Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Di Giáo Giảng Giải 17 - Tu Tập Trí Tuệ 2

2026-03-03 00:53:00
Kinh Di Giáo Giảng Giải 17 - Tu Tập Trí Tuệ 2

(Văn bản. Diệu Quang)

Cách thực tập trí tuệ chúng ta đã thường nghe văn tư tu nghe rồi chim nghiệm, thực tập. Hôm nay chúng ta tìm hiểu năm pháp hỗ trợ cho trí huệ trong kinh Phương quảng và bốn pháp tăng trưởng trí huệ, chúng ta sẽ tìm hiểu cách thực tập hỗ trợ và tăng tưởng cho trí huệ.

Giới hạnh nghe nhiều thảo luận thiền chỉ và thiền quán là năm pháp hỗ trợ cho trí tuệ. Mình phải có giữ gìn nhưng thanh quy, nội quy, quy nghi và giữ gìn giới luật, nói đơn giản dễ hiểu nhất phù hợp nhất trong thời hiện đại này là mình thực tập sự chánh niệm và tỉnh thức, bình thường nghe chữ giới luật giống như có cảm nghĩ nặng nề, khó khăn, khuôn khổ nhưng khi nói chữ chánh niệm tỉnh thức nó nhẹ dễ chấp nhận nên các bậc Tôn đức có khi sử dụng niệm-định-tuệ. Trong mỗi cử chỉ động tác của mình, mình phải luôn nhớ mình là một người tu đó là niệm, đừng có quên mình là người tu, trong kinh Di giáo nhắc mình mỗi khi thức dậy mình phải sờ đầu, có thể mỗi lần mình học tới mình nhớ hay mình nói chuyện với ai nhắc mình nhớ nhưng chưa chắc sáng ngủ dậy mình đã sờ đầu mình, cái quan trọng vẫn là thực tập. Hôm qua Minh Thành ngồi trên xe từ Linh Quy Pháp Ấn về Thành Phố Hồ Chí Minh có khi trên núi gần tuần mới tắm một lần vì trên đó lạnh có khi ba ngày, mình sờ đầu thấy gàu rớt xuống mình mới nhớ quán thân này nó nhơ nhớp, đang ngồi trên xe mình thực tập bất tịnh quán sao dơ, cái móng tay quên chưa cắt gãy dính đất vào trong đó nên các nhà khoa học nói với mình trong căn phòng mình bảy chục phần trăm bụi là do cơ thể của mình bài tiết ra chứ không có đâu xa nên nói phòng mình đóng kín sao dơ lúc nào cũng có bụi là từ trong cơ thể mình bài tiết ra, cho nên mỗi cử chỉ mỗi động tác mình phải nhớ mình là người tu mình là người xuất gia và luôn luôn mình dùng phương pháp niệm định tuệ để mình nhìn hiện tượng sự vật sự việc nó làm cho mình tăng trưởng tuệ giác, cái quan trọng là niệm, trong nhà thiền nói rằng nếu mà mình mất chánh niệm giống như thây chết, thây di động chứ không có linh hồn, nhiều khi mình tu nhìn thấy huynh đệ nói cười giỡn tưởng là thương nhưng đồng nghĩa với sự khóc than trong chánh pháp trong chánh tạng đức Phật nói, người xuất gia đùa giỡn lớn làm những cái thô tháo cái đó đồng nghĩa khóc than trong pháp và luật của Như Lai, những cái thô tháo những cái không có giữ gìn cái đó là sựu xa sút trầm trọng của người xuất gia, niệm phải nhớ chính cái đó phát sanh trí huệ không có cái đó không có trí huệ, không có cái này sao có trí huệ thâm sâu nên pháp duyên khởi cái này có cái kia có, cái kia có cái nọ có, cái nọ có thì cái khác có cứ vậy đó là một móc xích như sợi dây chuyền, hội dây xích nói trong mười hai nhân duyên đau khổ ràng buộc nhưng day chuỗi bằng kim cương hạt xoàng đó là biểu trưng cho thiện pháp công đức trí huệ cũng là pháp duyên khởi một cái là nghiệp cảm duyên khởi, một cái gọi là tánh tịnh duyên khởi, thanh tịnh tâm duyên khởi, công đức duyên khởi cũng đều là duyên khởi nên duyên khởi ra cảnh giới dầu sôi lửa bỏng cột đồng cháy đỏ,cũng duyên khởi đất bằng lưu ly cây bằng vàng rồng lá bằng cẩm thạch cũng là pháp duyên khởi là pháp sanh diệt nhưng một cái là tội lỗi, một cái là phước báu khi đạt được siêu việt nhìn hai cái đó đều là tánh không , cái đó siêu việt lên trên thiện ác cho nên niệm giới hạnh, oai nghi là quan trọng trang nghiêm, tôn trọng, cung kính và biết ơn đó là khẩu hiệu trang nghiêm tôn trọng cung kính biết ơn, mình có niệm mới trang nghiêm được có chánh niệm chính cái chánh niệm đó thôi thúc đem mình trở về giây phút hiện tại, cái chánh niệm đó làm cho mình tỉnh thức mình nghe nhiều thì mình tiếp thu mới sâu sắc nên giới hạnh đa văn nghe nhiều, mình muốn có trí huệ mà không nghe nhiều thì không phát sanh trí huệ được nếu mình nghe nhiều mà không có niệm nghe nhiêu rớt lọt nhiêu nên những người tri thức học nói nhiều hiểu nhiều biết nhiều nhưng nhìn họ không có trí huệ, có kiến thức chứ không phải có trí huệ, kiến thức và trí huệ khác nhau, người đó rất là có kiến thức nhưng người đó chưa chắc