. Vì bản thân con từ trước đến nay chưa từng gặp phải những chuyện tương tự, hay biến cố to lớn nào. Tưởng của con là hình ảnh thiên tai, dân chúng ly tán, lầm than. Ý hành trong câu nói: “Sao mà từ trước đến giờ, con không để tâm những nỗi khổ đau tràn lan xung quanh mình, mà chỉ suy nghĩ về bản thân. Mãi mê với những tính toán, ích kỷ, với sự vun vén cho tương lai”.

Giờ đây con không còn muốn nghĩ về ngày mai nó sẽ như thế nào? Năm sau nó sẽ như thế nào? Nhiều năm sau sẽ như thế nào nữa. Vì có nghĩ cũng chỉ là cái ý hành này nó vẽ ra thôi, cái ý nghĩ này vô thường, biến hoại. Cái nó nghĩ về cũng vô thường, biến hoại. Tất cả những gì mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, miệng nếm; tất cả những gì yêu thích, chán ghét; tất cả những gì dự định, tưởng tượng, gây dựng, bồi đắp này đều giả tạo, đều biến đổi. Ngay cả cái thân này, rồi cũng không biết sẽ tan hoại khi nào. Thật vô nghĩa, thật ảo mộng là cuộc sống này. Thưa sư phụ, rồi sư phụ nhắc đến: “Cảm giác là nguyên nhân của tất cả mọi khổ đau, chỉ có tâm hiền mới có thể cứu thế giới thoát khỏi khổ đau, do sự chất chồng của ngọn lửa sân hận và dục ái”, cảm thọ trông con lại ưu tư, phiền muộn.

Tưởng đến bài pháp của sư phụ về các hạnh an trú tâm như đất, nước, gió, lửa, nùi giẻ rách, kẻ ăn xin thấp hèn, con bò đực bị cưa sừng của Ngài Xá-lợi-phất. Ý hành nói: “Con chưa có thực hành được bao nhiêu, mà đời sống này bất an như vậy, thì lỡ mình ra đi đột ngột mình sẽ hối hận, dai dứt, đau khổ lắm. Cơ hội một lần trong vô thỉ kiếp sẽ bị mình bỏ lỡ, rồi mình lại phải ở trong một cái vỏ vô thường này, trôi lăn trong cái thế giới vô thường này bao lâu”. Ý hành nói tiếp: “Con chịu cảnh khổ này bao nhiêu kiếp nữa đây? Nếu đã xả ra như vậy thì quá đáng thương thay cho mình”, nước mắt con lại chảy dài. Đến khi sư phụ đọc bài kinh “Bảy Mặt Trời”, con lại tiếp tục sợ hãi. Trong tưởng thì có những hình ảnh trái đất khô cằn, bốc cháy, rồi tan thành bụi trong hư không.

Ý hành lo sợ cho đường tu học của con trong kiếp này liệu có được thành quả gì chăng? Thấy cũng chỉ là cưỡi ngựa xem hoa, nếm qua mật ngọt. Đời người quá ngắn ngủi so với một kiếp thành hoại của trái đất, mà giờ này con vẫn còn phải dính mắc với chuyện sinh nhai, con cái, với vở tuồng của chính mình. Thì đến khi nào mới có thể hoàn toàn, toàn tâm toàn ý, dứt bỏ, thoát ra. Lúc này khổ thọ trào dâng trong con, đau xót cho chính mình, vì vô minh tạo nghiệp, nên bây giờ phải gánh lấy quả. Ý hành mong tới ngày trả quả xong, rồi về núi yên tu, phước được bao nhiêu thì tu bấy nhiêu vậy. Còn bây giờ thì lo mà tinh tấn nhìn vào thân tâm mỗi ngày, nhàm chán mỗi ngày, từ bỏ mỗi ngày đối với cái ngũ uẩn này. Có Chánh pháp rồi đừng để đánh rơi, nguyện theo dấu chân thầy. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Phật tử Diệu Hạnh

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con xin cung kính đảnh lễ trên sư phụ, đệ tử con pháp danh Diệu Hạnh, xin kính trình pháp đến trên sư phụ. Kính thưa sư phụ, chúng con đang sống trong một thế giới đầy bất an, đầy lo sợ, đầy hiểm nguy, đầy tai họa, trắc trở trong từng phút giây. Và chúng con cũng hoàn toàn không thể biết trước được, chuyện gì sẽ đến với chúng con trong cuộc sống này. Một thế giới mà hiện tại trật tự của trời đất bị phá vỡ, thiên nhiên không còn vận hành đúng theo quy luật. Trật tự của xã hội, hoàn cảnh sống đều bị đảo lộn. Trật tự của đạo đức, luân lý cũng bị sụp đổ. Con người, nhân cách, nội tâm, những nền tảng đạo đức đều bị xuống cấp, đang bị báo động hết sức khủng khiếp. Thế giới này đang bị tàn hại bởi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, một cách nghiêm trọng và nguy hại.

Cả thế giới này là bức tranh của khổ đau. Sư phụ ơi! Trong con một cảm giác sợ hãi, rung động toàn thân, khiếp sợ. Con người sẵn sàng mưu hại nhau, hạ độc thủ, sát hại lẫn nhau, dù họ là những người thân của nhau. Con người có thể giết hại nhau một cách đáng kinh sợ, đáng ngại ngùng, như phân xác, chặt đầu. Tình thân, thâm tình, là những thứ thiêng liêng, cao quý. Giờ đây cũng không còn giá trị, không còn ý nghĩa trong họ. Họ chà đạp với nhau, bước lên nhau, giẫm đạp lên nhau không thương tiếc, cùng đưa nhau xuống vực sâu. Thật xót xa cho thế giới này, thật đau lòng cho thế giới này. Lòng ham muốn của con người không còn giới hạn, dục đã sai xử họ, đã điều khiển họ, đã xâm chiếm và chiếm giữ tâm họ hoàn toàn. Khổ, khổ, khổ! Một đống khổ to lớn, đại khổ uẩn.

Khổ vì dục, khổ vì tham, dục vọng, tham vọng là đạo diễn phía sau của cuộc sống này, đời sống này. Sự bình an của loài người, của muôn loài không còn do dục trong tham vọng vấp ngã làm tăng trưởng bản ngã không cùng tận. Đưa chính con người đến tự hủy hoại, tự hủy diệt con người, muôn loài và cuộc sống này. Trong cuộc sống hiện tại, bất cứ thứ gì, bất cứ lý do gì, cũng là cái cớ để con người tổn hại nhau, giết hại nhau. Thật là vô lý, thật vô nghĩa, ác nghiệp chồng chất ác nghiệp. Mà vì ngu si, vì vô minh, con người sống trong điên đảo, mê lầm, làm nô lệ cho tham ái. Tạo các ác nghiệp, để thân, khẩu, ý, làm nguy hại cho chính cuộc sống hiện tại. Và sau khi chết thì rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đau khổ, khốn cùng.

Hỡi ơi! Vì khối vô minh sâu dày mà chúng sanh nào có biết, nào có hay. Mình đang bị ba chất độc, kịch độc, tham, sân, si ngấm sâu dày trong tâm, giết chúng sanh chết trong luân hồi, bệnh tử, đau khổ trong biển lửa. Vì chính những ác nghiệp, mà mình đã gây tạo thiêu đốt cùng cực. Nghiệp là gốc rễ chi phối vạn vật, vũ trụ này, tất cả đều do nghiệp quyết định. Và chính chúng ta là chủ nhân của nghiệp, tạo tác ra nghiệp. “Gốc là do chính tham, sân, si, là nguyên nhân cho nghiệp sanh khởi. Và chính do tham, sân, si, đoạn diệt là nhân duyên cho nghiệp đoạn diệt”. Đức Thế Tôn đã dạy rõ trong kinh “Do Tham, Sân, Si”, Tăng Chi Bộ kinh tập 4. Càng quán chiếu, càng chiêm nghiệm sâu sắc, chúng con càng trân quý những giá trị sâu sắc trong lời dạy của Thế Tôn.

Tham, sân, si là những ngọn lửa nguy hiểm vô cùng, đốt cháy hết nội tâm, tàn phá thân tâm của tất cả chúng sanh. Chúng đi theo miên man trong tâm, ngủ ngầm trong tâm, hết thảy chúng sanh đều là nạn nhân của tham, sân, si. Cảm ơn Đức Thế Tôn, nếu chúng con không gặp Thánh pháp của Ngài để quay nhìn cảm giác, tự mình tu tập, để nhiếp phục, đoạn tận ngọn lửa tham, sân, si nguy hiểm, tai hại này. Để tự cứu mình giải thoát cho chính mình, trong bóng đêm bao phủ. Chúng con tôn kính bậc đạo sư, vị cha lành của chúng con, Ngài đã khai mở mắt trí tuệ cho chúng con, xóa mù cho chúng con, đưa chúng con đến sự thật, giúp chúng con hạnh phúc. Cảm ơn Đức Thế Tôn, cảm ơn sư phụ, ân sư của chúng con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.” 

Phật tử Diệu Nhẫn

“Dạ con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con pháp danh là Diệu Nhẫn, con xin trình pháp ạ. Thưa sư phụ, sáng nay sau khi đảnh lễ Tam Bảo, con ngồi chờ để nghe sư phụ giảng pháp, ý hành khởi lên: “Chắc là sư phụ ở thành phố hết tuần, vì chủ nhật này có khóa tu của đạo tràng Bông Sen ở chùa Bửu Liên”. Sáu giờ mười lăm, chú Tân gửi đường link qua, con liền mở ra, lòng con đau xót, nước mắt trào ra, tim con như thắt lại. Ý hành khởi lên: “Thương sư phụ quá, chiều hôm qua 4 giờ mấy sư phụ còn giảng pháp ở lớp giảng sư, vậy mà sư phụ phải quay về núi. Sư phụ không quản ngại khó khăn, đêm hôm mưa bão, để cho chúng con có được bài pháp giảng sáng hôm nay”.

Con khóc oà lên trong nghẹn ngào, vì tình thương của sư phụ đối với chúng con, mà sư phụ đã đem hết tâm huyết để giảng giải những lời pháp nhủ, những lời Thánh pháp của Đức Thế Tôn mà truyền trao cho chúng con. Nhưng vì vô minh, giải đãi, chúng con không đem hết tâm trí vào những lời dạy của sư phụ, làm cho sư phụ phải đau lòng. Con xin cúi đầu sám hối sư phụ, sám hối bậc ân sư, con xin nguyện từ nay cố gắng hơn trong sự tu học. Trong thời thiền quán sáng nay, con tập trung nghe sư phụ giảng pháp, bài kinh “Bảy Mặt Trời” và ba tai họa tai họa về lửa, tai họa về chiến tranh, tai họa về bão lũ. Lòng con đau xót, thương cho chúng sanh đang sống trong cảnh chiến tranh, nước mất, nhà tan, sự chia cắt, mất mát của người thân. Và hiện tại mưa bão đang xảy ra, bao mồ hôi công sức làm ra, nước mắt giàn giụa. Khi cơn bão đi qua chỉ còn lại một đống đổ nát. Ôi đau xót thay cho một kiếp người, vậy mà vì vô minh, ngu si, chúng sanh sống trong tham dục, sân hận, mà gây ra biết bao nhiêu đau khổ cho chính bản thân mình và những người khác.

Chính bản thân chúng con cũng vậy, hiện tại đã gặp được Chánh pháp, những lời dạy quy chất của Đức Thế Tôn để lại, đã được sư phụ, những bậc ân sư giảng dạy. Mà chúng con còn giải đãi, không chịu tinh tấn tu học. Đã bao đời, bao kiếp lưu lạc trong vòng sanh tử, luân hồi. Vậy mà giờ không chịu tinh tấn tu học, một mai vô thường đến, tai họa ập đến, không biết sẽ đi về đâu, có còn được làm người, có còn gặp được Chánh pháp hay không? Con thật là xót xa, đau đớn cho bản thân mình. Con kính thưa sư phụ, đây là những cảm thọ của con trong thời thiền quán sáng hôm nay, mong sư phụ dạy thêm cho chúng con. Con xin tri ân sư phụ đã đọc bài trình pháp của con ạ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Phật tử 4

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Khi trên thầy thiền quán và giảng dạy bài kinh “Các Sợ Hãi”, thì ngũ uẩn con động chuyển theo lời của thầy. Thọ thân cảm giác những sự khó chịu trong lòng ngực. Thọ tâm ưu tư, xót xa, lo lắng, sợ hãi. Tưởng chập chờn nhiều hình ảnh con đã và đang chứng kiến ngoài đời, qua mạng, về hỏa hoạn, mưa bão, lũ lụt. Hình ảnh mọi người tháo chạy bom đạn, trẻ em, người thân bị thất lạc trong chiến tranh, xác người chết. Ý hành con nói là: “Khổ, khổ đau khắp nơi nơi”. Con đang nghe trên thầy giảng các bài kinh của Đức Phật, và tập suy tư. Bài kinh “Các Sợ Hãi”, đúng là phơi bày tình trạng hiện tại trên toàn cầu. Một hỏa tai lớn khởi lên, con nhớ đến các vụ hỏa hoạn mới xảy ra trong thời gian gần đây, không những thiêu cháy tài sản, mà còn thiêu cháy rất nhiều mạng người. Khiến con mất mẹ, mẹ mất con, nhiều gia đình mất người thân, mất mát và đau khổ.