đã có trí huệ, người có trí huệ chắc chắn họ có kiến thức cho nên niệm làm cho nghe nhiều của mình sẽ tiếp thu một cách rất sâu rất rộng nên tại sao Minh Thành để huynh đệ nhắc lại hoài để thấy được động cơ mục đích việc mình làm, ngồi yên lặng năm phút đó là chánh niệm là đa văn, mình đối chiếu phương pháp Minh Thành chia sẻ cho huynh đệ từ trong kinh luận mà ra, từ trong thực tiễn mà ứng dụng rồi tới thảo luận lâu lâu Minh Thành cho pháp đàm. Trong Thiền lâm bảo huấn nói rằng ‘học vi vấn biện, vô do pháp minh’. Học mà không có hỏi không có biện luận không có thảo luận không có đàm luận thậm chí là không có tranh luận thì không thể nào sáng tỏa vấn đề, phát minh là làm cho vấn đề đó sáng tỏa ra làm cho nó minh bạch nên thảo luận này là một trong những yếu tố phát sanh trí huệ, hỗ trợ cho mình phát sanh ra trí huệ mình muốn có trí huệ mà không muốn thảo luận thì không có trí huệ cho nên những buổi pháp đàm là quan trọng đó là giúp cho huynh đệ, thiền chỉ và thiền quán quan trọng chúng ta học chương thiền định rồi chỉ là dừng lại và nhìn kỹ đây là hỗ trợ cho mình hiểu biết sâu sắc, luôn luôn mình tập dừng tâm mình lại để nhìn kỹ một vấn đề nào đó mình muốn tìm hiểu một vấn đề nào đó cho sâu sắc thì mình phải dừng tâm lại cho mình nhìn, mình cứ dừng lại nhìn kỹ một vấn đề nào đó chắc chắn vấn đề đó sẽ thông đạt, thông đạt một cách rất thâm sâu mình thấy rất rõ như là Hòa thượng Luật sư Thượng Minh Hạ Thông trên ba mươi năm đóng cửa lại để nghiên cứu thực tập giới luật nhưng mở cửa ra là luật sư toàn quốc, thấy rất rõ dừng lại để nhìn kỹ tập trung vào đó, Hòa thượng Vạn Đức hơn nửa thế kỷ đóng của dịch kinh, Ngài Huyền Trang của nước ta đại dịch giả của đại thừa dừng lại nhìn kỹ chuyên trú vào một cái, Hòa thượng Làng Mai cả cuộc đời cống hiến sự nghiên cứu giáo dục đào tạo cống hiến cho nhân loại cho thế giới, cuối cùng trở thành ra quốc tế đại sư, Xưa tông Hoa nghiêm có một vị gọi là Ngũ đế sư môn tức là thầy của năm triều đại, thanh lương trường quán tổ tông Hoa nghiêm, đất nước thay đổi năm lần, năm triều đại nhưng triều đại nào Ngài cũng làm quốc sư gọi là Ngũ đế sư môn Thanh lương trường quán cho nên dừng lại nhìn kỹ rất quan trọng . Tại sao mình không thành công vì mình tham, tâm tham của mình cái nào cũng muốn cái nào cũng thích, thích đủ thứ cuối cùng không có cái nào nên tông chỉ của Minh Thành cả cuộc đời phương châm trong kinh Di giáo lập tới lập lui hoài ‘chế tâm nhất xứ thập nhị bất biện’, giữ tâm một chỗ không việc gì chẳng xong câu đó là thiền chỉ thiền quán nếu không có chỉ làm sao giữ một chỗ, nếu không có quán làm sao biết được giá trị đó để mình đứng yên cho nên giữ tâm một chỗ là thành công, Bộ Nykaya năm tạng kinh mình trầm mình trong đó hai chục năm ba chục năm mình bước ra là tiểu Thích ca, năm bộ Nykaya mới có một kinh tạng, đi đâu thỉnh Tam tạng Pháp sư tới là tiểu thích ca muốn bài kinh nào là đọc thuộc bài kinh đó, mình học không thành công là vì tham cái nào cũng muốn học, nay thầy này mai thầy nọ nay pháp này mai pháp kia mốt pháp nọ nay chùa này mai chùa kia mốt gặp ở chùa nọ nên người xưa học chỉ quán đình huệ, không cần đổi hoàn cảnh đổi tâm mình cái này có trí huệ mới làm được cái này hỗ trợ trí huệ rất hay đó là nói cạn dễ hiểu còn chỉ quán này là Tứ niệm xứ quán xét thân tâm lúc nào cũng dừng lại để nhìn thân tâm bất cứ lúc nào ..cái này hỗ trợ trí huệ rất hay. Chữ quán này phải là Tứ niệm xứ quán xét thân tâm lúc nào cũng nhìn lại để quán xét thân tâm, bất cứ lúc nào bất cứ chỗ nào bất cứ nơi nào bất cứ trường hợp nào cũng nhìn lại thân tâm mình danh sắc ngũ uẫn tứ đại tự động phát lên trí huệ nên trong bộ phim Hư Vân Hòa thượng mình về xem bộ đó cho kỹ, Minh Thành cho là từ trước tới nay trong lịch sử phim ảnh Phật giáo có hai bộ Ngài Hư Vân Hòa thượng và bộ Đức Phật là đạt nhất khi Ngài Hư Vân nhập thất khóa tu ông đó bưng chén trà lên Hòa thượng cầm xảy tay rớt bể lúc đó Ngài khai thông tâm tánh, đâu phải tự nhiên bể chum trà ngộ mà tâm lúc đó chín mùi rồi một lá trúc, một giọt sương, hạt sỏi văng trúng cũng đạt nên trong nhà thiền có nhiều chuyện huynh đệ đọc thấy lạ ông cỡi ngựa đi qua cây cầu, cây câu ván cũ mục đi giữa cầu sập ông ồ