Mưa lớn khởi lên, hiện tại ngoài trời đang mưa to gió lớn, do cơn bão số 4 đang hoành hành. Khiến con người đang sống trong sợ hãi, lo sợ. Gió lớn cuốn văng nhà cửa, mưa lớn gây lũ lụt, nhấn chìm, cuốn trôi tài sản, và đau khổ nhất là nhiều người bị thiệt mạng. Sợ hãi về giặc cướp, hiện nay chiến tranh cũng diễn ra, và nguy cơ thế chiến thứ 3, những mất mát, thương đau về người, con người đang sống trong bất an, sợ hãi. Con nghe trên thầy giảng “Nguyên Nhân Của Dịch Bệnh”, “Khởi Thế Nhân Bổn” và “Bảy Mặt Trời”. Con người lúc đầu giữ giới, thì tuổi thọ kéo dài, nhưng do không giữ giới, tham, sân, si lừng lẫy, nên giảm tuổi thọ. Do giảm nhiều lần như vậy, 20 lần thì gây tam tai, gồm nạn đao binh, tai họa, dịch bệnh, đói kém, mất mùa, các ác tham, sân hận, tà kiến ngày càng tăng. Thì tai nạn càng xảy ra nặng nề hơn.

Và đến lúc trái đất sẽ bốc cháy, sẽ thành quả cầu lửa như trong bài kinh “Bảy Mặt Trời”. Con nương các bài giảng để suy tư, là con người khi có đủ ăn, đủ mặc, có nơi ở yên ổn. Không dừng lại ở đó, cảm giác thích thú, muốn thêm, muốn nhiều hơn, khiến lòng tham ngày càng tăng. Hay còn gọi là ác tham, chặt phá rừng, ngăn sông, san núi, lấp biển, khai thác cạn kiệt khoáng sản, muốn chiếm đoạt của người khác, nước khác. Khi không được như ý, thì cảm giác sân hận nổi lên, biểu hiện ra là chém giết, chiến tranh, bom đạn. Để thể hiện cái bản ngã, mà không biết một sự si mê, vô minh đang che lắp. Là chính hành động của mình ngay hiện tại, là gây đau khổ cho mình và cho người khác. Xa hơn là nghiệp và quả dị thục của nghiệp do mình tạo ra.

Khi suy tư về bài kinh “Các Sợ Hãi”, con suy tư đến khổ. Những nỗi thống khổ, sợ hãi, con người phải chịu đựng những nỗi đau khổ, day dứt, giày xéo của người mẹ bị thất lạc con, con không tìm được mẹ. Khi suy tư về bài kinh “Nguyên Nhân Của Dịch Bệnh” và “Khởi Thế Nhân Bổn”, con suy tư đến nghiệp và quả dị thục của nghiệp. Nguyên nhân của dịch bệnh là do tham, sân, si và quả dị thục của nghiệp chính là nạn tam tai, mà hiện tại trên toàn cầu đang gánh chịu. Mà nếu không dừng lại, tiếp tục ác dục, các tham, sân hận, si mê, bản ngã, thì các kiếp nạn sẽ còn kinh khủng hơn. Mà hiện tại toàn cầu đang phải đối mặt với nguy cơ thế chiến thứ 3. Bài kinh “Bảy Mặt Trời”, bảy mặt trời lần lượt xuất hiện và khi đến mặt trời thứ bảy xuất hiện, trái đất này và núi chúa Tu-vi bốc cháy đỏ rực và sụp đổ.

Như vậy, các sự vật ngũ uẩn này vô thường, không kiên cố, không an ổn. Như vậy là vừa đủ để chúng ta ly tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành thức. Con tác ý, quán chiếu lòng tham, sân, si của con người ngày càng cao, giống như từ 1 mặt trời tăng dần lên cho đến 7 mặt trời, cho đến khi thiêu rụi trái đất thành tro bụi. Con nghe về vị đạo sư ngoại đạo, ly tham trong các dục, nhưng chưa phá được bản ngã. Vị đạo sư ngoại đạo tu tập từ tâm từ 7 năm, vị ấy vẫn chưa thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Vì cớ sao? Sự kiện là như sau: “Khi Thánh giới được giác ngộ, Thánh định, Thánh tuệ, Thánh giải thoát thể nhập, cắt đứt mọi hữu ái, sợi dây đưa đến sanh hữu được đoạn tận, nay không có tái sanh”.

Con tập suy tư về sự logic lời dạy của Đức Phật, qua các bài kinh được trên thầy phối hợp để chỉ dạy cụ thể về khổ Thánh trí. Chúng con khổ vì trong thủ uẩn đó, vì khát ái, vì vô minh, cho nó là thật, nên tạo nghiệp và nhận về quả dị thục của nghiệp. Vì yêu thích nó, nên muốn có nó, thân mình, tài sản, muốn nó hiện hữu, nên các ngũ uẩn liên tục sanh khởi, khổ, vô ngã, vô thường, xúc, pháp là vô thường, đi đến tiêu vong, như trái đất còn tiêu vong nữa là các vật chất khác. Ngay chính bản thân này cũng là sắc pháp, nó bất an, bất ổn và sẽ tiêu vong. Như vậy là vừa đủ để chúng ta ly tham. Đức Phật lại tiếp tục chỉ dạy về vị đạo sư ngoại đạo, dù đã ly tham các dục và tu tập tâm từ, nhưng vẫn chưa ra khỏi ngũ uẩn.

Và vì chỉ ly tham được các dục bên ngoài, chưa ly tham được thọ, tưởng, hành, thức, nên chưa cắt được hữu ái. Và ở trong ba cõi, Đức Phật chỉ rõ thành tựu Thánh giới, Thánh định, Thánh trí tuệ, Thánh giải thoát, thì cắt đứt là hữu ái, đưa đến sanh hữu, không còn tái sinh nữa. Con kính trên thưa thầy, bài giảng sáng nay chứa đựng những kiến thức rộng lớn, thâm sâu. Ngũ uẩn con tham ái, vô minh sâu dày, con xin được tiếp tục học, tiếp tục suy tư về bài giảng ạ. Con xin nhận sự chỉ dạy của trên thầy, để phá màn vô minh đang che đậy tâm con. Kính lễ ân đức trên thầy ạ.” 

Những lời trình pháp của quý Phật tử, quý sư cô rất là sâu sắc, rất là để tâm sự tu học, rất là đáng khen. Các Phật tử tuy xa xôi tu học như vậy, đó là: Lành thay! Lành thay! Lành thay! Đây là cơ hội để chúng ta phát khởi được trí tuệ sự thật. Chúng ta tiếp tục trình pháp, tiếp tục tác ý, tiếp tục viết cảm nhận, nhật ký tu học, những bài quán chiếu, nghiền ngẫm càng nhiều càng tốt.

II. Bốn con rắn độc

Chúng ta liên hệ kinh chúng ta mới thấy được trí tuệ rộng lớn, vĩ đại của Đức Phật. Mình thấy trận bão số 4 này, mình thấy khủng khiếp, kinh hoàng, nhưng mà đó mới là một chút xíu. Đó là có một con rắn thôi, chúng ta đã học rồi, con rắn gì? Con rắn gió, là ngoại phong đại. Nếu mà con không nói ra thì đại chúng có thấy không ạ? “Sao mà ngồi im ru vậy? Có hay là không?”

“Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi … gọi các Tỳ-kheo … Thế Tôn nói như sau:

—Ví như, này các Tỳ-kheo, có bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Rồi có người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh thoảng hãy thức chúng dậy, thỉnh thoảng hãy tắm cho chúng, thỉnh thoảng hãy cho chúng ăn, thỉnh thoảng hãy cho chúng vào huyệt (để ngủ). Này Bạn, nếu một trong bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, tức giận, thời này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết, hay đau khổ gần như chết. Vậy này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ cần phải làm”.

Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, chạy trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có năm kẻ sát nhân thù địch này, đang đi theo sau lưng Bạn. Chúng nói: ‘Khi nào chúng ta thấy nó, chúng ta sẽ giết nó’. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.

Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc ấy, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch ấy, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có một tên thứ sáu cướp nhà, giết người, với ngọn kiếm dơ lên, đang đi theo sau lưng Bạn. Nó nói: ‘Khi nào ta thấy nó, ta sẽ chém đầu nó’. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.

Rồi, này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một ngôi làng trống không. Nhà nào người ấy đi vào, người ấy vào chỗ trống không, vào chỗ rỗng không, vào chỗ tuyệt không. Người ấy sờ đến đồ dùng nào, người ấy sờ chỗ trống không, người ấy sờ chỗ rỗng không, người ấy sờ chỗ tuyệt không. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, bọn cướp phá hoại làng, sẽ đánh cướp ngôi làng trống không này. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.

Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên giết người thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, quá sợ hãi các tên cướp làng, liền chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một đầm nước lớn, bờ bên này đầy những sợ hãi nguy hiểm, bờ bên kia được an ổn, không có sợ hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, không có cầu để đi qua đi lại.

Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy suy nghĩ như sau: “Ðây là vùng nước đọng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn, không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, cũng không có cầu bắc qua từ bờ bên này đến bờ bên kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn”.

Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, người ấy vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia, đứng trên đất liền.

Ví dụ này, này các Tỳ-kheo, Ta làm để giải thích ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa:

Bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.

Năm tên giết người thù địch, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

Tên thứ sáu cướp nhà, giết người với cây kiếm giơ lên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với dục tham.

Ngôi làng trống không, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỳ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không … Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không.

Bọn cướp phá làng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ. Này các Tỳ-kheo, mắt bị tàn hại trong các sắc khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, tai bị tàn hại trong các tiếng khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, mũi bị tàn hại trong các hương khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, lưỡi bị tàn hại trong các vị khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, thân bị tàn hại trong các xúc khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, ý bị tàn hại trong các pháp khả ái và không khả ái.

Vùng nước lớn, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu.

Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này.

Bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn.

Cái bè, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành.

Tinh tấn dùng tay và dùng chân, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.

Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán.”

(Tương Ưng Bộ kinh – kinh Con Rắn)

Bốn con rắn độc này là sức nóng tột độ, nọc độc mãnh liệt, sức tàn hại, tàn phá của nó là kinh hoàng, khủng khiếp. Chỉ cần một con rắn thôi, con rắn gió đó nó gầm gừ, rắn phong đại nó nổi giận lên, thì trái đất này rung chuyển, sự nghiệp sụp đổ, sanh mạng không còn, nhà tan, cửa nát, đó là ngoại phong đại, ngoại phong giới. Chúng ta có thấy chưa? Nhiều khi mình học mình nghĩ là con rắn bình thường thôi à, Đức Phật mượn cái hình ảnh đó mình phải liên hệ với các cái pháp thực tế, hiện thực, hiện hữu, đang có mặt, đang xảy ra, đó là ngoại phong giới. Chỉ cần con rắn gió, rắn ngoại phong đài mới gầm thôi, nó nổi giận lên, nổi trận cuồng phong lên, là người bay, nhà bay, cây bay, núi đổ, tất cả sự nghiệp gây dựng suốt cuộc đời này chỉ trong phút chốc thôi.

Như có một chú là chủ tiệm vàng, chú đang thu gom tài sản mà gió tới cuốn bay hết tất cả mấy tủ vàng, bay luôn cái tiệm đó. Tìm lại không được bao nhiêu hết, kóc ròng, sự nghiệp cả cuộc đời gió thổi cuốn bay hết. Đó là mới có một chút ngoại phong giới thôi, chứ chưa có phong luân, chưa có tới tam tai. Nếu mà phong luân nổi lên, là cả trái đất này bay luôn. Đây mới là những cơn bão chỉ gọi là tương đối thôi, chứ chưa phải tới là đại phong tai. Thì Đức Thế Tôn nói chúng ta nghe đó: “Là thổi bay nhà, thổi bay xóm, thổi bay thị trấn, thổi bay quốc độ”, quốc độ tức là cả đất nước đó. Chúng ta mới thấy đó là chút xíu ngoại phong giới thôi, còn nội phong giới trong này nó hành hạ mình như thế nào, mình đau nhức như thế nào. Mình ngồi đây nãy giờ nghe nội phong giới đau nhức, giật giật ở trong con người mình, đó là nội phong giới.

Ăn không tiêu, bụng kêu ọt ọt, không thôi thì nó xì hơi. Tất cả những cái này mình phải nhìn thấy được, đó là con rắn đó. Nó ợ, rồi xì hơi, bụng kêu ọt ọt, rồi mình đau chỗ này, nhức chỗ kia, mình mẩy mình ê ẩm hết trơn, đó là nội địa giới. Còn bên ngoài là ngoại địa giới, là nó sụp đất, sạt lở, động đất, rung chuyển. Ở Đài Loan động đất bằng 8 trái bom nguyên tử, tòa nhà 101 tầng lắc qua lắc lại, trên mạng nó quay giống như cái cây mà bị gió thổi. “Nếu chỉ cần một trong bốn con rắn độc đó mà nó tức giận thôi, thời này bạn, bạn sẽ đi đến chết hay là đau khổ gần như chết”. Chúng ta thấy câu nói đó chúng ta chiêm nghiệm, một trong bốn con rắn đó tức giận thôi đó. Bây giờ hỏa tai đó, chúng ta thấy không? Núi lửa phun trào trên nhiều nước trên thế giới.