“Ngã hữu minh châu nhất lõa

Cửu bị trần lao tỏa

Kim chiêu trần tận quang sanh

Chiếu phá sơn hà vạn đóa

Ta có một viên minh châu

Đã lâu bị vùi sâu

Sáng nay bụi sạch phát quang

Chiếu thấy nghìn trùng non nước”

Trong kinh Đại thừa có ví dụ ta cầm cục sỏi liệng con chó thì con chó chạy theo cục sỏi sủa nhưng cầm cục sỏi chọi con sư tử con sư tử không chạy theo cục sỏi mà chộp ngay người cầm đó là cái nhìn của trí huệ nên ngộ không phải ở chum trà không phải ở chiếc cầu, ngộ là tâm thiền quán chín mùi.

Người không biết mới vào học thiền được mấy bữa đi đâu cũng nói. Trong kinh Tăng chi bộ đức Thế Tôn dạy

“Này các Tỳ-kheo có bốn pháp đưa tơi trí huệ tăng tưởng cái này quyết định

Thứ nhất thân cận bậc chân nhân

Thứ hai nghe diệu pháp

Thứ ba là nghe như lý tác ý

Thứ tư thực hành pháp tỳ pháp thân cận bậc chân nhân”.

Thế nào là chân nhân? là chân thật thông đạt pháp nghĩa của Chư phật người này không phải dễ gần, trăm năm ngàn năm nhiều ngàn năm mới xuất hiện một lần nên trong giáo lý của Bồ đề tâm, giáo lý của Phật giáo Tây tạng người ta quý trọng bậc đạo sư bậc chân sư bậc thượng sư, quy y tứ bao, quy y Phật, quy y Pháp quy y Tăng quy y với Thượng sư là vị Bổn sư mình quyết định đi theo người đó học đạo cái này quyết định cả cuộc đời của mình rất quan trọng, trong Chánh tạng Bali Ngài A nan bạch đức Thế Tôn bậc thiện tri thức rất lợi ích làm cho người học đạo thành tựu phạm hạnh phân nửa, đức Phật nói không phải, quyết định hoàn toàn phạm hạnh của người học đạo bậc thiện tri thức bậc thầy chứ không phải phân nửa nên người xuất gia không có được một bậc đạo sư một bậc thầy là sự thiếu phước của mình, thiếu phước trong thiếu phước là có bậc thầy mà không biết học đó là càng thiếu phước, Minh Thành cạo tóc được sáu tháng Minh Thành lang thang khắp mọi miền đất nước để cầu đạo rất gian khổ gian khó, thậm chí có những lúc muốn chết vì không tìm thấy con đường để mình thể nhập khi Minh Thành tìm ra pháp rồi Minh Thành trân quý hơn cả sinh mạng, Minh Thành thấy giá trị của Pháp thạm thăm vi diệu không có gì sánh nỗi nên người không có cung kính trong mức độ tương đối thì không xứng đáng để học đó không phải thường mà là thậm thăm vi diệu nên người biết giá trị đó mới có sự tôn kinh tôn xứng, mình được một bậc thiện tri thức được một bậc thầy biết được con đường đi chỉ cho mình pháp đó quyết định cả cuộc đời tu hành cuộc đời vĩ đại của người xuất gia, đầu tiên phải thân cận bậc chân nhân gần gủi tại vì không có bậc chân nhân này thì mình đọc mình xem mình nghe mình một hòi bội thực rối loạn mình không biết đường nào đi vào hàng chục tông phải không biết đường nào cái nào mình cũng thấy hay cũng tâm tham cái trọng điểm đó là triền cái nó che đậy ở ngoài mình tham sắc danh trong tham pháp môn tham phước, chỉ bậc thầy trí huệ họ mới biết biết căn cơ trình độ nghiệp thức của mình như thế nào họ mới sử dụng những chiêu thuật những cái phương tiện huyền sảo trong nhà thiền gọi là cơ dụng để giúp cho mình đưa mình từ từ đi vào quỹ đạo của chánh pháp để mình thấy được chân lý, quyết định bậc chân nhân này rất quan trọng trong đời tu hành cuộc đời mình