Núi lửa phun trào như vậy, là hàng triệu người, bao nhiêu triệu người phải di tán, phải sơ tán, phải bỏ nhà ra đi. Có những cụ già ở ngoài miền trung là không chịu đi, người ta phải đến vận động 5, 7 lần, người ta năn nỉ cũng không chịu đi tránh bão, “nhà tôi, tôi ở đây”. Mới có một trận bão, mà may mắn là ghé thăm chút xíu thôi rồi đi qua bên Lào. Mà như vậy chúng ta thấy tang thương, tan nát, đổ vỡ, đổ nát, mà phải di tản hàng triệu người, dời đi, sơ tán đi. Đó là con rắn của phong đại, ngoại phong giới. “Như vậy chỉ cần nó tức giận lên, nổi giận lên, bạn sẽ đi đến chết hay là đau khổ gần như chết. Vậy này bạn, hãy làm những gì bạn nghĩ là cần phải làm”. Những gì cần phải làm? Tham lam, muốn tính thêm, góp thêm, hay là giận người này, người kia. Hơn thua với người này, người kia với từng lời nói, từng ánh mắt, hành động.

Thật là quá ngu si, quá vô minh, quá dại khờ, quá mù lòa, quá điên loạn. Chuyện cần làm không không làm, chuyện nên làm mình không làm, chuyện đáng làm mình không làm. Mà chuyện đang làm của mình là gì? Chạy trốn chỗ này chỗ kia hả? Có cả một triệu người đi chạy trốn đó. Chúng ta thấy một cái ví dụ của Đức Phật mà 3000 năm, từng chữ ở trong này, mà nhìn ra được 1 triệu người đi chạy trốn. Chạy trốn con rắn gió đó, chúng ta thấy không? Từng câu kinh này. Cho nên những bài kinh như vậy chúng ta học 10 năm, 30 năm, chứ không phải học xong, giảng xong rồi là xong rồi mai mốt hỏi lại là quên. Phải đưa nó đi vào thành trí tuệ của mình luôn, không có quên. Cả triệu người đi chạy trốn con rắn độc ở bên ngoài đó.

Rồi cái chung cư mà khói nó bùng lên một cái, là quýnh quán hết trơn, cầm một cục tài sản, giấy tờ, là chạy ra ngoài chạy trốn hết trơn, chạy trốn con rắn lửa, ngoại hỏa giới. Chưa kể cái nội hỏa giới nó hành hạ mình, ngồi nghe pháp mà nó đau nhức, nó khủng bố, nó hành hạ mình, phải không? Cái nọc độc của nó là sức công phá mãnh liệt, sức nóng tột độ với nọc độc mãnh liệt, chỉ cần nó tức giận lên thôi là mình từ chết cho đến bị thương. Nói cái từ như vậy cho nó dễ nhớ, là từ chết cho đến bị thương bị thương nặng gần như chết. Khởi lên một chút sân hận thôi, một chút tham dục, tham ái thôi, là nó hành hạ, tàn phá, tàn hại, tàn độc mình không? Làm cho mình tàn tạ, tả tơi từ bên ngoài, cho đến bên trong. Chỉ cần một con, nửa con bên ngoài, nửa con bên trong.

Như vậy mà mình không thấy, mình đâu có thấy đâu, “giờ tôi an ổn quá vậy, tôi khỏe quá vậy, có gì đâu. Sao tự nhiên nói khổ hoài vậy?” Cho nên những cái này là để cho chúng ta ngấm ngày một chút, giống như là chúng ta ngâm củ kiệu với làm dưa mắm như vậy đó. Chúng ta biết làm tương, làm chao, làm củ kiệu hay làm dưa mắm không? Phải đè vô trong đó, ém vô trong đó, rồi cứ đổ nhét vô trong đó chặt rồi cứ để nó ngấm từ từ. Thì ngày nào chúng ta cũng bỏ muối vô cho nó ngấm vô “khổ nè con, bất an nè con, tai họa, nguy hiểm, tai nạn nè con. Đừng có ham, đừng có mê, đừng có thích, đừng có ảo tưởng, vọng tưởng, ngụy tưởng, hư tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng nữa con”. Mình thấy sự thật này, thì như vậy ngấm riết, dần dần dưa nó mặn, nó giòn, xong ăn nó ngon không? Hôm qua chúng ta ăn cháo trắng với dưa muối không ạ? Nó giòn không?

Thì trái dưa phải thấm nó mới giòn ngọt, cho nên mình phải thấm tương chao, thấm sự thật, thấm cái khổ, thấm trí huệ. Thấm cho tới cái mức nó là muối đi vào trong trái dưa đó luôn, thì nó đâu có tách ra làm hai được, nó trở thành dưa muối. Lúc đầu là dưa riêng, muối riêng, nhưng mà khi nó ngấm vô rồi nó trở thành dưa muối, muối ở trong dưa, dưa ở trong muối. Thì lúc đó gọi là thể nhập, Thánh thể nhập, là sự thể nhập vào Thánh trí, thể nhập vào sự thật. Cho nên một lúc nào đó, mình nhìn bất cứ một cái gì trên cuộc đời này, mình chỉ thấy tan hoại, tiêu tan, hủy hoại, hoại diệt, vô thường, khổ đau, bất an, tai họa. Nhìn hết tất cả những gì mình nhìn thấy được, mà đều như vậy hết, thì lúc đó mình thành tựu thấy đúng Chánh kiến, tri kiến của bậc Thánh.

Lúc đó hết khổ, mình vĩnh biệt khổ đau, mình bái bai luân hồi, mình từ giả thế gian, “chịu không? Vỗ tay lớn lên coi”, phấn khởi, hân hoan lên, nãy giờ nghe pháp mà mặc bí xị. Khổ, nhưng mà mình hỷ lạc với Thánh trí huệ. Cho nên mình mà không khéo, là mình ứng dụng sai cái sự hộ trì căn. Lúc nào hộ trì căn là hộ trì căn, có lúc cho cái tâm mình phải mở ra để cho cái pháp nó đi vào. Còn lúc nào mình cũng như vậy hết là không phải. Phải thiện xạo, khéo léo trong sự sử dụng về sáu căn của mình. Cảm thọ của mình có lúc mình phải mở ra, để cho ánh sáng mặt trời chiếu vô, để cho dòng nước mát nó thấm vô, để cho Thánh nhũ của Đức Phật rót vào tim mình. Chứ không phải lúc nào mình cũng đóng lại hết, cái lúc mình gặp tham, sân, si, bản ngã thì mình đóng lại. Còn lúc mình gặp Thánh trí, mặt trời Thánh tuệ thì mình phải mở ra.

Nhiều khi gặp tham, sân, si thì mở ra mở tan quát ra hết trơn. Rồi tới lúc mặt trời Thánh tuệ mọc lên, thì mình đóng cửa lại. “Khổ quá, nói khổ quá, bây giờ chán quá”. Can khéo léo để mình thiện xảo, để mình sử dụng mắt, tai, mũi, lưỡi, mình sử dụng cảm thọ, thọ, tưởng, hành, thức của mình. Mình phải là một người nghệ nhân, một nhà nghệ thuật, một hành giả Nikāya thiện xảo. Trong khi mình sử dụng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình, mình phải khéo sử dụng. Cho nên nhiều khi con kêu vỗ tay, không phải là con thích náo nhiệt đâu, mà con cho đại chúng có cái sự phấn khởi, hân hoan lên. Chứ không thôi cái thọ trầm xuống, nó trì xuống. Không phải con ham thích vỗ tay rần rần để nói là con giảng hay, không phải.

Cho quý vị có cảm thọ hân hoan, phấn khởi lên, chứ gì mà cứ ngồi rũ xuống như gà cú rũ vậy đó, làm ăn không nổi, mạt rệp. Mình phải cảm nhận được Thánh trí, diệt khổ, nhưng mà mình hỷ lạc. Mắt, tay, mặt của mình rạng rỡ, chứ không phải mình cảm nhận cái khổ mà mình ủ rũ, mình bi lụy, thì không phải. Thì cái đó là cái thiện xảo, nhưng mà lâu ngày mình mới được, chứ không phải mới mà được đâu. Cho nên lúc mà mình nghe cái khổ mà mình nhìn gì cũng khổ hết, thì lúc đó rất là tốt. Lúc đó cái tâm mình thọ được cái pháp, tức là nhận được. Sau khi nhận được mình phải giữ, cho nên hai cái chữ “thọ trì” là quan trọng lắm. Nhận được cái pháp đó, sau đó mình phải giữ cái pháp đó. 

Thí dụ mình nhận được 4 con rắn độc đó, là mình phải giữ cái pháp, mình phải nhìn thấy đó là tai họa, là bất an, là đau khổ, đừng có mất cái pháp đó. Hễ đúng cái cơ hội đó là mình sử dụng liền, như vậy gọi là thọ trì pháp. Là bậc hiền pháp, nắm giữ được cái pháp đó, cất giữ được cái pháp đó. Mình lấy cái vụ đó làm của hồi môn, lấy cái đó làm di sản của bậc Thánh, làm lá bùa hộ mạng, làm chiếc phao, chiếc bè, của hồi môn, bảo bối của mình, chứ không phải học qua rồi là xong. Không lẽ một bài con cho học suốt một tuần lễ, nửa tháng, sợ quý vị chán, chứ phải học như vậy mới thấm. Cho nên cái khổ đó mình học hoài, từ hồi dịch bệnh tới giờ là mình học 2 năm nay rồi, mình học về cái khổ đó. Mà mình buông ra khỏi bài học đó rồi, mình có thấy khổ không? Có thấy phơi phới, hí ha hí hửng không? Có lạc thọ đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc không?

Do cái vô mình nó như vậy đó, nó ghê gớm như vậy. Mà khi cái thọ đó thấm vô người mình rồi, thì cái thọ của mình nó sẽ an tịnh, lắng dịu. Dù được cái gì vui sướng, mà từ ngoài đời người ta gọi là hạnh phúc đó, được cái gì dữ dội lắm, thì cái thọ của mình nó cũng nhè nhẹ thôi, nó không có giống như người không biết tu. Hoặc bị cái gì, hay đối tượng làm cho mình sân hận, mình cũng nhè nhẹ thôi, rồi mình có cách xử lý. Khi thấm cái khổ rồi, là tự nhiên thọ, tưởng, hành của mình nó sẽ an tịnh, lắng dịu trong mọi hoàn cảnh. Thì nọc độc của nó ghê lắm, đất, nước, gió, lửa này. Cái hình ảnh này là chúng ta phải chiêm nghiệm nhiều, đã bị bốn con rắn như vậy đó mà chạy chỗ này, chỗ kia, chạy trốn.

Như mình thấy những hình ảnh leo lên nóc nhà ngồi, nước nó ngập tới nóc. Rồi những con chó, mình thấy tội nghiệp, nó ngồi lạnh run như cày sấy, tại vì ngồi ngoài trời mưa bão, đâu còn chỗ nào nữa đâu mà ngồi. Không thôi leo lên cây, còn không thôi nó cuốn trôi. Rồi có người thì chết, có người thì nắm được cành cây, ôm vô cái thân cây. Giống như có hai vợ chồng đi kiếm măng, kiếm gì trên rừng đó. Rồi đi qua dòng suối, nước nó dâng lên cuốn một cái, rồi một người thì chết, một người nắm được cành cây. Hay như mới gần đây một chuyện hết sức là đau lòng, xót xa lắm. Có người vợ này bệnh ung thư, nan y, mà thời gian 7, 8 năm trời, sạt nghiệp, phá sản. Tại vì bán nhà đất cửa hết để lấy tiền mà trị bệnh, hóa trị. Thì tính đợt này là hai vợ chồng bàn với nhau là tự giận chết hết, bây giờ không có tiền để trả tiền thuốc, khổ quá, chịu hết nổi.

“Bây giờ nhà cũng không còn, rồi tài sản không còn nữa rồi, bây giờ giữ cái mạng này để làm gì?” Mà nằm bệnh viện đó thì cái tiền đó rất là nặng. Chúng ta biết ung thư một lần xạ trị, hóa trị là bao nhiêu tiền, đối với những người nghèo. Thì như vậy là chích dây điện cho bà vợ chết, rồi sau khi bà vợ chết thì ổng chích dây điện cho ổng, mà chích mấy lần mà nó không chết. Rồi người ta hay, người ta chạy qua cứu được. Rồi bây giờ tòa mới phán là ông này ở tù 7,8 năm gì đó. Đó là cái nọc độc, sức nóng tột độ, với cái nọc độc mãnh liệt. Cái bệnh đó là từ trong tứ đại, chứ có ngoài tứ đại đâu, ở trong địa đại. Chỉ cần một con nó giận dữ, nó tức giận lên, là từ chết cho đến đau khổ gần như chết, nó hành hạ nó tàn hại tàn phá.