Trong nhà thiền có câu ‘Ban đầu không gặp bậc tác gia rốt cuộc trở thành đồ bỏ’ đó là câu trong nhà thiền, lúc đầu không gặp bậc tác gia cuối cùng chỉ là phế vật đồ bỏ, bậc tác gia là bậc thầy nắm được cương lĩnh của giáo pháp chỉ dẫn cho mình, ví dụ như như mình lạc trong rừng nếu không có người rành đường chỉ đường cho mình sao mình đi ra được, mình đang ở rừng u minh trong rừng rậm tà kiến gay góc trù lâm đây là từ trong chánh tạng rậm rạp dày đặc tà kiến, kiến chấp, thân kiến kiến thủ, giới cấm thủ bao nhiêu thứ dãy đầy, nhiều khi mình nghĩ mình xuất gia rồi là chánh kiến chánh tính, không phải, cả cuộc đời mình cầu học thậm chí mình đem sinh mạng của mình chưa chắc mình đã thành tựu được chánh kiến chân chánh giống như trong Bát chánh đạo của đức Phật không phải dễ trong thời đại này cho nên rất quan trọng. Thân cận bậc chân nhân, từ bậc chân nhân đó mình được nghe diệu pháp, con đường màu nhiệm con đường tháo gỡ con đường thoát ra người ta gọi là xuất ly, biết tôn trọng biết cung kính biết giá trị ý nghĩa tác dụng của bậc đạo sư của chánh pháp của Tam bảo của Phật Pháp Tăng luôn luôn như vậy, tâm tôn kính Tam bảo, tôn trọng Tam bảo thậm chí hy sinh cả thân mạng của mình vì Tam bảo vì chánh Pháp vì chúng sanh trong Bồ đề tâm cái đó là Như lý tác ý, gạt cái tôi của mình ra một bên, bỏ bản ngã của mình ở phía sau luôn luôn tác ý Vô thường khổ không vô ngã, phụng sự, cống hiến, phục vụ phát huy tuệ giác tánh không của đại bi Như lý tác ý, mình thực hành pháp, tùy pháp, thực hành theo pháp là mình tùy thuận theo cái thứ tự lớp lang, lớp có thứ bậc mình phải đi theo thứ bậc đó không được vượt bậc không được đốt giai đoạn, mình muốn hỷ vọng ý cao xa cũng đáng thương xót, đi chưa vững mà đòi lái máy bay, chưa biết đi mà đòi chạy nhân thừa đạo làm người học chưa xong, học trò làm chưa xong mà đòi làm Bồ-tát đây là bệnh của thời đại người học bây giờ, người sư anh sư em sư đệ mình làm chưa xong mình không chịu để ý những cái nhỏ những cái căn bản đó mình đòi đi độ sanh theo thứ tự của Pháp thuận pháp, thứ pháp, tùy pháp đây là những từ Bali tạng phải theo pháp theo thứ tự trình tự quy trình, pháp duyên khởi phải có này này phải có cái kia, mình nói lý cao siêu đi nữa dù mình có đi thang máy cũng trãi qua một trăm tầng nó mới tới tầng 101, mình có đi bộ hay máy bay cũng phải qua 100 tầng kia mới lên tầng 101, mình không trãi qua nhân nghĩa đạo đức cung kính khiêm nhường nhẫn nhục nỗ lực tinh tấn sao mình thành tựa được tuệ giác vô thường, mình muốn tối thượng thừa rất nguy hiểm.