Đó mình thấy không từ trong thân ra tới cảnh giới đi ngược vô trong tâm đau khổ nó chồng chất như thế nào? Nhưng mà vì vô minh, vì ngu si, vì mù lòa, không thấy không biết. Ở trong đau khổ mà còn hành hạ với nhau, để đau khổ hơn thêm. Mà con nghĩ, nếu như mà mình hay biết những chuyện đó, mình giúp được người ta từ thiện thì nó tốt biết bao nhiêu. Những người giàu có nhất hành tinh, nhất thế giới, người ta mua một chiếc xe như vậy là hàng mấy trăm ngàn đô la, hàng tỷ đô la, mua một căn nhà như vậy là bao nhiêu tỷ. Phải như người ta có tình thương, người ta biết được, người ta lấy tiền người ta giúp những người đó thì cũng đỡ, cũng tốt biết bao nhiêu.

Nhưng mà vì cái tâm ích kỷ, người ta đâu có suy nghĩ đến những người khổ, “khổ chết mặt ai, sống mặc ai, kệ ai. Tôi như vậy tôi sung sướng được rồi”. Rồi có những người cũng giúp, mà giúp làm sao giúp được hết. Nghiệp quả của chúng sanh, là một trong những cái mà tứ bất khả tư nghị, không thể tưởng tượng được. Chúng ta chiêm nghiệm cảnh hai vợ chồng chích điện, giật điện với nhau cho chết vì ung thư, nằm đó 7,8 năm, không có tiền trả tiền viện phí, đó là cái cảnh con rắn độc nó hành hạ mình đó. Những hình ảnh đó là chúng ta phải đem vô chúng ta thiền quán, chúng ta để hình ảnh đó trong tâm của mình, khắc ghi những cái cảm Thọ những hình ảnh những suy nghĩ, những nhận thức đó để mà nhớ. “Nhớ nha tâm ơi là tâm, nhớ cái tứ đại rắn độc này nha”.

Những cái đau khổ từ trong tâm này, từ trong thân này, từ ngoài hoàn cảnh giới này, từ xã hội từ thế gian, từ vũ trụ, từ địa cầu này và bao nhiêu những địa cầu khác, hành tinh khác đều là như vậy hết. Phải thấm thía cái khổ, vì cái đó là cái sự thật đang diễn ra trước mắt mình, nhãn tiền, hàng ngày chung quanh mình. Chứ không phải con nói chuyện gì đó xa vời ở phương đông, phương tây, phương bắc, phương thượng, phương hạ, phương gì khác ngay trước mắt mình. Cái khổ đó, sự thật đó, sao mình không nhìn, không thấy, không cảm nhận, không cảm thọ? Đã như vậy rồi, mà còn có 5 kẻ giết người đi đằng sau lưng, 5 kẻ sát thủ. Bất cứ lúc nào, cái cảm giác nó cũng có thể giết mình chết. Bất cứ lúc nào, cái suy nghĩ nó cũng có thể giết mình chết.

Suy nghĩ của mình, hoặc là cái suy nghĩ của người khác, đều giết mình chết hết. Bất cứ lúc nào cái tư tưởng của mình, nó cũng có thể làm cho mình phá tan, đạo nghiệp, thoái đọa trong sự tu hành. Hoặc là những suy nghĩ của người khác, cũng có thể ảnh hưởng đến sự tu hành của mình. Thí dụ như người tham ái với mình, mà tâm mình hiểu mình là người xuất gia rồi, mà người ta cứ thương mình, “thương thầy, thương cô”. Nếu như mình bị tác động riết mà mình không có trí tuệ, thì cái suy nghĩ, cái cảm thọ, tư tưởng người đó có giết mình chết không? Thì đó cùng nội công ngoại kích, suy nghĩ bên kia, suy nghĩ bên này, hay cái suy nghĩ đó cùng chung lại là rồi xong, tóc mọc dài ra. “Giết” ở đây mình phải hiểu hai nghĩa, giết ở nghĩa đen và nghĩa bóng.

Giết chết cái thân này và giết chết cái tâm trí huệ giải thoát, tâm cầu đạo, tâm xuất ly, thoát ra của mình cũng bị giết chết. Như vậy thì những cảm giác, những suy nghĩ, những nghĩ tưởng, những nhận thức đó là 5 kẻ sát nhân, lúc nào nó cũng ở bên cạnh mình hết. “Năm kẻ sát nhân, thù địch này đang đi sau lưng bạn. Chúng nói khi nào thấy nó chúng ta sẽ giết nó”, khi nào thấy thì sẽ giết, gặp là giết. Chấp nhận sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là mình, là của mình, là tự ngã của mình, tham ái, chấp thủ dính chặt ở trong này. Chúng ta thấy không? Cho nên cái này mình phải quán chiếu, rồi cộng với tên thứ 5 nữa, là cái tên vừa cướp, mà vừa giết nữa. Cướp của giết người, lúc nào nó cũng cầm cây kiếm giơ lên, đi sau lưng mình, nên thứ 6 này là cái gì? Là dục tham.

Năm thằng sát nhân hồi nãy là ngũ uẩn, còn tên thứ sáu này là dục tham. Bất cứ lúc nào, cái tâm tham dục cũng có thể giết mình chết hết. Mà mình không có cẩn thận, không có canh chừng, cái tâm mình không có quán sát, để ý là chết ngay. Nó cầm cái con dao ở phía sau lưng mình, và là tên thứ 6 cướp của giết người, thanh kiếm đem theo đang canh sau lưng mình. Bây giờ đi vô cái làng, rồi sao nữa? “Rồi người ấy thấy một ngôi làng trống không. Nhà nào người ấy đi vào, người ấy vào chỗ trống không, vào chỗ rỗng không, vào chỗ tuyệt không. Người ấy sờ đến đồ dùng nào, người ấy sờ chỗ trống không, người ấy sờ chỗ rỗng không, người ấy sờ chỗ tuyệt không. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, bọn cướp phá hoại làng, sẽ đánh cướp ngôi làng trống không này. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm.”