Thành tựu công đức không lý luận

“Này các đệ tử lý luận chỉ làm cho tâm trí rối loạn, người xuất gia mà sống lý luận không thể đạt được tuệ giác giải thoát vì thế các vị phải nhanh chóng từ bỏ vĩnh viễn tâm lý lý luận vô ích diệt trừ các lý luận tạp loạn, mới có thể đạt được an lạc tịch diệt”

Cái này thấy giống như là chuyện nhỏ nhưng đại sự, Minh Thành thường để ý vấn đề này để thực hành trong đời sống dụng lợi ích của mình rất lớn cho nên lý luận là nói chơi nói đùa nói phiếm đi café, qua quán cà phê giờ nào cũng thấy có người làm sao giàu mình giàu phát triển nỗi, không chịu lo thực tập cống hiến phụng sự không chịu làm sao thành tựu ngồi nói chuyện trên trời dưới đất trên mây thời sự người này người nọ người kia đại kỵ lý luận cái này nếu mình ngồi lại thảo luận mình học thảo luận Phật pháp thì được, thảo luận với tâm kiến hòa đồng giải, chia sẻ thấy biết với nhau, tôn trọng với nhau, hòa hợp với nhau để cùng nhau nghiên cứu sáng tỏa vấn đề cái đó mới là thảo luận kiến hòa đồng giải, còn thảo luận để hơn thua cái đó không phải kiến hòa đồng giải không phải thảo luận, Phật pháp còn ngồi nói chuyện tầm phào nói chuyện phiếm vô nghĩa cái này đại kỵ cực kỵ cho nên người trí huệ không bao giờ lý luận, người lý luận không có trí huệ đây là trong bộ kinh định nghĩa như vậy, trong kinh Phạm thiên định nghĩa là tranh luận là không có trí huệ, tranh cãi là không có trí huệ, người thường cãi là người không có trí huệ nên thường cãi, người trí huệ thấu hiểu không cần cãi, người nói chuyện này chuyện kia không có trí huệ bởi người trí huệ thấy thời gian rất quý người ta không tiêu phí một cách vô bổ cho nên Ngài Hữu Ích Đại sư nói khởi một ý niệm không lợi mình lợi người là không khởi nếu nói một lời không lợi mình lợi người là không nói, cất một bước chân không lợi mình lợi người là không cất bước rất quan trọng cho do mình có được chánh niệm tỉnh thức nên mình biết cái cần với không cần cái nên và không nên, mình biết được vậy là không động nếu không động thì lợi lạc thậm chí nhân thiên nên trong quyển thiền quang sách tấn Minh Thành nhớ mãi bậc chân tu giống như cây quạt mùa đông, mùa đông lạnh nên không ai xài quạt người chân tu như quạt mùa đông lên meo lên mốc, hai ba chục năm không nói tới chừng tu được rồi mình xuống núi một câu nửa câu kinh thiên động địa long trời lở đất, người chân tu không nói nhiều khi nói lợi lạc cần thiết còn mình nói nhiều phí tâm lực, phí khí lực phí trí lực phí thần lực của mình tới lúc cần nói mình nói không được, bình thường nói nhiều tới lúc pháp đàm đưa nói không nói được run tại vì bình thường mình tiêu phí cho những thứ không đáng tới lúc cần thiết mình không đủ bình thường mình tích lũy năng lượng mình cứ chánh niệm định tuệ tích lũy khi cần thiết phóng hào quang giống như người ta tích điện nằm yên nhưng khi cần bấm nút sáng rực đó là chỗ quan trọng của người tu lúc nào cũng nói đi đứng nằm ngồi đều nói đó là thứ phiền não chạo cử phân tán hết năng lượng, càng niệm càng định, càng định thì càng huệ, càng huệ lúc đó cái năng lượng giá trị của nó phát huy công dụng lớn mình phải biết tiết kiệm cái năng lượng của mình tiết kiệm tuệ giác biết tích trữ tới khi cần

“Chân như bất động

Động dụng vô cùng

Dụng như thường tịch

Diệu ứng vô phương” Thân Hội Thiền Sư

Chân như bất động

Trọng dụng vô cùng

Tâm nó không động trong niệm định tuệ nhưng khi động cái dụng của nó vô cùng vô cực vô lượng vô biên tại vì thấy được pháp, thấy được bản tính của pháp chỗ đặc biệt tuy thấy nó động nhưng vẫn thường vắng lặng

Hiệu ứng vô phương

Công hiệu ứng dụng của nó không có thể nghĩ lường ngờ được, tất cả công đức không lý luận. Trong mười giới chúng ta thấy là bao nhiêu cái miệng lớn nhất quan trong giữ miệng mình giống như giữ thành, thành trì không dễ mở miệng mà mở miệng ra là lợi lạc, chánh niệm, tuệ giác mình sẽ thành công.

Minh Thành từ lúc xuất gia biết học pháp mỗi lần Minh Thành nói chuyện là một lần học pháp dù ngắn dù dài mình thực tập cứ nói chuyện là mình nói pháp còn không thôi khi nào kẹt lắm mình nói còn không chỉ sử dụng pháp, tất cả cuộc nói chuyện của mình đều thực tập diễn giảng ứng dụng như vậy mình không cần trường lớp nào tự mình đào tạo đức Phật dạy, trường đào tạo nói chuyện trước công chúng không bằng trong kinh cái đó chỉ tham khảo chút đỉnh còn cái chánh người ta dạy trong kinh hết cho nên mình ứng dụng mới thấy hay. Lý luận làm tâm trí của mình rối loạn, người xuất gia lý luận làm sao đạt được giải thoát, diệt trừ lý luận mình mới được sự vắng lặng của nội tâm sự vắng lặng đó, giúp cho mình an vui sự giải thoát

“Hư không không dấu chân

Ngoài đây không Xa-môn

Chúng sanh thích lý luận

Như lai lý luận trừ”.

Đệ tử chúc tết Thầy

.........

Minh Thành trong thâm tâm luôn xem các huynh đệ là anh em hỗ trợ nâng đỡ để tu để học và để làm một chút gì đó để đền ơn Tam bảo và đàn na tín thí cũng như những người có công lao đối với chúng ta. Hai chữ biết ơn và báo ơn Minh Thành nghĩ đó là con đường dẫn tới kho tàng dẫn đến kho báu tinh thần cảm ơn biết ơn nhớ ơn đền ơn đó dẫn mình đến kho báu không phải riêng bản thân Minh Thành mà Minh Thành mong muốn huynh đệ giữ truyền thống này không phải là tết hay riêng bản thân Minh Thành mà tất cả giáo thọ sư tất cả bậc Trưởng thượng, tất cả các bậc có ân có ngĩa có tình với mình thậm chí người cư sĩ, giờ nào phút nào mình phải luôn luôn nhớ ân nặng đó, nhớ ơn đó mình sẽ cố gắng nỗ lực phấn đấu cố gắng cải thiện hoàn thiện làm mới trong suy nghĩ tư duy làm mới trong lời nó làm mới trong hành động mình, luôn làm mới trong thân tâm của mình đó là giáo pháp vô ngã không chấp nhận hiện tại phải luôn luôn thay đổi đổi mới để phát triển thắp sáng ngọn đèn tri ân báo ân, nhớ ân cảm ân đền ơn mở rộng cái nhìn biết ơn chúng ta luôn luốn sống trong thế giới biết ơn và lúc đó chúng ta sẽ thấy những gì đáp lại với mình là vô giá vô tận và chúng ta sẽ tiếp nhận nguồn đáp lại của nguồn biết ơn đó không phải mình xài trong đời này mà chúng ta xài cho đến khi thành Phật, cái biết ơn đáp ơn của mình sẽ trả một cách xứng đáng.