Ngôi làng trống không đó: “Này các Tỳ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không … Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không. Sáu nội xứ là cái gì ạ? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Giờ vô đâu là biến thành trống không tới đó, chạm tới chỗ nào là cái đó trở thành tuyệt không, rỗng không, trống không. Đó mới tức thì nằm trong bệnh viện, bây giờ chích điện chết queo, người vợ chết, chồng ở tù 7 năm. Mà cái đó phải từ một suy nghĩ, từ một cảm giác, từ một ý tưởng không? Thì có phải là sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là giết người không? Thấy rõ chưa? Nhiều khi mình đọc mà mình không thấy, mình lấy cái thực tế đời sống hàng ngày diễn ra, để mà cho chúng ta nhìn thấy được sự thật 3000 năm của Đức Phật.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức giết người đó, một cái ý niệm đi ăn trộm, ăn cắp người ta, rồi cũng giết người, cũng vô tù. Cho nên bậc hiền trí nhìn sáu nội xứ này, cái thân thể này là bài thân trống rỗng. Của bậc đại hiền trí chấp tác đó, bậc tôn đức, bậc thượng thủ đó. Thân trống rỗng, tức là 6 nội xứ này là trống rỗng, là tuyệt không, là có rỗng không, là trống không. Chúng ta thấy nó tương ưng với nhau, nó nhất quán với nhau không? Nói tới đâu là nó có mắc xích, có liên hệ tới đó. Nó xuyên suốt, nó có một sự nhất quán trong hệ thống, không phải là muốn nói gì thì nói, pháp Nikāya chúng ta tu học nó tuyệt diệu như vậy. Rồi tiếp theo là bọn cướp phá làng, thì người này chạy trốn chỗ này chỗ kia.

Cái nào cũng có chạy trốn chỗ này chỗ kia hết, chạy trốn tức là viễn ly hành đó, con thưa các thầy các cô. Chạy trốn chỗ này chỗ kia, tức là “chạy lên núi trốn phải không phật tử Hậu?”, tức là rời xa, tránh xa, chạy xa những sự nguy hiểm đó, bốn con rắn độc, 5 tên sát nhân, rồi đứa giết người đó. Thì mình đi, chạy xa những thứ nguy hiểm, ác độc đó. Thì cái chạy xa chính là viễn ly, chính là đi tìm núi rừng tu hành, tìm thầy học đạo, xuất gia đó. Các cô cư sĩ ngoài sau có thấy không ạ? Có chạy đi kiếm, có chạy bỏ không? Có bỏ những thứ nguy hiểm kia để kiếm đường thoát thân không? Có thấy mình đang chạy chưa? “Chạy đi ra, chứ không phải chạy vô nha”. Về nhà rồi cũng phải nhớ chạy ra, chứ về nhà đừng chạy vô nữa là khổ đó.

Chúng ta nhắc lại cái ví dụ này để chúng ta nhớ. Những tên cướp này là sáu ngoại xứ: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Cái sắc đẹp này là ăn cướp cái tâm bình an của mình đó. Cái tiếng nói chỉ trích hoặc là ngọt ngào, là ăn cướp của báu của mình, ăn cướp cảm thọ an tịnh, lắng dịu của mình. Mình nghe một tiếng chửi, hay một tiếng chỉ trích, thì mình còn an tịnh, lắng dịu không? Mình bị cái tiếng đó cướp mất, rồi mình ngồi thiền không yên, mình ngủ không được, mình đi ra đi vô bực mình, cứ nhớ, cứ ám ảnh. Câu nói, hình bóng, hành động đó là nó cướp rồi đó, cái đó là ăn cướp đó. Nó cướp cái nội tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào của mình, mình bị cướp mất rồi. Nhìn thấy một cái là bị cướp mất, nghe thấy một cái là bị cướp mất, ngửi nếm là bị cướp mất. Nghe cái mùi nhiều khi cũng bị cướp mất nữa, đi phớt ngang mùi thơm gì đó cướp mất. Thật ra mình phải nhìn thấy.

Rồi tới cái đầm nước gì? Quá sợ hãi cái tên cướp làng đó, người ấy chạy chỗ này chỗ kia. “Rồi người ấy thấy một đầm nước lớn, bờ bên này đầy những sợ hãi nguy hiểm, bờ bên kia được an ổn, không có sợ hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, không có cầu để đi qua đi lại”. “Bọn cướp phá làng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ. Này các Tỳ-kheo, thân bị tàn hại trong các xúc khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, ý bị tàn hại trong các pháp khả ái và không khả ái”. Ở đây Đức Phật dùng chữ tàn hại, sáu cái pháp ở bên ngoài đó, cái tụi cướp làng đó làm cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình bị tàn hại.

“Vùng nước lớn, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu”. Những cái bọc lưu ở đây là dòng chảy xiết, xoáy nước, những vòng xoáy. “Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này”, những dòng chảy của dục, những dòng chảy của hữu, của kiến chấp, vô minh. “Cái bè, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành”, tức là Chánh pháp. “Tinh tấn dùng tay và dùng chân, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần”. Vị tu hành này vượt qua bên bờ bên kia, đứng ở trên đất liền, tức là bậc Thánh giả A-la-hán, “bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn. Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán.”

Làm sao phải là nỗ lực bơi chèo, chạy trốn cho nhanh lên, thoát ra “thoát mau, thoát lẹ, thoát xa chốn này”, nhớ câu đó không ạ? Thoát nhanh, thoát lẹ, thoát mau ra khỏi chốn mà đầy tai họa, hiểm độc này. Đây là rắn độc, rồi kẻ giết người, tụi phá làng phá xóm, rồi đầy rẫy những sự nguy hiểm, ác thú, cọp, sói, hổ, beo, có thấy không? Có thấy cọp, sói, beo ở đâu không? “Ở trong ngũ uẩn”. “Tốt, cho một tràng pháo tay lớn đi, thấy như vậy là trí tuệ đó”. Hàng ngày phải nhìn ra được bộ mặt cọp, sói, hổ, lang ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong những suy nghĩ, những tư tưởng, những lời nói lầm thầm trong đó, nó hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn, rắn độc, cọp, beo, sói, lang trong đó. Chạy nhanh, chạy thoát lẹ, chạy mau, chạy xa khỏi nơi đầy tai họa, hiểm ác, ác độc này.

Mình cứ tưới tẩm, nuôi dưỡng cái tâm nhàm chán, xuất ly, viễn ly cho nó thật là mạnh. Cho tới khi cái tâm mình mạnh rồi, thì mình khỏe ru à, mình không cần lo diệt cái tâm hướng ngoại nữa. Khi mình diệt nó xong rồi, sau này mình ở chỗ nào mình cũng ở bình yên hết, không còn đi tìm kiếm, khát khao, thèm muốn cái gì nữa hết. Không cần lệ thuộc bất cứ cái gì của sắc, thanh, hương, vị, xúc ở bên ngoài nữa, pháp ở trong cũng không lệ thuộc luôn. Lúc đó mới gọi là: “Tự mình nương tựa chính mình, không có nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm chỗ dựa”. Từ cái câu đó, mình phải tới chỗ đó thì nói cái đó mới đúng.